một bộ phận của pháp luật thương mại, gồm các qui phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức, điều tra và áp dụng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THÙY TRANG
PHÁP LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ Ở VIỆT NAM -
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60380107
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN VIẾT TÝ
HÀ NỘI - 2014
Trang 2liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong các công trình khác
Học viên Nguyễn Thị Thùy Trang
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BÁN PHÁ GIÁ VÀ PHÁP
LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ
5
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BÁN PHÁ GIÁ GIÁ 5
1.1.2 Nguyên nhân dẫn đến hành vi bán phá giá 11
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ VÀ
PHÁP LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ
14
1.2.2 Khái niệm pháp luật chống bán phá giá 14
1.2.3 Sơ lược quá trình phát triển của pháp luật chống bán phá giá ở
Việt Nam
15
1.2.4 Vai trò của pháp luật chống bán phá giá 17
1.2.5 Pháp luật chống bán phá giá của một số quốc gia và tổ chức trên
2.1.1 Xác định giá thông thường của hàng hóa nhập khẩu 24
Trang 42.2.2 Những quy định về thủ tục điều tra chống bán phá giá 39
2.3 NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ VIỆC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP
CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA VIỆT NAM
51
2.3.1 Điều kiện áp dụng các biện pháp chống bán phá giá của Việt Nam 51
2.3.2 Nguyên tắc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá của Việt Nam 52
2.3.3 Các biện pháp chống bán phá giá của Việt Nam 53
2.3.4 Rà soát việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá 57
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU
QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ Ở
VIỆT NAM
60
3.1 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CHỐNG BÁN
PHÁ GIÁ Ở VIỆT NAM
60
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP
LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ Ở VIỆT NAM
66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 5ADA Anti – dumping Agreement
AFTA Asean Free Trade Area
ASEAN Assosiation of Southeast Asia Nations – Hiệp hội các
quốc gia Đông Nam Á BTBCT Bộ trưởng bộ công thương
CPSX Chi phí sản xuất
DOC Department of commerce – Bộ thương mại Hoa Kỳ
EU European Union – Liên minh châu Âu
GATT General Agreement on Tariffs and Trade – Hiệp định
chung về Thuế quan và thương mại
GTTT Giá trị thông thường
ITC International Trade Commission - Ủy ban Thương mại
quốc tế Hoa Kỳ PLCBPG Pháp lệnh chống bán phá giá
WTO World Trade Organization – Tổ chức thương mại thế giới
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang là xu hướng chung của tất cả các quốc gia trên thế giới Đại hội XI của Đảng (2011) đánh dấu bước phát triển mới trong
chủ trương hội nhập quốc tế của Việt Nam với sự khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước ”[5] Với việc thực hiện đường lối chủ động hội nhập kinh
tế quốc tế, Việt Nam đã tích cực tham gia vào các quan hệ kinh tế song phương và
đa phương như Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) năm 1995, Hiệp định song phương Hoa Kỳ năm 2000, trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại quốc tế WTO
Cùng với chính sách thu hút đầu tư nước ngoài và khuyến khích đầu tư trong nước, số lượng các doanh nghiệp tham gia vào nền kinh tế ngày càng tăng Sự năng động của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và quy luật cạnh tranh của nền kinh tế thị trường đang tạo ra những chuyển biến tích cực trong đời sống kinh tế nước ta Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố tích cực, thị trường nước ta đang bị đe doạ trước sức tấn công của những hành vi cạnh tranh không lành mạnh từ phía các doanh nghiệp nước ngoài Trong một nền thương mại đa phương, cạnh tranh phải tuyệt đối tuân thủ những nguyên tắc cạnh tranh phải trung thực và lành mạnh nhằm tạo ra sân chơi bình đẳng đối với mọi thành viên, trong đó, sự cố ý làm sai lệch mối tương quan cạnh tranh để giành lợi thế không công bằng đều đáng lên án và có thể bị trừng phạt Với sự phát triển chung của nền kinh tế, những thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh ngày càng tinh vi, gây ra hậu quả nghiêm trọng và ảnh hưởng sâu sắc tới sự ổn định của kinh tế nước nhà cũng như sức sống của một số ngành sản xuất nội địa, thậm chí
có những tác động không nhỏ đối với việc mở rộng thị phần trong nước
Nhằm bảo vệ nền sản xuất trong nước trước vấn đề bán phá giá ngay tại thị trường nội địa, Việt Nam đã ban hành một số văn bản pháp luật có liên quan điều
Trang 7chỉnh vấn đề này như: Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 1998, Pháp lệnh giá 2002 Bên cạnh đó, không thể không kể tới Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam 2004 - văn bản pháp luật đầu tiên và trực tiếp điều chỉnh hành vi bán phá giá tại Việt Nam Ngoài ra, còn có một số văn bản hướng dẫn hoặc
có liên quan đến vấn đề chống bán phá giá Tuy nhiên, Pháp lệnh chống bán phá giá còn chứa đựng nhiều điểm hạn chế và chưa thực sự tương thích với pháp luật thế giới Có thể thấy, khung pháp lý về chống bán phá giá còn sơ sài, chưa phát huy vai trò là “vũ khí tự vệ” để bảo vệ nền sản xuất trong nước, hiệu quả áp dụng không cao Trên thực tế, Việt Nam mới chỉ khởi xướng điều tra được một vụ kiện chống bán phá giá đầu tiên vào năm 2013
Xuất phát từ thực tế trên, việc bức thiết đặt ra là Nhà nước cần xây dựng một
hệ thống pháp luật chống phá giá hoàn chỉnh, đồng bộ và tương thích với hệ thống pháp luật quốc tế, đáp ứng được yêu cầu của tình hình hiện nay Chính vì vậy, em lựa chọn đề tài: “Pháp luật chống bán phá giá ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” với mong muốn đưa ra những đóng góp mới cho việc hoàn thiện chế định luật còn nhiều hạn chế này
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Bán phá giá và pháp luật chống bán phá giá là đề tài đã được nghiên cứu bởi một số nhà khoa học Trên phạm vi quốc tế, vấn đề pháp luật chống bán phá giá của WTO và của các nước được nghiên cứu sâu và toàn diện trong các tác phẩm như:
Policy makers dumping on trade của Casey J.Lartige Jr; Trada remedies and WTO disputes settlement: Why are so few challenged của Chad P.Bown; The politics behind the application of antidumping Laws to nonmarket economies: Distrust and informal constraints của Cythia Horne
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, đề tài bán phá giá và pháp luật chống bán phá giá cũng đã được quan tâm nghiên cứu Một số sách chuyên khảo đã đề cập
đến nội dung này như: Pháp luật chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu ở Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, Đoàn Trung Kiên, Nxb Công
Trang 8an nhân dân, 2011; Pháp luật về chống bán phá giá trong thương mại quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam, Vũ Thị Phương Lan, Nxb Chính trị quốc gia, 2012; Cẩm nang kháng kiện chống bán phá giá và chống trợ cấp tại Hoa Kỳ,
Nguyễn Thị Thu Trang, 2010 Pháp luật chống bán phá giá cũng là chủ đề xuất hiện
trong các bài tạp chí như: Tìm hiểu ảnh hưởng của pháp luật chống bán phá giá đối với cạnh tranh, Mai Hồng Quỳ và Trần Việt Dũng, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, 2004; Lịch sử pháp luật chống bán phá giá trong thương mại quốc tế, Vũ Thị
Phương Lan, Tạp chí Luật học, 2009 v.v
Tuy nhiên, thay vì nghiên cứu pháp luật chống bán phá giá trong thương mại quốc tế nói chung, luận văn chỉ tập trung phân tích thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về bán phá giá và chống bán phá giá Đặc biệt, đề tài nghiên cứu và chỉ ra các điểm bất cập của pháp luật hiện hành trong mối liên hệ với
vụ điều tra chống bán phá giá đầu tiên do Việt Nam khởi xướng
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Luận văn có phạm vi nghiên cứu là: các văn bản pháp luật thực định của Việt Nam về chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu; thực tiễn xây dựng và áp dụng pháp luật về chống bán phá giá ở Việt Nam; pháp luật của một số nước và khu vực trên thế giới về chống bán phá giá Cụ thể, đề tài sẽ nghiên cứu những vấn đề lí luận
về bán phá giá và pháp luật chống bán phá giá của Việt Nam như: bản chất của hiện tượng bán phá giá, tác động của nó đến sự phát triển của thị trường quốc gia nhập khẩu, nhu cầu điều chỉnh của pháp luật chống bán phá giá tại Việt Nam Trên cơ sở nghiên cứu hiện trạng của pháp luật chống bán phá giá, luận văn chỉ ra những những nội dung chưa phù hợp với pháp luật WTO để đưa ra các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật chống bán phá giá của Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế Ngoài ra, luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp
Trang 9nghiên cứu khoa học như: phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh để giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn được đặt ra
5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Đề tài hướng tới mục đích làm sáng tỏ những vấn đề về bán phá giá và pháp luật chống bán phá giá, tìm hiểu thực trạng pháp luật bán phá giá ở Việt Nam, tìm kiếm các giải pháp hoàn thiện pháp luật chống bán phá giá ở Việt Nam
Thực hiện mục tiêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là:
- Xác định một số khái niệm cơ bản liên quan đến bán phá giá và pháp luật chống bán phá giá; làm rõ cách thức xác định hành vi bán phá giá, các phương pháp
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật chống bán phá giá ở Việt Nam
6 Cơ cấu của luận văn
Ngoài Lời nói đầu, Danh mục các chữ viết tắt, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Những vấn đề lý luận về bán phá giá và pháp luật chống bán phá giá;
Chương 2 Thực trạng pháp luật chống bán phá giá ở Việt Nam;
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật chống bán phá giá
ở Việt Nam
Trang 10Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BÁN PHÁ GIÁ VÀ PHÁP LUẬT
CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BÁN PHÁ GIÁ GIÁ
1.1.1 Khái niệm bán phá giá
1.1.1.1 Khái niệm bán phá giá từ góc độ lý luận
Hiện tượng bán phá giá xuất hiện khá sớm trong thực tiễn thương mại quốc
tế và cho đến nay vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau Bán phá giá vốn được quan niệm một cách đơn giản là “bán dưới giá thị trường”, tuy nhiên, đây chỉ là cách hiểu sơ khai, chưa gắn với thực trạng quan hệ thương mại quốc tế hiện nay Nếu hiểu “bán phá giá là bán dưới giá thị trường” có thể dẫn đến nhiều khả năng: (i) một loại hàng hóa được bán với giá thấp hơn hàng hóa tương tự cùng trong một thị trường; (ii) hàng hóa khi xuất khẩu được bán dưới giá thị trường của hàng hóa tương tự của nước nhập khẩu; và (iii) hàng hóa xuất khẩu được bán với giá thấp hơn giá của hàng hóa đó khi bán ở thị trường trong nước
Nếu hiểu bán phá giá theo cách hiểu thứ nhất là chưa hợp lý, bởi việc bán phá theo cách hiểu này chỉ diễn ra trong nội bộ một quốc gia, chỉ chịu sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia trong lĩnh vực cạnh tranh thay vì sự điều chỉnh của pháp luật thương mại quốc tế Nếu hiểu theo cách thứ hai, tức là bán phá giá nghĩa là hàng hóa khi xuất khẩu được bán dưới giá thị trường của hàng hóa tương tự của nước nhập khẩu thì điều này cũng sẽ dẫn tới quan điểm sai lầm Khi các quốc gia khác nhau có hành vi sản xuất các sản phẩm giống hệt hoặc tương tự nhau, thì căn cứ vào điều kiện kinh tế, điều kiện sản xuất kinh doanh ở mỗi nước thì giá cả của loại hàng hóa này tất yếu sẽ khác nhau Nếu một quốc gia xuất khẩu có nhiều điều kiện thuận lợi trong sản xuất một mặt hàng nào đó (như giá nhân công rẻ, điều kiện tự nhiên thuận lợi ) thì dễ hiểu khi giá xuất khẩu của mặt hàng đó sang một quốc gia khác
Trang 11sẽ có giá thấp hơn so với mặt hàng tương tự được sản xuất tại thị trường nước nhập khẩu
Chỉ quan điểm thứ ba (iii) bán phá giá là việc hàng hóa xuất khẩu được bán với giá thấp hơn giá của hàng hóa đó khi bán ở thị trường trong nước mới là cách hiểu hợp lý hơn cả Và đây cũng chính là quan điểm được ghi nhận trong Black’s
Law Dictionary, theo đó bán phá giá là “việc bán một hàng hóa ở nước ngoài ở mức giá thấp hơn so với mức giá ở thị trường trong nước” [25] Trong từ điển
Chính sách thương mại quốc tế, phá giá được hiểu là thực tiễn của một công ty với giá bán hàng ra nước ngoài thấp hơn giá bán tại thị trường trong nước [22] Theo nguyên tắc thông thường, giá bán hàng hóa ở thị trường nước ngoài phải cao hơn giá bán của hàng hóa đó tại thị trường nội địa vì người sản xuất hoặc người xuất khẩu phải bỏ thêm chi phí vận chuyển hàng hóa, chi phí bảo hiểm, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, các khoản chi phí khác Nếu giá bán hàng hóa ở thị trường nước ngoài thấp hơn giá tại thị trường trong nước thì đây rõ ràng là một điều bất bình thường, có sự phân biệt về giá mang tính quốc tế
Ngoài ra, từ góc độ lý luận, việc xác định một hành vi phân biệt giá cả giữa các thị trường quốc gia có phải là hành vi bán phá giá hay không còn có thể được xem xét, cân nhắc từ khía cạnh mục đích của hành vi ấy Bản chất bất chính của bán phá giá được suy đoán từ mục đích của nó là nhằm làm ảnh hưởng đến các mặt hàng tương tự Hay nói cách khác hành vi bán phá giá là chiến lược thâm nhập hoặc
mở rộng thị trường của các doanh nghiệp xuất khẩu [9] Xuất phát từ góc độ trên, bán phá giá được hiểu là bán với giá thấp hơn giá chung của thị trường để nhằm cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường
Có thể thấy hiện nay chỉ tồn tại quan điểm về bán phá giá hàng hóa mà không có khái niệm bán phá giá dịch vụ Điều này xuất phát từ tính phức tạp trong việc xác định khái niệm dịch vụ, bên cạnh đó là việc xây dựng những chuẩn mực chung cho thương mại dịch vụ Cho đến nay, việc nghiên cứu khái
Trang 12niệm bán phá giá dịch vụ chỉ có giá trị về mặt lý thuyết mà không được phản ánh trong các quy tắc về chống bán phá giá hiện hành của WTO và của các nước
Như vậy, từ các phân tích ở góc độ lý luận, có thể thấy bán phá giá là việc bán một hàng hóa ở nước ngoài ở mức giá thấp hơn so với mức giá ở thị trường trong nước nhằm ảnh hưởng đến các mặt hàng tương tự trên cùng thị trường đó
1.1.1.2 Khái niệm bán phá giá theo quan điểm của WTO
Điều VI, khoản 1 Hiệp định chung về thương mại và thuế quan (GATT) đưa
ra định nghĩa về bán phá giá là việc “sản phẩm của một nước được đưa vào kinh doanh trên thị trường của một nước khác với giá thấp hơn giá trị thông thường của sản phẩm” [23]
Năm 1967, một số quy định về chống bán phá giá tại GATT được chuẩn hoá trong Hiệp định về thi hành điều VI của GATT (Agreement on the Implementation of Article VI), thường được gọi tắt là Hiệp định chống bán phá giá (ADA) Hiệp định
ADA đã đưa ra cách nhìn cụ thể hơn “một sản phẩm bị coi là bán phá giá nếu như giá xuất khẩu của sản phẩm được xuất khẩu từ một nước này sang nước khác thấp hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường” [24] Sản phẩm tương tự trên
theo cách hiểu của Hiệp định là sản phẩm giống hệt (giống nhau ở tất cả các yếu tố với sản phẩm được xem xét) hoặc những sản phẩm có tính chất thật tương đồng
Có thể thấy cả hai quy định trên đều không coi bán phá giá là bán hàng dưới giá thành của hàng hóa và cũng không dùng thiệt hại mà ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu phải gánh chịu làm căn cứ để xác định bán phá giá Theo các quy định của pháp luật WTO, hành vi bán phá giá được xác định từ biên độ chênh lệch giữa giá xuất khẩu với giá thông thường của sản phẩm tại nước xuất khẩu
Các khái niệm bán phá giá mà WTO đưa ra chỉ quan tâm đến hình thức của hiện tượng giá, theo đó có sự khác biệt giữa giá trị thông thường của hàng hóa bán tại nước xuất khẩu và giá xuất khẩu vào nước nhập khẩu mà chưa phản ánh tác hại của bán phá giá đối với cạnh tranh lành mạnh trong quan hệ thương mại quốc tế
Trang 13ADA không gắn liền hành vi bán phá giá với mục đích của hành vi này, việc truy tìm mục đích thực sự của chủ thể bên ngoài lãnh thổ của nước nhập khẩu là khó thực hiện và không cần thiết Vì vậy, chính sách pháp luật thương mại quốc tế không sử dụng mục đích làm căn cứ để xác định hiện tượng bán phá giá mà sử dụng thiệt hại vật chất do bán phá giá gây ra làm cơ sở để quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với hàng hóa nhập khẩu
1.1.1.3 Khái niệm bán phá giá theo quan điểm của pháp luật Việt Nam
Tại Việt Nam, quan niệm về bán phá giá lần đầu tiên được ghi nhận tại Pháp lệnh giá 2002 và hiện nay là Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam 2004 (PLCBPG)
Tại Pháp lệnh giá 2002, khoản 3 điều 4 Pháp lệnh giá quy định: “Bán phá giá là hành vi bán hàng hóa, dịch vụ với giá quá thấp so với giá thông thường trên thị trường Việt Nam để chiếm lĩnh thị trường, hạn chế cạnh tranh đúng pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh khác
và lợi ích của Nhà nước” [21]
Như vậy, một hành vi được coi là bán phá giá khi nó có hai dấu hiệu sau:
- Doanh nghiệp đã bán hàng hóa, dịch vụ với giá quá thấp so với giá thông thường tại thị trường Việt Nam Cách thức xác định bán phá giá dựa trên cách so sánh hai loại giá: giá bán thực tế và giá thông thường của sản phẩm bị điều tra Xét
từ dấu hiệu này, hành vi bán phá giá được hiểu là việc bán hàng hóa, dịch vụ với mức giá không theo đúng giá trị thông thường của sản phẩm chứ không phải sự phân biệt giá cả mang tính quốc tế theo quan điểm chung
- Dấu hiệu thứ hai là mục đích của hành vi chiếm lĩnh thị trường, hạn chế cạnh tranh không đúng pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức khác, xâm phạm đến lợi ích của nhà nước Nếu chưa xác định được mục đích của hành vi thì chưa thể kết luận có hành vi bán phá giá
Trang 14Điều 23 của Pháp lệnh này đã làm rõ thêm cho khái niệm bán phá giá bằng cách liệt kê các trường hợp không bị coi là hành vi bán phá giá, bao gồm: (i) Hạ giá bán hàng tươi sống; (ii) Hạ giá bán hàng hóa tồn kho do chất lượng giảm, lạc hậu về hình thức, không phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng; (iii) Hạ giá bán hàng hóa theo mùa vụ; (iv) Hạ giá bán hàng hóa để khuyến mại theo quy định của pháp luật;
và (v) Hạ giá bán hàng hóa trong trường hợp phá sản, giải thể, chấm dứt hoạt động sản xuất, kinh doanh, thay đổi địa điểm, chuyển hướng sản xuất, kinh doanh
Có thể do đây là văn bản đầu tiên đề cập đến khái niệm bán phá giá ở Việt Nam, nên các quy định về bán phá giá còn bộc lộ nhiều hạn chế, không có giá trị thực thi Về phạm vi áp dụng, pháp lệnh giá 2002 áp dụng đối với các đối tượng là
tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất kinh doanh tại Việt Nam mà không phân biệt nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ Chính vì vậy, các quy định về bán phá giá còn có thể
áp dụng đối với cả các sản phẩm nội địa (sản xuất và tiêu thụ tại Việt Nam) lẫn hàng hóa nhập khẩu Trong quy định tại điều 4 Pháp lệnh giá, bán phá giá đơn thuần được mô tả dưới góc nhìn của pháp luật cạnh tranh thay vì được nhìn nhận dưới góc
độ của pháp luật thương mại quốc tế
Mặc dù Pháp lệnh giá 2002 còn một số hạn chế, song đây là văn bản pháp luật đầu tiên đưa ra khái niệm bán phá giá, mang những ý nghĩa nhất định trong bối cảnh Việt Nam từng bước hội nhập thế giới Đến năm 2012, Pháp lệnh giá đã được thay thế bởi Luật giá số 11/2012/QH13 với việc chỉ còn đề cập một số trường hợp
hạ giá bán hàng hóa mà không bị coi là vi phạm pháp luật pháp luật chống bán phá giá hàng nhập khẩu [14]
Tiếp theo, PLCBPG 2004 đã trực tiếp quy định về bán phá giá Pháp lệnh
ra đời trong bối cảnh Việt Nam đang nỗ lực nội luật hóa các nguyên lý của pháp luật chống bán phá giá của WTO để thực hiện các bước gia nhập WTO Chính vì vậy, nội dung của các quy định trong Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu ở Việt Nam phần lớn là sự phản ánh, tiếp nhận pháp luật WTO vào pháp luật nội địa
Trang 15Quan niệm thứ hai về bán phá giá được đề cập tại khoản 1 điều 3 của Pháp
lệnh như sau: “Hàng hóa có xuất xứ từ nước hoặc vùng lãnh thổ bị coi là bán phá giá khi nhập khẩu vào Việt Nam nếu hàng hóa đó được bán với giá thấp hơn giá trị thông thường Giá trị thông thường của hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam là giá có thế so sánh được của hàng hóa tương tự đang được bán trên thị trường nội địa của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu theo điều kiện thương mại thông thường”[20]
Khái niệm bán phá giá này đã có sự thay đổi đáng kể so với quy định tại Pháp lệnh giá 2002 Pháp lệnh này quy định về các biện pháp chống bán phá giá, thủ tục, nội dung điều tra để áp dụng và việc áp dụng các biện pháp đó đối với hàng hóa bị bán phá giá nhập khẩu vào Việt Nam Như vậy, hành vi bán phá giá đã được giới hạn trong phạm vi đối tượng tác động là hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam, thay vì cả hàng hóa nội địa của Việt Nam lẫn hàng hóa nhập khẩu như quan niệm tại Pháp lệnh giá 2002 Giá chuẩn được sử dụng để xác định về việc bán phá giá là giá thông thường của sản phẩm tương tự trên thị trường xuất khẩu mà không phải là giá thông thường trên thị trường Việt Nam Sẽ không có hiện tượng bán phá giá nếu giá xuất khẩu của hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam không thấp hơn giá bán của sản phẩm tương tự trên thị trường xuất khẩu cho dù có thấp hơn giá của sản phẩm cạnh tranh được sản xuất tại Việt Nam Mặt khác, bán phá giá không phải là hiện tượng các doanh nghiệp xuất khẩu với mức giá gây lỗ nên cơ quan có thẩm quyền sẽ không so sánh giá xuất khẩu với giá thành sản xuất của sản phẩm bị điều tra Bán phá giá chỉ đơn giản là hiện tượng phân biệt giá quốc tế trên các thị trường khác nhau [7] Ngoài ra, yếu tố thiệt hại cũng được đề cập đến, nhưng không phải với vai trò là căn cứ xác định hiện tượng bán phá giá, mà là một trong các điều kiện
để áp dụng biện pháp chống bán phá giá Cách tiếp cận này phù hợp với quan niệm truyền thống về bán phá giá và các quy định của ADA
1.1.2 Nguyên nhân dẫn đến hành vi bán phá giá
Trang 16Việc xem xét nguyên nhân gây ra hiện tượng bán phá giá phải được xem xét một cách kĩ lưỡng trong điều kiện tự do hóa thương mại quốc tế Hành vi bán phá giá có thể xuất phát từ những nguyên nhân sau:
Thứ nhất, xuất phát từ xu hướng phát triển của thương mại quốc tế, các quốc gia cắt giảm thuế thuế và hàng rào phi thuế quan dẫn đến các doanh nghiệp lạm dụng tự do cạnh tranh để cạnh tranh không lành mạnh Quá trình toàn cầu hóa dẫn đến việc hàng hóa và dịch vụ được lưu thông tự do và tất yếu dẫn tới sự cạnh tranh toàn cầu Để có thể tồn tại, mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ phải tự xác định các lợi thế
so sánh của mình, phát huy các ngành kinh tế mũi nhọn để chiếm lĩnh được thị trường thông qua việc đưa đến người tiêu dùng những hàng hóa, dịch vụ có chất lượng cao, giá thành hợp lý Ngày nay, tiến trình cắt giảm thuế quan và xóa bỏ các hàng rào phi thuế quan càng phổ biến, làm cho quá trình thương mại quốc tế diễn ra thuận lợi hơn, ranh giới lãnh thổ giữa các quốc gia ngày càng bị xóa mờ và sự cạnh tranh quốc tế trở nên gay gắt hơn bao giờ hết
Thứ hai, các doanh nghiệp có quyền tự do ấn định giá để chiếm lĩnh thị trường, thu lợi nhuận nên đã có hành vi bán phá giá làm bóp méo tương quan cạnh tranh trên thị trường quốc tế, vi phạm nguyên tắc về cạnh tranh công bằng, bình đẳng Trong bối cảnh chính phủ mỗi nước ngày càng giảm đi sự can thiệp của mình đối với vấn đề tự do cạnh tranh, hệ quả tất yếu là xuất hiện xu hướng lạm dụng tự
do cạnh tranh để trục lợi bất chính, mà tiêu biểu nhất là hành vi bán phá giá Dựa trên nguyên tắc tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh, các doanh nghiệp có quyền tự
ấn định giá bán hàng hóa khi tiếp cận thị trường một quốc gia khác
Thứ ba, bán phá giá còn được cho là xuất phát từ “sự khác biệt giữa chính sách pháp lý và kinh tế quốc dân giữa hai thị trường quốc gia” [22] Giữa các chính
sách kinh tế quốc dân của các quốc gia tồn tại sự khác biệt về cách thức phân bổ chi phí, quan niệm về bộ phận của giá thành sản xuất, ảnh hưởng đến chiến lược định giá trên các thị trường khác nhau Sự khác biệt trong chính sách pháp lý có thể tạo
Trang 17nên các cách tính toán khác nhau, dẫn tới việc kết luận về sự xuất hiện của hành vi bán phá giá
Khi một doanh nghiệp quyết định bán phá giá hàng hóa của mình, có thể họ đang mong muốn đạt được các mục đích như: (i) Bán phá giá để chiếm lĩnh thị phần; (ii) Bán phá giá để loại bỏ các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, từ đó chiếm thế độc quyền [15]; (iii) Bán phá giá nhằm thu ngoại tệ mạnh; (iv) Bán phá giá nhằm thực hiện mục tiêu trước mắt là thu hồi vốn gấp, giải quyết lượng hàng tồn kho, lỗi mốt v.v
1.1.3 Tác động của hành vi bán phá giá
Hành vi bán phá giá là một hành vi bị lên án vì những tác động của nó đến ngành sản xuất tương tự của thị trường nước nhập khẩu Tuy nhiên, nhìn nhận một cách tổng quan, bán phá giá không chỉ đem đến những tác động tiêu cực, mà cả các
tác động tích cực trong một chừng mực nhất định [11]
1.1.3.1 Những tác động tích cực
Thứ nhất, tác động đến người tiêu dùng: Trong một khoảng thời gian ngắn diễn ra hành vi bán phá giá, người tiêu dùng sẽ là đối tượng được hưởng lợi Người tiêu dùng sẽ có cơ hội mua những hàng hóa ngoại nhập với giá rẻ, thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của họ Đây có thể là động lực khuyến khích người tiêu dùng chi tiêu Ngoài ra, nếu doanh nghiệp nội địa tại nước nhập khẩu đang chi phối thị trường và giữ giá độc quyền, thì việc xuất hiện hành vi bán phá giá từ một doanh nghiệp nước ngoài có thể giải phóng người tiêu dùng khỏi sự bóc lột này
Thứ hai, tác động đến ngành sản xuất hàng hóa tương tự trong nước: Việc hàng hóa nhập khẩu xuất hiện và thu hút được sự quan tâm, tiêu dùng của người dân nước nhập khẩu chắc chắn sẽ tạo sức ép cho ngành sản xuất nội địa tìm ra phương pháp nâng cao khả năng cạnh tranh Sự tác động này mang tính tích cực đối với thị trường trong nước bởi sự cạnh tranh này sẽ có tác dụng giảm sức ì của các doanh nghiệp nội địa, giúp doanh nghiệp nội địa đổi mới sản xuất, nâng cao chất lượng và
hạ giá thành sản phẩm
Trang 18Thứ ba, tác động đến các doanh nghiệp có liên quan tại nước nhập khẩu: Các doanh nghiệp có liên quan được hiểu là các doanh nghiệp sản xuất mặt hàng khác nhưng có sử dụng nguyên liệu đầu vào là các hàng hóa nhập khẩu bị bán phá giá Nhờ tiếp cận hàng hóa nhập khẩu với giá rẻ, các doanh nghiệp dạng này sẽ có thể giảm chi phí đầu vào, phát triển sản xuất kinh doanh
1.1.3.2 Những tác động tiêu cực
Phải thừa nhận rằng, hành vi bán phá giá thường đem lại nhiểu ảnh hưởng tiêu cực hơn là ảnh hưởng tích cực, đặc biệt là khi hành vi này diễn ra trong một thời gian dài, quy mô rộng Những tác động xấu có thể nhận thấy là:
Thứ nhất, đối với người tiêu dùng: Nếu hành vi bán phá giá diễn ra trong một khoảng thời gian dài thì sẽ dẫn tới nguy cơ doanh nghiệp bán phá giá đã thực hiện chiếm lĩnh thị trường bằng cách bán phá giá để loại bỏ các đối thủ cạnh tranh Lúc này, người tiêu dùng có nguy cơ cao sẽ phải chịu thiệt hại do doanh nghiệp bán phá giá có thể tăng giá để lấy lại những phần đã mất từ việc bán phá giá
Thứ hai, tác động đến ngành sản xuất tương tự của nước nhập khẩu: Đây
là đối tượng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của hành vi bán phá giá Hành vi bán phá giá sẽ gây ra những thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất: sự suy giảm thực
tế hoặc tiềm ẩn doanh thu, lợi nhuận, sản lượng, thị phần, năng suất, việc làm, tiền lương, tăng trưởng Sản xuất của các nước nhập khẩu hàng hóa bán phá giá
có thể bị đình trệ, không cạnh tranh được với hàng nhập khẩu, mất thị trường và thậm chí phá sản
Như vậy, hành vi bán phá giá vừa có tác động tích cực, vừa có tác động tiêu cực đến thị trường nước nhập khẩu Đôi khi, hành vi bán phá giá có ảnh hưởng xấu đến đối tượng này nhưng lại tác động tốt đến đối tượng khác, chính vì vậy, Nhà nước cần đánh giá để lựa chọn việc ưu tiên bảo vệ lợi ích của đối tượng nào, góp phần giải quyết sự xung đột lợi ích
Trang 191.2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ VÀ PHÁP LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ
1.2.1 Khái niệm chống bán phá giá
Trong các văn bản pháp luật quốc tế về lĩnh vực bán phá giá hiện chưa có định nghĩa chính thức thế nào là chống bán phá giá Tuy nhiên, từ các quy định liên quan, có thể hiểu chống bán phá giá là công việc của các cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu áp dụng các biện pháp chống bán phá giá phù hợp tác động trực tiếp lên sản phẩm nhập khẩu bán phá giá để loại bỏ những thiệt hại mà sản phẩm nhập khẩu bán phá giá đó gây ra cho ngành sản xuất hàng hóa tương tự của nước mình
Việc chống bán phá giá phải được thực hiện bởi những cơ quan được nhà nước trao quyền, với các quyền hạn, nhiệm vụ được cụ thể hóa trong văn bản pháp luật chống bán phá giá Mục đích của việc chống bán phá giá là bảo hộ ngành sản xuất nội địa của nước nhập khẩu, bù đắp các thiệt hại đáng kể đã xảy ra do hành vi bán phá giá gây ra hoặc ngăn chặn nguy cơ có thể xảy ra thiệt hại đáng kể với ngành sản xuất nội địa Ngoài ra, đối với các quốc gia phát triển, các biện pháp chống bán phá giá còn được sử dụng với mục đích hạn chế mở cửa thị trường, hạn chế sự thâm nhập thị trường đối với các nhà xuất khẩu đến từ các quốc gia khác
Thông thường, các quốc gia đều áp dụng các biện pháp chống bán phá giá gồm: Áp dụng thuế chống bán phá giá tạm thời; thực hiện các biện pháp cam kết; áp dụng thuế chống bán phá giá chính thức Mỗi biện pháp chống bán phá giá trên đều phải được áp dụng vào đúng thời điểm, trình tự và do cơ quan có thẩm quyền áp dụng một cách thận trọng và chính xác
1.2.2 Khái niệm pháp luật chống bán phá giá
Pháp luật thương mại quốc tế luôn hướng tới mục tiêu là xây dựng sân chơi bình đẳng Khuôn khổ pháp lý này giúp duy trì trật tự cạnh tranh lành mạnh, cho phép các quốc gia tham gia xây dựng và áp dụng những chế định về bảo hộ ngành sản xuất trong nước Tại Việt Nam, pháp luật chống bán phá giá được xác định là
Trang 20một bộ phận của pháp luật thương mại, gồm các qui phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức, điều tra và áp dụng các biện pháp chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu nhằm duy trì một nền thương mại công bằng, qua đó bảo vệ lợi ích của ngành sản xuất nội địa [7]
Nội dung pháp luật chống bán phá giá điều chỉnh các vấn đề chính sau:
- Xây dựng các căn cứ pháp lý để xác định hành vi bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam, xác định thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi bán phá giá và thiệt hại; xác định biên độ phá giá;
- Quy định thủ tục điều tra và xử lý vụ việc chống bán phá giá: bao gồm các quy định về quá trình điều tra, áp dụng thuế chống bán phá gia như: thời hạn điều tra, nội dung hồ sơ khiếu nại, việc thu thập, xử lý và sử dụng các thông tin, quyền tố tụng của các bên liên quan;
- Các quy định về việc áp dụng các biện pháp tạm thời, biện pháp chống bán phá, thủ tục rà soát quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá
- Vấn đề thẩm quyền, chức năng, cơ cấu tổ chức hệ thống cơ quan thực thi pháp luật chống bán phá giá gồm cơ quan điều tra và hội đồng xử lý vụ việc
1.2.3 Sơ lược quá trình phát triển của pháp luật chống bán phá giá ở Việt Nam
Xu thế toàn cầu hóa đã thực sự tác động đến Việt Nam trong những năm của quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, các quan hệ xã hội cũng dần thay đổi để trở nên phù hợp hơn Là một quốc gia có xuất phát điểm kinh tế còn chậm phát triển, sự tác động của quá trình hội nhập đòi hỏi Việt Nam phải nỗ lực thay đổi các thể chế pháp lý Trong lịch sử chống bán phá giá ở Việt Nam, do cơ chế bao cấp cho nên việc tiếp cận với các hiện tượng thương mại quốc tế còn hạn chế Chỉ khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì pháp luật chống bán phá giá mới bắt đầu xuất hiện
Trang 21Luật thương mại 1997 là văn bản pháp lý đầu tiên đề cập đến vấn đề bán phá giá với ý nghĩa là một hành vi cạnh tranh không lành mạnh Theo đó, hành vi bán phá giá lần đầu được ghi nhận tại điểm b khoản 2 điều 8 của luật thương mại 1997
“Nghiêm cấm các hành vi cạnh tranh gây tổn hại đến lợi ích quốc gia và các hành vi bán phá giá để cạnh tranh”[13] Đồng thời, Luật cũng quy định trách nhiệm pháp lý đối với hành vi này “Người thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh
có thể bị xử phạt hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm, và phải bồi thường thiệt hại cho cá nhân, tổ chức khác nếu hành vi
đó gây ra thiệt hại” (Điều 257, 258 Luật thương mại 1997) Lịch sử phát triển của
pháp luật chống bán phá giá cũng đã từng tồn tại những quan niệm tương tự cho rằng bán phá giá là hành vi vi phạm pháp luật nên người thực hiện phải gánh chịu
sự trừng phạt của pháp luật [8]
Có thể thấy, hành vi bán phá giá chỉ được nêu tên trong luật thương mại
1997 của Việt Nam mà không có bất kì sự quy định cụ thể nào về khái niệm, cách xác định hành vi bán phá giá hay các yếu tố cấu thành khác Các quy định về hành
vi bán phá giá tại Luật thương mại 1997 chỉ mang tính chất quy định, không khả thi
và chưa từng được áp dụng vào thực tế
Tiếp đó, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 04/1998/QH10 quy định cho phép áp dụng thuế chống bán phá giá đối với hàng nhập khẩu bán phá giá vào Việt Nam [12] Tuy nhiên, các quy định của pháp luật về bán phá giá vẫn không thể áp dụng vì chưa có cơ chế điều tra, xử lý cũng như các cơ chế thực thi phù hợp
Cùng với việc tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam cần có các chế định pháp luật về thương mại quốc tế vừa đáp ứng các chuẩn mực pháp lý mà các định chế kinh tế quốc tế đòi hỏi, vừa đảm bảo khả năng điều tiết kinh tế hiệu quả Đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn thương mại quốc tế, ngày 29/4/2004, Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh chống bán phá giá đối với hàng hóa nhập khẩu, chính thức có hiệu lực vào ngày 1/10/2004 Đây được coi là văn bản đầu tiên của Việt Nam
Trang 22điều chỉnh một cách trực tiếp và toàn diện vấn đề này Bên cạnh đó, các văn bản hướng dẫn thi hành Pháp lệnh cũng được nhà nước ban hành như: nghị định 90/2005/NĐ-CP ngày 11/7/2005 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam; Nghị định số 04/2006/NĐ-CP ngày 9/1/2006 về thành lập và quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Hội đồng xử lý vụ việc chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ; Nghị định 06/2006/NĐ-
CP ngày 9/1/2006 quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý cạnh tranh - Bộ công thương
Như vậy, có thể nhận thấy pháp luật chống bán phá giá chỉ được hình thành sau gần 20 năm xây dựng và phát triển kinh tế thị trường Sự ra đời này của chế định này là kết quả tất yếu của quá trình hội nhập kinh tế Qua đó có thể thấy các nhà làm luật và cơ quan quản lý Việt Nam đã có sự quan tâm đến lĩnh vực pháp luật chống bán phá giá, xây dựng được một khung pháp lý tương đối tương thích với khung pháp lý chung của WTO về vấn đề này
1.2.4 Vai trò của pháp luật chống bán phá giá
Chống bán phá giá là một vấn đề đa chiều và các quy định của pháp luật chống bán phá giá có sự liên quan mật thiết đến các vấn đề chính trị, kinh tế, thể chế
và truyền thống Nhìn nhận một cách khái quát, có thể thấy một số vai trò của pháp luật chống bán phá giá như sau:
Thứ nhất, pháp luật chống bán phá giá có vai trò bảo vệ ngành sản xuất nội địa chống lại các đối thủ cạnh tranh với những hành vi cạnh tranh không lành mạnh nhằm chiếm lĩnh thị trường bằng các sản phẩm nhập khẩu giá rẻ Khi tự do thương mại đã trở thành xu hướng tất yếu, các quốc gia cần đến chế định pháp luật chống bán phá giá như một chiếc “van an toàn” có thể được khóa lại bất cứ lúc nào nhằm ngăn chặn ngay lập tức hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các doanh nghiệp nước ngoài Việc bảo hộ ngành sản xuất trong nước không chỉ phục vụ mục đích trước mắt là tự vệ trước những hành vi cạnh tranh không lành mạnh mà còn phục vụ
Trang 23yêu cầu lâu dài là tạo điều kiện cho việc xây dựng những ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam
Thứ hai, pháp luật chống bán phá giá giúp bảo vệ tự do thương mại, duy trì trật tự của thị trường chung Xét trên bình diện rộng lớn, bảo vệ sự ổn định cho ngành sản xuất nội địa của mỗi quốc gia sẽ góp phần duy trì trật tự thương mại quốc
tế công bằng Tuy nhiên, các công cụ chống bán phá giá phải được sử dụng một cách đúng đắn, tránh tình trạng lạm dụng nhằm ngăn cản tự do hóa thương mại
Đối với Việt Nam, một quốc gia có nền kinh tế còn chưa thực sự phát triển, việc bảo hộ các ngành sản xuất trong nước trước sức ép cạnh tranh của các doanh nghiệp nước ngoài là một việc rất quan trọng Chính vì vậy, trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay, việc triển khai Pháp luật chống bán phá giá có ý nghĩa cực kì quan trọng đối với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Khi hàng rào huế quan dần dần được cắt giảm theo lộ trình mở cửa thị trường, luồng hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam sẽ có nhiều lợi thế cạnh tranh hơn Mặt khác, nhiều tập đoàn đa quốc gia với sức mạnh tài chính của mình có thể thực hiện hành vi thương mại không công bằng nhằm thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường Vì vậy, công cụ chống bán phá giá khi được tận dụng một cách hợp lý, phù hợp với các quy định của hiệp định mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia sẽ giúp hạn chế được thiệt hại đáng kể hoặc đe dọa gây thiệt hại đáng
kể mà luồng hàng hóa nhập khẩu bị bán phá giá gây ra cho ngành sản xuất trong nước Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với ngành sản xuất có xuất phát điểm thấp [27]
1.2.5 Pháp luật chống bán phá giá của một số quốc gia và tổ chức trên
thế giới
1.2.5.1 Pháp luật chống bán phá giá của WTO
Vấn đề chống bán phá giá lần đầu tiên Hiệp hội các quốc gia (League of Nations) nghiên cứu ngay từ năm 1922 Đến năm 1947, với sự ra đời của tổ chức GATT (General Agreement of Tariffs and Trade - Hiệp ước chung về thuế quan và thương mại), các biện pháp chống bán giá chính thức được đặt dưới sự chi phối của
Trang 24pháp luật quốc tế Lúc ấy, vấn đề này chưa được chú ý nhiều mà chỉ về sau, khi thương mại phát triển ngày càng nhanh, sự cạnh tranh trở nên ráo riết hơn, và các nước thành viên của GATT cũng ngày càng đông đảo hơn, thì chống bán phá giá mới trở thành một mối quan tâm thật sự Năm 1967, một số quy định về chống bán phá giá tại GATT được chuẩn hoá trong Hiệp định về thi hành điều VI của GATT (Agreement on the Implementation of Article VI), thường được gọi tắt là Hiệp định chống bán phá giá (ADA) Hiệp định này không chỉ quy định về chống phá giá, mà còn qui định các biện pháp chống tài trợ đối với hàng nhập khẩu đã được tài trợ tại nơi sản xuất Thời gian sau đó, Hiệp định về chống bán giá được bổ sung thêm nhiều nội dung quan trọng
Là một trong những hiệp định thương mại đa biên của WTO, Hiệp định chống bán phá giá có hiệu lực bắt buộc đối với tất cả các nước thành viên của WTO Vì vậy, các quốc gia thành viên có thể không ban hành Luật chống bán phá giá riêng của quốc gia mà áp dụng trực tiếp các quy định của Hiệp định chống bán phá giá của WTO Tuy nhiên, các quốc gia thành viên WTO thường vẫn ban hành luật chống bán phá giá riêng của quốc gia mình trên cơ sở kế thừa các quy định chung của ADA và bổ sung những điều khoản chi tiết để phù hợp với thực tiễn của mỗi quốc gia
Các quy định trong Hiệp định chống bán phá giá ADA được coi là cơ sở pháp lý giúp các nước bảo hộ quyền lợi chính đáng của các ngành sản xuất trong nước khi xảy ra hiện tượng bán phá giá Năm 1995, WTO đã thành lập Uỷ ban về chống bán phá giá (Committee on Anti-dumping Practices) để giám sát việc điều tra
và áp dụng thuế chống bán phá giá đối với các nước thành viên Sau khi phát hiện ra hàng hoá bị bán phá giá có khả năng ảnh hưởng đến sản xuất trong nước, các ngành
đó đề nghị những cơ quan hữu trách thực hiện việc điều tra và đưa ra kết luận về việc có thực hiện hay không thuế chống bán phá giá để bảo vệ sản xuất trong nước [6]
Trang 25Hiệp định chống bán phá giá của WTO gồm 3 phần, chia thành 18 điều và tập trung quy định 4 nhóm vấn đề chính gồm: (i) Các quy định về nội dung, bao gồm các điều khoản quy định về cách thức, tiêu chí xác định hành vi bán phá giá, thiệt hại, mối liên hệ nhân quả giữa việc bán phá giá và thiệt hại; (ii) Các quy định
về thủ tục, bao gồm các điều khoản về điều tra, áp đặt thuế chống bán phá giá như thời hạn điều tra, nội dung đơn kiện, quyền tố tụng của các bên liên quan (iii) Các quy định về thẩm quyền của Ủy ban về chống bán phá giá, chức năng, hoạt động của Ủy ban trong quá trình điều tra vụ việc chống bán phá giá; và (iv) Các quy định
về thủ tục giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia liên quan đến biện pháp chống bán phá giá, bao gồm các quy tắc áp dụng cho việc giải quyết tranh chấp phát sinh trong vụ việc bán phá giá
1.2.5.2 Pháp luật chống bán phá giá của Liên minh Châu Âu (EU)
Luật chống bán phá giá của EU ra đời năm 1968 và đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần nhằm đưa ra những quy định mới đối với việc thực hiện điều VI của Hiệp định chung về Thuế quan và Mậu dịch 1994 vào luật của EU hiện nay Pháp luật chống bán phá giá của EU có sự phân biệt về các điều khoản áp dụng đối với các nước bị coi
là chưa có nền kinh tế thị trường hoặc nước đang trong quá trình chuyển đổi
Luật sửa đổi năm 1996 đã quy định về việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá chỉ khi nào thỏa mãn 4 điều kiện sau: Mặt hàng đó đang bị bán phá giá; ngành công nghiệp sản xuất mặt hàng đó đang phải chịu thiệt hại (các tổn thương vật chất) hoặc đang bị đe dọa; có mối quan hệ nhân quả giữa hàng nhập khẩu đó và thiệt hại của ngành công nghiệp của EU; và việc áp đặt biện pháp chống bán phá giá vì lợi ích cộng đồng Các quy định hiện có của EU được thay thế bởi Quy chế chống bán phá giá mới, có hiệu lực từ ngày 1/1/1995, sau đó được cập nhập bởi Quy chế 284/96 có hiệu lực từ ngày 6/3/1996 Quy chế đồng thời cũng đưa ra giới hạn thời gian chặt chẽ cho việc hoàn thành điều tra và ra quyết định nhằm đảm bảo rằng các đơn khiếu kiện được giải quyết nhanh chóng
và hiệu quả [28]
Trang 26Khi mặt hàng nào đó được xác định là bán phá giá vào thị trường EU và có đơn kiện của người sản xuất của Liên minh thì Ủy ban châu Âu sẽ xem xét việc bán phá giá đó có ảnh hưởng đến lợi ích chung của EU hay không [16] Việc xây dựng
và ban hành Hiệp định chống bán phá giá 1968 đánh dấu một bước phát triển khá quan trọng của Liên minh châu Âu, tăng cường sự bảo hộ cho khối kinh tế này
1.2.5.3 Pháp luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ
Luật chống bán phá giá đầu tiên của Hoa Kỳ được ban hành vào năm 1916 và vẫn có ý nghĩa rất lớn đối với các quy định chống bán phá giá sau này [10] Cơ sở pháp lý cho hoạt động điều tra chống bán phá giá được quy định trong Luật thuế quan của Hoa Kỳ năm 1930 (Tariff Act 1930), được pháp điển hóa tại Mục 19 U.S.C, phần 1671-1671n, và sau đó được sửa đổi nhiều lần bởi các văn bản khác nhau Những hướng dẫn cụ thể để thực hiện việc điều tra chống bán phá giá được quy địh trong Phần 351 của Tập Các quy định liên bang (Code of Federal Regulations), tại Mục 19 CFR phần 351.101 – 702 và Mục 19 CFR phần 207.1-120 [26]
Các vụ kiện chống bán phá giá theo luật pháp Hoa Kỳ là vụ kiện giữa các bên tư nhân, trong đó nguyên đơn là các nhà sản xuất Hoa Kỳ và bị đơn là các nhà sản xuất và xuất khẩu nước ngoài Tuy các cơ quan của Chính phủ Hoa Kỳ có thẩm quyền tiến hành điều tra theo yêu cầu của ngành công nghiệp nội địa Hoa Kỳ, nhưng Chính phủ Hoa Kỳ không phải là một bên trong vụ kiện Thông thường, chính phủ quốc gia của nhà sản xuất và xuất khẩu nước ngoài cũng không trực tiếp tham gia vào vụ kiện, trừ một số trường hợp đặc biệt
Mục đích của luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ là cho phép chính quyền Hoa Kỳ thu thuế nhập khẩu đặc biệt, gọi là “thuế chống bán phá giá” để bù lại phần tổn hại do việc nhập khẩu hàng hóa với giá ở mức “không công bằng” (unfair value)
Thuế chống phá giá được áp dụng đối với hàng nhập khẩu khi nó được xác định là hàng nước ngoài được bán “phá giá” vào Hoa Kỳ, hoặc sẽ bán phá giá ở Hoa
Kỳ với giá “thấp hơn giá trị thông thường” Thấp hơn giá trị thông thường có nghĩa
Trang 27là giá xuất khẩu vào Hoa Kỳ thấp hơn giá bán của hàng hóa đó ở nước xuất xứ hoặc
ở nước thứ ba thay thế thích hợp
Thuế chống phá giá được áp dụng khi có đủ hai điều kiện (i) DOC phải xác định hàng nước ngoài đang được bán phá giá hoặc có thể sẽ được bán phá giá ở thị trường Hoa Kỳ; và (ii) ITC phải xác định hàng nhập khẩu được bán phá giá đang gây thiệt hại vật chất hoặc đe dọa gây thiệt hại vật chất hoặc ngăn cản hình thành ngành công nghiệp tương tự tại Hoa Kỳ
Cũng giống như trường hợp luật thuế chống trợ giá, các thủ tục điều tra về bán phá giá được tiến hành khi có đơn khiếu kiện của một ngành công nghiệp hoặc
do DOC tự khởi xướng (trường hợp DOC tự khởi xướng rất hiếm khi xảy ra) Đơn kiện được gửi đồng thời cho cả ITC và DOC ITC và DOC bắt đầu điều tra vụ kiện gồm điều tra sơ bộ và điều tra cuối cùng Sau đó, Lệnh áp dụng thuế chống bán phá giá sẽ được đưa ra khi cả ITC và DOC đều khẳng định có hàng hóa nhập khẩu được bán phá giá với đầy đủ các điều kiện luật định Lệnh này sẽ chính thức được áp dụng trên thực tế sau khi công bố trên Công báo Liên bang (Federal Registry) Sau
5 năm kể từ khi áp dụng biện pháp chống bán phá giá, DOC và ITC có trách nhiệm
rà soát lại để xem xét việc hủy bỏ hay không hủy bỏ biện pháp chống bán phá giá đang áp dụng Pháp luật Hoa Kỳ cho phép gia hạn hiệu lực thêm 5 năm đối với các biện pháp chống bán phá giá nếu có kết luận khẳng định hiện tượng bán phá giá vẫn đang tiếp diễn Hết 5 năm tiếp theo đó, một cuộc “rà soát hoàng hôn” nữa được tiến hành và cứ thế tiếp tục
Có thể thấy, hệ thống pháp luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ được quy định một cách rất chặt chẽ và đầy đủ Hoa Kỳ cũng là một trong những quốc gia sử dụng công cụ chống bán phá giá với số lượng nhiều nhất trên thế giới [18]
Trang 28Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ Ở VIỆT NAM
2.1 NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ VIỆC XÁC ĐỊNH HÀNH VI BÁN PHÁ GIÁ VÀO VIỆT NAM
Tiến hành đầy đủ các bước trong quy trình chống bán phá giá Việc làm này đòi hỏi sự chính xác và thận trọng bởi lẽ đây là vấn đề có thể ảnh hưởng đến uy tín, quan hệ chính trị - kinh tế giữa các quốc gia, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang
nỗ lực thực hiện chủ trương tự do hóa thương mại, hội nhập kinh tế quốc tế
Vấn đề xác định hành vi bán phá giá có ý nghĩa là tiền đề, cơ sở để cơ quan
có thẩm quyền áp dụng các biện pháp chống bán phá giá đối với hàng hóa đó
Đối với vấn đề xác định hàng hóa bán phá giá nhập khẩu vào Việt Nam, điều
3 PLCBPG qui định:
1 Hàng hóa có xuất xứ từ nước hoặc vùng lãnh thổ bị coi là bán phá giá khi nhập khẩu vào Việt Nam (sau đây gọi là hàng hoá bán phá giá vào Việt Nam) nếu hàng hoá đó được bán với giá thấp hơn giá thông thường theo quy định tại khoản 2
và khoản 3 Điều này
2 Giá thông thường của hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam là giá có thể so sánh được của hàng hoá tương tự đang được bán trên thị trường nội địa của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường
3 Trong trường hợp không có hàng hoá tương tự được bán trên thị trường nội địa của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu hoặc có hàng hoá tương tự được bán trên thị trường nội địa của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu nhưng với khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa không đáng kể thì giá thông thường của hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam được xác định theo một trong hai cách sau đây:
a) Giá có thể so sánh được của hàng hoá tương tự của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu đang được bán trên thị trường một nước thứ ba trong các điều kiện thương mại thông thường;
Trang 29b) Giá thành hợp lý của hàng hoá cộng thêm các chi phí hợp lý khác và lợi nhuận ở mức hợp lý, xét theo từng công đoạn từ sản xuất đến lưu thông trên thị trường của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu hoặc nước thứ ba
Như vậy, để xác định hàng hóa bị bán phá giá được nhập khẩu vào Việt Nam cần xác định giá thông thường (GTT) và giá xuất khẩu (GXK) hàng hóa đó vào Việt Nam, trên cơ sở đó có thể tính toán biên độ phá giá
2.1.1 Xác định giá thông thường của hàng hóa nhập khẩu
Theo tinh thần của PLCBPG, GTT của hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam được hiểu là giá trị chuẩn hoặc giá trị công bằng để so sánh và để xác định mức phá giá của GXK Pháp luật hiện hành quy định các cách xác định GTT sau:
♦ Cách thứ nhất: xác định theo qui định tại khoản 2 điều 3 PLCBPG thì
“Giá thông thường của hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam là giá có thể so sánh được của hàng hoá tương tự đang được bán trên thị trường nội địa của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường” Đây là cách
thức chuẩn và được áp dụng phổ biến Đối với cách thức này, GTT của hàng hóa nhập khẩu được xác định từ giá của hàng hóa tương tự trong các giao dịch mua bán trên thị trường của nước xuất khẩu Để tính GTT, cơ quan thực thi phải lựa chọn các giao dịch nội địa tương tự với giao dịch giao dịch xuất khẩu diễn ra trong thời kì điều tra để tính GTT Điều kiện để xác định được GTT là:
(i) Hàng hóa tương tự là hàng hoá có tất cả các đặc tính giống với hàng hoá bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá hoặc trong trường hợp không có hàng hoá nào như vậy thì là hàng hoá có nhiều đặc tính cơ bản giống với hàng hoá bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá (khoản 6 điều 2 PLCBPG) PLCBPG đưa
ra hai khả năng lựa chọn cho các trường hợp khác nhau: thứ nhất là “hàng hoá có tất
cả các đặc tính giống với hàng hoá bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá”; thứ hai là “hàng hoá có nhiều đặc tính cơ bản giống với hàng hoá bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá” Mặc dù PLCBPG đưa ra quy định như vậy
nhưng cả PLCBPG lẫn Nghị định 90/2005/NĐ-CP đều không quy định những yếu tố
Trang 30nào được coi là đặc tính và đặc tính cơ bản của hàng hóa [1] Thông thường, các yếu
tố như đặc tính vật lí, công dụng, đặc tính kĩ thuật của hàng hóa, cách thức trưng bày, phân phối và tiêu thụ của hàng hóa được coi là những đặc tính của sản phẩm
(ii) Hàng hóa tương tự phải “đang được bán” tại thị trường nội địa của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu Cách quy định này còn có điểm hạn chế, đó là có thể dẫn đến cách hiểu để xác định GTT thì chỉ cần xác định được giá có thể so sánh được của hàng hóa đang được bán (được chuyển nhượng, giao dịch) trên thị trường của nước xuất khẩu Hàng hóa đó có thể được bán cho các tổ chức, cá nhân tiêu dùng hoặc kinh doanh trong nội địa, nhưng cũng có thể được bán cho các nhà xuất khẩu để phục vụ mục đích tiêu dùng ở nước ngoài Quy định của ADA chặt chẽ hơn
với việc chỉ rõ “giá có thể so sánh được là giá của hàng hóa tương tự dành riêng cho tiêu thụ trong nước xuất khẩu trong điều kiện thương mại thông thường”
Trong quy định về việc xác định GTT theo cách thứ nhất còn đề cập đến một yếu tố nữa, đó là điều kiện thương mại thông thường Điều kiện thương mại thông thường có thể hiểu là các giao dịch mua bán hàng hóa diễn ra trong môi trường cạnh tranh, trong đó giá cả chịu sự tác động của quy luật cung cầu Điều kiện thương mại thông thường có ý nghĩa là cơ sở để thẩm tra mức độ trung thực và đáng tin cậy của giá bán trong các giao dịch nội địa được lựa chọn để tính toán giá thông thường Tại điều 3 của PLCBPG có đưa ra một yêu cầu về việc xác định GTT phải là giá có thể
so sánh được của hàng hoá tương tự đang được bán trên thị trường nội địa của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường Tuy nhiên, PLCBPG cũng như văn bản hướng dẫn đều không chỉ rõ thế nào là điều kiện thương mại thông thường Đây có thể coi là một thiếu sót của PLCBPG của Việt Nam Dẫn chiếu quy định này đến ADA - hiệp định chống bán phá giá của WTO,
có thể nhận thấy ADA quy định về điều kiện thương mại thông thường dựa trên việc chỉ rõ các trường hợp không thuộc điều kiện thương mại thông thường Theo
đó, một hành vi bán hàng với giá bán dưới giá thành bị coi là không theo điều kiện thương mại thông thường khi đáp ứng cả 4 điều kiện: (i) Giao dịch có giá thấp hơn tổng các loại chi phí được tính toán trên cơ sở sổ sách và ghi chép của doanh nghiệp
Trang 31xuất khẩu hoặc doanh nghiệp sản xuất là đối tượng bị điều tra, với điều kiện là sổ sách này là phù hợp với nguyên tắc kế toán được chấp nhận rộng rãi tại nước xuất khẩu và phản ánh hợp lý các chi phí đi kèm với việc sản xuất và bán hàng đang được xem xét; (ii) Việc bán hàng lỗ vốn đang được thực hiện trong một khoảng thời gian dài; (iii) Lượng hàng hóa lỗ vốn là đáng kể; (iv) Giá bán trong giao dịch nói trên không đủ bù đắp chi phí trong khoảng thời gian hợp lý
Như vậy, những giao dịch được coi là có giá bán không theo điều kiện thương mại thông thường khi giao dịch đó đáp ứng cả 4 trường hợp trên Một khi giao dịch được xác định không theo điều kiện thương mại thông thường sẽ đương nhiên bị loại bỏ khỏi việc tính toán giá thông thường
♦ Cách thứ hai, giá thông thường của hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam
được xác định là giá có thể so sánh được của hàng hoá tương tự của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu đang được bán trên thị trường một nước thứ ba trong các điều kiện thương mại thông thường (điểm a khoản 3 điều 3 PLCBPG) Cách này chỉ được sử dụng khi nước xuất khẩu có bán hàng hóa tương tự sang nước thứ ba bất kì với điều kiện giá bán được lựa chọn là giá có thể so sánh được và việc bán hàng hóa tương tự được thực hiện trong điều kiện thương mại thông thường So sánh với cách
quy định của WTO về vấn đề này, ADA quy định “GTT là giá có thể so sánh được của hàng hóa tương tự được xuất khẩu sang một nước thứ ba thích hợp” Do đó,
giao dịch được lựa chọn để tính GTT là các giao dịch xuất khẩu hàng hóa tương tự
từ nước xuất khẩu đến nước thứ ba thích hợp Giá được lựa chọn là GXK của hàng hóa tương tự trong các giao dịch trên Còn PLCBPG của Việt Nam sử dụng cụm từ
“đang được bán trên thị trường một nước thứ ba” nên có thể hiểu rằng GTT được
tính toán từ các giao dịch mua bán hàng hóa tương tự của nước xuất khẩu trên thị trường nước thứ ba Với cách hiểu này, quy định của pháp luật Việt Nam không hiệu quả bởi việc tìm kiếm các giao dịch mua bán đủ điều kiện trên thị trường nước thứ ba không đơn giản và những khác biệt trên thị trường có liên quan có thể làm sai lệch kết quả so sánh Trên thực tế, cách thức thứ hai để xác định GTT này thường ít được áp dụng do tính phức tạp của nó Nếu sử dụng phương thức này, cơ
Trang 32quan điều tra phải xem xét liệu GTT của hàng hóa tương tự đang được bán trên thị trường của một nước thứ ba có cao hơn chi phí sản xuất hay không, để chứng tỏ rằng việc bán hàng hóa này sang nước thứ ba cũng ở trong điều kiện thương mại thông thường Ngoài ra, để được sử dụng làm GTT, giá bán hàng hóa tương tự trên thị trường nước thứ ba cần đáp ứng đủ mọi điều kiện giống như cách thức tính thứ nhất (cách thức chuẩn), bao gồm điều kiện về số lượng, khối lượng hàng hóa được mua bán, về cấp độ thương mại, điều kiện thương mại thông thường
♦ Cách thứ ba, giá thông thường của hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam
được xác định là giá thành hợp lý của hàng hoá cộng thêm các chi phí hợp lý khác
và lợi nhuận ở mức hợp lý, xét theo từng công đoạn từ sản xuất đến lưu thông trên thị trường của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu hoặc nước thứ ba (điểm b khoản
3 điều 3 PLCBPG) Cách thức này được quy định tương đối phù hợp với quy định của ADA Phương pháp này cũng được áp dụng trên thực tế tương đối nhiều, điều kiện của việc áp dụng là việc phải đáp ứng các yêu cầu về nghiệp vụ, kĩ thuật thu thập, phân tích thông tin, về chi phí sản xuất Phương pháp này cho kết quả tính toán có độ chuẩn xác và tính đại diện khá cao bởi giá cấu thành luôn được đảm bảo
là một mức giá có lợi nhuận hợp lý
Ngoài ba cách tính GTT đã được đề cập ở trên, Nghị định 90/2005/NĐ-CP còn bổ sung thêm hai cách tính GTT như: (i) Trường hợp hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam thông qua một nước, vùng lãnh thổ trung gian thứ ba, GTT sẽ được xác định là mức giá có thể so sánh được của hàng hóa tương tự tại nước, vùng lãnh thổ xuất khẩu; (ii) Trường hợp hàng hóa chỉ đơn thuần chuyển qua cảng của nước, vùng lãnh thổ thứ ba, hoặc không tồn tại mức giá nào có thể so sánh được với các hàng hóa tại nước, vùng lãnh thổ trung gian thứ ba, GTT được xác định là mức giá có thể
so sánh được của hàng hóa liên quan tại nước, vùng lãnh thổ xuất xứ
Từ những phân tích trên, có thể nhận thấy các qui định của PLCBPG của Việt Nam đã đưa ra những khái niệm và nguyên tắc cơ bản về việc xác định giá trị
Trang 33thông thường của hàng hóa nhập khẩu Những nội dung này khá tương thích với hiệp định ADA của WTO
Một ưu điểm của pháp luật chống bán phá giá của Việt Nam là trong quy định về xác định GTT đã không có sự phân biệt đối xử giữa nước có nền kinh tế thị trường và nước có nền kinh tế phi thị trường Theo ADA và pháp luật nhiều nước khác như Hoa Kỳ, EU, Ấn Độ , nếu sản phẩm đang bị điều tra có nguồn gốc từ nước có nền kinh tế phi thị trường thì GTTT có thể được xác định trên giá bán sản phẩm tương tự tại thị trường nước thứ ba Nước thứ ba thay thế được chọn để xác định GTTT phải là nước có sản phẩm tương đồng với nước xuất khẩu sản phẩm bị điều tra Tuy nhiên cách xác định GTTT trong trường hợp này thường không công bằng, gây bất lợi cho doanh nghiệp xuất khẩu [4] Chính các doanh nghiệp Việt Nam đã nhiều lần bị kiện chống bán phá giá với cách thức xác định GTTT như vậy Nhận thức được sự thiếu công bằng của cách xác định này, PLCBPG của Việt Nam
đã không quy định sự phân biệt đối xử trong cách tính GTT giữa các nước có nền kinh tế phi thị trường và nước có nền kinh tế thị trường
Bên cạnh ưu điểm trên, phải thừa nhận một điểm hạn chế là các quy định về xác định GTT của Việt Nam vẫn còn khá đơn giản, thậm chí không đầy đủ so với các qui định của WTO Những nội dung còn chưa được quy định là: xác định điều kiện thương mại thông thường, căn cứ xác định khối lượng, số lượng hoặc giá trị hàng hóa không đáng kể, cách thức tính giá thông thường từ các giao dịch nội địa Những hạn chế này cần có giải pháp khắc phục để tăng hiệu quả thực thi cho các quy định của pháp luật
2.1.2 Xác định giá xuất khẩu
Mặc dù PLCBPG quy định cách xác định hàng hóa bán phá giá vào Việt Nam dựa trên cách so sánh sự chênh lệch giữa GXK và GTT, tuy nhiên lại không đề cập đến khái niệm GXK Thay vào đó, tại khoản 4,5 điều 26 của Nghị định 90/2005/NĐ-CP lại đưa ra cách xác định GXK dựa trên hai cách sau:
Trang 34Thứ nhất, giá xuất khẩu của hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam được tính bằng giá bán hàng hóa của nhà sản xuất hoặc nhà xuất khẩu nước ngoài bán cho nhà nhập khẩu tại Việt Nam, xác định thông qua các chứng từ giao dịch hợp pháp
Thứ hai, trường hợp không tồn tại giá xuất khẩu hoặc có căn cứ rõ ràng để cho rằng giá xuất khẩu là không đáng tin cậy, Cơ quan điều tra sẽ xác định giá xuất khẩu theo một trong hai phương pháp: một là, giá được xây dựng trên cơ sở giá của hàng hóa nhập khẩu bán cho người mua độc lập đầu tiên tại Việt Nam; hai là, giá được tính toán dựa trên các cơ sở hợp lý theo quyết định của Cơ quan điều tra
Ở trường hợp thứ nhất, giá bán trong giao dịch xuất khẩu giữa doanh nghiệp sản xuất hoặc xuất khẩu nước ngoài và nhà nhập khẩu Việt Nam được xác định là GXK Yêu cầu đặt ra là phải xác định đúng doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp xuất khẩu nước ngoài và nhà nhập khẩu Việt Nam Trên thực tế, trong giao dịch xuất khẩu hàng hóa luôn tồn tại những khâu trung gian, các khâu chuyển giao tạm thời giữa các bên mua bán làm cho hình thức của giao dịch không phản ánh đúng chủ thể của quan hệ xuất nhập khẩu Đối với việc xác định GXK theo cách thứ nhất này, các nhà làm luật Việt Nam chưa xây dựng cơ chế để xác định chính xác giao dịch xuất khẩu trong trường hợp có sự tham gia của các bên trung gian hoặc hàng hóa được trung chuyển qua một nước thứ ba trước khi vào Việt Nam
Ngoài ra, để xác định GXK theo cách thức này, một vấn đề nữa cần lưu ý là phải thẩm định tính hợp pháp của các chứng từ được cung cấp thông qua các chứng
từ giao dịch hợp pháp Các chứng từ do các bên cung cấp cho cơ quan điều tra bao gồm giấy tờ chứng minh về giá hàng hóa trong giao dịch mua bán như hợp đồng ngoại thương, vận đơn, thư tín dụng
Tuy nhiên, trên thực tế, những số liệu thống kê về giá nhập khẩu được dựa trên giá mà người xuất khẩu nước ngoài khai báo không phải luôn luôn chính xác, ngay cả trong trường hợp chứng từ giao dịch hợp pháp Bởi vì, trong khâu khai báo tính thuế hải quan, các nhà xuất khẩu thường có xu hướng khai báo GXK thấp nhất
có thể để giảm tối đa nghĩa vụ thuế nhập khẩu Nếu GXK trong trường hợp này
Trang 35được dùng làm căn cứ điều tra chống bán phá giá thì đây lại là điểm bất lợi đối với chính các nhà xuất khẩu [17]
Trường hợp thứ hai, nếu không tồn tại GXK hoặc có căn cứ rõ ràng để cho rằng giá xuất khẩu là không đáng tin cậy, Cơ quan điều tra sẽ xác định giá xuất khẩu theo một trong hai phương pháp sau đây:
+ Giá được xây dựng trên cơ sở giá của hàng hóa nhập khẩu bán cho người mua độc lập đầu tiên tại Việt Nam: Cơ quan điều tra sử dụng giá bán hàng hóa trong các giao dịch ở công đoạn mua bán kế tiếp với điều kiện người mua và người bán phải độc lập, tức là không có quan hệ liên kết với nhau Để bảo đảm GXK là giá xuất xưởng của nhà xuất khẩu nước ngoài bán cho nhà nhập khẩu, khi tính toán theo phương thức này, cần khấu trừ các chi phí, các khoản thuế hoặc chi phí phát sinh liên quan đến việc bán lại hàng hóa trên thị trường nước nhập khẩu mà việc bán hàng trên thị trường nước xuất khẩu không phải gánh chịu
+ Giá được tính toán dựa trên các cơ sở hợp lý theo quyết định của Cơ quan điều tra: Theo phương thức này, việc tính toán GXK hoàn toàn phụ thuộc quyền quyết định của cơ quan điều tra theo những cách thức mà họ cho là hợp lí
Pháp luật của Việt Nam về GXK nhìn chung đã đưa ra các quy định giống các quy định của WTO Tại ADA, việc xác định GXK cũng dựa vào các cách thức
là giá trong giao dịch mua bán giữa nhà sản xuất hoặc nhà xuất khẩu của nước xuất khẩu với nhà nhập khẩu của nước nhập khẩu Trong trường hợp không có GXK hoặc GXK ghi trên hợp đồng ngoại thương là không đáng tin cậy thì GXK có thể được xác định là giá tự tính toán trên cơ sở giá bán sản phẩm nhập khẩu đó cho người mua độc lập đầu tiên tại nước nhập khẩu, hoặc một giá trị tính toán theo những tiêu chí phù hợp do cơ quan có thẩm quyền quyết định Tuy nhiên, giữa ADA và quy định của pháp luật Việt Nam có sự khác biệt ở chỗ ADA đã chỉ rõ trường hợp nào GXK được coi là “không đáng tin cậy” để xác định GXK là “giá tự
tính toán” Cụ thể, điều 2.3 ADA quy định: “Trong trường hợp không tồn tại mức GXK hoặc cơ quan có thẩm quyền thấy rằng mức GXK không đáng tin cậy vì lý do
Trang 36nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu hoặc một bên thứ ba nào đó có quan hệ với nhau hoặc có thoả thuận về bù trừ ” Thiếu sót này của Pháp luật Việt Nam làm cho các
quy định trở nên lỏng lẻo hơn, tạo ra sự vướng mắc không đáng có trong vấn đề xác định GXK
2.1.3 Xác định biên độ phá giá
2.1.3.1 Điều chỉnh giá thông thường, giá xuất khẩu
Để xác định được biên độ phá giá của hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam, ta phải xác định được GTT và GXK, sau đó đem so sánh giữa GTT và GXK để xác định hiện tượng bán phá giá Tuy nhiên, do được thiết lập từ các giao dịch ở hai thị trường khác nhau nên sẽ có những ảnh hưởng nhất định đến việc so sánh giá Chính
vì vậy, trước khi so sánh giá, cơ quan điều tra có thể điều tra, xem xét và điều chỉnh giá để đảm bảo GTT và GXK được hình thành trong các điều kiện thị trường như nhau Việc điều chỉnh này phải tuân thủ theo quy định tại điều 27 Nghị định 90/2005/NĐ-CP Theo đó:
Thứ nhất, việc điều chỉnh GTT và GXK về cùng một khâu của quá trình lưu thông hàng hóa Điều này nhằm xóa bỏ sự khác biệt giữa các cấp độ thương mại, vốn là nguyên nhân làm cho các mức giá mua bán hàng hóa trong các giao dịch được lựa chọn không giống nhau Tuy nhiên, quy định này còn khá chung chung vì các nhà làm luật chỉ yêu cầu điều chỉnh các loại giá về một khâu lưu thông mà chưa chỉ định cụ thể là khâu xuất xưởng hay khâu bán lẻ
Thứ hai, phải điều chỉnh GTT và GXK về cùng thời điểm tính toán hoặc tại các thời điểm tính toán gần nhau nhất Điều này giúp đảm bảo sự công bằng và chính xác cho kết quả so sánh giữa GTT và GXK Trong trường hợp GXK hoặc GTT được lựa chọn ở những thời điểm có điều kiện thị trường khác nhau và sự khác biệt này tác động đến giá mua bán thì cần có điều chỉnh thích hợp
Thứ ba, điều chỉnh giá thông thường và giá xuất khẩu trên cơ sở những khác biệt về thuế, điều kiện bán hàng, dung lượng thương mại, khối lượng, đặc tính vật lý
và các yếu tố khác mà Cơ quan điều tra cho là phù hợp Việc tiến hành điều chỉnh
Trang 37những khác biệt về thuế xuất phát từ sự khác biệt trong các quy định của chính sách thuế của các quốc gia khác nhau Ngoài ra, trên thực tế, các doanh nghiệp thường định giá mua bán theo số lượng để khuyến khích các giao dịch với dung lượng thương mại hay khối lượng lớn Vì vậy, cần phải điều chỉnh theo tiêu chí này Điều chỉnh theo điều kiện bán hàng được hiểu là khi có những khác biệt về thời hạn thanh toán, về hình thức hỗ trợ kĩ thuật, dịch vụ đủ để làm thay đổi giá trị thanh toán thực tế giữa giao dịch xuất khẩu, giao dịch mua bán nội địa thì cũng cần sự xem xét phù hợp đối với GTT và GXK
Thứ tư, vấn đề quy đổi GTT và GXK thành đồng tiền Việt Nam và theo tỉ giá tại thời điểm Bộ trưởng Bộ Công thương ký quyết định điều tra Điều này giúp cơ quan điều tra chống bán phá giá chỉ sử dụng một tỉ giá duy nhất cho việc quy đổi tiền tệ đối với mọi giao dịch được lựa chọn, đối với tất cả các doanh nghiệp bị điều tra nên việc thực thi sẽ đơn giản, nhanh chóng Song kết quả quy đổi sẽ chỉ phản ánh chính xác giá trị giao dịch của GTT, GXK khi tỉ giá hối đoái có sự ổn định theo thời gian
Theo NĐ 90/2005/NĐ-CP, việc điều chỉnh được thực hiện theo quyết định của cơ quan điều tra khi xem xét các căn cứ và nhận thấy việc điều chỉnh là cần thiết Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể và cơ quan có thẩm quyền điều tra của Việt Nam chưa có hướng dẫn mang tính chi tiết về các nội dung, mức độ và phương pháp điều chỉnh
2.1.3.2 Xác định biên độ phá giá
Về mặt quy trình, sau khi xác định được GTT, GXK, điều chỉnh GTT và GXK, hai mức giá này sẽ được so sánh một cách công bằng để xác định biên độ phá giá Theo quy định của PLCBPG, biên độ bán phá giá được hiểu là khoảng chênh lệch có thể tính được giữa GTT của hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam so với GXK của hàng hóa đó vào Việt Nam Biên độ phá giá có thể là một số tuyệt đối hoặc tỷ lệ phần trăm trên giá xuất khẩu Biên độ phá giá có thể được hiểu theo công thức sau:
Trang 38Biên độ phá giá = GTT - GXK
GXK
Biên độ phá giá có ý nghĩa rất quan trọng trong chế định luật chống bán phá giá Có thể khẳng định, biên độ phá giá là cơ sở duy nhất để kết luận hàng hóa nhập khẩu có bị bán phá giá hay không, từ đó, biên độ phá giá cũng là một trong những điều kiện để áp dụng các biện pháp chống bán phá giá Điều 6 PLCBPG 2004 quy định điều kiện áp dụng các biện pháp chống bán phá giá gồm hai điều kiện: (i) Hàng hoá bị bán phá giá vào Việt Nam và biên độ bán phá giá phải được xác định cụ thể;
và (ii) việc bán phá giá hàng hoá trên là nguyên nhân gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước
Theo quy định tại điều 25 nghị định 90/2005/NĐ-CP về việc xác định biên
độ phá giá thì cơ quan điều tra phải tiến hành xác định biên độ phá giá riêng cho từng người bị yêu cầu trong vụ việc chống bán phá giá Tuy nhiên, trong trường hợp
số lượng người bị yêu cầu hoặc phạm vi hàng hóa bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá quá lớn, không thể tiến hành xác định biên độ phá giá riêng, Cơ quan điều tra có thể giới hạn phạm vi điều tra để xác định biên độ phá giá riêng đối với một số người bị yêu cầu hoặc hàng hóa bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá (sử dụng phương pháp chọn mẫu thống kê, tiến hành các tham vấn cần thiết )
PLCBPG cũng quy định về việc sử dụng biên độ phá giá làm căn cứ để cơ quan điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá khi biên độ phá giá là đáng kể
Khoản 2 điều 3 PLCBPG quy định: “Biên độ bán phá giá không đáng kể là biên độ bán phá giá không vượt quá 2% giá xuất khẩu hàng hóa vào Việt Nam” Trường
hợp biên độ phá giá không đáng kể (không vượt quá 2%, tức nhỏ hơn hoặc bằng 2%) thì cơ quan điều tra sẽ ra quyết định chấm dứt điều tra, và đương nhiên sẽ không áp dụng các biện pháp chống bán phá giá Trong khi Việt Nam yêu cầu biên
độ phá giá phải lớn hơn 2% mới bị điều tra và có thể chịu các biện pháp chống bán phá giá thì ADA lại qui định biên độ phá giá đáng kể là biên độ phá giá lớn hơn