1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Van hoa phap lut nht bn s kt hp c

16 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 352,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ảnh hưởng của các tôn giáo truyền thống như đạo Shinto, Nho giáo và Phật giáo đối với đời sống xã hội Nhật Bản đã phản ánh và khắc sâu vào đời sống pháp luật, tạo ra những nét độc đáo tr

Trang 1

TS NGUYÔN V¨N QUANG *

rong tác phẩm “Luật và xã hội”, Friedman

quan niệm rằng hệ thống pháp luật của

mỗi quốc gia không đơn thuần chỉ là một tập

hợp các quy định và thiết chế Theo Friedman,

các yếu tố văn hoá và bản sắc gắn liền với

mỗi hệ thống pháp luật là điều cần nghiên

cứu bởi chính những yếu tố này góp phần rất

quan trọng quyết định cách thức thực hiện

và vận hành của các quy định và thiết chế

luật pháp trong xã hội Friedman cho rằng

văn hoá pháp luật là thái độ ứng xử, hệ các

giá trị và quan điểm của xã hội đối với pháp

luật, hệ thống pháp luật và các hợp phần đa

dạng khác của hệ thống pháp luật.(1) Quan

niệm về văn hoá pháp luật của Friedman

được tác giả sử dụng để đánh giá văn hoá

pháp luật Nhật Bản trong bài viết này Tuy

nhiên, để đánh giá văn hoá pháp luật, phần

quan trọng không thể bỏ qua là yếu tố “vật

chất” của văn hoá pháp luật, bao gồm hệ

thống các quy định và thiết chế pháp luật

mà gắn liền với chúng là dấu ấn của lịch sử,

chính trị và kinh tế-xã hội

Nhìn bề ngoài, hệ thống pháp luật của

Nhật Bản cũng giống như hệ thống pháp luật

của các quốc gia phát triển khác trên thế

giới, với hiến pháp thành văn, các bộ luật,

các thiết chế chính quyền hiện đại và nền

dân chủ nghị viện Đây là kết quả của việc

tiếp thu và vận dụng những tinh hoa của các

học thuyết, mô hình, thiết chế luật pháp nước

ngoài để xây dựng và hoàn thiện hệ thống

pháp luật hiện đại ở Nhật Bản.(2) Tuy nhiên, những đặc tính của hệ thống pháp luật hiện đại không thể xoá nhoà những dấu ấn có tính chất truyền thống của

xã hội Nhật Bản Ảnh hưởng của các tôn giáo truyền thống như đạo Shinto, Nho giáo

và Phật giáo đối với đời sống xã hội Nhật Bản đã phản ánh và khắc sâu vào đời sống pháp luật, tạo ra những nét độc đáo trong văn hoá pháp luật của quốc gia này.(3)

Thực

tế, trong nhiều trường hợp, dường như vai trò của các quy định pháp luật trong xã hội Nhật Bản lại khá lu mờ so với các quy tắc đạo đức xã hội, những tập quán mang tính truyền thống đã bám rễ trong đời sống, thấm sâu vào cách xử sự của mỗi cá nhân

và thực sự giữ vai trò chủ đạo trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội Bên cạnh

đó, việc “nhập khẩu” pháp luật nước ngoài vào Nhật Bản không đơn thuần là chỉ là việc sao chép pháp luật và thiết chế của một quốc gia cụ thể nào Pháp luật đương đại của Nhật Bản có tính lai ghép và quan trọng hơn cả nó phản ánh kết quả quá trình

du nhập pháp luật có chọn lọc kết hợp với việc vận dụng các quy định này phù hợp với bối cảnh của văn hoá và thiết chế xã hội ở Nhật Bản Nói cách khác, giao lưu và tiếp biến văn hoá pháp luật ở Nhật Bản là quá trình phức tạp

T

* Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 2

1 Hệ thống pháp luật Nhật Bản đương

đại: Mô hình hệ thống pháp luật châu Âu

lục địa với những ảnh hưởng của Mỹ

1.1 Sơ lược quá trình hình thành và

phát triển của hệ thống pháp luật Nhật Bản

đương đại

Để đánh giá được hệ thống pháp luật

Nhật Bản đương đại, việc nghiên cứu lịch sử

hình thành và phát triển của xã hội Nhật Bản

gắn liền với sự tồn tại và phát triển của hệ

thống pháp luật là điều có ý nghĩa quan trọng

Hiểu biết quá trình lịch sử và phát triển của

xã hội giúp chúng ta thấy rõ được bối cảnh

chính trị-xã hội, kinh tế, lịch sử và văn hoá

làm nền tảng cho việc vận hành của toàn bộ

hệ thống pháp luật Đối với việc nghiên cứu

pháp luật và văn hoá pháp luật của Nhật Bản

- đất nước có lịch sử lâu đời và phức tạp,

điều này lại càng có ý nghĩa quan trọng

Về phương diện lịch sử, hệ thống pháp

luật hiện đại của Nhật Bản thường được lấy

mốc bằng sự bắt đầu của thời kì Minh Trị

(Meiji Restoration) năm 1868 Trước thời

Minh Trị, hệ thống pháp luật Nhật Bản đã

có lịch sử phát triển lâu dài với nhiều đặc

trưng nổi bật

Về tổng quan, pháp luật và các thiết chế

chính quyền của Nhật Bản ở thời kì tiền cổ

đại (khoảng từ năm 250 TCN đến năm 603)

mang tính “thuần Nhật”, chịu ảnh hưởng

mạnh mẽ của tư tưởng, triết lí mang tính tôn

giáo và không bị ảnh hưởng nào của các yếu

tố ngoại lai Pháp luật Nhật Bản ở thời kì

tiền cổ đại hầu như không có sự phân biệt

rạch ròi giữa quy phạm pháp luật với quy

phạm xã hội và các quy phạm tôn giáo khác

Ở thời kì cổ đại, với tính chất là một chư

hầu của Trung Hoa, đời sống chính trị, pháp luật và văn hoá của Nhật Bản chịu ảnh hưởng sâu sắc của phong kiến Trung Hoa

Hệ thống pháp luật Nhật Bản trong thời kì này còn được gọi là hệ thống “ritsu-ryo” bởi

lí do nhiều bộ luật (bao gồm hai phần, phần

“ritsu” là các quy định về hình sự và phần

“ryo” bao gồm các quy định mang tính chất khuyến cáo) mô phỏng một cách trung thực các bộ luật của nhà Đường - triều đại hưng thịnh của phong kiến Trung Hoa Mang đặc trưng điển hình của pháp luật phong kiến Trung Hoa, trong hệ thống “ritsu-ryo”, pháp luật hành chính và pháp luật hình sự chiếm

vị trí quan trọng, trong khi đó chỉ có một phần rất ít các quy định pháp luật dân sự Những ảnh hưởng sâu sắc của pháp luật phong kiến Trung Hoa từ thời kì cổ đại còn kéo dài đến suốt thời kì trung đại và cận đại Điểm chung dễ nhận thấy là Nho giáo, vốn

dĩ rất phát triển trong thời kì phong kiến Trung Hoa, làm nền tảng cho việc hình thành

và phát triển của hệ thống pháp luật và hành chính, chính trị của phong kiến Trung Hoa đã được du nhập vào Nhật Bản và tạo lập cấu trúc xã hội mang đậm tính phong kiến ở Nhật Bản thời kì trung và cận đại Cùng với những ảnh hưởng này, việc phong kiến Nhật Bản đã

áp dụng chính sách “đóng cửa”, cô lập Nhật Bản với thế giới bên ngoài trong một thời gian dài (thời kì Tokugawa, khoảng gần 300 năm từ năm 1603 đến năm 1868) đã tạo ra những nét độc đáo trong pháp luật phong kiến Nhật Bản Điều này đồng thời cũng tạo

ra những tiền đề cần thiết cho việc buộc phải

du nhập các thiết chế và luật pháp phương Tây trong công cuộc cải cách và mở cửa

Trang 3

diễn ra ở giai đoạn tiếp theo, đánh dấu sự mở

đầu của giai đoạn Nhật Bản hiện đại.(4)

Xã hội Nhật Bản hiện đại được đánh dấu

bắt đầu từ năm 1858 khi Nhật Bản mở cửa

giao lưu với các quốc gia bên ngoài và các

trào lưu tư tưởng, chính trị, pháp luật và văn

hoá phương Tây bắt đầu được du nhập vào

Nhật Bản Dấu mốc quan trọng của giai đoạn

này là việc sụp đổ của triều đại Tokugawa và

sự ra đời của thời kì Minh Trị vào năm 1868

Cùng với việc chấn hưng mọi mặt của đời

sống kinh tế-xã hội, vào thời kì này công

cuộc hiện đại hoá hệ thống pháp luật bắt đầu

diễn ra ở Nhật Bản “Nhập khẩu pháp luật”

từ phương Tây là cách mà Nhật Bản đã sử

dụng để cải cách hệ thống pháp luật của

mình và khởi đầu bằng việc ban hành Bộ

luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự năm

1880 theo mô hình của Cộng hoà Pháp

Cùng với sự ra đời của hàng loạt các bộ luật,

Hiến pháp Minh Trị năm 1889 của Nhật Bản

cũng được ban hành vào thời kì này Điều dễ

nhận thấy là trường phái pháp luật châu Âu

lục địa mà đặc biệt là pháp luật Pháp đã có

ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của hệ

thống pháp luật Nhật Bản trong thời kì Minh

trị Hàng loạt các bộ luật và các thiết chế

theo mô hình của Cộng hoà Pháp đã du nhập

vào Nhật Bản trong thời kì này Pháp luật

Đức cũng có những ảnh hưởng quan trọng

đến sự phát triển của pháp luật Nhật Bản

nhất là trong các lĩnh vực liên quan đến hiến

pháp, tổ chức toà án cũng như trong lĩnh vực

dân sự và thương mại Khác với điều này, do

quan niệm rằng hệ thống common law(5) là

quá phức tạp, không phù hợp với nhu cầu

cần cải cách hệ thống pháp luật nhanh

chóng, pháp luật của các nước thuộc hệ thống common law như Anh, Mỹ không có ảnh hưởng đáng kể đến pháp luật Nhật Bản trong thời kì Minh Trị

Sau khi Chiến tranh thế giới lần thứ II kết thúc, Nhật Bản trải qua bảy năm chiếm đóng của lực lượng Đồng minh từ năm 1945 đến năm 1952 với nhiều thay đổi trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội Đây là giai đoạn mở đầu cho thời kì phát triển của pháp luật Nhật Bản đương đại Điểm nổi bật của pháp luật giai đoạn này là sự ra đời bản Hiến pháp năm

1946 (được xem là bản Hiến pháp sửa đổi căn bản Hiến pháp Minh Trị năm 1889, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 3 tháng 5 năm 1947) với tư tưởng lập hiến hiện đại được du nhập

từ Anh - Mỹ.(6) Cùng với việc ban hành Hiến pháp, việc sửa đổi các bộ luật liên quan khác cho phù hợp với nội dung của Hiến pháp cũng được tiến hành trong thời gian này Cũng cần nhấn mạnh rằng bắt đầu từ giai đoạn chiếm đóng của lực lượng đồng minh, nhiều quy định của pháp luật Mỹ đã được du nhập vào Nhật Bản và ảnh hưởng của pháp luật Mỹ đối với pháp luật Nhật Bản ngày càng trở nên rõ nét Có thể nhìn thấy điều này

từ những quy định của Hiến pháp Nhật Bản cho đến các quy định pháp luật trong các lĩnh vực khác như quản trị công, kiểm soát cạnh tranh và chống độc quyền, sở hữu trí tuệ, các quan hệ về dân sự, hôn nhân và gia đình.(7)

Hệ thống pháp luật Nhật Bản đương đại luôn được cải cách, đổi mới đáp ứng với sự thay đổi không ngừng của đời sống chính trị, kinh tế-xã hội của Nhật Bản Có thể khẳng định rằng với mục tiêu hiện đại hoá pháp luật, người Nhật đã thành công thông qua việc

Trang 4

“nhập khẩu” pháp luật nước ngoài Bằng việc

du nhập mô hình và tư tưởng pháp luật của

Pháp, Đức và Mỹ, Nhật Bản hiện có hệ thống

pháp luật và thiết chế hiện đại giống như bất

kì quốc gia phát triển nào khác trên thế giới

1.2 Nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước

đương đại của Nhật Bản

Về mặt lí luận, hệ thống pháp luật đương

đại của Nhật Bản được vận hành trong mối

quan hệ gắn bó mật thiết với các thiết chế

chính thống của bộ máy nhà nước Vì vậy,

tìm hiểu văn hoá pháp luật của Nhật Bản

không thể tách rời việc xem xét một cách cơ

bản nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước của

quốc gia này đặt trong mối tương quan với

sự vận hành của toàn bộ hệ thống pháp luật

Nhật Bản là quốc gia có nền chính thể

quân chủ lập hiến Vị thế của Nhật Hoàng

được quy định rõ trong hiến pháp của Nhật

Bản Hiến pháp Minh Trị năm 1889 khẳng

định chủ quyền thuộc về Nhật Hoàng tôn

kính và bất khả xâm phạm Hiến pháp năm

1946 hiện hành của Nhật Bản đã có cải cách

căn bản về nền chính thể quân chủ bằng việc

quy định nguyên tắc chủ quyền nhân dân,

Nhật Hoàng không còn giữ vai trò cai quản

đất nước nhưng được trao cho vai trò là “biểu

trưng của quốc gia và khối đoàn kết thống

nhất của nhân dân”.(8)

Hiến pháp hiện hành của Nhật Bản dành toàn bộ Chương I (gồm

tám điều khoản) quy định về địa vị của Nhật

Hoàng, nhiệm vụ, quyền hạn của Nhật

Hoàng trong việc thực hiện một số công việc

của nhà nước được Hiến pháp trao cho, thể

hiện rõ nét vai trò mang tính tượng trưng của

Nhật Hoàng trong đời sống chính trị xã hội

của Nhật Bản.(9)

Việc bảo tồn vị thế của

Nhật Hoàng như được quy định trong Hiến pháp hiện hành của Nhật Bản là vấn đề đã gây nhiều tranh luận và đây được xem là kết quả của sự thoả hiệp của nhiều quan điểm trái ngược nhau về vai trò của Nhật Hoàng.(10) Nhìn nhận từ góc độ khác, việc duy trì vị thế của Nhật Hoàng thể hiện sự kết hợp giữa yếu

tố truyền thống và yếu tố hiện đại trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Nhật Bản đương đại

Về phương diện tổ chức bộ máy nhà nước, nguyên tắc dân chủ đại diện và nguyên tắc phân quyền thể hiện rõ nét thông qua các quy định của Hiến pháp Nhật Bản hiện hành Nghị viện của Nhật Bản (Kokkai)(11)

gồm Thượng nghị viện (Sangi-in) và Hạ nghị viện (Shugi-in) được Hiến pháp xác định là cơ quan cao nhất của quyền lực nhà nước và là

cơ quan lập pháp duy nhất của Nhật Bản.(12)

Vị trí này của Nghị viện trong bộ máy nhà nước được cụ thể hoá bằng những quyền hạn được trao cho Nghị viện thông qua hàng loạt các quy định của Hiến pháp Chẳng hạn, thể hiện nguyên tắc chủ quyền tối cao của Nghị viện, Hiến pháp hiện hành của Nhật Bản quy định Thủ tướng do Nghị viện bầu ra trong số các nghị sĩ(13)

và khi thực hiện quyền hành pháp, Nội các chịu trách nhiệm tập thể trước Nghị viện;(14)

bên cạnh đó, Nghị viện Nhật Bản được trao quyền đàn hạch thẩm phán của toà án Mặc dù Nghị viện được xác định

là cơ quan cao nhất của quyền lực Nhà nước,

cơ quan duy nhất có quyền lập pháp và có vị trí tối cao so với nhánh hành pháp và tư pháp, Hiến pháp hiện hành của Nhật Bản có những quy định thể hiện rõ nguyên tắc phân quyền, cơ chế “kiềm chế, đối trọng” giống

Trang 5

các quốc gia có nền dân chủ nghị viện Nội

các không hoàn toàn phụ thuộc vào Nghị

viện và có quyền đề xuất giải tán Hạ nghị

viện;(15)

trong quá trình điều hành, Nội các

ban hành các quy định để thi hành Hiến pháp

và các luật do Nghị viện ban hành.(16)

Trong

tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước,

tính độc lập trong hoạt động xét xử của toà

án ở Nhật Bản được tôn trọng và đặc biệt,

Hiến pháp hiện hành của Nhật Bản trao

quyền tối cao cho Toà án tối cao trong việc

kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp của hoạt

động lập pháp và lập quy.(17)

Những ví dụ nêu trên là dẫn chứng minh họa cho sự kết

hợp nguyên tắc chủ quyền tối cao của Nghị

viện và nguyên tắc phân quyền với cơ chế

“kiềm chế, đối trọng” trong tổ chức bộ máy

nhà nước của Nhật Bản Việc kết hợp hai

yếu tố dường như mâu thuẫn này được xem

là sự giao thoa của tư tưởng Anh và tư tưởng

Mỹ trong chủ nghĩa lập hiến hiện đại ở Nhật

Bản.(18)

Điều này cũng cho thấy việc du nhập

mô hình về tổ chức bộ máy nhà nước từ các

nước phương Tây phát triển đã góp phần

quan trọng vào công cuộc hiện đại hoá hệ

thống chính trị và luật pháp ở Nhật Bản -

nhân tố tích cực cho việc xây dựng một nước

Nhật phồn thịnh về kinh tế, văn minh, tiến

bộ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

1.3 Các loại nguồn của pháp luật đương

đại Nhật Bản

Pháp luật đương đại Nhật Bản có hệ

thống nguồn khá phức tạp Tính chất phong

phú, đa dạng của hệ thống nguồn này xuất

phát từ nhiều lí do Một mặt, do nhu cầu của

việc hiện đại hoá hệ thống pháp luật, Nhật

Bản đã thực hiện việc du nhập pháp luật của

phương Tây và ảnh hưởng của việc du nhập này đã làm cho pháp luật của Nhật Bản có tính lai ghép Mặt khác, với các yếu tố truyền thống đặc thù của lịch sử và văn hoá của xã hội Nhật Bản, rất nhiều các quy phạm

xã hội đã được hình thành, ngấm sâu vào đời sống xã hội và trở thành những tập quán được pháp luật thừa nhận hoặc ít nhất cũng

có ảnh hưởng đến việc điều chỉnh các quan

hệ xã hội nảy sinh

Trước hết, điều dễ nhận thấy là Nhật Bản

có hệ thống pháp luật thành văn phát triển, phản ánh đặc trưng của quốc gia có truyền thống pháp luật lục địa Đây là kết quả của quá trình nhập khẩu pháp luật từ châu Âu lục địa (Pháp và Đức) khởi đầu từ thời kì Minh Trị và hệ thống này luôn được xem xét, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện đáp ứng với nhu cầu phát triển của đời sống xã hội Sáu bộ luật (roppo) được coi là trụ cột của pháp luật Nhật Bản bao gồm Hiến pháp (kempo), Bộ luật dân sự (minpo), Bộ luật thương mại (shoho), Bộ luật tố tụng dân sự (minjisosho ho), Bộ luật hình sự (keiho) và Bộ luật tố tụng hình sự (keijishoho ho) Bên cạnh các

bộ luật, các luật riêng biệt được Nghị viện ban hành để điều chỉnh từng lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội, cụ thể hoá hoặc bổ sung cho quy định của các bộ luật Cùng với các

bộ luật và luật, pháp luật thành văn của Nhật Bản còn bao gồm hệ thống các văn bản do các cơ quan nhà nước khác ban hành trong

đó có sắc lệnh của Nội các (seirei), sắc lệnh của Thủ tướng (furei), sắc lệnh của các bộ trưởng (shorei), quy định (kisoku) do Hạ nghị viện hay Thượng nghị viện ban hành điều chỉnh trình tự, thủ tục và các công việc

Trang 6

mang tính hành chính diễn ra trong hoạt

động nội bộ của hai viện này và các quy định

(kisoku) do Toà án tối cao Nhật Bản ban

hành, điều chỉnh công việc quản lí tư pháp,

quy tắc liên quan đến việc hành nghề và thủ

tục tố tụng tại toà án Thêm vào đó, pháp

quy của chính quyền địa phương (jorei) được

ban hành để điều chỉnh các lĩnh vực thuộc

quyền quản lí của địa phương theo nguyên

tắc tự chủ của chính quyền địa phương do

Hiến pháp ghi nhận cũng được xếp vào hệ

thống pháp luật thành văn của Nhật Bản.(19)

Góp phần vào sự phức tạp của hệ thống pháp

luật thành văn ở Nhật Bản là việc thừa nhận

các điều ước quốc tế mà Nhật Bản là thành

viên cần phải được tuân thủ nghiêm chỉnh

như các văn bản pháp luật của quốc gia.(20)

Tuy nhiên, như đã đề cập ở phần trên, từ

sau Chiến tranh thế giới lần thứ II những cải

cách pháp luật Nhật Bản lại chịu ảnh hưởng

của truyền thống thông luật, đặc biệt là của

pháp luật Mỹ Về khía cạnh nguồn luật, nhìn

nhận về án lệ và vai trò của án lệ trong hoạt

động áp dụng pháp luật là ví dụ về ảnh

hưởng của truyền thống thông luật đối với

pháp luật Nhật Bản Mặc dù các bộ luật, luật

và những quy định thành văn khác giữ vị trí

quan trọng trong hoạt động áp dụng pháp

luật nhưng vai trò của án lệ với tư cách là

phương tiện đảm bảo áp dụng pháp luật một

cách thống nhất trong hoạt động xét xử được

luật pháp Nhật Bản ghi nhận Luật tổ chức

toà án của Nhật Bản quy định phần kết luận

trong bản án của toà án cấp trên sẽ ràng buộc

đối với toà án cấp dưới khi xét xử các vụ

việc có liên quan.(21)

Bộ luật tố tụng hình sự của Nhật Bản cũng quy định phán quyết của

toà án không phù hợp với án lệ của Toà án tối cao hoặc của toà án cao cấp được coi là căn

cứ để xét xử phúc thẩm.(22)

Trong thực tiễn xét xử, các thẩm phán Nhật Bản đã có truyền thống xem xét, tôn trọng, tự ràng buộc với các án lệ khi đưa ra các phán quyết của mình.(23) Tuy nhiên cũng cần phải nhấn mạnh rằng là một quốc gia theo truyền thống pháp luật châu Âu lục địa, học thuyết án lệ (stare decisis) theo đúng nghĩa như được áp dụng ở các nước trong hệ thống thông luật không được thừa nhận ở Nhật Bản Mặc dù xuất bản các án lệ (hanrei) đã trở thành truyền thống trong đời sống pháp luật ở Nhật Bản và hiện

có nhiều ấn phẩm như Juristo, Hanrei Jiho hay Hanrei Times công bố các án lệ, các vấn

đề có liên quan đến án lệ như nội dung bản

án, phương pháp lựa chọn bản án để công bố

là vấn đề cần được bàn luận.(24) Điều này đã làm cho giá trị thực tiễn của án lệ trong đời sống pháp lí ở Nhật Bản bị giảm sút Các án

lệ vì thế không trở thành một bộ phận của pháp luật Nhật Bản giống như các nước theo

hệ thống thông luật Trong thực tiễn pháp lí ở Nhật Bản, các bình luận khoa học và quan điểm của các học giả về các vấn đề pháp luật (gakusetsu) lại có ảnh hưởng khá quan trọng

và được những người hành nghề luật quan tâm Những bình luận và quan điểm của các học giả thường đưa ra các luận điểm, lập luận

về pháp luật, cách giải thích pháp luật có tính

lí luận, khái quát hoá cao Ngoài việc nghiên cứu, xem xét các quy định của bộ luật, luật

và các quy định thành văn khác, những người hành nghề luật ở Nhật Bản thường tham khảo những nội dung này với tư cách như là loại nguồn để giải quyết các vấn đề pháp lí

Trang 7

có liên quan.(25) Vì vậy, mặc dù các bình

luận khoa học và quan điểm của các học giả

về các vấn đề pháp luật không phải là nguồn

của pháp luật theo đúng nghĩa chặt chẽ của

thuật ngữ này nhưng lại có vị trí quan trọng

và thông thường những người hành nghề luật

ở Nhật Bản chỉ xếp nó sau bộ luật và luật

Như đã nêu trên, với một xã hội truyền

thống Á Đông như Nhật Bản, các phong tục,

tập quán (kanshu) hình thành trong đời sống

xã hội truyền từ đời này qua đời khác đã ăn

sâu vào gốc rễ của cộng đồng Những phong

tục, tập quán hình thành trong đời sống xã

hội ở Nhật Bản chịu ảnh hưởng rất nhiều của

các tôn giáo, đặc biệt là Nho giáo, với những

giáo lí ảnh hưởng sâu sắc đến cách ứng xử

của con người trong đời sống xã hội và vì

thế tác động đến việc điều chỉnh của pháp

luật đối với các quan hệ xã hội.(26) Nỗ lực

hiện đại hoá hệ thống pháp luật thông qua

việc “nhập khẩu” pháp luật từ phương Tây

đã đem lại nhiều thay đổi cho hệ thống pháp

luật của Nhật Bản Tuy nhiên, thói quen sử

dụng tập quán đã ăn sâu vào đời sống xã hội

và Nhật Bản đã duy trì, gìn giữ và thừa nhận

giá trị áp dụng của nhiều tập quán trong việc

điều chỉnh các quan hệ xã hội đặc biệt là

quan hệ dân sự và thương mại.(27)

Điều này không chỉ đúng khi Nhật Bản mới bước vào

giai đoạn đầu của thời kì Minh Trị mà cả đối

với pháp luật Nhật Bản đương đại

2 Ảnh hưởng của các giá trị đạo đức,

triết lí truyền thống và chuẩn mực xã hội

đối với vai trò của pháp luật trong xã hội

Nhật Bản

Một hệ thống pháp luật hiện đại và phát

triển được xem là phù hợp với quốc gia có

nền kinh tế thuộc diện hàng đầu của thế giới, cường quốc về khoa học, kĩ thuật và công nghệ, có nền chính trị dân chủ và đời sống

xã hội đã bị Tây hóa như Nhật Bản Tuy nhiên, xã hội Nhật Bản vận hành một cách nền nếp, kỉ luật không chỉ bởi lí do là quốc gia có hệ thống pháp luật phát triển như các nước phương Tây, điều quan trọng hơn cả là việc điều chỉnh các quan hệ xã hội chịu nhiều ảnh hưởng của các giá trị đạo đức, triết

lí truyền thống và chuẩn mực xã hội vốn dĩ

đã ăn sâu trong đời sống xã hội Nhật Bản.(28) Tất nhiên, cùng với sự phát triển của đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá-xã hội, với trào lưu phương Tây hoá diễn ra mạnh mẽ ở Nhật Bản, ảnh hưởng của các yếu tố mang tính chất truyền thống nêu trên trong xã hội Nhật Bản cũng có thể bị thay đổi ít nhiều Song về

cơ bản, dấu ấn của các chuẩn mực truyền thống đối với việc điều chỉnh xã hội vẫn rất đậm nét.(29)

Có nhiều lí do khác nhau để giải thích về sự ảnh hưởng của các giá trị đạo đức, triết lí truyền thống và chuẩn mực xã hội đối với vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội Nhật Bản Dưới đây là một số ví dụ điển hình thể hiện rõ sự ảnh hưởng, tác động của các giá trị đạo đức, triết lí truyền thống và chuẩn mực xã hội đối với vai trò của pháp luật

2.1 Quy tắc “giri” trong xã hội Nhật Bản

Bàn về văn hoá pháp luật Nhật Bản, các công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài và Nhật Bản đều đề cập vai trò của các quy tắc “giri” trong đời sống xã hội Nhật Bản, đặc biệt là vị thế của nó trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội Sự tồn tại của các quy tắc “giri” đã lí giải tại sao dù Nhật Bản

đã có hệ thống pháp luật hiện đại, phát triển

Trang 8

giống như hệ thống pháp luật của bất kì

nước phương Tây nào nhưng vai trò thực sự

của pháp luật trong đời sống xã hội lại không

tương xứng với sự phát triển của nó Nói

cách khác, “giri” - các quy tắc truyền thống

mà người Nhật nghiêm chỉnh tuân thủ đã

thay thế vị trí quan trọng của pháp luật trong

việc điều chỉnh các quan hệ xã hội

Thuật ngữ “giri” có ngữ nghĩa khá phức

tạp ngay cả đối với những người đã khá quen

thuộc với truyền thống xã hội Nhật Bản Các

nhà nghiên cứu về văn hoá pháp luật Nhật

Bản đều thống nhất nhận xét rằng rất khó có

thể tìm được thuật ngữ nước ngoài tương

ứng nào có thể chuyển tải một cách đầy đủ

ngữ nghĩa của thuật ngữ này như nó vốn có

trong tiếng Nhật.(30)

Theo Noda, trong ngôn ngữ Nhật Bản “gi” được hiểu là công bằng

hay đúng đắn (chính nghĩa); “ri” có nghĩa là

lí do hoặc cách ứng xử hợp lí, phù hợp

“Giri” vì thế được hiểu là cách ứng xử theo

yêu cầu chuẩn mực của một người đối với

những người khác căn cứ vào địa vị xã hội

của anh ta.(31)

Để hiểu được một cách chi tiết

về “giri”, cũng theo Noda, cần thiết phải liệt

kê những yêu cầu đặt ra đối với từng đối

tượng cụ thể theo bộ quy tắc ứng xử “giri”

Nói một cách ngắn gọn, “giri” bao gồm

những quy tắc xử sự dưới đây:

- “Giri” là nghĩa vụ của người phải xử sự

đối với những đối tượng nhất định theo cách

thức đã được sắp đặt trước Những cách thức

xử sự này khác nhau tuỳ thuộc vào vị trí,

hoàn cảnh, mối quan hệ của người có nghĩa

vụ phải xử sự theo yêu cầu và các đối tác của

họ Loại “giri” này, theo cách hiểu thông

thường của người Việt, có nghĩa là tùy thuộc

vào vị trí, mối quan hệ của từng người mà phải có cách cư xử cho phải “đạo”, “có trước,

có sau” với người khác Theo cách hiểu như vậy, xã hội Nhật Bản hình thành nên chuẩn mực xử sự “giri” của con cái đối với cha mẹ, học sinh đối với giáo viên, con rể đối với cha

mẹ vợ, người được hưởng lợi đối với người mang lại lợi ích cho mình, người trẻ với người lớn tuổi, người ít kinh nghiệm đối với người đã có thâm niên kinh nghiệm, của bạn

bè bằng hữu với nhau và rất nhiều những mối quan hệ khác Theo chuẩn mực xử sự này, các quan hệ xã hội tương ứng đã được hình thành và tồn tại theo trật tự được sắp đặt mà chưa cần đến các quy định pháp luật;

- “Giri” là quy tắc được ứng xử trong quan hệ mà ở đó một người phải thực hiện nghĩa vụ đối với người khác nhưng người được thụ hưởng trong trường hợp này không

có quyền yêu cầu đối tác của mình thực hiện nghĩa vụ mà buộc phải chờ người này tự nguyện thực hiện Mặc dù việc chậm trễ hoặc không thực hiện nghĩa vụ được xem là hành vi bất tín khá nghiêm trọng nhưng người được thụ hưởng trong trường hợp này không được phép tạo ra những áp lực để buộc đối tác của mình phải thực hiện nghĩa vụ; nếu không chính anh ta là người đã vi phạm quy tắc “giri” Việc đòi hỏi phải biết ứng xử một cách “quân tử”, biết cách “kiềm chế” thể hiện sự đề cao chữ tín trong việc thiết lập các quan hệ, đặc biệt là trong các giao dịch dân sự nhằm tạo ra bầu không khí hài hoà, tránh va chạm, xung đột Theo chuẩn mực truyền thống của xã hội Nhật Bản, việc giữ hoà khí, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau trong quan hệ giữa các cá nhân và

Trang 9

trong quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng là

điều vô cùng quan trọng Khi mâu thuẫn, bất

đồng xảy ra, biện pháp tự kiềm chế luôn

được đặt lên hàng đầu;

- Các quan hệ theo chuẩn mực “giri” là

các quan hệ có tính chất lâu dài, tồn tại ngay

cả khi các nghĩa vụ phát sinh từ những mối

quan hệ này đã được các chủ thể thực hiện

Nói cách khác, “giri” rất đề cao việc tạo

dựng các mối quan hệ có tính bền vững, lâu

dài, thể hiện sự tin tưởng lẫn nhau Noda đã

minh họa nội dung này bằng ví dụ trong

quan hệ giữa người bán và người mua Nếu

hai bên đã từng thiết lập quan hệ mua bán

nhưng sau đó người mua lại chuyển sang

mua hàng của đối tác khác thì anh ta được

xem như là người đã vi phạm quy tắc “giri”

Ngược lại nếu người mua tiếp tục duy trì

quan hệ mua hàng thì người bán sẽ dành cho

họ những ưu đãi đáng kể;

- Các mối quan hệ “giri” được hình thành

trên cơ sở quan hệ tình cảm chứ không phải

dựa trên cơ sở lợi ích vật chất được tính toán

trước Trên thực tế, mặc dù trong nhiều

trường hợp yếu tố tình cảm và yếu tố vật

chất có sự đan xen với nhau trong các quan

hệ “giri” nhưng ít nhất là ở bên ngoài người

Nhật luôn thể hiện rằng họ hành động xuất

phát từ lí do tình cảm gắn với trách nhiệm

chứ không phải là vì các lợi ích vật chất của

riêng họ Theo Noda, ý thức “duy tình” này

thể hiện rõ ở việc rất ít người Nhật tính đến

các khế ước hôn nhân hoặc bận tâm về chế

độ hôn sản mà để cho các quy tắc “giri” điều

chỉnh các quan hệ này Điều này rất khác

biệt so với thực tiễn pháp luật của các nước

phương Tây phát triển;

- Các mối quan hệ “giri” được hình thành thấm đẫm các nguyên tắc thứ bậc đặc trưng của chế độ phong kiến tồn tại thời gian dài trong xã hội Nhật Bản Người Nhật xem việc duy trì sự trung thành, thủy chung của người

có “địa vị xã hội” thấp hơn đối với người có

vị trí cao hơn là yêu cầu đạo đức căn bản ngay

cả trong các mối quan hệ có tính chất ngang bằng, bình đẳng Vì vậy, việc sử dụng pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội trong những trường hợp như vậy luôn phải lưu ý đến các quy tắc “giri” này;

- Các quy tắc “giri” được đảm bảo thực hiện không phải bằng các biện pháp chế tài mang tính chất cứng rắn mà đơn giản chỉ bằng danh dự Cá nhân nào vi phạm các quy tắc xử sự mang tính chất quân tử này sẽ bị những người xung quanh nhìn nhận một cách nghiêm khắc là những người không có

tư cách đàng hoàng và họ sẽ bị “mất mặt” trước đám đông Người Nhật rất nhạy cảm

về danh dự cá nhân của mình và luôn cố gắng tránh không vi phạm các chuẩn mực xử

sự mang nặng tính đạo đức của “giri” bằng mọi giá để bảo vệ danh dự, uy tín cá nhân Như vậy, “giri” là hệ thống các chuẩn mực xử sự mang tính xã hội truyền thống nhằm điều chỉnh các mối quan hệ nảy sinh trong đời sống xã hội Các quy tắc này đã hình thành từ rất lâu trong xã hội Nhật Bản và

ăn sâu vào cách thức xử sự của người Nhật Trong nhiều mối quan hệ, nhiều lĩnh vực của đời sống, các quy tắc “giri” đã chiếm vị trí quan trọng đến mức các quy tắc pháp luật thuần túy khó có thể thay thế được vị trí của chúng Khi các tư tưởng và hệ thống pháp luật hiện đại được du nhập vào Nhật Bản, vị

Trang 10

thế của các quy tắc “giri” này dường như

không hề bị ảnh hưởng Quy định pháp luật

nào được xem là không phù hợp với các quy

tắc xử sự chuẩn mực “giri” sẽ khó có thể sử

dụng được để điều chỉnh đời sống xã hội

Theo Noda, trong đời sống xã hội Nhật Bản,

phần lớn các xung đột, mâu thuẫn vẫn được

điều chỉnh, giải quyết không phải bằng các

thiết chế và theo quy định pháp luật chính

thống mà bằng hệ thống nằm ngoài các quy

định pháp luật của quốc gia Chẳng hạn, trong

các quan hệ hợp đồng, người ta thường nhắc

nhở đối tác thực hiện hợp đồng bằng một lá

thư yêu cầu thực hiện nghĩa vụ và khi xảy ra

việc chậm trễ hoặc không thực hiện nghĩa vụ,

bên bị vi phạm cũng hiếm khi kiện tụng ra toà

vì cho rằng làm như thế sẽ ảnh hưởng đến uy

tín, danh dự của người bị kiện, làm đảo lộn

trật tự hài hoà của đời sống xã hội Vì vậy, sẽ

không ngạc nhiên khi thấy rằng ở Nhật Bản

số lượng các vụ việc tranh chấp, xung đột xã

hội do toà án giải quyết còn khá khiêm tốn so

với các vụ việc được giải quyết bằng con

đường thương luợng hoặc hoà giải được thực

hiện bởi các thiết chế xã hội khác

Ảnh hưởng của các quy tắc “giri” trong

xã hội Nhật Bản có thể có sự khác biệt giữa

các vùng miền, các thế hệ Vai trò của các

quy tắc xử sự “giri” thể hiện rất đậm nét trong

đời sống xã hội của nông thôn Nhật Bản - nơi

được coi là có những rào cản lớn trong việc

thực hiện các quy định pháp luật chính thống

Noda đưa ra một ví dụ minh họa rằng ở khu

vực nông thôn, người nông dân sử dụng đất

để làm nông nghiệp không phải trên cơ sở

các quyền được ghi nhận trong hợp đồng

thuê đất được pháp luật điều chỉnh mà do sự

ưu ái, quý mến của chủ đất đối với họ; việc trả tiền thuê đất cho chủ đất cũng không phải xuất phát từ nghĩa vụ của hợp đồng thuê đất

mà đơn giản chỉ là việc họ thực hiện nghĩa

vụ đã được quy tắc “giri” xác lập.(32)

“Giri” với tư cách là quy tắc xử sự truyền thống của xã hội Nhật Bản dường như đã thấm đẫm trong nhận thức và hành động của thế hệ lớn tuổi ở Nhật Bản Sự phát triển mạnh mẽ của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, sự mở cửa, giao lưu văn hoá, đặc biệt là trào lưu phương Tây hoá diễn ra mạnh mẽ ở Nhật Bản đã ít nhiều ảnh hưởng đến việc nhận thức và thực hiện các quy tắc “giri” trong giới trẻ ở Nhật Bản Có lẽ đây là điều

dễ hiểu đối với bất cứ quốc gia nào dù ở phương Đông hay phương Tây Tuy nhiên, ở Nhật Bản, việc giáo dục ý thức truyền thống luôn được coi trọng trong mỗi gia đình, ở cộng đồng và toàn xã hội và người Nhật đã thực sự thành công trong việc giáo dục và duy trì các nét văn hoá, đạo đức truyền thống của mình Ảnh hưởng bởi sự phát triển của đời sống xã hội, giới trẻ Nhật Bản có thể không ứng xử theo theo chuẩn mực “giri” như thế hệ cha anh của họ mong đợi nhưng

họ luôn có ý thức về những trách nhiệm, nghĩa vụ mà “giri” yêu cầu

Với một xã hội phát triển như Nhật Bản,

sự tồn tại hệ thống pháp luật hiện đại với đầy đủ các thiết chế để vận hành hiệu quả

hệ thống pháp luật đó giống như bất cứ quốc gia phương Tây nào là điều hoàn toàn logic Công cụ pháp luật này đủ sức để đảm bảo điều chỉnh hiệu quả các quan hệ xã hội nảy sinh trong đời sống xã hội Tuy nhiên sức ảnh hưởng của các quy tắc xử sự chuẩn

Ngày đăng: 21/12/2021, 16:51

w