1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Tìm hiểu pháp luật chống bán phá giá của tổ chức thương mại thế giới và Hoa Kì " pdf

4 569 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu pháp luật chống bán phá giá của tổ chức thương mại thế giới và Hoa Kì
Tác giả TS. Hoàng Phước Hiệp
Trường học Vụ hợp tác quốc tế Bộ tư pháp
Chuyên ngành Luật học
Thể loại Nghiên cứu trao đổi
Năm xuất bản 2003
Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 89,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dự thảo này về sau trở thành Điều VI của GATT 1947 - điều khoản khá phức tạp của Hiệp định chung về thương mại và thuế quan, được nhiều nước trên thế giới coi đó như là luật mẫu về chống

Trang 1

1 Văn bản pháp luật đầu tiên của Hoa Kì

về chống bán phá giá là Luật chống bán phá

giá năm 1916 (The Antidumping Act of 1916

– ADA 1916) ADA 1916 đặt ra việc buộc

các bên bán phá giá hàng hoá nước ngoài tại

Hoa Kì phải bồi thường tổn thất do họ gây ra

trên cơ sở bản án của Toà án tối cao liên

bang Tuy vậy, các yêu cầu mà bên nguyên

đơn phải đáp ứng theo ADA 1916, đặc biệt là

yêu cầu phải chứng minh động cơ bán phá giá

của đối phương, quả thực là quá khó thực

hiện Điều đó đE khiến Nghị viện cân nhắc để

làm ra đạo luật mới thích hợp hơn Năm 1921

Đạo luật mới chống bán phá giá đE được Nghị

viện thông qua (ADA 1921) Cho đến năm

1979, ADA 1921 là cơ sở pháp lí quan trọng

để Bộ ngân khố (The Department of the

Treasury) tiến hành điều tra về thực tiễn bán

phá giá được dẫn chiếu và về việc áp đặt thuế

chống bán phá giá đối với việc bán phá giá ở

Hoa Kì.(1)

2 Trong quá trình đàm phán để thành lập

Tổ chức thương mại quốc tế (ITO) sau Đại

chiến thế giới lần thứ II, Hoa Kì đE trình cho

các nước đàm phán bản Dự thảo các điều

khoản về chống bán phá giá dựa trên cơ sở

ADA 1921 Dự thảo này về sau trở thành

Điều VI của GATT 1947 - điều khoản khá

phức tạp của Hiệp định chung về thương mại

và thuế quan, được nhiều nước trên thế giới

coi đó như là luật mẫu về chống bán phá giá

để xây dựng pháp luật của nước họ về chống

bán phá giá trong thương mại quốc tế.(2)

Trong quá trình đàm phán ở Vòng Kennedy (1964 - 1967), Bộ luật về chống bán phá giá của GATT (The GATT Antydumping Code of 1967 (GATT/ADC 1967) đE được thông qua vào năm 1967 GATT/ADC 1967 đE tiếp thu có chọn lọc các quan điểm ở Điều VI của GATT 1947 và bổ sung vào đó những quy

định về tố tụng nhằm điều tra việc bán phá giá hàng hoá GATT/ADC 1967 đặt ra yêu cầu các nước kí GATT 1947 điều chỉnh pháp luật

và thực tiễn nước mình cho phù hợp với nội dung và yêu cầu của Điều VI GATT 1947 GATT/ADC 1967 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/1968

Trong quá trình đàm phán ở Vòng Tokyo (1973-1979), Điều VI của GATT 1947 đE

được sửa đổi, bổ sung và GATT/ADC 1967

do vậy cũng được điều chỉnh cho phù hợp Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng đE được soạn thảo Hiệp định về thực hiện Điều VI của GATT liên quan đến các biện pháp chống bán phá giá cũng được thảo luận và đE được thông qua, có hiệu lực kể từ ngày 1/1/1980.(3)

3 Là thành viên của GATT, năm 1979 Hoa Kì đE thông qua Luật về các hiệp định thương mại (The Trade Agreements Act of 1979-TAA 1979) TAA 1979 đE chấp nhận GATT/ADC 1967 (sửa đổi) Tiết I của TAA

1979 ghi nhận lại toàn bộ ADA 1921 và bổ

* Vụ hợp tác quốc tế

Bộ tư pháp

Trang 2

sung Tiết VII mới vào Luật thuế quan năm

1930 (The Tariff Act of 1930-TA 1930) nhằm

thực hiện các quy định của Hiệp định về thực

hiện Điều VI của GATT TAA 1979 đE chứa

đựng nhiều điểm thay đổi mới về pháp luật

nội dung và pháp luật tố tụng trong lĩnh vực

thương mại quốc tế, chuyển trách nhiệm thực

thi pháp luật về chống bán phá giá từ Bộ ngân

khố sang Bộ thương mại

Trong các năm tiếp theo, pháp luật về

chống bán phá giá của Hoa Kì vẫn tiếp tục

được sửa đổi, bổ sung thông qua việc sửa đổi,

bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật liên

quan Năm 1984, Luật thương mại và thuế

quan (The Trade and Tariff Act of 1984-TTA

1984) đE được bổ sung bởi Tiết VI Năm 1988,

Luật về tổng tắc thương mại và cạnh tranh (The

Omnibus Trade and Competitiveness Act of

1988 - OTCA 1988) đE được bổ sung bởi Tiết I,

Tiểu tiết C, Phần 2 Trong số những sửa đổi, bổ

sung của pháp luật Hoa Kì về chống bán phá

giá giai đoạn này thì TTA 1984 đE sửa đổi, bổ

sung nhằm điều chỉnh các quy định liên quan

đến cách tính toán tổng hợp lượng hàng nhập

khẩu từ các nước là đối tượng bị điều tra và

mức độ đe dọa về thiệt hại vật chất do việc

bán phá giá hàng hoá nhập khẩu từ các nước

nói trên mang lại cho ngành hàng tương tự

trong nước Mĩ OTCA 1988 bổ sung các vấn

đề liên quan đến tình tiết khủng hoảng, thiệt

hại vật chất và về sự đe dọa thiệt hại vật chất

và một số quy định khác

4 Tại vòng đàm phán Uruguay, bên cạnh

việc thông qua Hiệp định thành lập Tổ chức

thương mại thế giới (WTO), các nước đE

thông qua được hệ thống các hiệp định đa

biên về thương mại quốc tế Các hiệp định

này tiếp tục hoàn thiện những quy định trước

đây của GATT, bổ sung nhiều quy định mới

trong thương mại quốc tế, trong đó có GATS

và TRIPS, đưa vào hệ thống các hiệp định này

hiệp định về việc thực hiện Điều VI của GATT 1994 Theo quy định của các hiệp định của WTO, các nước thành viên của WTO

đương nhiên phải là thành viên của Hiệp định

về việc thực hiện Điều VI của GATT 1994 (Hiệp định về chống bán phá giá 1994)

5 Pháp luật về chống bán phá giá hiện hành của Hoa Kì đE được bổ sung tiếp tục bởi Luật về các hiệp định của vòng đàm phán Uruguay (The Uruguay Round Agreements Act of 1994-URAA 1994) Luật này có hiệu lực từ ngày 01/01/1995 URAA 1994 đE sửa

đổi, bổ sung các quy định pháp luật liên quan

đến thiệt hại vật chất, sự đe dọa thiệt hại vật chất, các tình tiết khủng hoảng, ngành công nghiệp khu vực, các bên liên quan, cách tính toán tổng hợp lượng hàng nhập khẩu từ các nước bị điều tra, mức độ đe dọa thiệt hại vật chất và các quy định khác URAA 1994 cũng

bổ sung những quy định mới liên quan đến sản xuất bị kìm hEm (Captive Production), lượng nhập khẩu không đáng kể (Negligible Imports) và đưa ra các yêu cầu về rà soát lại

để xác định kết quả của việc áp dụng các lệnh chống bán phá giá sau thời hạn năm năm kể

từ ngày ban hành lệnh đó

6 Thực tiễn chống bán phá giá của Hoa Kì trong 20 năm tài chính vừa qua, từ năm

1980 đến hết năm 2000 cho thấy Hội đồng thương mại quốc tế Hoa Kì (US International Trade Commission-ITC) đE nhận được tổng

số 1314 đơn kiện về bán phá giá và trợ cấp xuất khẩu theo quy định tại Tiết VII của Luật thuế quan năm 1930 với tổng giá trị kiện hơn

43 tỉ USD hàng nhập khẩu vào Hoa Kì từ các nước bị yêu cầu điều tra.(4) Qua điều tra của ITC và Bộ thương mại thì chỉ có hơn 36% số

đơn kiện được kết luận là có bán phá giá hoặc trợ cấp xuất khẩu và bị áp dụng thuế chống bán phá giá hoặc thuế đối kháng theo các lệnh áp dụng các thuế đó Gần 40% đơn kiện

Trang 3

đE bị ITC kết luận ngay từ đầu là thiếu cơ

sở và khoảng 24% đơn kiện còn lại đE bị Bộ

thương mại kết luận điều tra mà không đưa

ra kết quả gì (và giải quyết vấn đề theo

hướng kí kết thoả thuận đình chỉ

(Suspension Agreement-SA) hoặc chấm dứt

điều tra và ban hành kết luận cuối cùng là bác

đơn kiện

Riêng về phần chống bán phá giá, 20 năm

tài chính qua đE có 896 vụ kiện, năm 1996 có

số đơn kiện ít nhất (13 vụ), năm 1992 có số

đơn kiện nhiều nhất (89 vụ) ĐE có 375 vụ

được khẳng định là có bán phá giá, chiếm

41,9% số vụ (chiếm 46,2% tổng giá trị đơn

kiện) Năm 2000 có 35 vụ kiện về bán phá giá

với tổng giá trị đơn kiện phá giá trong năm tài

chính là 0,73 tỉ USD Qua điều tra, giải quyết

đơn kiện đE có 18 vụ (gần 50% số đơn kiện)

với tổng giá trị đơn kiện đến 0,49 tỉ USD đE

bị kết luận là có bán phá giá.(5) Mười nước

đầu bảng trong các vụ kiện bán phá giá qua

20 năm đó là Nhật Bản (11,2%), Trung Quốc

(8,3%), Hàn Quốc (6,8%), CHLB Đức

(6,1%), Đài Loan (6,0%), Brazil (4,9%), Italia

(4,9%), Canađa (4,8%), Pháp (3,7%), Vương

quốc Anh (3,7%) Các nước khác, theo thống

kê của ITC, chiếm 39,6% số vụ việc còn lại.(6)

Đối với Việt Nam ngày 1/7/2002 thư kí

ITC đE ban hành Lệnh điều tra (sơ bộ) số

731-TA-1012 về việc cá Basa fillets đông

lạnh của Việt Nam nhập khẩu vào Hoa Kì

theo Mục 733(a) Luật thuế quan năm 1930 để

xác định liệu có dấu hiệu có lí về việc một

ngành công nghiệp của Hoa Kì bị thiệt hại vật

chất nghiêm trọng hoặc bị đe dọa thiệt hại

nghiêm trọng hoặc việc thành lập một ngành

công nghiệp ở Hoa Kì sẽ bị kìm hEm phát

triển một cách đáng kể vì lí do nhập khẩu cá

Basa fillets đông lạnh hiện hành từ Việt Nam

vào Hoa Kì theo mE số HS.0304.20.60 của

biểu thuế HS của Hoa Kì và có bán ở Hoa Kì

ở mức thấp hơn giá cả bình thường hay không Trừ khi Bộ thương mại Hoa Kì gia hạn thời gian điều tra theo Mục 732c (1B) của Luật thuế quan năm 1930, việc điều tra sơ bộ của ITC theo quy định phải được kết thúc trong vòng 45 ngày hoặc chậm nhất là đến ngày 12/8/2002 Những kết luận ban đầu của ITC phải tập trung vào lĩnh vực thương mại trong vòng 05 ngày làm việc sau đó hoặc chậm nhất là đến ngày 19/8/2002 Trên thực

tế, trước đó, vào 9 giờ 30 phút ngày 19/7/2002, giám đốc điều hành của ITC đE tổ chức cuộc gặp gỡ với những tổ chức, cá nhân liên quan hoặc quan tâm đến việc điều tra sơ

bộ theo Lệnh điều tra số 731-TA-1012 tại trụ

sở ITC ở Washington, DC.(7) Ngày 8/8/2002, ITC đE đưa ra kết luận sơ bộ, theo đó “Dựa vào kết quả điều tra sơ bộ, ITC nhận thấy ngành nuôi cá catfish của Mĩ có thể có nguy cơ bị đe dọa bởi mặt hàng cá Basa fillets đông lạnh nhập khẩu từ Việt Nam”.(8) Dựa vào kết luận sơ bộ này của ITC, Bộ thương mại Hoa Kì sẽ tiến hành điều tra trong thời hạn 115 ngày kể từ ngày ITC có kết luận sơ bộ (hoặc trong vòng 160 ngày kể từ ngày thụ lí đơn kiện), trừ trường hợp phức tạp thì thời hạn trên có thể được Bộ thương mại kéo dài thêm không quá 60 ngày nữa Như vậy, trong trường hợp vụ việc giản đơn thì đến ngày 5/12/2002, Bộ thương mại sẽ có kết luận sơ

bộ về việc liệu cá Basa Fillets đông lạnh nhập khẩu từ Việt Nam vào Hoa Kì có bán phá giá tại thị trường Hoa Kì hay không Nếu Bộ thương mại khẳng định sơ bộ là có bán phá giá thì Bộ thương mại sẽ tính biên độ phá giá bình quân và sẽ ban hành lệnh để Cục hải quan Hoa Kì tạm thu một khoản tiền bảo chứng (bằng tiền mặt hoặc chứng khoán bảo

đảm) với ước tính bằng mức thuế đối với số

Trang 4

cá Basa fillets nhập khẩu bị điều tra Sau khi

Bộ thương mại có kết luận sơ bộ (khẳng định

hoặc phủ định) trong thời hạn 160 ngày (hoặc

đến 210 ngày nếu vụ kiện phức tạp) kể từ

ngày thụ lí đơn kiện, Bộ thương mại tiếp tục

điều tra để có kết luận cuối cùng xác định cá

Basa fillets đông lạnh nhập khẩu vào Hoa Kì

có bán thấp hơn giá công bằng hay không

Quyết định này phải đưa ra trong vòng 75

ngày kể từ ngày Bộ thương mại có kết luận

sơ bộ khẳng định nói trên Theo thông báo

A-552-801 ngày 20/8/2002 của Cục thương

mại quốc tế Bộ thương mại Hoa Kì,(9) do đây

là cuộc điều tra thuế chống bán phá giá đầu

tiên của Hoa Kì đối với hàng nhập khẩu từ

Việt Nam và Bộ thương mại Hoa Kì cần phải

xác định liệu Việt Nam có được hưởng sự đối

xử như là nước có nền kinh tế thị trường hay

là nước có nền kinh tế phi thị trường trong

trường hợp điều tra thuế chống bán phá giá

này nên Bộ thương mại Hoa Kì đE xác định

đây là vụ việc phức tạp không thể đưa ra kết

luận sơ bộ vào ngày 5/12/2002 như đE nói ở

trên mà Bộ thương mại Hoa Kì sẽ đưa ra kết

luận sơ bộ chậm nhất vào ngày 24/01/2003

(tức là 190 ngày kể từ ngày thụ lí vụ kiện)

Sau đó, Bộ thương mại sẽ đưa ra kết luận cuối

cùng trong thời hạn 75 ngày như đE nói trên,

trừ trường hợp Việt Nam chính thức đề nghị

kí thoả thuận SA (trước ngày 20/02/2003) và

phía Hoa Kì chấp thuận kí thoả thuận SA

(dưới dạng kí tắt trước ngày 15/5/2003) Đối

với ITC, sau khi Bộ thương mại có kết luận

bước đầu khẳng định có bán phá giá và nếu

các bên không dàn xếp được vấn đề theo thoả

thuận SA như đE nói trên thì ITC tiến hành

điều tra xác định cuối cùng về thiệt hại do

bán phá giá gây ra Điều tra của ITC phải kết

thúc trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày Bộ

thương mại có kết luận cuối cùng về việc bán

phá giá Nếu việc xác định của ITC là chắc chắn thì Bộ thương mại sẽ ban hành Lệnh áp

đặt thuế chống bán phá giá đối với cá Basa fillets đông lạnh nhập khẩu từ Việt Nam để Cục hải quan Hoa Kì cưỡng chế thi hành theo quy định của Luật thuế quan Quyết định của

Bộ thương mại và ITC có thể bị Việt Nam kháng kiện lên Toà án thương mại quốc tế của Hoa Kì đặt tại bang New York Đối với các nước là thành viên của WTO thì quyết

định nói trên có thể trở thành đối tượng tranh chấp theo quy định của WTO và được đưa ra xem xét, giải quyết theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO

7 Nghiên cứu pháp luật chống bán phá giá của WTO và của Hoa Kì cho chúng ta biết thêm những thông tin pháp lí cần thiết

và thực tiễn thi hành pháp luật trong lĩnh vực này, có thể góp phần vào việc nghiên cứu kinh nghiệm các nước nhằm soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật của nước ta

về chống bán phá giá đối với hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam./

(1).Xem: Overview and Compilation of US Trade Statutes Committee on Ways and Means, US.HoR, August 4, 1995

(2).Xem: Bộ Thương mại Kết quả vòng đàm phán Uruguay về Hệ thống thương mại đa biên, H.2000 (3).Xem: Bộ Thương mại, kết quả vòng đàm phán (Sđd) tr.189-224

(4) Tiết VII Luật thuế quan năm 1930 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/1980 Do vậy, khi tính toán người ta tính từ thời điểm này

(5), (6).Xem: US.ITC Publication 3484.Antidumping And Countervailing Duty Handbook December 2001,

E 4,7, 10,13

(7),(8).Xem: Chi tiết theo địa chỉ: http://dockets.usite.gov/eol/public (9).Xem: Chi tiết theo A-552-801 Bblling Code 3510-DS-P Ngày 8/11/2002, tại Bản ghi nhớ A 552-801 Bộ thương mại Hoa Kì đE đưa ra kết luận chưa công nhận Việt Nam là nước có nền kinh tế thị trường

Ngày đăng: 23/03/2014, 23:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w