A LỊCH SỬ HÌNH THÀNH Văn hóa và cư dân văn hóa Đồng Nai là cư dân bản địa cách nay khoảng ± 4000 đến ± 2500 năm trước những cư dân bản địa miền Đông nam Bộ như Stiêng , Chơ Ro , Mạ Từ thế kỉ I ddeens[.]
Trang 1A LỊCH SỬ HÌNH THÀNH
Văn hóa và cư dân văn hóa Đồng Nai là cư dân bản địa cách nay khoảng ± 4000 đến ± 2500 năm trước những cư dân bản địa miền Đông nam Bộ như Stiêng , Chơ Ro , Mạ
Từ thế kỉ I ddeens thế kỉ VII : Vương quốc Phù Nam , chủ nhân của nền văn hóa Óc EO
Thế kỉ thứ VII Phù Nam bị Chân lạp xâm chiếm ( Chân Lạp của người Môn
Cổ , Khmer cổ thành lập vào TK IV , thuộc quốc của Phù Nam)
Sau đó chia Lục Chân Lạp (địa phận Campuchia hiện nay ) và Thủy Chân Lạp (địa phận Nam Bộ hiện nay )
Thủy Chân Lạp hoang vắng ( TK VIII- XIII )
Chỉ mới khoảng Thế kỉ XIII người Khmer mới từ Campuchia đến cư trú rải rác thành những nhóm nhỏ tại Thủy Chân Lạp
Thế kỉ thứ XVI – XVII cư dân Việt từ Đàng Trong ( sau đó từ miền Bắc , miền Trung ) vào lập nghiệp này càng đông
Cần phân biệt Phù Nam và Chân Lạp ( Campuchia ) là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau , hai đất nước khác nhau , hai bộ phận dân cư khác nhau , hai nền văn hóa khác nhau Phù Nam không phải tiền thân trực tiếp của quốc gia hiện đại nào
+ 1698 : Chúa Nguyến cử Nguyễn Hữu Cảnh vào lập phủ Gia Định
+ 1757 : Nam Bộ hình thành chính thức đến mũi Cà Mau – Xác lập chủ quyền của Việt Nam
B ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN
1/ Vị trí địa lý
Nam Bộ là vùng đất nằm cuối đất nước về phía nam Nằm trong lưu vực sông Đồng Nai và sông Cửu Long
* Các tiểu vùng:
- Vùng Đông Nam Bộ gồm:
+ Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Bà Rịa- Vũng Tàu
- Vùng Tây Nam Bộ gồm:
+ Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp, Cần Thơ, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau và thành phố Hồ Chi Minh
2/ Khí hậu
- Hai mùa rõ rệt: Mùa khô và mùa mưa Với 6 tháng mùa khô, 6 tháng mùa mưa tạo vòng quay thiên nhiên, mùa vụ đa phần khác với đồng bằng Bắc Bộ
- Khung cảnh thiên nhiên khoáng đạt, kênh rạch chằng chịt, lượng phù sa ở các sông rất lớn tạo nên một vùng đất phì nhiêu màu mỡ nhất nước ta
Trang 2Khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa Thời tiết có hai mùa mưa và mùa nắng Ở Nam Bộ, từ tháng 5 đến tháng 10 là mùa mưa những tháng còn lại không mưa gọi là mùa khô nên hầu như nơi đây nóng quanh năm và không có mùa đông Riêng đồng bằng sông Cửu Long từ tháng 8 thường có lũ lụt , ngạp khoảng 25% diện tích (Đồng Tháp , An Giang,…) Nhiệt độ trung bình cả năm
là 260 C
Mật độ sông ngòi dày đặt Sông lớn sông bé khắp nơi Ở Nam Bộ có hai nhóm sông chính Tiền Giang và Hậu giang, Sông Tiền có dòng chảy mở rộng quanh
co, giữa sông có những cù lao lớn, nước chảy chậm, bồi đắp phù sao cho vùng
Sa Đéc, Mỹ Tho rất thuận lợi cho việc phát triển trồng trọt Sông Hậu được hình thành muộn hơn, dòng chảy thẳng và nhanh Vùng đất quanh sông Hậu mới được khai phá mạnh vào đầu thời kỳ hình thành con sông này
Thiên nhiên Nam Bộ tương đối đồng nhất , tuy nhiên cũng có những dị biệt về địa chất :
- Miền Tây - Đồng bằng sông Cửu Long hình thành từ quá trình lùi dần của biển
cổ ( Vùng Cà Mau có khoảng 1000 năm trước) Toàn bộ vùng đồng bằng này là sản phẩm bồi lắng phù sa rất lâu đời của sông Cửu Long ( 1 tỉ tấn phù sa/ năm) Chính vì vậy địa hình nơi đây chịu tác động của sông biển với hệ thống kênh rạch chằng chịt ( 50 000 km kênh rạch , trong đó 25 000 kênh rạch nhân tạo )
- Miền Đông Nam Bộ : hệ sinh thái vừa có sông ngòi vừa có rừng , núi…Đông Nam Bộ có đồng bằng sông Đồng Nai và các chi lưu của nó là sông La Ngà , sông Sài Gòn , sông Vàm Cỏ tạo nên một đồng bằng nhỏ , có những thềm phù
xa cổ ( cùng đất xám) và các cao nguyên đất đỏ bazan
C ĐẶC ĐIỂM XÃ HỘI
I Dân tộc và phong tục tập quán
Nói đến văn hoá Nam Bộ là nói đến nền văn hoá đa sắc tộc, văn hoá của vùng đất mới
Ví dụ: - Ngoài những dân tộc thiểu số sống ở Vùng đồng bằng Nam Bộ như đã kể trên đã góp phần làm tăng nét phong phú của Văn hóa Việt Nam về các mặt:
phong tục tập quán, lễ hội , âm nhạc , trang phục Còn có phần lớn người Kinh sinh sống và làm ăn lâu đời ở đây tạo nên sắc thái pha trộn giữa những nềnVăn hóa riêng biệt thành một nền Văn hóa chung - Văn hóa Nam Bộ
VD: Hò Nam bộ, đàn ca tài tử, các lễ hội của dân tộc Khơ me
Các dân tộc: - Người Việt, Khơ me, Chăm, Hoa, Mạ, Mnông, Xa điêng,
và còn một số dân tộc khác
Điểm đặc biệt của người dân Nam Bộ đều là lưu dân đi khai phá vùng đất mới, xuất thân nhiều thành phần như: tù nhân, người giang hồ, người
Trang 3nghèo, người lánh nạn, quan lại và binh lính Tuy nhiên họ sống chan hoà nhân ái, không có chiến tranh sắc tộc
Đời sống sinh hoạt hàng ngày
- Đời sống sinh hoạt hàng ngày rất đặc biệt, thức ăn chủ yếu là thuỷ sản phong phú và chất lượng Lao động sản xuất gắn liền với các điệu hò sông nước và các lễ hội truyền thống của các dân tộc
Văn hóa sông nước miền Tây
Các Ngành nghề chính
- Sản xuất lúa nước: chủ yếu tập trung ở đồng bằng sông Cửu Long
- Nghề Đánh bắt cá và nuôi trồng thuỷ sản
- Nghề trồng trọt: chủ yếu là trồng cây ăn trái và cây công nghiệp như
cà phê, tiêu, cao su
II TRANG PHỤC
- Cho đến nay, về cơ bản, cách mặc của cư dân đồng bằng sông Cửu Long khá thống nhất với các vùng miền trong cả nước Nhưng do đặc điểm địa hình, thời tiết, khí hậu, mà người dân nơi đây vẫn có những bộ trang phục đặc trưng
- Cư dân đồng bằng sông Cửu Long bao đời nay sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp, quanh năm chân lấm tay bùn, lại gặp điều kiện thời tiết hai mùa mưa nắng rõ rệt nên không mấy thích hợp cho việc ăn mặc sang trọng Do đó, màu sắc trong trang phục của người dân nơi đây ngày xưa thường có gam chủ đạo là đen, nâu sậm, màu trắng ít khi được chọn, trừ khi đi đám tiệc, lễ hội Có một thời, chiếc áo bà ba và chiếc khăn rằn từng là phục sức phổ biến của người dân
- Cho đến nay, chưa thấy có tư liệu nào xác định rõ nguồn gốc của chiếc
áo bà ba Người ta chỉ biết rằng, vào đầu thế kỷ XX loại áo này đã được mặc khá phổ biến cả vùng Nam bộ Theo nhà văn Sơn Nam thì “Bà Ba
là người Mã Lai lai Trung Hoa Chiếc áo bà ba mà người miền Nam ưa thích, vạt ngắn không bâu chính là kiểu áo của người Bà Ba” Một quan niệm khác lại cho rằng “Có thể áo bà ba ảnh hưởng, cách tân từ áo lá và
áo xá xẩu may bằng vải buồm đen của người Hoa lao động, là kiểu áo cứng, xẻ giữa, cài nút thắt Phải chăng do thời tiết quanh năm nóng bức, họ bỏ luôn chiếc cổ thấp của áo lá và áo xá xẩu, mang thêm áo quanh chân cổ cho chắc Áo xẻ giữa thay vì cài nút thắt đã được làm khuy, cài nút nhựa do ảnh hưởng phương Tây”
- Người nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long ngày xưa thường vận bộ
bà ba đen đi đồng, bởi nó vừa sạch, vừa dễ giặt giũ Vải may là loại vải một, vải ú, vải sơn đầm rất mau khô sau khi giặt Bên cạnh đó, chiếc
áo bà ba được xẻ ở hai bên hông làm cho người mặc cảm thấy thoải mái,
Trang 4gần vạt áo có thêm hai túi to khá tiện lợi cho việc đựng những vật dụng nhỏ như thuốc rê, diêm quẹt, tiền bạc Chính nhờ tính tiện dụng và sự thoải mái đó, chiếc áo bà ba được cả nam lẫn nữ ở đồng bằng sông Cửu Long mặc cả lúc đi làm, đi chợ, đi chơi Riêng lúc đi chơi, họ thường chọn màu sắc nhẹ hơn như màu trắng, màu xám tro Còn các cô, các bà thì chọn màu mạ non, xanh lơ nhạt với chất liệu vải đắt tiền hơn như the, lụa
- Sau này, nhất là ở thời kỳ những năm 1960-1970, áo bà ba truyền thống được phụ nữ thành thị cải tiến, vừa dân tộc, vừa đẹp và hiện đại hơn Áo dài bà ba hiện nay không thẳng và rộng như xưa, mà được may hẹp, nhấn thêm eo bụng, eo ngực cho ôm sát lấy thân hình Ngoài ra, người
ta còn sáng tạo các kiểu chắp vai, cổ tay, cửa tay, riêng các kiểu bâu (cổ)
lá sen, cánh én, đan tôn là được tiếp thu từ kiểu y phục nước ngoài
- Các kiểu ráp tay cũng được cải tiến Từ kiểu may áo cánh xưa, liền thân với tay, người ta nghĩ tới cách ráp tay rời ở bờ tay áo Trong những năm
1970, thành thị miền Nam phổ biến kiểu ráp tay raglan, đã tạo nên vẻ đẹp hiện đại cho chiếc áo dài bà ba truyền thống Với kiểu vai raglan này, hai thân áo trước và sau tách rời khỏi vai và tay áo, trong khi tay và
áo lại liền từ cổ tới nách Bà ba vai raglan chỉ cần may khít, vừa vặn với
eo lưng, không quá thắt như kiểu áo trước đó Tay áo dài hơn nhưng hơi loe, có khi người ta bỏ cả hai túi ở vạt trước để tạo cho thân áo nhẹ nhõm, mềm mại hơn
III VĂN HÓA NGHỆ THUẬT VÙNG NAM BỘ
- Nền văn hoá đa sắc tộc, văn hoá của vùng đất mới
Ví dụ : - Ngoài những dân tộc thiểu số sống ở Vùng đồng bằng Nam
Bộ đã góp phần làm tăng nét phong phú của Văn hóa Việt Nam về các mặt: phong tục tập quán, lễ hội , âm nhạc , trang phục Còn có phần lớn người Kinh sinh sống và làm ăn lâu đời ở đây tạo nên sắc thái pha trộn giữa những nền Văn hóa riêng biệt thành một nền Văn hóa chung
- Văn hóa Nam Bộ
Ví dụ : Hò Nam bộ, đàn ca tài tử, các lễ hội của dân tộc Khơ me
1 ÂM NHẠC
Ca ra bộ: Ra đời khoảng 1915 tại Vĩnh Long , do thầy Phó Mười Hai ( Tống Hữu Định) đề xướng Lấy bài Nguyệt Nga , Bùi Kiệm thoe điệu
Tứ Đại Oán từ ban tài tử của ông Nguyễn Tống Triều ở Mỹ Tho
Ca Ra Bộ là vừa ca vừa ra điệu bộ diễn tả theo nội dung bài hát Lối diễn tả sinh động theo nộ dung bài hát nhiều người ưa thích được mời diễn trong các nhà hàng lớn tạo nên nhiều gánh hát nổi tiếng (đây là cơ
sở để cải lương ra đời sau này và có thể nói Ca ra Bộ là khúc dạo đầu của Cải lương )
Trang 5 Cải lương: Khoảng năm 1905 thực dân Pháp xâm lược nước ta và mở nhà hát Tây với kiến trúc mới lạ , có bố trí chỗ ngồi và sân khấu được trang trí rất sinh động đã thu hút được rất nhiều người , trước tình hình
đó những lối thoát cho nhạc tài tử được mở ra là : từ chỗ ngồi nghiêm nghị đến hát , nghệ nhân tiến tới hát điệu bộ( diễn) là “ca-ra-bộ” Đó là
cơ sở để cải lương ra đời sau này Thường thì dưới các bảng hiệu của các đoàn hát cải lương thường có đôi liễn như sau:
“Cải cách hát ca theo tiến bộ
Lương truyền tuồng tích sánh văn minh “
Đờn ca tài tử: Ở Nam Bộ, Người dân ở đây đều nằm lòng câu tán dương khi nghe đờn ca tài tử vọng cổ sáu câu: Ca xuống xề nghe "ngọt" quá! Đờn nghe "mùi" quá! Mục đích của các bạn đờn ca tài tử là phục vụ vô
tư cho các lễ hội, đình ám, đám cưới, đám giỗ, buổi tiễn đưa tân binh, đơn vị bộ đội lên đường đánh giặc không vụ lợi, không cần thù lao, gọi là "giúp vui", mang tính cộng đồng sâu sắc, bình đẳng giữa mọi người
Hát bội: Vào những năm đầu thế kỷ XX, bộ môn sân khấu nổi bật nhất ở Nam bộ vẫn là hát bội Có người cho rằng thời điểm nây, hát bội ở Nam
kỳ đă có cải biến nhiều do ảnh hưởng từ tuồng hát Quảng Ðông, hát Tiều và đó có thể là một cách những lưu dân ngưới Việt tiếp thu được khi họ cùng đi theo các nhóm di thần "bài Mãn, phục Minh" vào phía Ðồng Nai Mỹ Tho, Hà Tiên và những khu vực khác ở đồng bằng sông Cửu Long
2 Dân ca Nam Bộ
a, Dân ca của người Kinh ( Việt )
Lý Nam Bộ: Là một loại dân ca đặc sắc của Việt Nam Lý có ở cả
3 miền Bắc, Trung, Nam của Việt Nam, nhưng có lẽ lý phát triển mạnh nhất ở Nam Bộ VD: Lý ngựa ô
Lý Nam Bộ không chỉ phong phú về số lượng mà cả về đề tài, nội dung cũng như đặc tính âm nhạc Lý Nam Bộ đề cập đến các sinh hoạt, các công việc và tâm trạng, tâm hồn của người dân Lý còn đề cập đến các loài vật, các loại cây, các thứ hoa trái, nói về tình yêu nam nữ, tình nghĩa vợ chồng
Hò: Nói đến nghệ thuật ca hát dân gian cổ truyền Nam Bộ mà chỉ đóng khung trong một số làn điệu vọng cổ hay bài bản cải lương,
ca nhạc tài tử, thì chưa đầy đủ
Nội dung lớn của hò phần lớn dựa trên cơ sở của lối thơ lục bát, nhưng khi xử lý thì có thể giữ nguyên, hoặc có khi lại mở rộng dài hơn để khớp với âm điệu của câu hò Vì thế việc sáng tác ra những
Trang 6câu hò được đông đảo quần chúng tham gia dễ dàng và nhanh chóng thu hút được sự hâm mộ của quần chúng
b, Dân ca của người Kmer
Dân ca lao động : Trong dân ca lao động của người Khmer nơi đây thể hiện rất rõ những công việc , nghành nghề cụ thể như : Hát quăng chài , tung lưới (Chriêng bong som nanh ) , hát đẫn gỗ ( Chriêng cap chhơ ) , hát bổ củi (Chriêng puốcôs ), hát chăm tằm ( Chriêng chinh – Chôm neang ) , hát quay tơ ( chriêng rô qviy sốt ), hát dệt vải ( Chriêng treanh – som poôt) , hát đi săn ( Chriêng Pren bo banh) , hát dã gạo chầy tay ( Chriêng bok Srâu )
Dân ca phong tục nghi lễ : thể hiện tín ngưỡng của người Khmer với đức Phật mà họ tôn thờ , tùy theo nội dung trong buổi lễ mà có những nội dung bà hát cụ thể Hoặc trong đám cưới hay tang lễ đều có những làn diệu , âm hưởng của nội dung khác nhau
Dân ca sinh hoạt : những bài hát nói về đời thường , tình yêu, cuộc sống
…đều thuộc loại này , hát đối đáp nam nữ người Khmer có bài hát ném cầu (Choi chung) những bài hát thuộc thể loại này càng làm cho đời sống sinh hoạt tình cảm thêm sâu sắc , vui tươi
Đọc tụng : Ngoài các hình thức dân ca vừa nói ở trên , trong kho tàng dân ca của người Khmer còn có hình thức đọc tụng mà người ta gọi là “ hát lễ “ đọc tụng là một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống và nó trở thành một phong tục của những người Khmer theo tôn giáo chính thống
là đọa Phật Tiểu Thừa
Hò ( SăcKăvati ) : cũng như dân tộc Việt sống ở vùng sông nước Cửu Long có rất nhiều điệu hò , người Khmer trong vùng là dân tộc ít người duy nhất ở nước ta có các điệu hò dân gian gần gũi với sông nước như hò đua thuyền , hò kéo dây , hò kéo co , hò hái sen Đó là những điệu hò khỏe khoắn , khoan thai phù hợp với nhịp điệu lao động trên sông nước
IV TÍN NGƯỠNG VÀ TÔN GIÁO
1 Tín ngưỡng
Tín ngưỡng Miền Nam phản ánh rất rõ những đặc trưng nông nghiệp lúa nước của nền văn hóa Việt Nam Ðó là: sự tôn trọng và gắn bó mật thiết với thiên nhiên (tín ngưỡng sùng bái tự nhiên) : là sự phản ánh đậm nét nguyên lý Âm - Dương (từ đối tượng thờ cúng như Trời - Ðất, Chim Thú Rừng - Nước, cơ quan sinh dục Nam - Nữ cho đến cách thức giao lưu giữa con người và thần linh, trần gian và cõi linh thiêng); là khuynh hướng đề cao nữ tính với hàng loạt nữ thần được thờ cúng ở mọi làng quê: Mẹ Trời Mẹ Ðất, nữ thần Mây, Mưa ) là tính tổng hợp thể hiện ở
Trang 7tính đa thần, tính cộng đồng Tín ngưỡng của người Việt ở Nam Bộ thể hiện ở các mặt: tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng sùng bái tự nhiên và tín ngưỡng sùng bái con người
Hệ Thống Thần Linh
Nói chung hệ thống thần linh của dân tộc Việt, chịu ảnh hưởng sâu đậm của văn hóa Trung Hoa dựa trên Tam Tài là Thiên-Địa-Nhân, luôn luôn bao gồm ba bộ phận: Thiên Thần (các thần có nguồn gốc thiêng liêng, từ cỏi trên Thiên xuống), Nhiên Thần (các thần tượng trưng cho các sức mạnh của thiên nhiên Địa như Sơn Thần, Thủy Thần, Thổ Thần…) , và Nhân Thần (các thần có nguồn gốc là người—Nhân nhưng do hành trạng đặc biệt đã được tôn vinh lên bực thần) Hệ thống thần linh của người Miền Nam cũng không vượt ra ngoài tính cách chung này Tuy nhiên, hệ thống thần linh của Miền Nam, so với hệ thống của Miền Bắc,
có “số lượng ít, chủ yếu gắn bó với các giai đoạn lịch sử từ thời các Chúa Nguyễn về sau.”
1 Thiên Thần :Đây là sảnphẩm đặc thù của vùng cư dân dân tộc với những dòng chảy văn hoá đa dạng , phức tạp tạo nên yếu tố văn hoá đặc trưng văn hoá của vùng đất này
Trong khối Thiên Thần, những vị thần được thờ phượng phổ biến ở lưu vực sông Hồng, như Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Đức Thánh Gióng (Phù Đổng Thiên Vương), vv, gần như vắng mặt trong hệ thống Miền Nam Tuy nhiên, thỉnh thoảng các vị nầy có thể được nhắc nhở đến trong các bài văn tế khi lễ hội Một khác biệt quan trọng nữa là trong khối thiên thần ở Miền Nam ta thấy thiếu vắng hẳn những ‘Phúc Thần Thay vào đó,các thiên thần của các văn hoá bản địa Chiêm Thành và Chân Lạp đã được chấp nhận và đưa vào hệ thống thần linh của Miền Nam Vào đến Nam Bộ , dân chúng thuần Việt đã phổ biến sự thờ phượng vị Thánh Mẫu vào tận đơn vị gia đình, với bài vị và bàn thờ đơn giản trong nhà và gọi là
Bà Chúa Ngọc, Chúa Tiên Hiện tượng thờ Thánh Mẫu nầy ta còn tìm thấy ở rất nhiều địa phương trong vùng Đồng bằng Nam Bộ , như Bà Đen
ở Miền Đông và Bà Chúa Xứ ở Miền Tây ‘Tục lệ thờ Bà phổ biến ở Nam Bộ lấy núi Bà Đen ở Tây Ninh làm trung tâm điểm; điện thờ Linh Sơn thánh mẫu, bên sườn ngọn núi cao nhất Nam Bộ Tên mới nầy của Thánh Mẫu là do việc triều đình nhà Nguyễn đã ban cho núi Bà Đen tên chữ là Linh Sơn vào năm Tự Đức thứ ba (1850)
2 Nhiên Thần : Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên
Trong khối Nhiên Thần, sắc thái riêng biệt của tín ngưỡng dân gian Miền Nam là thờ Thần Ngũ Hành (trong đó Thổ Thần—mà người Miền Nam thường gọi là Thổ Địa hay nôm na hơn nữa là Ông Địa chiếm địa vị
Trang 8quan trọng nhứt), Thần Hổ và Thần Cá Voi
- Đối với Thần Ngũ Hành (Kim-Mộc-Thủy-Hỏa-Thổ) thông thường thì tất cả được thờ chung, nhưng cũng có nơi thờ riêng hoặc đặt trọng tâm vào một vị, thí dụ “như vùng nào thường xảy ra hỏa hoạn thì hành Hỏa được lập miếu thờ, vùng sông nước lại thờ hành Thủy, vùng trồng lúa thì hành Thổ được tôn vinh ” Vùng Nam Bộ là một vùng trồng lúa nên Thổ Thần được đặc biệt tôn vinh Tuy nhiên, do tâm thức mới, người nông dân Miền Nam đã vượt qua cái khuôn khổ cứng ngắt của tập tục thờ phượng ở Đàng Ngoài, và tiếp cận với Thổ Thần một cách “thân tình” hơn rất nhiều Họ mạnh dạn gọi Thổ Thần là Ông Địa, và đưa vào thờ trong nhà (tuy cũng có làng vẫn còn có Miếu Thổ Địa hoặc riêng rẽ hoặc
là một phần của Đình làng) Họ tự động “xuống cấp” Thổ Thần, không còn nghĩ rằng Thổ Thần là một vị Thần chịu trách nhiệm cho cả địa phương nữa, mà xem như là một gia thần, chỉ lo bảo vệ cho nhà cửa của mình mà thôi Bàn thờ Ông Địa thật khiêm tốn, để ngay dưới đất và gần cửa ra vào Tuy nhiên sự tôn kính và tin tưởng đối với Ông Địa thì vẫn tuyệt đối Hàng ngày người ta đều có lễ vật dâng cúng Ông Địa, khi thì nải chuối, khi thì phong bánh Hể mất mát tài vật gì trong nhà thì người dân đều “vái Ông Địa” để Ông Địa chỉ cho tìm ra vật bị mất đó Ỡ một vài nơi người dân còn nhờ Ông Địa trong việc cầu mưa, và trong việc nầy, thậm chí người ta còn “hành hạ” Ông Địa cho tới khi nào được vừa ý mới thôi
- Thần Hổ cũng là một nhiên thần được thờ phượng tại rất nhiều địa phương ở Nam Bộ “Có thể nói, trang sử thứ nhất của vùng Sài Gòn – Gia Định do người Việt, Khmer, Chăm, Hoa viết nên bắt đầu từ những ngày đánh cọp để tồn tại” Khi khai phá vùng đất mênh mông nhưng hoang vu của vùng Đồng Nai cũng như những đầm lầy vô tận của vùng cực Nam, người lưu dân Đàng Trong không những phải đương đầu với những khó khăn với cuộc đất mà còn phải đối phó với nhiều loại thú dữ
mà cọp là mối đe dọa thường xuyên nhứt Tâm lý sợ cọp (mà cũng quyết tâm đánh thắng nó) đã đưa đến việc thờ Thần Hổ trong phần lớn đình làng ở Miền Nam Ngày nay chúng ta vẫn còn có thể gặp rất nhiều ngôi đình ở Miền Nam có tấm bình phong trước cổng có đấp hình cọp, mà dân chúng thường gọi là bia Ông Hổ
- Một nhiên thần nữa cũng được thờ phượng trong các đình làng ở Miền Nam, phần lớn là tại các làng đánh cá dọc theo bờ biển từ Miền Trung trở vào trong Nam, là Thần Cá Voi Ở Miền Trung, thần Cá Voi thường được gọi là Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân Tôn Thần, trong sắc phong thường ghi
là “Nam Hải cự tộc ngọc lân, gia tăng từ tế, chương linh, trợ tín, trừng phạm, phu ứng, Dực bảo trung hưng hoằng hợp, thượng đẳng thần ” Vào
Trang 9trong Nam, Thần Cá Voi thường được sắc phong là “Nam Hải đại tướng quân, mà ngư dân rất sung bái ” Lý do người Miền Nam thờ phượng Thần Cá Voi là hoàn toàn ngược lại với lý do thờ Thần Hổ Nông dân thờ Cọp vì sợ nó; nhưng ngư dân thờ Cá Voi vì tin rằng Cá Voi cứu mạng họ khi lâm nguy người biển Hài cốt cá voi được bảo quản rất kỷ lưởng tại các đình
3 Nhân Thần : Tín ngưỡng sùng bái con người của nhân dân Nam Bộ Trong khối Nhân Thần, các nhân vật lịch sử có công lao trong việc khai phá Miền Nam chiếm một số lượng rất lớn Trong số nầy, Chưởng Cơ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh, Chưởng Cơ Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại đứng hàng đầu Riêng Đức Chưởng Cơ Lễ Thành Hầu hiện có đền thờ tại rất nhiều địa phương như: Quảng Bình, Biên Hòa, Cần Thơ, Định Tường, Châu Đốc, Long Xuyên, Sài Gòn (trong Đình Minh Hương Gia Thạnh của người Minh Hương) Bên cạnh nhóm nhân vật có công lớn trong việc khai phá Miền Nam là nhóm các vị khai quốc công thần của triều Nguyễn, như Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt (ở xã Bình Hòa, Gia Định, mặc dù không có sắc phong của triều đình), Đức Tiền Quân
Nguyễn Huỳnh Đức (đại thần duy nhứt từng làm Tổng Trấn cả Bắc
Thành, thay thế Nguyển Văn Thành, và Gia Định Thành, thay thế Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt, thờ ở đình Ưu Long, quận 8, Sài Gòn), Võ Di Nguy (thờ ở đình Phú Nhuận, Sài Gòn) v v Kế tiếp là các anh hùng chống Pháp như Trương Định (Gò Công), Nguyễn Trung Trực (Rạch Giá), Phan Thanh Giản (Vĩnh Long), v v Ngoài ra rất nhiều làng ở Miền Nam cũng thờ cả những vị có công lập làng, xã, thường được gọi là Tiền Hiền, Hậu Hiền, Khai Canh, Khai Khẩn Tuyệt đối ở Miền Nam không có tục thờ các tà thần (thí dụ như dâm thần, trần ăn trộm) như ở Miền Bắc Ở đây cũng nên ghi nhận đóng góp của người Minh Hương trong việc thờ Ông, thờ Bà của dân chúng Miền Nam Ông ở đây là Quan Vân Trường, hay Quan Công, một trong ba nhân vật “Đào Viên kết nghĩa” của truyện Tam Quốc Ngài được người Hoa thờ phượng vì Ngài là biểu tượng tối cao của các đức tính “Trung Can Nghĩa Khí.” Ngài thường được tôn xưng là Quan Thánh Đế Quân Bà ở đây là Bà Thiên Hậu, “một nhân vật huyền thoại trong lịch sử Trung Hoa dưới triều Tống…thường hiển hiện cứu giúp những người bị đắm thuyền…Đời Thanh, Bà được phong là “Thiên Hậu thánh mẫu…”
2 Tôn giáo
Kế thừa và phát huy những tôn giáo đã du nhập vào Việt Nam trước đó như : KiTo giáo , Phật giáo , Hồi giáo vừa góp phần tạo nên một bản sắc Nam Bộ - đặc biệt là hình thành những tôn giáo bản địa từ nủa cuối TK XIX đến quá đầu TK XX :
Trang 10• - Ðạo Bửu Sơn Kỳ Hương : 1849
Ðạo Bửu Sơn Kỳ Hương lấy tứ đại trọng ân làm nền tảng Bốn ân lớn đó
là :
- Ân tổ tiên cha mẹ
- Ân đất nước
- Ân tam bảo
- Ân đồng bào, nhân loại
Bửu Sơn Kỳ Hương khuyên mọi người học Phật tu nhơn (tu nhân, tích đức và niệm Phật)
• - Ðạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa
Ðạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa thờ trần điều, thờ Phật, Sơn thần và trăm quan cựu thần liệt sĩ Về giáo lý, ông Ngô Lợi tiếp tục hoằng pháp như Bửu Sơn Kỳ Hương : Tứ đại trọng ân, học Phật tu nhơn nhưng không ly gia cát ái, không ăn chay trường và cũng hạn chế sát sanh Về cách đối nhân
xử thế thì theo đạo Nho, đạo Lão và theo Thiền Tông
Pháp môn tu hành của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa là :
- Trì niệm theo Thiền tông ;
- Xử sự theo Nho giáo
- Luyện tinh, khí, thần theo Lão giáo
- Ấn quyết, thần chú theo Mật tông
• - Ðạo Hòa Hảo
Người lập ra đạo Hòa Hảo là ông Huỳnh Phú Sổ, sinh năm 1918 tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh An Giang (có sách nói sanh năm 1919) Theo tín đồ đạo Hòa Hảo thì họ tin ông là hậu thân của Phật Thầy Tây An
đã nhiều lần chuyển kiếp qua đức Bổn sư Ngô Lợi (1831) (TÂHN), đức Phật Trùm 1868 và Sư Vãi Bán Khoai (1902) Ông lập đạo Hòa Hảo năm
1939 và cũng vừa đi chữa bệnh vừa đi giảng đạo
Lấy giáo lý Tứ Ân làm căn bản nhưng chủ trương bài trừ mê tín dị đoan,
bỏ lệ cúng kiến, gõ mõ tụng kinh và không vẽ hình đúc tượng
• - Ðạo Cao Ðài
Ðạo này được lập ra do một số công chức hạng trung của chế độ thực dân Pháp và những đại diện chủ nghĩa tư sản và công chức của Pháp (từ tri huyện đến thông phán, ký lục, hội đồng ) và phát triển chủ yếu ở Sài Gòn, các đô thị và thị trấn miền Ðông Nam bộ, nơi có tòa thánh Cao Ðài Tây Ninh Sau đó phát triển ra miền Trung ở Quảng Ngãi và có một thánh thất ở Hà Nội
Ðạo Cao Ðài chủ trương thống nhất các tôn giáo :
Phật giáo : Thích Ca Mâu Ni
Tiên giáo : Lão Tử
Nho giáo : Khổng Tử