Theo hình thái chuẩn mực củavăn hóa, Koliberger định nghĩa văn hóa là toàn bộ nếp sống được xác định bằng môi trường xã hội,thông qua các cá nhân với tư cách là thành viên của xã hội ấy,
Trang 1ĐỀ CƯƠNG ÔN THI MÔN LỊCH SỬ VĂN HÓA PHƯƠNG ĐÔNG
Câu 1 Định nghĩa khái niệm văn hóa 9
Câu 2 Định nghĩa văn hóa từ hướng tiếp cận hệ thống - loại hình 11
Câu 3 Các đặc trưng và chức năng của văn hóa 11
Câu 4 Định nghĩa khái niệm văn minh 13
Câu 5 Phân biệt hai khái niệm văn hóa và văn minh từ các đặc trưng “tính lịch sử”, “tính giá trị”, “nguồn gốc”, và “phạm vi” 13
Câu 6 Định nghĩa khái niệm văn hiến 14
Câu 7 Định nghĩa khái niệm nền văn minh 14
Câu 8 Mối quan hệ giữa văn hóa - văn minh - văn hiến 15
Câu 9 Cách tiếp cận sử học trong nghiên cứu văn minh 16
Câu 11 Khái niệm phương pháp 17
Câu 12 Khái niệm phương pháp luận 18
Câu 13 Phương pháp luận sử học Marxist 18
Câu 14 Những vấn đề rút ra từ việc nghiên cứu phương pháp luận sử học Marxist 19
Câu 15 Sự hình thành và phát triển lý luận sử học thời cổ trung đại 20
Câu 16 Lý luận sử học thời cận đại 21
Câu 17 Tác động của sự ra đời chủ nghĩa Marx đến nhận thức sử học 22
Câu 18 Quan niệm về đối tượng nghiên cứu của sử học các giai đoạn trước Marx 23
Câu 19 Quan niệm về đối tượng nghiên cứu của sử học theo chủ nghĩa Marx Lenin 24
Câu 20 Phân biệt đối tượng của khoa học lịch sử với đối tượng của chủ nghĩa duy vật lịch sử 25
Câu 21 Phân biệt đối tượng của khoa học lịch sử với đối tượng của lịch sử Đảng 26
Câu 22 Mối quan hệ giữa quá khứ - hiện tại - tương lai 26
Câu 23 Những đặc điểm của nhận thức lịch sử 27
Trang 2Câu 26 Chức năng của khoa học lịch sử 27
Câu 27 Nhiệm vụ của khoa học lịch sử 28
Câu 28 Tính đảng và tính khoa học trong nghiên cứu sử học 30
Câu 29 Sự thống nhất giữa tính đảng và tính khoa học trong nghiên cứu sử học Marxist 30
Câu 30 Tính hiện thực và nội dung của sự kiện lịch sử 31
Câu 31 Qui luật lịch sử 31
Câu 32 Phân kỳ lịch sử với công tác nghiên cứu sử học 32
Câu 37 Cấu trúc của hệ thống văn hóa 33
Câu 38 Văn hóa Việt Nam: vấn đề loại hình văn hóa, tọa độ văn hóa và tiến trình văn hóa 34
Câu 39 Khái niệm phương Đông 36
Câu 40 Khái niệm văn minh phương Đông 37
Câu 41 Nêu các đặc trưng cần và đủ để phân biệt văn hóa với các khái niệm khác Trên cơ sở đó, xây dựng định nghĩa về văn hóa 37
Câu 42 Cấu trúc của văn hóa và các bộ phận của nó 40
Câu 43 Những đặc trưng cơ bản trong các lĩnh vực của loại hình văn hóa nông nghiệp 42
Câu 44 Tại sao khi nói về Đông Nam Á, người ta thường nhắc đến tính thống nhất trong sự đa dạng? 45
Câu 45 Vai trò của các dòng sông lớn của các nền văn minh phương Đông 45
Câu 46 Vai trò của yếu tố địa hình khép kín của các nền văn minh phương Đông 46
Câu 47 Điều kiện kinh tế tác động đến sự xuất hiện và phát triển của nền văn minh Ai Cập 46
Câu 48 Điều kiện kinh tế tác động đến sự xuất hiện và phát triển của nền văn minh Lưỡng Hà 47
Câu 49 Điều kiện kinh tế tác động đến sự xuất hiện và phát triển của nền văn minh Ấn Độ 48
Câu 50 Điều kiện kinh tế tác động đến sự xuất hiện và phát triển của nền văn minh Trung Hoa 48
Câu 51 Điều kiện kinh tế tác động đến sự xuất hiện và phát triển của nền văn minh Ả Rập 49
Trang 3Câu 52 Điều kiện chính trị xã hội tác động đến sự xuất hiện và phát triển của nền văn minh Ai Cập49
Câu 53 Điều kiện chính trị xã hội tác động đến sự xuất hiện và phát triển của nền văn minh Lưỡng
Hà 50
Câu 54 Điều kiện chính trị xã hội tác động đến sự xuất hiện và phát triển của nền văn minh Ấn Độ52 Câu 55 Điều kiện chính trị xã hội tác động đến sự xuất hiện và phát triển của nền văn minh Trung Hoa 53
Câu 56 Điều kiện chính trị xã hội tác động đến sự xuất hiện và phát triển của nền văn minh Ả Rập54 Câu 57 Sự hình thành cộng đồng cư dân chủ thể của nền văn minh Ai Cập 54
Câu 63 Sự hình thành cộng đồng cư dân chủ thể của nền văn minh Lưỡng Hà 55
Câu 64 Sự hình thành cộng đồng cư dân chủ thể của nền văn minh Ấn Độ 55
Câu 65 Sự hình thành cộng đồng cư dân chủ thể của nền văn minh Trung Hoa 56
Câu 66 Sự hình thành cộng đồng cư dân chủ thể của nền văn minh Ả Rập 58
Câu 67 Văn hóa Việt Nam hình thành và phát triển trong hoàn cảnh địa - khí hậu và lịch sử - xã hội nào? 58
Câu 68 Qúa trình hình thành - phát triển, các đặc điểm và vai trò lịch sử của chữ viết Lưỡng Hà.60 Câu 69 Qúa trình hình thành - phát triển, các đặc điểm và vai trò lịch sử của chữ viết Trung Hoa62 Câu 70 Thành tựu, các đặc điểm và vai trò lịch sử của nghệ thuật kiến trúc điêu khắc Ai Cập 64
Câu 71 Thành tựu, các đặc điểm và vai trò lịch sử của nghệ thuật kiến trúc điêu khắc Lưỡng Hà.66 Câu 72 Thành tựu, các đặc điểm và vai trò lịch sử của nghệ thuật kiến trúc điêu khắc Ấn Độ 68
Câu 73 Thành tựu, các đặc điểm và vai trò lịch sử của nghệ thuật kiến trúc điêu khắc Trung Hoa70 Câu 74 Thành tựu, các đặc điểm và vai trò lịch sử của khoa học tự nhiên và kĩ thuật Ai Cập 72
Câu 75 Thành tựu, các đặc điểm và vai trò lịch sử của khoa học tự nhiên và kĩ thuật Ấn Độ 75
Câu 76 Thành tựu, các đặc điểm và vai trò lịch sử của khoa học tự nhiên và kĩ thuật Trung Hoa 77
Câu 77 Bối cảnh hình thành, tính tiến bộ trong nội dung, quá trình phát triển và vai trò lịch sử của Phật giáo 83
Trang 4Câu 78 Bối cảnh hình thành, tính tiến bộ trong nội dung, quá trình phát triển và vai trò lịch sử của
Islam giáo 87
Câu 79 Bối cảnh hình thành, tính tiến bộ trong nội dung, quá trình phát triển và vai trò lịch sử của Nho gia 93
Câu 80 Bối cảnh hình thành, tính tiến bộ trong nội dung, quá trình phát triển và vai trò lịch sử của Đạo gia 98
Câu 81 Bối cảnh hình thành, tính tiến bộ trong nội dung, quá trình phát triển và vai trò lịch sử của Mặc gia 100
Câu 82 Bối cảnh hình thành, tính tiến bộ trong nội dung, quá trình phát triển và vai trò lịch sử của Pháp gia 102
Câu 83 Tiến trình văn hóa Việt Nam và đặc điểm cơ bản của từng giai đoạn 103
Câu 84 Triết lý Âm Dương: bản chất và khái niệm 110
Câu 85 Triết lý Âm Dương và tính cách người Việt 112
Câu 86 Mô hình Tam tài - Ngũ hành: những đặc trưng khái quát 115
Câu 87 Mô hình Ngũ hành tương sinh tương khắc: ứng dụng 118
Câu 88 Lịch âm dương và hệ đếm can chi 121
Câu 89 Nhận thức về con người tự nhiên và con người xã hội 125
Câu 90 Khái niệm Âm Dương và hai quy luật của nó 127
Câu 91 Khái niệm Tam tài - Ngũ hành và mối quan hệ giữa chúng 128
Câu 92 Sự khác biệt giữa lịch Âm Dương và các loại lịch khác 129
Câu 93 Khái niệm hệ đếm can chi và cách đổi từ năm dương lịch sang năm can chi và ngược lại130 Câu 94 Giải thích quan niệm cổ truyền cho rằng con người là một vũ trụ thu nhỏ 134
Câu 95 Nguyên tắc tổ chức nông thôn và hai đặc trưng cơ bản của nông thôn Việt Nam 135 Câu 96 Tổ chức quốc gia: những tương đồng và khác biệt điểm với tổ chức nông thôn truyền thống138
Trang 5Câu 97 Đặc điểm của đô thị Việt Nam truyền thống nhìn từ quan hệ với tổ chức quốc gia và tổ chức
nông thôn 139
Câu 98 Những biểu tượng truyền thống của tính cộng đồng và tính tự trị làng xã 141
Câu 99 Những ưu và nhược điểm trong tính cách Việt Nam bắt nguồn từ tính cộng đồng và tính tự trị 142
Câu 100 Phân tích vai trò của văn hóa làng xã trong truyền thống văn hóa Việt Nam nhìn từ hai đặc trưng tính cộng đồng và tính tự trị 143
Câu 101 Những đặc điểm của mối quan hệ “làng - nước” ở Việt Nam 145
Câu 102 Những đặc điểm chung của tổ chức xã hội Việt Nam truyền thống và những hệ quả của nó145 Câu 103 Giải thích thứ bậc “sĩ - nông - công - thương” trong xã hội Việt Nam truyền thống 147
Câu 104 Tín ngưỡng phồn thực ở Việt Nam truyền thống và những hệ quả của nó 148
Câu 105 Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên ở Việt Nam truyền thống 150
Câu 106 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và các nhân thần ở Việt Nam truyền thống 152
Câu 107 Các đặc điểm của phong tục hôn nhân và tang ma cổ truyền ở Việt Nam 156
Câu 108 Lễ tết và lễ hội ở Việt Nam truyền thống 159
Câu 109 Các đặc điểm của văn hóa giao tiếp người Việt nhìn từ hai đặc trưng tính cộng đồng và tính tự trị của tổ chức xã hội Việt Nam truyền thống 161
Câu 110 Các đặc điểm của nghệ thuật ngôn từ Việt Nam 163
Câu 111 Những biểu hiện của tính biểu trưng trong nghệ thuật thanh sắc và hình khối Việt Nam truyền thống 164
Câu 112 Những biểu hiện của tính biểu cảm và tính tổng hợp trong nghệ thuật thanh sắc và hình khối Việt Nam truyền thống 166
Câu 113 Những biểu hiện của tính linh hoạt trong nghệ thuật thanh sắc và hình khối Việt Nam truyền thống 167
Câu 114 Những đặc trưng của văn hóa Việt Nam thể hiện qua đàn bầu 168
Trang 6Câu 115 Cơ cấu bữa ăn truyền thống và các đặc trưng cơ bản trong văn hóa ăn uống của người
Việt 168
Câu 116 Tính cộng đồng và tính mực thước trong văn hóa ẩm thực của người Việt 169
Câu 117 Những đặc điểm cơ bản trong chất liệu và cách thức may mặc truyền thống của người Việt 171
Câu 118 Sự kết hợp giữa truyền thống và cách tân của áo dài phụ nữ Việt Nam hiện đại 172
Câu 119 Những đặc điểm của việc đi lại ở Việt Nam truyền thống 172
Câu 120 Sự khác nhau giữa Việt Nam - Trung Hoa trong lĩnh vực đi lại 173
Câu 121 Những đặc điểm của kiến trúc Việt cổ truyền 173
Câu 122 Những nét bản sắc của văn hóa Chăm 175
Câu 123 Qúa trình du nhập và các tông phái Phật giáo ở Việt Nam 179
Câu 124 Các đặc điểm cơ bản của Phật giáo Việt Nam 181
Câu 125 Các đặc điểm cơ bản của Nho giáo Việt Nam 184
Câu 126 Các đặc điểm cơ bản của Đạo giáo Việt Nam 187
Câu 127 Những ảnh hưởng của văn hóa phương Tây đối với văn hóa Việt Nam 188
Câu 128 Những đặc điểm của văn hóa đối phó với môi trường xã hội 191
Câu 129 Những biểu hiện về tính dung hợp của văn hóa Việt Nam trong ứng xử với môi trường xã hội 192
Câu 130 Mối quan hệ giữa các khái niệm Âm Dương - Tam Tài - Ngũ hành 193
Câu 131 Mối quan hệ giữa Nông thôn - Đô thị - Quốc gia 195
Câu 132 Mối quan hệ giữa Nho giáo - Phật giáo - Đạo giáo 197
Câu 133 Mối quan hệ giữa Triết lý Âm Dương và Tín ngưỡng phồn thực 198
Câu 134 Mối quan hệ giữa các tôn giáo ngoại lai và tín ngưỡng cổ truyền 199
Câu 135 Những biểu hiện của tính tổng hợp trong văn hóa Việt Nam 200
Trang 7Câu 136 Những biểu hiện của tính linh hoạt trong văn hóa Việt Nam 205
Câu 137 Những biểu hiện của lối ứng xử tế nhị trong văn hóa Việt Nam 208
Câu 138 Những biểu hiện của truyền thống hài hòa, quân bình trong văn hóa Việt Nam 209
Câu 139 Những biểu hiện của khuynh hướng trọng tình, thiên về âm tính trong văn hóa Việt Nam213 Câu 140 Những tương đồng trong cách ứng xử của người Việt qua giao tiếp bằng ngôn từ - giao tiếp trong ăn uống và ăn mặc truyền thống của phụ nữ 217
Câu 141 Căn cứ vào cơ sở hình thành và thành tựu, chứng minh tính chất nông nghiệp của các nền văn minh phương Đông 231
Câu 142 Căn cứ vào cơ sở hình thành và thành tựu, chứng minh các nền văn minh phương Đông là chiếc nôi của văn minh nhân loại, có nhiều đóng góp quan trọng vĩ đại 232
Câu 143 Căn cứ vào cơ sở hình thành và thành tựu, chứng minh các nền văn minh phương Đông có sắc thái văn hóa đa dạng, phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc riêng 235
Câu 144 Căn cứ vào cơ sở hình thành và thành tựu, chứng minh các nền văn minh phương Đông có trình độ văn minh vật chất còn hạn chế so với các nền văn minh phương Tây ra đời muộn hơn và được kế thừa từ phương Đông 236
Câu 145 Căn cứ vào cơ sở hình thành và thành tựu, chứng minh các nền văn minh phương Đông có tính chất và nội dung tôn giáo là một thành tựu vĩ đại và quan trọng 237
Câu 146 Quan niệm của các nhà triết học duy vật trước Mác 238
Câu 147 Định nghĩa của Lênin về vật chất 241
Câu 148 Khái niệm vận động 242
Câu 149 Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất 242
Câu 150 Tính mâu thuẫn của vận động 243
Câu 151 Ý nghĩa của quan điểm triết học duy vật biện chứng về vận động 244
Câu 152 Quan niệm của triết học duy vật biện chứng về ý thức 244
Câu 153 Nguồn gốc và bản chất của ý thức 245
Câu 154 Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức dưới góc độ nhận thức luận 246
Trang 8Câu 155 Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong hoạt động thực tiễn 247
Câu 156 Nội dung nguyên lí về mối liên hệ phổ biến 248
Câu 157 Nội dung nguyên lí về sự phát triển 251
Câu 158 Ý nghĩa phương pháp luận nguyên lý phát triển 252
Câu 160 Nội dung ý nghĩa qui luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi chất và ngược lại253 Câu 162 Cái chung và cái riêng 253
Câu 163 Nguyên nhân và kết quả 255
Câu 164 Nội dung và hình thức 257
Câu 165 Tất nhiên và ngẫu nhiên 258
Câu 166 Bản chất và hiện tượng 260
Câu 167 Khả năng và hiện thực 261
Trang 9Câu 1 Định nghĩa khái niệm văn hóa
Văn hóa là một từ Hán Việt, do Lưu Hướng thời Tây Hán nêu ra đầu tiên, bấy giờ có nghĩa làdùng văn để hóa, hay tức là giáo hóa Chữ văn hóa trong tiếng Anh - Pháp là culture, có nguồn gốc
từ chữ Latin cultura nghãi là trồng trọt, khai phá Đến giữa thế kỷ XIX, do sự phát triển của cáckhoa học, khái niệm văn hóa đã dần thay đổi có phần khác trước Người đầu tiên đưa ra định nghĩa
về văn hóa là nhà nhân học người Anh E.B.Taylor “Văn hóa là một tổng thể phức hợp gồm tri thức,
tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật và cả những phong tục, tập quán, thói quen mà con người đạt được trong xã hội” Trên cơ sở ấy, người Nhật đã dùng hai chữ văn hóa để dịch chữ
culture của phương Tây và do đó, chữ văn hóa mới có nghĩa như ngày nay Với định nghĩa này, với
tư cách là thành viên với sự lựa chọn từ đặc thù của văn hóa, E.B.Taylor đã vận dụng những biểuđạt được chứa đựng ở nền văn hóa cao như nghệ thuật, khoa học và đạo đức, tôn giáo Qua đó ôngdiễn đạt phương thức hoạt động của văn hóa Tiếp tục phân biệt giữa nhóm văn hóa nguyên sơ vàvăn hóa cao
Ở Việt Nam, các nhà nho Duy tân du nhập từ này khi đọc tân thư, tân văn Trung Hoa từ đầuthế kỷ XX Từ tạp chí Nam Phong ra đời năm 1917 đến Việt Nam văn hóa sử cương của Đào DuyAnh xuất bản năm 1938, cách hiểu khái niệm văn hóa không những đã theo cách phương Tây màcòn thay đổi dần tương ứng với sự phát triển của khoa học châu Âu đương đại Theo quan niêm củakinh điển Nho gia, văn giữ vi trí đặc biệt quan trọng và mang nhiều ý nghĩa khác với văn hóa trongngôn ngữ phương Tây Văn trong ngôn ngữ cổ Trung Hoa nói về cái vẻ ngoài, cái biểu hiện bênngoài Ví như mặt trời, mặt trăng, các vì tinh tú, sấm chớp là văn của trời Điển chương, chế độ,nhân luận, phong tục, đạo đức, biểu hiện trật tự trong quan hệ giữa người với người Theo cách chúgiải của các sách cổ như Chính nghĩa, Bản nghĩa, Tập giải, … vạn vật là nhiều, biến hóa có nhiềutượng, hào của các quẻ trong kinh dịch đều có trật tự trên dưới biểu đạt tượng của vật, do sự lẫn lộnxen kẽ nhiều vật và vật tương sinh nên sinh ra văn Nội hàm chữ văn tuy đã biến đổi nhiều nhưngcũng không phải không còn ảnh hưởng nhiều đến quan niệm văn hóa của Việt Nam, Trung Hoa.Căn cứ vào Chu Dịch tập giải và Chu Dịch trình thị truyện, chữ văn minh ở quẻ Bí, kinh Dịch là
“Cái đẹp của cương và nhu xen kẽ nhau đó là văn của trời Văn sáng rõ, dừng ở nhân nghĩa, là văncủa người Xem văn của trời có thể hiểu sự chuyển biến của bốn mùa Xem văn của người có thểthúc đẩy giáo hóa làm thiên hạ hóa tốt đẹp Vì vậy, văn minh là sự thể hiện của văn trong cõi người,
là kết quả của giáo hóa Văn không chỉ là cái dáng vẻ bên ngoài mà con người có thể trau dồi, sửasang mà còn là ý nghĩa bất biến cực kỳ quan trọng, có nguồn gốc từ Trời, từ tính quy luật của nó,cũng là sự gắn bó với Đạo Vì vậy, văn cũng là đạo, văn cũng là lời nói thánh nhân, người được trờigiao cho nhiệm vụ truyền bá đạo Từ quan niệm về nguồn gốc linh thiêng sinh ra quan niệm về văn
Trang 10vận của một nước, một họ Văn vận thịnh là lúc nhiều người học giỏi đậu cao, được coi là có nhiềunhân tài Văn vận thịnh suy cũng được coi là quốc gia thịnh suy Những triều đại như Lê ThánhTông và Tự Đức được coi là văn vận phát đạt vì có rất nhiều người đậu đại khoa làm cho Lê ThánhTông và Tự Đức rất tự hào Văn hóa là cách nói gọn của văn trị giáo hóa, là căn bản của đường lốitrị quốc theo Nho giáo Thánh nhân là người hiền triết nhiều trí tuệ và đạo đức cao Đó là đạo nộithánh ngoại vương Đích của học vấn là trị quốc bình thiên hạ Văn trị giáo hóa là biện pháp thựchiện cái đích đó Trong quan niệm văn trị giáo hóa của Nho giáo không chỉ đòi hỏi về đạo đức củangười cầm quyền và phương pháp trị dân mà còn về chức năng nhà nước Giáo hóa làm cha mẹ dạy
dỗ dân trừ bỏ những điều ác để trở thành thánh thiện là văn mà trời giao cho thánh nhân Văn hóa làdùng văn để hóa thiên hạ, là sự kết hợp giữa tu dưỡng và treo gương, dùng chính sự giáo dục và kếtquả ở thiên hạ tuy không đưa lại những kết quả tốt đẹp, không đạt đến trình độ cao như Khổng Tửtin tưởng nhưng cũng đã tạo ra cuộc sống gia đình êm ấm, giáo dục tinh thần tôn sư trọng đạo, cũng
đã tạo ra thói quen biết ơn và tôn trọng người trên, cũng như tinh thần hiếu học Như vậy, văn hóa làmột phương diện hoạt động của con người, không chỉ đối với kinh tế chính trị xã hội mà còn cóphạm vi tác động rộng lớn Nó bao gồm tất cả cái gì không có sẵn trong tự nhiên, do con người sốngtrong tự nhiên bằng năng lực của bản thân nhận thức, thích ứng và sáng tạo ra để làm cho cuộc sốnghoàn hảo hơn
Ở phương Tây ngày nay, văn hóa có hai nghĩa là hoạt động nghệ thuật khoa học thường thứcđời sống, sáng tạo nhưng gắn với từ nguyên chăn dắt, nuôi trồng, Ý nghĩa thứ hai của từ văn hóabiểu đạt lối sống nhất định, lối sống đặc trưng có những con người nổi bật thực hành nhờ vào tínhnhân văn, sự giáo dục, thị hiếu, kiến thức và những mỹ cảm Đó là trình độ văn hóa hay học thực,đồng thời cũng được dành cho các nghệ thuật Cả hai ý nghĩa của từ văn hóa đều xác định chúng làmột phạm vi nhất định của cuộc sống xã hội nhằm hướng tới các hiện tượng hoạt động văn hóa, đặt
nó như một sự tồn tại đặc biệt cao hơn hoạt động chế ngự thực tiễn Theo hình thái chuẩn mực củavăn hóa, Koliberger định nghĩa văn hóa là toàn bộ nếp sống được xác định bằng môi trường xã hội,thông qua các cá nhân với tư cách là thành viên của xã hội ấy, Dauson lại định nghĩa văn hóa là nếpriêng, là sự thích ứng đặc biệt của con người với môi trường tự nhiên và các nhu cầu kinh tế, cònR.Benidice định nghĩa văn hóa là lối sống mà con người học được, không phải sự kế thừa sinh học.Theo hình thái giá trị của văn hóa, từ điển triết học do nhà xuất bản Chính trị Moskva ấn hành năm
1972 đã định nghĩa văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất - tinh thần nói lên trình độ phát triển của lịch
sử nhân loại và được nhân loại sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn lịch sử xã hội, còntổng giám đốc UNESCO lại định nghĩa văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trongquá khứ và hiện tại, qua đó hình thành nên một hệ thống giá trị truyền thống và hiện đại - những yếu
Trang 11tố xác định đặc tính riêng của một dân tộc Trong khi đó, theo hình thái biểu tượng của văn hóa, từđiển danh mục tiêu đề về phát triển văn hóa do UNESCO đưa ra lại định nghĩa văn hóa là một tậphợp các hệ thống biểu tượng quy định thế ứng xử của con người và làm số đông người có thể giaotiếp với nhau, liên kết họ lại thành một cộng đồng riêng biệt Cuối cùng, theo hướng bao quát, tổnghợp, theo bề rộng nội hàm khái niệm văn hóa, Tuyên ngôn Hội nghị quốc tế về chính sách văn hóa
do UNESCO tổ chức lại định nghĩa văn hóa bao hàm không chỉ nghệ thuật - khoa học mà cả lốisống - quan niệm - giá trị và các quyền cơ bản của sự tồn tại nhân sinh, là tổng thể các dấu hiệu tinhthần - vật chất - tư duy - tình cảm đặc biệt xác định tính cách của một xã hội Như vậy, nhìn chungtheo Nguyễn Trí Nguyên văn hóa là một quá trình hoạt động của con người biến đổi thế giới tựnhiên thành thế giới tự nhiên thứ hai có cấu trúc cao hơn và có dấu ấn người Trong quá trình đó,con người hình thành cái thiên nhiên cảnh quan nội tại của chính mình, đồng thời thể hiện thái độứng xử với thiên nhiên thứ nhất và thiên nhiên thứ hai, và với chính bản thân Văn hóa là một hìnhthái xã hội toàn diện gồm cả ba hình thái: chuẩn mực, giá trị, biểu tượng
Câu 2 Định nghĩa văn hóa từ hướng tiếp cận hệ thống - loại hình
Từ “văn hóa” có rất nhiều định nghĩa Ủy ban UNESCO của Liên Hợp Quốc đặt khoa học vàgiáo dục bên ngoài khái niệm văn hóa Theo I.White, văn hóa là một phạm trù khoa học biểu thị mộtlĩnh vực hoạt động đặc biệt chỉ có ở riêng xã hội loài người, với những quy luật hành chức và pháttriển riêng của mình Theo GS.TSKH.Trần Ngọc Thêm, văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trịvật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trongtương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội
Câu 3 Các đặc trưng và chức năng của văn hóa
Tính hệ thống là đặc trưng hàng đầu của văn hóa Mọi sự vật hiện tượng thuộc một nền vănhóa đều có liên quan mật thiết với nhau Nhược điểm lớn nhất của các định nghĩa văn hóa là coi vănhóa như một phép cộng đơn thuần của tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phongtục, kinh nghiệm, … Quan niệm cảm tính này là sản phẩm của lịch sử, của thời kỳ chưa tách cáckhoa học độc lập, khi văn hóa học chưa được coi là một khoa học độc lập Nhờ có tính hệ thống,văn hóa thực hiện được chức năng tổ chức xã hội, làm tăng độ ổn định của xã hội, cung cấp cho xãhội mọi phương tiện cần thiết để ứng phó với môi trường tự nhiên và xã hội
Đặc trưng thứ hai của văn hóa là tính giá trị Văn có nghĩa là vẻ đẹp, văn hóa có nghĩa là trởnên đẹp, trở nên có giá trị Do đó, văn hóa chỉ chứa vẻ đẹp, chỉ chứa các giá trị Văn hóa là thước đomức độ nhân bản của xã hội và con người Tính giá trị cho phép phân biệt văn hóa với những hiệntượng phi văn hóa Các giá trị văn hóa theo mục đích có thể chia thành giá trị vật chất phục vụ nhu
Trang 12cầu vật chát và giá trị tinh thần phục vụ nhu cầu tinh thần Theo ý nghĩa, có thể chia thành giá trị sửdụng, giá trị thẩm mĩ và giá trị đạo đức Theo thời gian có thể phân biệt giá trị vĩnh cửu và giá trịnhất thời Trong giá trị nhất thời lại có thể phân biệt giá trị đã lỗi thời, giá trị hiện hành, và giá trịđang hình thành Sự phân biệt các loại giá trị theo thời gian cho phép ta có được cái nhìn biện chứng
và khách quan trong việc đánh giá tính giá trị của sự vật, hiện tượng, tránh được những xu hướngcực đoan, phủ nhận sạch trơn hoặc tán dương hết lời Nhờ vậy, về mặt đồng đại, cùng một hiệntượng có thể có giá trị nhiều hay ít tùy theo góc nhìn, bình diện được xem xét Chẳng hạn, việc chửinhau thuộc biện pháp giải quyết xung đột (có giá trị), trong khi ô tô máy bay dù đem lại lợi ích chocon người nhưng lại làm ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái (nên không có giá trị) Muốnkết luận một hiện tượng, sự vật có thuộc phạm trù văn hóa không, phải xem xét mối tương quangiữa mức độ giá trị và phi giá trị của chúng Về mặt lịch đại, cùng một hiện tượng, vào những thờiđiểm lịch sử khác nhau sẽ có thể có hay không có giá trị tùy thuộc chuẩn mực văn hóa của từng giaiđoạn Chẳng hạn, chế độ chiếm hữu nô lệ dã man quen được xem là phi giá trị, nhưng chính Engel
đã từng nói “nếu không có chế độ nô lệ cổ đại thì không thẻ có chủ nghĩa xã hội hiện đại… nếu
không có cơ sở văn minh Hy La thì không thể có châu Âu hiện đại được” Áp dụng vào Việt Nam,
việc đánh giá chế độ phong kiến, vai trò của Nho giáo đều đòi hỏi tư duy biện chứng tương tự nhưvậy Vì vậy, không thể áp đặt một quan niệm về phẩm chất của giá trị cho mọi không gian, thời gian,khía cạnh
Nhờ thường xuyên xem xét, phân loại các giá trị mà văn hóa thực hiện được chức năng điềuchỉnh xã hội, định hướng các giá trị, điều chỉnh các ứng xử, trở thành động lực cho sự phát triển của
xã hội, giúp xã hội duy trì được trạng thái cân bằng động của mình, không ngừng tự hoàn thiện, vàthích ứng với những biến đổi của môi trường nhằm tự bảo vệ để tồn tại và phát triển Do đó, khôngphải ngẫu nhiên mà UNESCO cho rằng văn hóa chiếm vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết củaphát triển
Đặc trưng thứ ba của văn hóa là tính lịch sử Văn hóa luôn hình thành qua một quá trình, vàđược tích lũy qua nhiều thế hệ Tính lịch sử tạo cho văn hóa bề dày, chiều sâu và buộc văn hóathường xuyên tự điều chỉnh, phân loại và phân bổ lại các giá trị Tính lịch sử của văn hóa được duytrì bằng truyền thống văn hóa (là những giá trị tương đối ổn định thể hiện dưới những khuôn mẫu xãhội được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và thời gian, được cố định hóadưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghi lễ, luật pháp và dư luận) truyền thống văn hóa tồntại được nhờ giáo dục – chức năng thứ ba của văn hóa Nhưng văn hóa thực hiện chức năng giáodục không chỉ bằng những truyền thống văn hóa mà còn bằng những giá trị đang hình thành Truyềnthống văn hóa và những giá trị đang hình thành tạo thành hệ thống chuẩn mực mà con người hướng
Trang 13tới Nhờ nó, văn hóa đóng vai trò quyết định trong hình thành nhân cách con người Một đứa trẻ saukhi ra đời nếu được sống với người nuôi dưỡng, sẽ được giáo dục theo truyền thống văn hóa nơi đó,còn nếu bị bỏ rơi trong rừng, nó sẽ mang tính cách của cầm thú Không phải ngẫu nhiên mà trongcác ngôn ngữ phương Tây, từ culture có nghĩa chung là chăm sóc, giáo dục, dưỡng dục Từ chứcnăng giáo dục, văn hóa có chức năng phái sinh là đảm bảo tính kế tục của lịch sử Nếu gen sinh học
di truyền lại cho các thế hệ sau hình thể con người thì văn hóa là gen xã hội di truyền lại cho các thếsau phẩm chất con người
Văn hóa còn có tính nhân sinh Văn hóa là cái tự nhiên đã được biến đổi dưới tác động của conngười, là phần giao giữa tự nhiên và con người Khác với các tài nguyên khoáng sản trong lòng đấtcũng là những giá trị tự nhiên nhưng chưa mang dấu ấn sáng tạo của con người, sự tác động của conngười đối với tự nhiên mang tính vật chất (như luyện quặng để chế tác đồng, đẽo gỗ để tạc tượng)cũng như tính tinh thần (đặt tên, tạo truyền thuyết gắn với nó như vịnh Hạ Long, hòn Vọng Phu, …)
Từ chỗ gắn chặt với hoạt động của con người trong xã hội như vậy, văn hóa đã trở thành công
cụ giao tiếp quan trọng Văn hóa là nội dung của ngôn ngữ (hình thức giao tiếp cơ bản của conngười trong một dân tộc, giữa các dân tộc khác nhau và giữa các nền văn minh khác nhau)
Câu 4 Định nghĩa khái niệm văn minh
Văn minh là khái niệm có nguồn gốc từ đô thị phương Tây để chỉ trình độ phát triển nhất địnhcủa văn hóa về phương diện vật chất, đặc trưng cho một thời kỳ và một khu vực cụ thể nhất địnhcủa nhân loại
Câu 5 Phân biệt hai khái niệm văn hóa và văn minh từ các đặc trưng “tính lịch sử”, “tính giá trị”, “nguồn gốc”, và “phạm vi”
Văn hóa giàu tính nhân văn và hướng đến những giá trị muôn thuở, trong khi văn minh hướngtới sự hợp lý, sắp đặt cuộc sống sao cho tiện lợi Nói đến văn minh, người ta chủ yếu nghĩ đến cáctiện nghi vật chất vì vậy, về tính giá trị, văn hóa chứa các giá trị vật chất và tinh thần, trong khi vănminh thiên về các giá trị vật chất Văn hóa giàu tính nhân bản, vị tha và đồng cảm, hướng tới nhữnggiá trị vĩnh hằng, còn văn minh là ý muốn vươn tới sự hợp lý, sự tổ chức xã hội sao cho tiện lợi, phùhợp
Về tính lịch sử, trong khi văn minh nói đến trình độ phát triển – là đặc trưng của một thời đại,chỉ là một lát cắt đồng đại thì văn hóa luôn có bề dày của lịch sử và quá khứ Do đó, một dân tộc cótrình độ văn minh cao vẫn có thể có một nền văn hóa nghèo nàn, một dân tộc có trình độ văn minh
Trang 14lạc hậu vẫn có thể có một nền văn hóa phong phú Bất cứ một dân tộc nào dù mông muội hay bánkhai, dù lạc hậu hay văn minh đều có văn hóa.
Về phạm vi, văn hóa mang tính dân tộc vì nó có giá trị tinh thần và tính lịch sử mà giá trị tinhthần và tính lịch sử là của riêng, khó có thể mua đi bán lại hay thay đổi, còn văn minh có tính quốc
tế vì nó chứa giá trị vật chất, dễ phổ biến và lây lan hơn
Về nguồn gốc, văn hóa gắn bó nhiều hơn với phương Đông nông nghiệp, còn văn minh gắn bónhiều hơn với phương Tây đô thị Các nền văn hóa cổ đại hình thành từ hơn hai ngàn năm trướccông nguyên đều là sản phẩm của phương Đông Nền văn hóa phương Tây sớm nhất là văn hóa Hy
La cũng sau các nền văn hóa phương Đông cổ đại hàng ngàn năm, được hình thành trên cơ sở tiếpthu những thành tựu từ thần thoại, lịch pháp đến chữ viết của các nền văn hóa phương Đông gầnnhất như Ai Cập, Lưỡng Hà Đâu đâu cũng thấy dấu ấn của ảnh hưởng phương Đông Về vị trí vàđặc điểm kinh tế, các nền văn hóa phương Đông đều hình thành ở lưu vực các con sông lớn lànhững nơi sản xuất nông nghiệp Trong ngôn ngữ phương Tây, văn hóa bắt nguồn từ chữ cultusnghĩa là trồng trọt, phát triển ra nghĩa chăm sóc, giáo dục Trong khi đó, từ văn minh trong các ngônngữ phương Tây đều bắt nguồn từ chữ civitas nghĩa là thành thị Kéo theo hàng loạt từ và nghĩaphái sinh trong các ngôn ngữ phương Tây như civilis (thị dân), civilisation (trở thành thành thị)
Câu 6 Định nghĩa khái niệm văn hiến
Văn hiến là truyền thống văn hóa lâu đời
Khổng Tử nói “Lễ của đời Hạ, ta có thể nói được, nhưng nước Kỉ (nước bảo tồn lễ của đời Hạ)không đủ chứng minh; lễ của đời Ân, ta có thể nói được, nhưng nước Tống (nước bảo tồn lễ của đờiÂn) không đủ chứng minh Đó là vì văn hiến không đủ, nếu đủ thì ta có thể chứng minh” Như vậy,văn hiến là một thuật ngữ chỉ chung sử sách và các chế độ chính sách Do đó, trước đây, dưới thờiquân chủ chuyên chế, khi chưa có chữ văn minh với nghĩa như ngày nay, chữ văn hiến thực chất làvăn minh Như vậy, văn minh là giai đoạn phát triển đỉnh cao của văn hóa, còn văn hiến là một từ
cổ ngày nay không còn dùng phổ biến
Câu 7 Định nghĩa khái niệm nền văn minh
Văn minh là danh từ gốc Hán Theo Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh, văn có nghĩa là dáng
vẻ bề ngoài đẹp đẽ, tốt lành, trái với thô kệch, mộc mạc Minh là sáng sủa, rõ ràng, trong sáng Vănminh là cái tia của đạo đức phát hiện ra ở trong chính trị, pháp luật, học thuật, điển chương, … vớigiải thích tương tự, Hán Việt tự điển của Thiều Chửu cho rằng văn minh là cái dấu vết đạo đức, lễnhạc, giáo hóa mà có vẻ đẹp rõ rệt, trái với dã man
Trang 15Tuy nhiên, cho đến thế kỷ XVIII, ở phương Tây văn minh mới có được nội hàm khái niệmnhư ngày nay Khi bộ Từ điển Bách khoa Encyclopedie do các nhà Khai sáng Pháp biên soạn đượcxuất bản, thuật ngữ civilisation được hiểu một cách tương đối gần với cách hiểu ngày nay Nội hàmcủa khái niệm văn minh được xác định nhờ công trình Xã hội cổ đại của Morgan Các thành tố củakhái niệm văn minh theo quan niệm của Morgan gồm chữ viết, thủ công nghiệp, chế độ gia đình,nghệ thuật, sự phân tầng xã hội, chỉ mới được chứng minh qua 4 nền văn minh bấy giờ được biếtđến là Ai Cập, Lưỡng Hà, Hy Lạp và La Mã.
Những phát hiện khảo cổ học đầu thế kỷ XX đã phát triển khái niệm văn minh Vào nhữngnăm 1920, nhà khảo cổ học người Anh Gordon Child đưa ra những yếu tố là cơ sở chuyển từ vănhóa lên văn minh gồm chữ viết, ngành luyện kim, các đơn vị đo lường tiêu chuẩn, toán học, kiếntrúc, kĩ nghệ, ngoại thương, thủ công nghiệp, kĩ thuật tưới tiêu và sử dụng cày, …
Theo W.Durant, văn minh chỉ là sự sáng tạo văn hóa nhờ một trật tự xã hội gây ra và kíchthích, gồm 4 yếu tố cơ bản là kinh tế - chính trị - truyền thống - tri thức và nghệ thuật Và chỉ phátsinh được khi và chỉ khi không còn sự hỗn độn, bất ổn Như vậy, khái niệm văn minh chỉ sự tiến bộ
xã hội, sự vươn tới trình độ cao hơn về các mặt vật chất và tinh thần, trật tự xã hội hợp lý cho phépcon người vươn tới những đỉnh cao văn hóa Nói một cách khái quát hơn, Văn minh là trạng tháitiến bộ về cả hai mặt vật chất và tinh thần của xã hội loài người, là trạng thái phát triển đỉnh cao củanền văn hóa, đối lập với dã man Chữ văn minh trong tiếng Pháp là civilisation, trong tiếng Anh làcivilization, còn có nhĩa là hoạt động khai hóa làm thoát khỏi trạng thái nguyên thủy, không còn ởtrạng thái ăn lông ở lỗ, săn bắn hái lượm, … nay đây mai đó mà đã định cư thành cộng đồng, quốcgia, dân tộc có chính quyền, pháp luật, chữ viết, …
Câu 8 Mối quan hệ giữa văn hóa - văn minh - văn hiến
Văn vật là truyền thống văn hóa biểu hiện ở nhiều nhân tài - di tích lịch sử - công trình - hiệnvật có giá trị nghệ thuật và lịch sử So sánh các định nghĩa văn hóa, văn hiến và văn vật, ta thấy vănhiến và văn vật chỉ là những khái niệm bộ phận của văn hóa, chỉ khác văn hóa ở độ bao quát các giátrị: văn hiến là văn hóa thiên về truyền thống lâu đời là các giá trị tinh thần, còn văn vật là văn hóathiên về các giá trị vật chất, vì vậy nói Hà Nội ngàn năm văn vật (các giá trị vật chất còn lưu giữđược nhiều) nhưng đất nước 4000 năm văn hiến (các giá trị vật chất đã bị tàn phá, cái còn lại chủyếu là giá trị tinh thần không bị chiến tranh hay thời gian tàn phá, hủy hoại) Văn vật và văn minhtuy cùng thiên về giá trị vật chất nhưng lại rất khác xa nhau
Trang 16Văn hóa Văn hiến Văn vật Văn minh
Thiên về giá trị vậtchất kỹ thuật
Câu 9 Cách tiếp cận sử học trong nghiên cứu văn minh
Lịch sử văn minh phương Đông là một bộ phận của lịch sử thế giới, tuy nhiên hai khái niệmnày có mối quan hệ và khác biệt nhất định do đối tượng, nội dung và phương háp nghiên cứu nhấtđịnh
Lịch sử và văn minh phương Đông có sự liên quan mật thiết với nhau Nền văn minh phươngĐông chỉ được hình thành và phát triển trong một hoàn cảnh lịch sử cụ thể Nền văn minh phươngĐông mang dấu ấn của hoàn cảnh lịch sử đó
Lịch sử là sự phản ánh mối quan hệ giữa con người với nhau trong xã hội và với tự nhiên Làtoàn bộ hoạt động của con người trong quá khứ, từ chinh phục thiên nhiên đến cải tạo xã hội Do đóđối tượng của văn minh phương Đông chỉ đề cập đến trình độ sản xuất, tổ chức xã hội, các thànhtựu về tư tưởng, văn hóa, nghệ thuật, khoa học
Nghiên cứu lịch sử văn minh phương Đông không phải là nghiên cứu tổng số các nền vănminh phương Đông cộng lại, mà là nghiên cứu hoàn cảnh lịch sử, những điều kiện hình thành nêncác nền văn minh đó, có quan điểm lịch sử cụ thể và biện chứng về sự phát triển, từ đó nắm đượcbản chất, những đặc điểm nổi bật, quy luật phát triển và ảnh hưởng qua lại giữa chúng Thấy đượccác nền văn minh phương Đông không phải là trời cho, mà là do con người tạo nên những thành tựuvăn minh phương Đông
Trang 17Câu 37 Cấu trúc của hệ thống văn hóa
Theo lý thuyết hệ thống,
Mọi hệ thống đều bao gồm các yếu tố và quan hệ giữa chúng, mạng lưới các quan hệ này tạothành cấu trúc;
Mỗi yếu tố của hệ thống đều có thể là một hệ thống con (tiểu hệ thống);
Mọi hệ thống đều có quan hệ mật thiết với môi trường
Trên cơ sở đó, văn hóa được xem như một hệ thống gồm bốn yếu tố (tiểu hệ thống) cơ bản,mỗi tiểu hệ thống có hai vi hệ nhỏ hơn là: tiểu hệ thống văn hóa nhận thức (gồm hai vi hệ là văn hóanhận thức về vũ trụ và văn hóa nhận thức về con người do mỗi nền văn hóa là tài sản của một cộngđồng người chủ thể văn hóa, và cộng đồng người chủ thể văn hóa đó luôn có nhu cầu tìm hiểu tíchlũy kho tàng kinh nghiệm tri thức phong phú ttrong quá trình tồn tại và phát triển), tiểu hệ thống vănhóa tổ chức (gồm hai vi hệ là văn hóa tổ chức đời sống tập thể và văn hóa tổ chức đời sống cá nhân),tiểu hệ thống văn hóa ứng xử (gồm hai vi hệ là văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và văn hóaứng xử với môi trường xã hội, do cộng đồng người chủ thể văn hóa tồn tại trong quan hệ với môitrường tự nhiên và môi trường xã hội; với mỗi loại môi trường đều có hai cách xử thế phù hợp vớihai loại tác động là tận dụng môi trường và đối phó với môi trường Với môi trường tự nhiên, có thểtận dụng để ăn uống, giữ gìn sức khỏe, tạo ra vật dụng thường nhật, nhưng cũng phải đối phó vớithiên tai, khoảng cách giao thông, khí hậu và thời tiết Với môi trường xã hội, mỗi dân tộc đều cốgắng tận dụng thành tựu của các dân tộc lân bang làm giàu thêm cho nền văn hóa của mình, đồngthời phải đối phó trên các mặt trận quân sự, ngoại giao với các dân tộc lân bang)
Cả bốn thành tố của hệ thống văn hóa đều bị quy định bởi cái gốc chung là loại hình văn hóa.Nếu mô hình cấu trúc của hệ thống văn hóa cho ta thấy cái chung, cái đồng nhất trong tính hệ thốngcủa các nền văn hóa thì loại hình văn hóa cho thấy cái riêng, cái khác biệt trong tính hệ thống củachúng
Cũng như mọi loại ranh giới, ranh giới giữa các bộ phận của hệ thống văn hóa không thể vạch
ra một cách quá rạch ròi, nhất thành bất biến Để sắp xếp một hiện tượng văn hóa vào hệ thống, phảicăn cứ vào đặc điểm điển hình của nó Chẳng hạn, mục đích của nhà cửa là để đối phó với môitrường tự nhiên, nhưng con người lại cũng đã tận dụng chính môi trường tự nhiên để tạo ra nó.Ngoại giao vừa có trách nhiệm đối phó vừa có trách nhiệm tận dụng môi trường xã hội, nhưng tráchnhiệm đối phó nặng nề hơn Một hệ thống văn hóa có thể được xem xét dưới góc độ các bình diệnđồng đại và lịch đại, khái quát và cụ thể Môn lịch sử văn hóa lâu nay chủ yếu quan tâm đến bình
Trang 18diện lịch đại, còn môn văn hóa học chủ yếu quan tâm đến bình diện đồng đại Tuy nhiên, vì văn hóavừa có tính hệ thống vừa có tính lịch sử nên một miêu tả cụ thể nhất phải tính đến cả hai bình diện
ấy Nếu lấy lịch đại làm cơ sở thì trong mỗi giai đoạn lịch sử phải lưu ý đến tính đồng đại Ngượclại, nếu lấy đồng đại làm cơ sở thì trong mỗi hệ thống phải chú ý đến mặt lịch đại
Dưới góc độ đồng đại, hệ thống văn hóa có thể có những cách phân chia khác Chẳng hạn,trong quan hệ với địa bàn cư trú, có thể phân biệt văn hóa biển, văn hóa đồng bằng, văn hóa núi.Trong quan hệ với cộng đồng, có thể phân biệt văn hóa dân gian và văn hóa chính thống Trongquan hệ với chủ thể văn hóa có thể phân biệt văn hóa Việt và văn hóa các dân tộc thiểu số
Câu 38 Văn hóa Việt Nam: vấn đề loại hình văn hóa, tọa độ văn hóa và tiến trình văn hóa
Thời gian văn hóa được xác định từ khi một nền văn hóa được hình thành cho đến khi tàn lụi.Thời gian văn hóa không có ranh giới rạch ròi, đó là một khái niệm mở Thời điểm khởi đầu củamột nền văn hóa là thời điểm hình thành tộc người chủ thể nền văn hóa đó Trong quá trình tồn tại,thời gian văn hóa chịu sự chi phối mạnh mẽ của bối cảnh lịch sử xã hội của nền văn hóa Khônggian văn hóa chịu sự phối mạnh mẽ của bối cảnh địa khí hậu, có phần phức tạp hơn vì văn hóa cótính lịch sử, có cả yếu tố thời gian Không gian văn hóa liên quan đến lãnh thổ nhưng không đồngnhất với không gian lãnh thổ Nó bao quát tất cả những vùng lãnh thổ mà ở đó tộc người chủ thể nềnvăn hóa đã tồn tại qua các thời kỳ Do đó, không gian văn hóa thường rộng hơn không gian lãnh thổ.Không gian văn hóa không có ranh giới rạch ròi, là một khái niệm mở, không gian văn hóa của haitộc người chủ thể hai nền văn hóa ở cạnh nhau thường có phần chồng lấn lên nhau, có miền giápranh Để có thể hình dung được đầy đủ không gian văn hóa của một tộc người chủ thể nền văn hóa
cụ thể, cần phải nắm được nguồn gốc, quá trình hình thành của tộc người chủ thể nền văn hóa đó.Như vậy, cả thời gian văn hóa và không gian văn hóa đều phụ thuộc việc xác định chủ thể văn hóa.Căn cứ vào những kết quả nghiên cứu về sự hình thành và phân bố các chủng người trên tráiđất, người ta đã chia nhân loại thành hai khối quần cư lớn cũng là hai trung tâm hình thành chủngtộc cổ xưa nhất của loài người Trung tâm phía Tây ở Đông Bắc Phi và trung tâm phía Đông ở ĐôngNam Á Trung tâm phía Tây có hai đại chủng Europeoid và Negroid Trumg tâm phía Đông có haiđại chủng Mongoloid và Australoid Như vậy, có thể nói rằng tộc người chủ thể văn hóa Việt Nam
ra đời trong phạm vi của trung tâm hình thành loài người phía Đông và trong khu vực hình thànhcủa đại chủng Australoid Ngay từ buổi bình minh của lịch sử, Đông Nam Á đã là một trong nhữngcái nôi hình thành loài người Đây chính là địa bàn hình thành đầu tiên của đại chủng Australoid.Những kết quả khai quật ở hàng loạt địa điểm khác nhau như Lạng Sơn, Thanh Hóa, Đồng Nai, đãtìm thấy những răng hàm của người vượn cổ, những công cụ bằng đá như mảnh tước nạo thô, rìu
Trang 19tay có niên đại vào khoảng 30-40 vạn năm trước Công nguyên (sơ kỳ đồ đá cũ), vào chính khoảngthời gian hình thành trung tâm phía Đông - cái nôi thứ hai của loài người Muộn hơn, khi ngườinguyên thủy dần phân hóa thành các chủng tộc, sống trên địa bàn Đông Dương là những ngườiMelanesien thuộc đại chủng Australoid Vào khoảng gần 2 vạn năm trước Công nguyên, mực nướcbiển ở các đại dương đã hạ xuống tới mức thấp nhất (thấp hơn mực nước biển hiện nay khoảng100-200 mét), bán đảo Đông Dương và vùng các quần đảo gần như nối liền nhau, vùng châu thổsông Cửu Long đã hình thành một cầu đất Nhờ đó, con người và động vật có điều kiện di chuyển từđất liền ra các hải đảo, rồi đi tiếp tới vùng lục địa châu Úc và những nơi xa xôi khác trên nền củanhững sự kiện trên, trong những giai đoạn tiếp theo, quá trình hình thành các tộc người chủ thể vănhóa Việt Nam chia thành ba giai đoạn: thời kỳ đồ đá giữa, khoảng 1 vạn năm trước, một dòng ngườithuộc đại chủng Mongoloid đã đi từ Tây Tạng thiên di về phía Đông tới vùng là Đông Dương ngàynay thì dừng lại Tại đây đã diễn ra sự hợp chủng giữa họ (Indian) và cư dân Melanesien bản địathuộc đại chủng Australoid, dẫn đến kết quả là sự hình thành chủng Indonesien với nước da ngămđen, tóc quăn rợn sóng, tầm vóc thấp Từ đây lan tỏa ra, người Indonesien cư trú trên toàn bộ lục địaĐông Nam Á cổ đại Đó là một vùng rộng lớn, phía Bắc tới sông Dương Tử, phía Tây tới Ấn Độ,phía Đông tới Philippines và phía Nam tới Indonesia Cuối thời đá mới, đầu thời đại đồ đồng,khoảng gần 5000 năm trước, tại khu vực hiện nay là từ nam sông Dương Tử đến lưu vực sông Hồng
Hà, trên cơ sở chuyển biến từ loại hình Indonesien dưới tác động của việc tiếp xúc với đại chủngMongoloid phương Bắc, đã hình thành chủng Austroasiatique Với chủng Austraasiatique, các nétđặc trưng của Mongoloid trội hơn nên được gọi là Mongoloid phương Nam Austroasiatique làchủng người hình thành trong khu vực địa lý nay là từ nam sông Dương Tử đến lưu vực sông Hồng
Hà Thời kỳ sau đó, chủng Austroasiatique được chia tách thành một loạt các chủng tộc mà cổ thưViệt Nam - Trung Hoa gọi bằng danh từ Bách Việt Tuy bách chỉ là một cách nói biểu trưng nhưng
đó thực sự là một cộng đồng cư dân hùng hậu, bao gồm nhiều tộc người Việt như Điền Việt ở VânNam, Dương Việt, Mân Việt, Đông Việt và Nam Việt ở Quảng Đông, Lạc Việt ở Quảng Tây, …sinh sống khắp khu vực từ phía Nam sông Dương Tử tới lưu vực Hồng Hà, hợp thành những khối
cư dân Môn-Khmer, Việt-Tày-Mường, Mèo-Dao, … Quá trình chia tách này tiếp tục diễn biến, dầndần dẫn đến sự hình thành các tộc người cụ thể cùng với sự chia tách ngôn ngữ, trong đó người Việt
đã tách ra từ khối Việt-Tày-Mường vào khoảng cuối thời Bắc thuộc (thế kỷ VII- VIII).Trong khi đó,
ở phía Nam dải Trường Sơn, vẫn là địa bàn cư trú của người Indonesien Cuộc sống biệt lập khiến
họ lưu giữ được nhiều hơn những đặc điểm truyền thống văn hóa cư dân hải đảo cổ Đó là tổ tiêncủa người Chăm, Raglai, Ê-đê, Jarai, Chru, v.v ngôn ngữ của khối tộc người đại diệnAustroasiatique này cũng duy trì được nhiều nét tương đồng với ngôn ngữ của các cư dân hải đảo
Trang 20Như vậy, người Việt xuất từ cùng một nguồn gốc chung là nhóm Indonesien, điều đó đã tạo nên tínhthống nhất trong đa dạng của con người và văn hóa Việt Nam Trong sự đa dạng đó luôn có tínhthống nhất, chẳng hạn người Việt-Mường và các tộc người cùng gốc Austroasiatique.
Trong phạm vi hẹp, không gian gốc của văn hóa Việt Nam nằm trong khu vực cư trú củangười Austroasiatique Bách Việt, hình dung như một hình tam giác có cạnh đáy là sông Dương Tử,đỉnh là lưu vực sông Hồng Hà Đây là cái nôi của nền nông nghiệp lúa nước, của nghệ thuật đúcđồng Đông Sơn Đây là khu vực các làng cổ thường chứa chung yếu tố là Kẻ, cũng là bờ cõi đấtnước của họ Hồng Bàng theo truyền thuyết Trong phạm vi rộng, không gian tồn tại của văn hóaViệt Nam nằm trong khu vực cư trú của người Indonesien, cạnh đáy là sông Dương Tử, đỉnh là lưuvực sông Mekong Đây là nơi phần lớn các con sông và địa danh liên quan đến sông đều được gọibằng những từ phái sinh của một từ gốc Austroasiatique nghĩa là sông nước: giang, kiang, khung,kong, krong, sông, … đối lập với phương Bắc nơi các con sông được gọi là hà Sông nước đã để lạidấu ấn rất quan trọng trong tinh thần văn hóa khu vực Đây là một hằng số địa lý quan trọng, tạonên nét độc đáo của nền văn hóa nông nghiệp lúa nước Những địa danh có yếu tố Krong vẫn haygặp ở các dân tộc anh em Tuy sau này, trong quá trình giao lưu với khu vực, văn hóa Việt Nam trởnên mật thiết với văn hóa Trung Hoa, tiếp thu nhiều từ văn hóa Trung Hoa, nhưng từ trong cộinguồn, văn hóa Việt Nam được định hình trên nền không gian văn hóa khu vực Đông Nam Á Mặc
dù khu vực Đông Nam Á có phần bị thu hẹp lại, vùng phía Nam sông Dương Tử đã bị Trung Hoadần dần bành trướng, thâu tóm, và đồng hóa, nhưng đến giờ ngay cả vùng Nam Dương Tử này còngiữ được không ít nét trong số hàng loạt những đặc điểm của khu vực Đông Nam Á Tuy chữ hàcũng thâm nhập rất sâu xuống phía Nam (Hồng hà, Nhị hà, v.v) nhưng những trường hợp ấy khôngthể phủ nhận rằng phương Bắc là nơi chữ hà chiếm ưu thế, còn phương Nam là xứ sở của chữ giang.Chính mối liên hệ địa bàn cư trú chung của người Indonesien đã tạo nên sự thống nhất trong đadạng của nền văn hóa Đông Nam Á Do vị trí đặc biệt nằm trong nôi hình thành loài người phíaĐông, nằm trong khu vực hình thành chủng Austroasiatique, là giao điểm của các luồng văn hóa,nên Việt Nam là nơi hội tụ đầy đủ nhất mọi đặc trưng của văn hóa khu vực Đông Nam Á Chínhđiều này là cơ sở tạo nên sự khác biệt rất cơ bản giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Hoa
Câu 39 Khái niệm phương Đông
Xét về phương diện lịch sử-văn hóa, thu65t ngữ phương Đông chỉ được dùng mang ý nghĩatương đối, theo quy ước Xuất phát từ quan điểm lấy châu Âu làm trung tâm, coi châu Âu làm điểmxuất phát, các học giả châu Âu đã gọi khu vực Tây Á là Cận Đông, Trung Á là Trung Đông, Đông
Á là Viễn Đông Do đó có một giai đoạn người ta thường hiểu phương Đông bao gồm tất cả những
Trang 21quốc gia thuộc châu Á và châu Phi, trong khi phương Tây là các quốc gia thuộc châu Âu và châu
Mỹ Tuy nhiên, như vậy rất khó xác định về mặt văn hóa các quốc gia như Nhật Bản và Australia.Xét về vùng lãnh thổ, phương Đông ngày nay được hiểu là khu vực bao phủ toàn bộ châu Á vàĐông Bắc Phi Mặc dù khái niệm Đông phương học (Oriental Studies) xuát phát từ phương Tây,song vai trò của Đông phương học và văn minh phương Đông ngày càng được khoa học thế giớikhẳng định và quan tâm Xét trên nhiều góc độ lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa, phương Đông đềuchiếm vị trí vô cùng quan trọng Nói đến phương Đông, người ta không thể không nhắc đến nhữngnền văn minh nổi tiếng như Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Ả Rập, Trung Hoa, không thể không nhắcđến Nho giáo, Islam giáo, Phật giáo, Ấn Độ giáo, hàng loạt tín ngưỡng bản địa mang màu sắcphương Đông, các đại ngữ hệ Nam Á, Nam Đảo, Hán Tạng, Thái Kadai, Antai, v.v., các công trìnhvăn hóa kì vĩ như Angkor Wat, Vạn Lý trường thành, Borobodur, kim tự tháp Ai Cập, sự thần kỳNhật Bản, hàng loạt con rồng châu Á như Singapore, Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan Tóm lại,phương Đông là một khu vực có bản sắc riêng về cả phương diện truyền thống lẫn hiện đại
Là một khu vực văn hóa thống nhất, rộng lớn, sự phân chia văn hóa phương Đông thành cáckhu vực địa-văn hóa chỉ có ý nghĩa tương đối Từ góc nhìn khu vực học, con người phân chia vănhóa phương Đông thành các khu vực Đông Á học, Đông Nam Á học, Nam Á học, và khu vực họcTây Á - Bắc Phi
Câu 40 Khái niệm văn minh phương Đông
Thời nguyên thủy, văn minh phương Đông xuất phát từ chủ thể là con người - cư dân của cácnền văn minh gốc nông nghiệp thiên về trồng trọt Nền kinh tế nông nghiệp và những dòng sông lớngiữ vai trò chủ đạo Trên bối cảnh kinh tế xã hội đó, những quốc gia quân chủ chuyên chế phươngĐông đã được hình thành cùng với các tư tưởng tôn giáo đặc trưng như Phật giáo, Islam giáo, Ấn
Độ giáo, … Trào lưu văn hóa tư tưởng mang tính khép kín, với những nền văn minh rực rỡ lâu đời,phương Đông đã dẫn trước phương Tây về nhiều phương diện đến tận thế kỷ XV Văn minhphương Đông luôn ẩn chứa những điều huyền bí, sự thông tuệ, tư duy chủ toàn, tổng hợp, duy linh,duy tình, với một hệ giá trị thiên về tinh thần, đạo đức, hướng về cộng đồng, coi trọng tính cộngđồng Điểm mạnh của văn minh phương Đông là cái nhìn toàn cục, minh triết, không biệt lập,không khô cứng Điểm yếu của văn minh phương Đông là tính trọng tĩnh, không ưa sự thay đổi, câu
nệ, bảo thủ
Câu 41 Nêu các đặc trưng cần và đủ để phân biệt văn hóa với các khái niệm khác Trên cơ
sở đó, xây dựng định nghĩa về văn hóa
Trang 22Văn hóa là một từ Hán Việt, do Lưu Hướng thời Tây Hán nêu ra đầu tiên, bấy giờ có nghĩa làdùng văn để hóa, hay tức là giáo hóa Chữ văn hóa trong tiếng Anh - Pháp là culture, có nguồn gốc
từ chữ Latin cultura nghãi là trồng trọt, khai phá Đến giữa thế kỷ XIX, do sự phát triển của cáckhoa học, khái niệm văn hóa đã dần thay đổi có phần khác trước Người đầu tiên đưa ra định nghĩa
về văn hóa là nhà nhân học người Anh E.B.Taylor “Văn hóa là một tổng thể phức hợp gồm tri thức,
tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật và cả những phong tục, tập quán, thói quen mà con người đạt được trong xã hội” Trên cơ sở ấy, người Nhật đã dùng hai chữ văn hóa để dịch chữ
culture của phương Tây và do đó, chữ văn hóa mới có nghĩa như ngày nay
Tính hệ thống là đặc trưng hàng đầu của văn hóa Mọi sự vật hiện tượng thuộc một nền vănhóa đều có liên quan mật thiết với nhau Nhược điểm lớn nhất của các định nghĩa văn hóa là coi vănhóa như một phép cộng đơn thuần của tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phongtục, kinh nghiệm, … Quan niệm cảm tính này là sản phẩm của lịch sử, của thời kỳ chưa tách cáckhoa học độc lập, khi văn hóa học chưa được coi là một khoa học độc lập Nhờ có tính hệ thống,văn hóa thực hiện được chức năng tổ chức xã hội, làm tăng độ ổn định của xã hội, cung cấp cho xãhội mọi phương tiện cần thiết để ứng phó với môi trường tự nhiên và xã hội
Đặc trưng thứ hai của văn hóa là tính giá trị Văn có nghĩa là vẻ đẹp, văn hóa có nghĩa là trởnên đẹp, trở nên có giá trị Do đó, văn hóa chỉ chứa vẻ đẹp, chỉ chứa các giá trị Văn hóa là thước đomức độ nhân bản của xã hội và con người Tính giá trị cho phép phân biệt văn hóa với những hiệntượng phi văn hóa Các giá trị văn hóa theo mục đích có thể chia thành giá trị vật chất phục vụ nhucầu vật chát và giá trị tinh thần phục vụ nhu cầu tinh thần Theo ý nghĩa, có thể chia thành giá trị sửdụng, giá trị thẩm mĩ và giá trị đạo đức Theo thời gian có thể phân biệt giá trị vĩnh cửu và giá trịnhất thời Trong giá trị nhất thời lại có thể phân biệt giá trị đã lỗi thời, giá trị hiện hành, và giá trịđang hình thành Sự phân biệt các loại giá trị theo thời gian cho phép ta có được cái nhìn biện chứng
và khách quan trong việc đánh giá tính giá trị của sự vật, hiện tượng, tránh được những xu hướngcực đoan, phủ nhận sạch trơn hoặc tán dương hết lời Nhờ vậy, về mặt đồng đại, cùng một hiệntượng có thể có giá trị nhiều hay ít tùy theo góc nhìn, bình diện được xem xét Chẳng hạn, việc chửinhau thuộc biện pháp giải quyết xung đột (có giá trị), trong khi ô tô máy bay dù đem lại lợi ích chocon người nhưng lại làm ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái (nên không có giá trị) Muốnkết luận một hiện tượng, sự vật có thuộc phạm trù văn hóa không, phải xem xét mối tương quangiữa mức độ giá trị và phi giá trị của chúng Về mặt lịch đại, cùng một hiện tượng, vào những thờiđiểm lịch sử khác nhau sẽ có thể có hay không có giá trị tùy thuộc chuẩn mực văn hóa của từng giaiđoạn Chẳng hạn, chế độ chiếm hữu nô lệ dã man quen được xem là phi giá trị, nhưng chính Engel
đã từng nói “nếu không có chế độ nô lệ cổ đại thì không thẻ có chủ nghĩa xã hội hiện đại… nếu
Trang 23không có cơ sở văn minh Hy La thì không thể có châu Âu hiện đại được” Áp dụng vào Việt Nam,
việc đánh giá chế độ phong kiến, vai trò của Nho giáo đều đòi hỏi tư duy biện chứng tương tự nhưvậy Vì vậy, không thể áp đặt một quan niệm về phẩm chất của giá trị cho mọi không gian, thời gian,khía cạnh
Nhờ thường xuyên xem xét, phân loại các giá trị mà văn hóa thực hiện được chức năng điềuchỉnh xã hội, định hướng các giá trị, điều chỉnh các ứng xử, trở thành động lực cho sự phát triển của
xã hội, giúp xã hội duy trì được trạng thái cân bằng động của mình, không ngừng tự hoàn thiện, vàthích ứng với những biến đổi của môi trường nhằm tự bảo vệ để tồn tại và phát triển Do đó, khôngphải ngẫu nhiên mà UNESCO cho rằng văn hóa chiếm vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết củaphát triển
Đặc trưng thứ ba của văn hóa là tính lịch sử Văn hóa luôn hình thành qua một quá trình, vàđược tích lũy qua nhiều thế hệ Tính lịch sử tạo cho văn hóa bề dày, chiều sâu và buộc văn hóathường xuyên tự điều chỉnh, phân loại và phân bổ lại các giá trị Tính lịch sử của văn hóa được duytrì bằng truyền thống văn hóa (là những giá trị tương đối ổn định thể hiện dưới những khuôn mẫu xãhội được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và thời gian, được cố định hóadưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghi lễ, luật pháp và dư luận truyền thống văn hóa tồn tạiđược nhờ giáo dục – chức năng thứ ba của văn hóa Nhưng văn hóa thực hiện chức năng giáo dụckhông chỉ bằng những truyền thống văn hóa mà còn bằng những giá trị đang hình thành Truyềnthống văn hóa và những giá trị đang hình thành tạo thành hệ thống chuẩn mực mà con người hướngtới Nhờ nó, văn hóa đóng vai trò quyết định trong hình thành nhân cách con người Một đứa trẻ saukhi ra đời nếu được sống với người nuôi dưỡng, sẽ được giáo dục theo truyền thống văn hóa nơi đó,còn nếu bị bỏ rơi trong rừng, nó sẽ mang tính cách của cầm thú Không phải ngẫu nhiên mà trongcác ngôn ngữ phương Tây, từ culture có nghĩa chung là chăm sóc, giáo dục, dưỡng dục Từ chứcnăng giáo dục , văn hóa có chức năng phái sinh là đảm bảo tính kế tục của lịch sử Nếu gen sinh học
di truyền lại cho các thế hệ sau hình thể con người thì văn hóa là gen xã hội di truyền lại cho các thếsau phẩm chất con người
Văn hóa còn có tính nhân sinh Văn hóa là cái tự nhiên đã được biến đổi dưới tác động của conngười, là phần giao giữa tự nhiên và con người Khác với các tài nguyên khoáng sản trong lòng đấtcũng là những giá trị tự nhiên nhưng chưa mang dấu ấn sáng tạo của con người, sự tác động của conngười đối với tự nhiên mang tính vật chất (như luyện quặng để chế tác đồng, đẽo gỗ để tạc tượng)cũng như tính tinh thần (đặt tên, tạo truyền thuyết gắn với nó như vịnh Hạ Long, hòn Vọng Phu, …)
Trang 24Từ chỗ gắn chặt với hoạt động của con người trong xã hội như vậy, văn hóa đã trở thành công
cụ giao tiếp quan trọng Văn hóa là nội dung của ngôn ngữ (hình thức giao tiếp cơ bản của conngười trong một dân tộc, giữa các dân tộc khác nhau và giữa các nền văn minh khác nhau)
Văn hóa giàu tính nhân văn và hướng đến những giá trị muôn thuở, trong khi văn minh hướngtới sự hợp lý, sắp đặt cuộc sống sao cho tiện lợi Nói đến văn minh, người ta chủ yếu nghĩ đến cáctiện nghi vật chất vì vậy, về tính giá trị, văn hóa chứa các giá trị vật chất và tinh thần, trong khi vănminh thiên về các giá trị vật chất Văn hóa giàu tính nhân bản, vị tha và đồng cảm, hướng tới nhữnggiá trị vĩnh hằng, còn văn minh là ý muốn vươn tới sự hợp lý, sự tổ chức xã hội sao cho tiện lợi, phù
Về tính lịch sử, trong khi văn minh nói đến trình độ phát triển – là đặc trưng của một thời đại,chỉ là một lát cắt đồng đại thì văn hóa luôn có bề dày của lịch sử và quá khứ Do đó, một dân tộc cótrình độ văn minh cao vẫn có thể có một nền văn hóa nghèo nàn, một dân tộc có trình độ văn minhlạc hậu vẫn có thể có một nền văn hóa phong phú Bất cứ một dân tộc nào dù mông muội hay bánkhai, dù lạc hậu hay văn minh đều có văn hóa
Về phạm vi, văn hóa mang tính dân tộc vì nó có giá trị tinh thần và tính lịch sử mà giá trị tinhthần và tính lịch sử là của riêng, khó có thể mua đi bán lại hay thay đổi, còn văn minh có tính quốc
tế vì nó chứa giá trị vật chất, dễ phổ biến và lây lan hơn
Về nguồn gốc, văn hóa gắn bó nhiều hơn với phương Đông nông nghiệp, còn văn minh gắn bónhiều hơn với phương Tây đô thị Các nền văn hóa cổ đại hình thành từ hơn hai ngàn năm trướccông nguyên đều là sản phẩm của phương Đông Nền văn hóa phương Tây sớm nhất là văn hóa Hy
La cũng sau các nền văn hóa phương Đông cổ đại hàng ngàn năm, được hình thành trên cơ sở tiếpthu những thành tựu từ thần thoại, lịch pháp đến chữ viết của các nền văn hóa phương Đông gầnnhất như Ai Cập, Lưỡng Hà Đâu đâu cũng thấy dấu ấn của ảnh hưởng phương Đông Về vị trí vàđặc điểm kinh tế, các nền văn hóa phương Đông đều hình thành ở lưu vực các con sông lớn lànhững nơi sản xuất nông nghiệp Trong ngôn ngữ phương Tây, văn hóa bắt nguồn từ chữ cultusnghĩa là trồng trọt, phát triển ra nghĩa chăm sóc, giáo dục Trong khi đó, từ văn minh trong các ngônngữ phương Tây đều bắt nguồn từ chữ civitas nghĩa là thành thị Kéo theo hàng loạt từ và nghĩaphái sinh trong các ngôn ngữ phương Tây như civilis (thị dân), civilisation (trở thành thành thị)
Câu 42 Cấu trúc của văn hóa và các bộ phận của nó
Theo lý thuyết hệ thống,
Mọi hệ thống đều bao gồm các yếu tố và quan hệ giữa chúng, mạng lưới các quan hệ này tạothành cấu trúc;
Trang 25Mỗi yếu tố của hệ thống đều có thể là một hệ thống con (tiểu hệ thống);
Mọi hệ thống đều có quan hệ mật thiết với môi trường
Trên cơ sở đó, văn hóa được xem như một hệ thống gồm bốn yếu tố (tiểu hệ thống) cơ bản,mỗi tiểu hệ thống có hai vi hệ nhỏ hơn là: tiểu hệ thống văn hóa nhận thức (gồm hai vi hệ là văn hóanhận thức về vũ trụ và văn hóa nhận thức về con người do mỗi nền văn hóa là tài sản của một cộngđồng người chủ thể văn hóa, và cộng đồng người chủ thể văn hóa đó luôn có nhu cầu tìm hiểu tíchlũy kho tàng kinh nghiệm tri thức phong phú ttrong quá trình tồn tại và phát triển), tiểu hệ thống vănhóa tổ chức (gồm hai vi hệ là văn hóa tổ chức đời sống tập thể và văn hóa tổ chức đời sống cá nhân),tiểu hệ thống văn hóa ứng xử (gồm hai vi hệ là văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và văn hóaứng xử với môi trường xã hội, do cộng đồng người chủ thể văn hóa tồn tại trong quan hệ với môitrường tự nhiên và môi trường xã hội; với mỗi loại môi trường đều có hai cách xử thế phù hợp vớihai loại tác động là tận dụng môi trường và đối phó với môi trường Với môi trường tự nhiên, có thểtận dụng để ăn uống, giữ gìn sức khỏe, tạo ra vật dụng thường nhật, nhưng cũng phải đối phó vớithiên tai, khoảng cách giao thông, khí hậu và thời tiết Với môi trường xã hội, mỗi dân tộc đều cốgắng tận dụng thành tựu của các dân tộc lân bang làm giàu thêm cho nền văn hóa của mình, đồngthời phải đối phó trên các mặt trận quân sự, ngoại giao với các dân tộc lân bang)
Cả bốn thành tố của hệ thống văn hóa đều bị quy định bởi cái gốc chung là loại hình văn hóa.Nếu mô hình cấu trúc của hệ thống văn hóa cho ta thấy cái chung, cái đồng nhất trong tính hệ thốngcủa các nền văn hóa thì loại hình văn hóa cho thấy cái riêng, cái khác biệt trong tính hệ thống củachúng
Cũng như mọi loại ranh giới, ranh giới giữa các bộ phận của hệ thống văn hóa không thể vạch
ra một cách quá rạch ròi, nhất thành bất biến Để sắp xếp một hiện tượng văn hóa vào hệ thống, phảicăn cứ vào đặc điểm điển hình của nó Chẳng hạn, mục đích của nhà cửa là để đối phó với môitrường tự nhiên, nhưng con người lại cũng đã tận dụng chính môi trường tự nhiên để tạo ra nó.Ngoại giao vừa có trách nhiệm đối phó vừa có trách nhiệm tận dụng môi trường xã hội, nhưng tráchnhiệm đối phó nặng nề hơn Một hệ thống văn hóa có thể được xem xét dưới góc độ các bình diệnđồng đại và lịch đại, khái quát và cụ thể Môn lịch sử văn hóa lâu nay chủ yếu quan tâm đến bìnhdiện lịch đại, còn môn văn hóa học chủ yếu quan tâm đến bình diện đồng đại Tuy nhiên, vì văn hóavừa có tính hệ thống vừa có tính lịch sử nên một miêu tả cụ thể nhất phải tính đến cả hai bình diện
ấy Nếu lấy lịch đại làm cơ sở thì trong mỗi giai đoạn lịch sử phải lưu ý đến tính đồng đại Ngượclại, nếu lấy đồng đại làm cơ sở thì trong mỗi hệ thống phải chú ý đến mặt lịch đại
Trang 26Dưới góc độ đồng đại, hệ thống văn hóa có thể có những cách phân chia khác Chẳng hạn,trong quan hệ với địa bàn cư trú, có thể phân biệt văn hóa biển, văn hóa đồng bằng, văn hóa núi.Trong quan hệ với cộng đồng, có thể phân biệt văn hóa dân gian và văn hóa chính thống Trongquan hệ với chủ thể văn hóa có thể phân biệt văn hóa Việt và văn hóa các dân tộc thiểu số.
Câu 43 Những đặc trưng cơ bản trong các lĩnh vực của loại hình văn hóa nông nghiệp
Văn hóa là sản phẩm của con người và tự nhiên nên nguồn gốc sâu xa của mọi khác biệt vềvăn hóa do những khác biệt về điều kiện tự nhiên (địa lý - khí hậu) và xã hội (lịch sử - kinh tế) quyđịnh Địa hình đồng bằng dẫn đến chỗ cư dân khu vực phải sinh sống chủ yếu bằng trồng trọt Kinh
tế trồng trọt buộc cư dân phải sống định cư, vì trồng cây phải chờ nó lớn, ra hoa kết trái để thuhoạch Những loại cây lâu năm phải trồng công phu, chờ 5-10 năm mới có quả, thu hoạch nhiều lần.Kết quả hình thành loại hình văn hóa nông nghiệp lo tạo dựng cuộc sống ổn định lâu dài, không xáotrộn, mang tính trọng tĩnh Các nền văn hóa hiện đại dù đang thuộc giai đoạn văn minh nông nghiệp,công nghiệp hay hậu công nghiệp cũng không thoát khỏi hai loại hình văn hóa cơ bản là gốc nôngnghiệp hay gốc du mục Các nền văn minh phương Đông là điển hình cho loại hình trọng tĩnh, gốcnông nghiệp Trong cách ứng xử với môi trường tự nhiên hình thành thái độ sống phụ thuộc nhiềuvào thiên nhiên, ở cố định một chỗ với nhà cửa cây cối nên tôn trọng, không dám chinh phục thiênnhiên Sống hòa hợp với thiên nhiên là mong muốn của cư dân các nền văn minh phương Đôngtrọng tĩnh Người Việt mở miệng là lạy trời, nhờ trời, ơn trời Tôn trọng thiên nhiên giữ gìn đượcmôi trường sống tự nhiên nhưng khiến con người trở nên rụt rè, e ngại Về mặt nhận thức, loại hìnhvăn hóa này tạo nên tư duy nghề nông nghiệp lúa nước, sống phụ thuộc vào thiên nhiên rất nhiều,không chỉ phụ thuộc vào một hai hiện tượng riêng lẻ, mà cùng lúc phụ thuộc vào tất cả: Trời - đất -nắng - mưa Nắng quá nhiều cũng chết, không nắng cũng chết, mưa nhiều quá cũng chết, khôngmưa cũng chết Cho nên người Việt nói Trồng trời trông đất trông mây Trông mưa trông nắng trôngngày trông đêm Trông cho chân cứng đá mềm Trời yên bể lặng mới yên tấm lòng Đó chính là đầumối của lối tư duy tổng hợp Tổng hợp kéo theo biện chứng, cư dân nông nghiệp quan tâm nhữngmối quan hệ qua lại giữa chúng Tổng hợp là bao quát mọi yếu tố còn biện chứng là chú trọng đếnmọi quan hệ giữa chúng, đó là đặc trưng tư duy của văn hóa gốc nông nghiệp lúa nước là điển hình.Người Việt tích lũy được một kho kinh nghiệm hết sức phong phú về các loại hình quan hệ này.Được mùa lúa úa mùa cau, được mùa cau đau mùa lúa, mồng tám tháng tám không mưa, bỏ cả càybừa mà nhổ lúa đi Người xưa đã tìm ra không chỉ những mối quan hệ giữa các hiện tượng thiênnhiên, mà còn rất chú ý đến cả những mối quan hệ giữa chúng với các hiện tượng trong đời sốnghàng ngày và trong xã hội Thâm đồng thì mưa, thâm dưa thì khá, thâm vú thì chửa, cơm chín tới,cải vồng non, gái một con, gà ghẹ ổ… Ở lối tư duy tổng hợp và biện chứng, sự chú ý bị phân tán,
Trang 27không có điều kiện cho việc hình thành những ngành khoa học chuyên sâu, nhưng nó lại là cơ sởhình thành một nền hệ thống những trí thức thu được bằng con đường kinh nghiệm, chủ quan, cảmtính Vì tiếp cận đối tượng một cách tổng hợp nên phải xem xét nó trong sự tồn tại tự nhiên, trong
sự liên hệ tự nhiên với vạn vật và con người, nên xem xét nó bằng con mắt chủ quan Vì luôn đặtbản thân trong liên hệ với đối tượng nghiên cứu và với tự nhiên nên phải dùng trực giác cảm tính
Do không được phản biện, chứng minh nên tri thức có sức thuyết phục thấp, nhưng nó diễn đạt ngắngọn, súc tích, thâm thúy Ngoài ra, do được hình thành một cách tự nhiên và được kiểm chứng bằngkinh nghiệm của các thế hệ nên tính đúng thường khá cao Vì vậy, tư tưởng phương Đông truyềnhàng ngàn đời ít có thay đổi Dưới góc độ này, hệ thống tri thức thu được bằng con đường kinhnghiệm, chủ quan, cảm tính mang tính tâm linh, không được nhận thức trực tiếp bằng các giác quan
Về mặt tổ chức cộng đồng, cư dân nông nghiệp ưa tổ chức theo nguyên tắc trọng tình Hàng xómsống cố định lâu dài với nhau phải tạo ra cuộc sống hòa thuận trên cơ sở lấy tình nghĩa làm đầu Lốisống trọng tình dẫn đến thái độ trọng đức, trọng văn, trọng mẫu Trong truyền thống, tinh thần của
cư dân nông nghiệp định cư coi trọng ngôi nhà, cái bếp, và người phụ nữ Tục ngữ truyền thốngchứa đựng không ít câu thể hiện nguyên lý này Phụ nữ có trách nhiệm quản lý kinh tế gia đình, làngười có vai trò quyết định trong giáo dục con cái Vùng nông nghiệp tiêu biểu vì vậy được nhiềuhọc giả gọi là xứ sở Mẫu hệ Ở các dân tộc ít chiều ảnh hưởng hoàn toàn của văn hóa Trung Hoa,vai trò của người phụ nữ vẫn rất lớn, phụ nữ chủ động trong hôn nhân, con cái đặt tên theo họ
mẹ, … Càng đi về phương Bắc và sang phương Tây, sự phân biệt đối xử nam nữ càng rõ Sự bìnhđẳng nam nữ có thể nhận quyền thừa kế là một nét đặc trưng nổi bật giải thích tại sao có sự giốngnhau bề ngoài giữa nam thần và nữ thần ở các tiểu tượng, sự khác biệt về giống được thể hiện nhậpnhoằng trong tiểu tượng học phương Đông Lối tư duy tổng hợp - biện chứng luôn phải đắn đo cânnhắc cộng với lối sống trọng tình đã dẫn đến cách thức tổ chức cộng đồng theo lối linh hoạt, luônbiến báo cho thích hợp với từng hoàn cảnh cụ thể, dẫn đến triết lý sống trọng tình cảm và nhu cầu
về một cuộc sống hòa thuận làm cho lối sống linh hoạt trở thành đậm nét và là cơ sở của tâm lý hòahiếu trong quan hệ xã hội Rõ ràng trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, mỗi khi thế thắng
đã thuộc về mình, chỉ cần dấn thêm một trận là toàn thắng, cha ông luôn dừng lại và chủ động cầuhòa, trải chiếu hoa cho giặc về, mở đường cho giặc rút lui trong danh dự Muốn sống dựa trên tìnhcảm, trong quan hệ xã hội, con người phải tôn trọng nhau và cư xử bình đẳng với nhau Đó là nềndân chủ làng xã có trước nền quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền phương Đông và nền dânchủ tư sản phương Tây Lối sống trọng tình và cách cư xử dân chủ dẫn đến đặc trưng quan trọngnhất của văn minh nông nghiệp là tâm lý coi trọng tập thể, cộng đồng, làm gì cũng phải tính đến tậpthể, luôn có tập thể đứng sau Mặt trái của lối sống linh hoạt, trọng tình, dân chủ là tâm lý hòa cả
Trang 28làng, bệnh coi thường phép nước Biểu hiện tiêu biểu của bệnh tùy tiện là tật co giãn trong kháiniệm giờ giấc, biểu hiện tiêu biểu của bệnh coi thường phép nước là sự thiếu tôn trọng pháp luật, rõnhất là trong giao thông Nguyên tắc sống trọng tình làm cho căn bệnh tùy tiện và coi thường phépnước càng trở nên trầm trọng Nó dẫn đến tệ đi cửa sau trong giải quyết công việc (một khi tình cảm
đã thông thì mọi việc đều có thể linh động xong hết) Trọng tình và linh hoạt làm cho tính tổ chứccủa cư dân nông nghiệp kém hơn hẳn so với cư dân gốc du mục Trong lối ứng xử với môi trường
xã hội, tư duy tổng hợp và phong cách linh hoạt của văn minh nông nghiệp còn quy định thái độdung hợp trong tiếp nhận và mềm dẻo, hòa hiếu trong đối phó Các quốc gia có văn minh nôngnghiệp luôn mềm dẻo đối phó với các cuộc chiến tranh xâm lược Ở Đông Nam Á mọi tôn giáo thếgiới đều được tiếp nhận dễ dàng Sở dĩ như vậy là vì tính dung hợp là sản phẩm của lối sống linhhoạt và lối tư duy biện chứng, cả hai đều chịu ảnh hưởng trực tiếp của lối sống thiên về tình cảm.Trong điều kiện tự nhiên chủ yếu của phương Đông là đồng bằng và núi non, thuận lợi cho việctrồng trọt, vì vậy trên cơ sở kinh tế hái lượm phát triển ở vùng rừng nhiệt đới, các bộ lạc phươngĐông đã thực hiện một bước nhảy vọt có ý nghĩa lớn lao đó là phát minh nông nghiệp Loại hìnhvăn hóa gốc nông nghiệp không phải văn hóa nông nghiệp như sản phẩm của các lối sống theo cơ
sở kinh tế Cũng không phải sản phẩm phân loại lối sống theo khu vực cư trú
Văn hóa gốc nông nghiệp mang tính làng xã của phương Đông đã tạo ra những hạn chế trongtính cách con người Nền kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp với tính tự trị làng xa cao buộc mỗi cánhân, gia đình phải tự làm ăn, lo liệu cuộc sống của mình Do khoa học kĩ thuật kém phát triển, sảnxuất phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên nên người dân chỉ đủ ăn đủ mặc, đã tạo ra cơ sở tính tư hữu,ích kỷ, chỉ biết giữ về mình, “Ai có thân người nấy lo” và gắn với tâm lý sợ người khác hơn mình,
dễ đố kị với người giàu có, người có cuộc sống dư dả hơn Ngoài ra tính cộng đồng làng xã dễ tạo rachủ nghĩa tập thể quân bình, lối sống ỷ lại, dựa dẫm, cam phận trong cái tôi nhỏ bé, làm cản trở tínhsáng tạo của cá nhân Chính lối sống ấy mà ý thức cá nhân trong mỗi người không phát huy mạnh
mẽ để trở thành ý thức sáng tạo Con người không dám hướng tới một cung cách làm ăn khác để cảitiến cuộc sống thiếu thốn của bản thân, cam chịu, chấp nhận nó như một điều tất yếu Họ bằng lòngvới cuộc sống theo cách thức sản xuất mà ông cha để lại Không dám đi xa, mạo hiểm vì cả đời chỉquen với làng xã của bản thân Ngoài ra lối sống nông nghiệp còn tạo ra cho người nông dân tínhcách lề mề, tùy tiện và sự yếu kém về tính tổ chức Nền sản xuất nông nghiệp vốn ít đòi hỏi khắtkhe về thời gian, không phải lo cạnh tranh gay gắt, không bị thúc ép nên khi bước vào xã hội hiệnđại yêu cầu phát triển công nghiệp, tính tùy tiện, thiếu kỷ luật, thiếu tổ chức mới bộc lộ những yếukém của nó Đó hạn chế cơ bản của cư dân nông nghiệp phương Đông so với cư dân phương Tâyvốn quen tác phong nhanh nhẹn, chính xác, làm việc hết mình Tư duy cục bộ địa phương cũng là
Trang 29một hạn chế của cư dân nông nghiệp sống trong làng xã, ít mở rộng phạm vi hiểu biết và giao tiếprộng hơn, xa hơn Tâm lý người cùng làng có thể đố kị nhau nhưng khi ra ngoài sẵn sàng bênh vựcngười cùng làng, kéo nhau ra bảo vệ làng một cách cực đoan, bất kể tốt xấu, phải trái.
Câu 44 Tại sao khi nói về Đông Nam Á, người ta thường nhắc đến tính thống nhất trong
sự đa dạng?
Bên cạnh những thuận lợi, những con sông này lại bị ngăn cách bởi hệ thống núi non trùngđiệp và những vùng sa mạc mênh mông Địa thế hiểm trở cùng với phương tiện giao thông hết sứchạn chế đã làm cho các nền văn minh xuất hiện và phát triển một cách độc lập.sự tiến bộ mỗi nềnvăn minh đã phát triển một cách độc lập, mang đậm bản sắc dân tộc
Trong tính thống nhất của khu vực, nền văn minh Đông Nam Á có những đặc điểm văn hóachung, tạo nên tính thống nhất của toàn khu vự Cư dân Đông Nam Á có những nét chung, thốngnhất về văn hóa vì cư dân ở đây có chung một cơ tầng văn hóa Đông Nam Á lấy sản xuất nôngnghiệp lúa nước làm phương thức hoạt đ6ọng kinh tế chính Là cộng đồng cư dân nông nghiệp trồnglúa nước, không chỉ bao gồm những nét tương đồng trong canh tác, hệ thống thủy lợi mà còn trongđời sống văn hóa văn minh tinh thần bao trùm tất cả chu trình của đời sống nông nghiệp lúa nước
Vì thế, từ truyện thần thoại đến lễ hội, từ phong tục tập quán đến âm nhạc nghệ thuật, kể cả múa hátđều ít nhiều chịu ảnh hưởng và phản ánh đời sống cư dân nông nghiệp trồng lúa nước
Khác với văn minh của Trung Hoa và Ấn Độ, văn minh nông nghiệp Đông Nam Á tắm mìnhtrong nền văn minh dân gian Lễ hội truyền thống của các nước Đông Nam Á đều tương đối giốngnhau về nguồn gốc phát sinh và phát triển, về hình thức và nội dung cũng như về mặt cấu trúc của lễhội: lễ hội của các nước Đông Nam Á đều gồm phần lễ và phần hội đan xen hòa quyện với nhau rấtkhăng khít Phần lễ bao gồm các nghi lễ của tín ngưỡng dân gian gian và các tôn giáo khác đượcchuẩn bị nghiêm ngặt và chu đáo Thông qua các nghi lễ, con người giao cảm với thế giới thiênnhiên Phần hội bao gồm các trò vui và trò diễn xướng dân gian Mức độ lễ và hội của từng lễ hội cụthể không giống nhau Lễ hội còn gắn liền và hòa quyện với phong tục tập quán riêng của mỗi dântộc Từ khởi thủy, lễ hội nông nghiệp truyền thống của cư dân nông nghiệp các dân tộc Đông Nam
Á đều được tổ chức theo mùa, theo lịch tiết cầu cúng chính là các vị thần nông nghiệp như thần Đất,thần Nước, thần Lửa, … Từ khi du nhập các tôn giáo, lễ hội của cư dân Đông Nam Á mang đậmmàu sắc tôn giáo Từ đó, lễ hội truyền thống của các cư dân Đông Nam Á có nhiều nét tương đồng,
và sự thống nhất trong đa dạng của văn minh Đông Nam Á là một thực tế lịch sử
Câu 45 Vai trò của các dòng sông lớn của các nền văn minh phương Đông
Trang 30Phương Đông với sự bao phủ toàn bộ châu Á và phần Bắc châu Phi, là nơi có điều kiện tựnhiên phong phú và đa dạng Ngay từ khi có xã hội loài người, nơi đây đã từng là khu vực sinh sốngcủa bầy người nguyên thủy đầu tiên Theo sự phát triển của lịch sử, phương Đông dần xuất hiệncông xã thị tộc, bộ lạc và các nhà nước đầu tiên Một nét đặc biệt thường nói đến năm nền văn minhphương Đông (Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Trung Hoa, Ả Rập) là các nền văn minh phương Đôngthường xuất hiện trên lưu vực các dòng sông lớn từ bờ biển phía đông Địa Trung Hải đến bờ biển
Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương: lưu vực sông Nile ở Ai Cập, lưu vực sông Tigris Euphrate ởLưỡng Hà, lưu vực sông Hindus - Ganga ở Ấn Độ, lưu vực sông Hoàng Hà - Dương Tử ở TrungHoa đều tạo ra vùng đồng bằng màu mỡ Lưu vực các con sông ở phương Đông đều tạo thànhnhững đồng bằng phì nhiêu rộng lớn, phù hợp với sự phát triển của nông nghiệp Những hằng số tựnhiên như thủy lượng cao, khí hậu ấm áp, đất đai màu mỡ, dễ canh tác Vì vậy, cư dân các khu vực
đã sớm gắn bó với sản xuất nông nghiệp, trồng lúa Bên cạnh trồng trọt, các gia đình còn chăn nuôigia súc gia cầm, một số làm thủ công nghiệp như sản xuất nông cụ, dệt vải, làm gốm, v.v Tuy nhiên,thủ công nghiệp phương Đông chỉ mang tính bổ trợ cho nền kinh tế nông nghiệp chủ đạo khép kíncủa các làng - nước phương Đông, không phát triển thành kinh tế hàng hóa thị trường
Câu 46 Vai trò của yếu tố địa hình khép kín của các nền văn minh phương Đông
Phân lập giữa các vùng đồng bằng màu mỡ rộng lớn thường xuất hiện trên lưu vực các dòngsông lớn từ bờ biển phía đông Địa Trung Hải đến bờ biển Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương lànhững hệ thống núi non trùng điệp và sa mạc mênh mông: sa mạc Ả Rập ở Ai Cập và Ả Rập, dãynúi Zagrode ở Lưỡng Hà, dãy Himalaya ở Ấn Độ, sa mạc Mông Cổ ở Trung Hoa Địa thế hiểm trởnói trên cùng với pương tiện giao thông hết sức hạn chế làm cho các nền văn minh phương Đôngxuất hiện và phát triển một cách tương đối độc lập, mỗi nền văn minh có tính độc đáo riêng và mangdấu ấn dân tộc sâu sắc
Câu 47 Điều kiện kinh tế tác động đến sự xuất hiện và phát triển của nền văn minh Ai Cập
Sông Nile là một trong những con sông lớn nhất thế giới, dài 6700 km, là nguồn nước giàuphù sa, bồi đắp nên vùng đất màu mỡ hai bên bờ rất thuận tiện cho việc trồng trọt Miền đất đai dosông Nile bồi đắp chỉ rộng 15-25 km, phía Bắc có nơi rộng đến 50km vì sông Nile chia thành nhiềunhánh để đổ ra biển Hàng năm, từ tháng 6 tđến tháng 11, nước sông Nile dâng cao đem theo mộtlượng phù sa phong phú bồi đắp cho vùng đồng bằng hai bên bờ ngày càng màu mỡ Sông Nilecung cấp nguồn thủy sản dồi dào cho cư dân Ai Cập cổ và là một trong những tuyến đường giaothông quan trọng huyết mạch của cả vùng Vì vậy có thể nói Ai Cập chính là tặng vật của sông Nile,
và sông Nile là điều kiện tự nhiên quan trọng nhất đối với sự hình thành nền văn minh Ai Cập
Trang 31Câu 82 Bối cảnh hình thành, tính tiến bộ trong nội dung, quá trình phát triển và vai trò lịch sử của Pháp gia
Tư tưởng Pháp gia thuộc phạm trù tư tưởng triết học chính trị, là sản phẩm của sự biến đổi xãhội thời Chiến quốc, đại diện cho lợi ích của giai cấp địa chủ mới trỗi dậy, đại biểu cho yêu cầucủng cố chế độ chuyên chính quân chủ tập quyền trung ương Pháp gia là trường phái chủ trươngdùng pháp luật để trị quốc Các đại biểu của trường phái này ở thời kỳ đầu gồm Quản Trọng, TửSản, Lý Khôi, Ngô Khởi, Thương ƯỞng, Thân Bất Hại, Lý Tư, Hàn Phi Tử Người khởi xướng đầutiên là Quản Trọng - tướng quốc của Tề Hoàn Công Ông đã đề ra một số chính sách cải cách làmcho nước Tề trở nên hùng mạnh và được làm bá chủ một thời Tiếp đó, Thương ƯỞng là người đãgiúp Tần Hiếu Công cải cách, làm cho nước Tần trở thành nước giàu mạnh nhất ở Trung Hoa thờiChiến quốc Trên cơ sở đó, hơn một thế kỷ sau đã đánh tan các nước khác, thống nhất toàn lãnh thổTrung Hoa Hàn Phi Tử (280 - 233 trước Công nguyên) là đại biểu xuất sắc nhất của phái Pháp gia,nhưng ông có tật nói lắp không thể biện luận được nên đã tập trung sức lực để viết tác phẩm trìnhbày các luận thuyết của mình Khi Tần đánh Hàn, vua Hàn sai Hàn Phi Tử đi sứ nước Tần, Hàn Phi
Tử được Tần Thủy Hoàng tiếp đãi tử tế, nhưng sau bị bạn học là Lý Tư gièm pha nên bị hạ nhục vàphải uống thuốc độc tự tử Hàn phi tử đã tập hợp tư tưởng của Pháp gia, trở thành một sách kinhđiển về chính trị học sớm nhất trong lịch sử chính trị Trung Hoa Pháp gia không tán thành chủtrương làm theo lời vua trước (PHÁP TIỀN VƯƠNG) cũng như thuyết tính bản thiện của Nho gia.Pháp gia cho rằng nhân tính tiến hóa cùng với lịch sử Trên cơ sở thuyết tính bản ác, Pháp gia đềxuất hệ thống chính trị xã hội lấy Pháp-Thuật-Thế làm ba nội dung cơ bản Pháp chỉ pháp lệnhthành văn quốc gia Pháp gia chủ trương dùng pháp trị thay cho lễ trị, yêu cầu hình phạt nặng, kể cảvới người quyền quý phạm tội Thuật là quyền mưu không lộ ra mặt để điều khiển bề tôi, kẻ làmchúa phải biết người thạo việc, dùng người hết trí tuệ, dùng người hết năng lực Kẻ làm chúa phải
để tâm sức vào việc quản chế bề tôi, đối với các đại thần ở địa vị cao, Hàn Phi Tử đề ra ba biệnpháp khống chế rất cụ thể “chất-trấn-cố” (nhân chất-khống chế-cầm cố), thậm chí có thể ngụy tạotội danh đầu độc - ám hại để loại bớt đối thủ Thế là quyền thế Pháp gia chủ trương quyền thế vạnnăng, yêu cầu kẻ thống trị phải nắm lấy quyền giết hại - khen thưởng vì chỉ như vậy thuật mới đượcthực thi, pháp mới được tôn trọng Trong cuộc đấu tranh chính trị, Pháp-Thuật-Thế được các nhàchính trị gia thực dụng thể nghiệm, thi hành và dẫn đến nhiều bi kịch trong lịch sử Trung Hoa Sở dĩdùng pháp luật, mệnh lệnh, hình phạt để cai trị là phương pháp có hiệu lực nhất là vì dân vốn nhờnvới lòng thương, chỉ vâng theo uy lực Ông nêu một ví dụ, có một đứa con hư hỏng, cha mẹ, thầygiáo và hàng xóm đều thương yêu, dạy dỗ, bảo ban nhưng nó vẫn không thay đổi Sau khi viên quan
ở châu bộ cầm binh khí thi hành pháp luật nhà nước, làng bắt kẻ xấu thì nó mới sợ hãi và sửa đổi
Trang 32tính nết Nhưng muốn pháp có thể thi hành được thì vua cần phải có thế, tức là phải có đầy đủ uyquyền Để chứng minh luận điểm của mình, ông lấy ví dụ Khổng Tử là người đầy đủ tài đức nhưngtrong nước chỉ có 70 người theo ông Còn Lỗ Ai Công là một ông vua vào loại kém, nhưng nhândân cả nước không ai dám không thần phục vì Lỗ Ai Công có thế, còn Khổng Tử chỉ có nhân nghĩa.Ngoài Pháp và thế còn phải có 3 mặt phương pháp điều hành (“thuật”): bổ nhiệm, khảo hạch vàthưởng phạt Thuật bổ nhiệm là phương pháp chọn quan lại, chỉ căn cứ vào tài năng, không cần đứchạnh và dòng dõi Thuật khảo hạch và thưởng phạt là căn cứ theo trách nhiệm để kiểm tra hiệu quảcông tác lam tốt thì thưởng rất hậu, làm không tốt thì phạt rất nặng Còn về đường lối xây dựng đấtnước, Hàn Phi Tử chủ trương chỉ chú ý vào hai việc là sản xuất nông nghiệp và chiến đấu Hàn Phi
Tử nói “Dân trong nước, mọi lời nói hợp với pháp luật, mọi việc làm dốc vào việc cày cấy, kẻ dũngcảm dốc hết sức vào việc quân, do đó vô sự thì nước giàu, khi hữu sự thì binh mạnh Đó là cái vấncủa nghiệp vương, lại biết lợi dụng thời cơ của nước thì vượt ngũ đế, ngang tam vương tất là dopháp ấy.” Văn hóa giáo dục không những không cần thiết không đem lại lợi ích thiết thực mà còn cóhại cho xã hội.Địa vị tư tưởng của Pháp gia không chỉ ở giá trị lý luận mà còn ở giá trị thực dụng.Chính vì vậy nó đã có thể dựa vào sức mạnh chính trị để kết thúc cục diện trăm nhà đua tiếng thờiXuân thu Chiến quốc, trở thành kẻ thắng lợi cuối cùng trong thời gian nhà Tấn thống trị Trung Hoa.Sau khi thống nhất Trung Hoa Tần Thủy Hoàng dùng đường lối của Pháp gia trị nước, chủ yếu dựavào pháp luật khắc nghiệt và hình phạt tàn bạo nên mâu thuẫn xã hội gay gắt Tư tưởng Pháp gia đãcung cấp cơ sở lý luận cho các nhà tư tưởng chính trị Trung Hoa Các nhà thống trị đều dùng Phápgia như thủ đoạn chính trị để cướp chính quyền và củng cố chính quyền, trương chiêu bài Âm Pháp
- Dương Nho (trong bóng tối dùng Pháp gia, công khai đề xướng Nho gia, lấy Đạo gia hỗ trợ thêm.Như vậy, Nho gia - Pháp gia - Đạo gia là ba trường phái giữ vị trí chủ lưu của nền văn hóa chính trịTrung Hoa Các học thuyết tư tưởng triết học còn ảnh hưởng lớn đến các thành tựu, phương thứcbiểu đạt của các lĩnh vực trong văn hóa nghệ thuật, kiến trúc điêu khắc, tạo hình mỹ thuật và đến cảmối quan hệ xã hội, phong tục, dân tình của văn minh Trung Hoa truyền thống, biến Trung Hoa trởthành một trung tâm văn minh quan trọng ở phương Đông
Câu 83 Tiến trình văn hóa Việt Nam và đặc điểm cơ bản của từng giai đoạn
Tiến trình văn hóa Việt Nam được chia thành 6 giai đoạn: văn hóa thời tiền sử, văn hóa VănLang - Âu Lạc, văn hóa thời Bắc thuộc, văn hóa Đại Việt, văn hóa Đại Nam và văn hóa hiện đại.Thành tựu lớn nhất ở giai đoạn văn hóa thời tiền sử của cư dân Austroasiatique là sự hình thànhnông nghiệp lứa nước Trong năm trung tâm xuất hiện cây trồng, Đông Nam Á là cái nôi thuầndưỡng lúa, là trung tâm nông nghiệp cổ xưa nhất với tính đa dạng cao về động thực vật cũng nhưcảnh quan sinh thái, địa hình địa mạo Trung tâm thuần dưỡng lúa tẻ hạt dài là vùng Đông Nam
Trang 33Himalaya, còn trung tâm thuần dưỡng lúa nếp hạt tròn là vùng sông nước Đông Nam Á Vào thiênniên kỷ thứ VI - V trước Công nguyên, cùng với việc chuyển sang nền kinh tế sản xuất, cư dânĐông Nam Á cổ đại đã đưa cây lúa thuần chủng từ vùng núi Himalaya xuống đồng bằng lưu vựcsông nước Ở vùng sông nước này, cư dân Đông Nam Á cổ đại đã gây tạo ra giống lúa nước nổitiếng, và tích lũy được vốn kĩ thuật trồng lúa phong phú Người Việt cổ sống trong các hang độngvới hái lượm là nghề chính, vào thời đá giữa cách đây 10,000 năm đã thực hiện bước nhảy có ýnghĩa lớn lao trong đời sống nhân loại: phát minh nông nghiệp Ở các di chỉ khảo cổ khác nhau nhưSũng Sằm, Tràng Kênh, Gò Bông, Đồng Đậu, Gò Mun, … cũng đã phát hiện được những dấu tíchcủa bào tử phấn hoa, vỏ trấu, gạo cháy, mảnh chõ xôi, có niên đại vài nghìn năm trước Công nguyên.Nghề trồng lúa của tổ tiên ngừi Trung Hoa sau khi định cư ở lưu vực sông Hoàng Hà vốn chỉ có kê,mạch, dâu là học được từ các dân tộc phía Nam sông Dương Tử Vào thiên niên kỷ thứ III trướcCông nguyên, ở trung tâm Đông Bắc Á chỉ có văn minh trồng kê Ngưỡng Thiều, không có nhữngcái nôi nông nghiệp lớn Những nền văn hóa trồng lúa Long Sơn lạc hậu hơn văn hóa đồ gốm cóhoa văn ở Đông Dương và muộn hơn cái nôi trồng lúa Đông Dương Vào nửa sau thiên niên kỷ thứ
II trước Công nguyên, chính cư dân lưu vực sông Dương Tử đã cung cấp cho cư dân lưu vực sôngHoàng Hà kĩ thuật tưới tiêu nhân tạo chuyển đến trồng lúa được, giúp họ làm quen với văn hóatrồng lúa và kĩ thuật cày đất Lúa gạo được nhập và trồng ở Trung Hoa từ đời Chu, khoảng1122-247 trước Công nguyên Từ Nam Á, lúa và kĩ thuật trồng lúa lan tới Địa Trung Hải vào nửađầu thiên niên kỷ thứ I trước Công nguyên Các chữ đạo, rice, riz, ris, resis, ruc, sri, v.v trong cácngôn ngữ châu Âu các dân tộc Tây Nguyên, cũng có nguồn gốc từ tiếng Đông Nam Á cổ đại Ngoàicây lúa và kĩ thuật trồng lúa, một số thành tựu khác của cư dân Đông Nam Á cổ đại đặc biệt việctrồng dâu nuôi tằm làm đồ mặc, tục uống chè, việc thuần dưỡng gia súc như trâu (bò nước, thủyngưu), gà, việc làm nhà sàn để sàn, dùng các cây thuốc chữa bệnh Truyền thuyết phương Nam đãđánh dấu giai đoạn văn hóa thời tiền sử bằng hình ảnh thần thoại Thần Nông, bổ sung vào kho tàngvăn hóa Trung Hoa Thần Nông là một nhân vật thần thoại liên quan đến nông nghiệp, vốn của cưdân bản địa phương Nam bị sáp nhập vào Hoa tộc Thần Nông được xem là vị thần cai quản phươngNam, có tên gọi là Viêm Đế (thần xứ nóng) Niên đại truyền thuyết về Thần Nông (thiên niên kỷ thứ
IV trước Công nguyên) tương ứng với giai đoạn cư dân Đông Nam Á cổ đại phát triển mạnh mẽnghề nông thời đá mới Vì vậy, Thần Nông thực chất là tên gọi biểu trưng cho những thành tựu tậpthể của cả giai đoạn thời đá mới Đông Nam Á đóng vai trò rất lớn trong việc phổ biến lợn, trâu, gà.Đến 1450 trước Công nguyên, gà đã xuất hiện ở Ai Cập Những ngôn ngữ cổ ở Ấn Độ đã vay mượnnhiều từ ngữ về nông nghiệp như cày, súc vật, tên cây cỏ của những tộc người nói tiếng có họ hàngvới các ngôn ngữ ở Đông Dương hiện nay Tiếng Phạn đã làm công việc bảo tồn một Đông Dương
Trang 34tiền sử, điều mà các ngôn ngữ Đông Dương cổ đại được biết đến sau này không còn tự bộc lộ được.Truyền thuyết người Việt xem Thần Nông là ông cố 4 đời của Kinh Dương Vương, 5 đời của LạcLong Quân, 6 đời của Hùng vương thứ nhất Việc coi Thần Nông là thủy tổ là một trong những dấuvết của việc người Việt kế thừa những thành tựu của cơ tầng văn hóa Đông Nam Á cổ đại Chắcchắn nhân dân ta đã coi Thần Nông là thủy tổ của mình từ trước khi tiếp thu ảnh hưởng của văn hóaHoa tộc Là vị thần sáng nghiệp nghề nông ở xứ nóng, Thần Nông được những cư dân trồng lúa tônsùng nhiều hơn cả, được họ coi là thủy tổ Đó là điều lý giải được Hoa tộc không coi Thần Nông làthủy tổ, chỉ coi đó là một ông vua quán lĩnh phương Nam Tên gọi Thần Nông cũng được đặt theo
cú pháp xuôi phương Nam, ảnh hưởng văn hóa Đông Nam Á đối với Hoa tộc mạnh đến nỗi các ôngvua đầu tiên của Trung Hoa cũng đều được đặt tên theo lối cú pháp xuôi là Đế Nghiêu, Đế Thuấn,
Đế Vũ Theo nguồn gốc, Bàn Cổ được vay mượn từ các tộc Mèo-Dao láng giềng phương Nam, lànhân vật thần thoại của người Mèo-Dao được Tư Chính đưa vào Trung Hoa thời Tam quốc kết hợpvới những mẩu chuyện của Hoa tộc mà tạo nên vị thần sáng thế Phục Hi là nhân vật thần thoại cógốc từ miền Tây Bắc Trung Hoa, nhưng chịu ảnh hưởng của thần thoại phương Nam, đồng hóa vàonhân vật người anh trong các truyện về motip quả bầu mẹ rất phổ biến ở các dân tộc Đông Nam Á,gặp nạn hồng thủy, lấy em gái Nữ Oa cô em gái cũng là vợ của Phục Hi có nguồn gốc xuất than từvùng Bách Việt phía Nam sông Dương Tử, nơi liên quan đến các nghĩa con cóc Khắp từ Bắc vàoNam ở Việt Nam rất phổ biến truyện dân gian về vị thần Đực có tên Tứ tượng rất phổ biến ở ĐôngNam Á từ trước khi văn hóa Hoa tộc ảnh hưởng đến vùng này Ngưu Lang - Chức Nữ cũng lànhững nhân vật bắt nguồn từ truyền thuyết phương Nam Mưa ngâu, con trâu (ngâu, ngưu, sửu) làhiện tượng đặc thù chỉ có ở phương Nam, và chỉ là những biến âm từ cùng một từ cổ đọc chệch.Truyện Ngưu Lang - Chức Nữ của Trung Hoa chỉ là dị bản từ một truyện đã nảy sinh rất lâu đời ởvùng Đông Nam Á
Giai đoạn văn hóa Văn Lang Âu Lạc kế tục văn hóa thời tiền sử về không gian văn hóa, thờigian văn hóa và thành tựu văn hóa Giai đoạn này khởi đầu từ khoảng giữa thiên niên kỷ III trướcCông nguyên Truyền thuyết họ Hồng Bàng kể rằng Lộc Tục cháu bốn đời của họ Thần Nông lênlàm Viêm Đế năm 2879 trước Công nguyên, lấy hiệu Kinh Dương Vương, đặt tên quốc gia phíaBắc giáp hồ Động Đình, phía Nam giáp nước Hồ Tôn, phía Tây giáp Ba Thục, phía Đông giáp NamHải là Xích Qủy Về mặt không gian, bờ cõi nước theo truyền thuyết chính là địa bàn cư trú củangười Bách Việt Austroasiatique, là khu vực tam giác không gian gốc của văn hóa Việt Nam Bờcõi nước Văn Lang của các vua Hùng sau này là không gian đó, người Lạc Việt cũng là khối cư dânBách Việt Austroasiatique Sự tồn tại của các lãnh tụ người Việt với danh hiệu thủ lĩnh chung làkhun (hùng) là một sự kiện lịch sử phản ánh truyền thống sử học truyền khẩu về địa bàn cư trú cổ
Trang 35xưa của các bộ lạc Việt, vì vậy, truyền thuyết về Lạc Long Quân và Kinh Dương Vương cũng mangtính lịch sử Về mặt không gian, thiên niên kỷ thứ III trước Công nguyên, năm 2879 trước Côngnguyên tương ứng với giai đoạn đầu thời đại đồ đồng, cũng là thời điểm hình thành chủng BáchViệt Austroasiatique Vào thời điểm sơ kỳ thời đại đồ đồng, giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên, cưdân ở đây sống trong hình thức liên minh bộ lạc - một bước quá độ vươn lên tổ chức nhà nước, đó làhình thái tiền quốc gia Nhà nước đầu tiên của người Việt hình thành vào thời kỳ Đông Sơn, giaiđoạn phát triển rực rỡ nhất của thời đại đồ đồng Thành tựu văn hóa Văn Lang Âu Lạc chủ yếu lànghề luyện kim đồng Vai trò của vùng văn hóa Đông Nam Á đối với khu vực hết sức to lớn: đồđồng Đông Sơn và ảnh hưởng của nó đã tìm thấy khắp từ Nam Dương Tử, Thái Lan đến toàn bộvùng Đông Nam Á hải đảo Trống đồng, thạp đồng là những di vật tiêu biểu nhất cho trình độ kĩthuật của kĩ thuật luyện kim Đông Sơn Nghề luyện kim đồng thau đã ra đời ở Đông Sơn từ rất lâutrước sự ra đời của đất văn hóa này Chữ tong (thung) trong tiếng Hán được phiên âm từ tiếng Tày(toong) và tiếng Việt (đồng) Bốn kiểu trống đồng Đông Sơn thực ra là những biến thể của cùng mộtloại sản phẩm từ cùng một vùng sản xuất đồng lớn có hai điểm tận cùng là Đông Sơn ở phía Đông,Mogaung ở phía Tây và đỉnh nằm ở giữa hồ Động Đình và hồ Poian Ảnh hưởng của văn hóa ĐôngSơn lên phía Bắc đến đất Sở là thành tựu của các dân tộc Đông Nam Á cổ đại Đông nam á đã cónhững ảnh huo73ngl ớn rất xa ra ngoài ranh giới những láng giềng trực tiếp của nó Việc tạo nêncây lúa, nghề luyện kim đồng, là kết quả sáng tạo của nhiều dân tộc đã tạo nên trong suốt chiều dàilịch sử nghìn năm của thế giới Đông Nam Á cổ đại Chính những thành tựu đó đã có đóng góp của
tổ tiên dân tộc Việt làm nên cái nền vững chắc cho sự phát triển của văn hóa Việt sau này Ngay từthế kỷ XIX, trong cuốn Thanh Hóa quan phong, Vương Duy Trinh đã dẫn ra bằng chứng về chữMường Cổ và lập luận rằng đất nước ta có chữ… thuộc kể đã ngàn dư năm, từ khi Sĩ Vương dạychữ Trung Hoa, lối chữ nước ta mất hết Qua lịch sử hình thành dân tộc, ta đã biết ngườiViệt-Mường có nguồn gốc gần gũi nhất Nhìn loại chữ cổ tìm thấy ở vùng Mường, ta có thể hìnhdung được tại sao tổ tiên người Trung Hoa lại sánh nó với hình nòng nọc bơi Cũng từ thế kỷ XIX,Trương Vĩnh Ký đã khẳng định đến thời Tam quốc, thứ chữ người An Nam dùng là thứ chữ ghi âm
mà dấu vết còn tìm thấy ở một số bản khắc trên đài tượng bằng đá ở đỉnh núi Dahia Sau khi xâmlược, một trong những hành động của viên tướng Sĩ Nhiếp là chỉ thị dùng chữ Hán quốc của ôngtrong mọi giấy tờ chính thức, đề ra những biện pháp nghiêm ngặt cấm dùng thứ chữ ghi âm màngười An Nam còn dùng đến thời đó Đến nay, dưới ánh sáng của những nhận định mới về quy mô
và vai trò của văn hóa Đông Nam Á trong lịch sử văn hóa khu vực, những ghi chép của sử sáchTrung Hoa về thứ chữ khoa đẩu (nòng nọc bơi) của cư dân phương Nam, những cứ liệu về dấu vếtchữ viết hình nòng nọc đã phát hiện được trên những phiến đá ở thung lũng Sa Pa, quả đồng Thanh
Trang 36Hóa, trống đồng Lũng Cú, lưỡi cày Đông Sơn, Mường Thanh Hóa, ta hoàn toàn có thể nghĩ đến sựtồn tại của một nền văn tự phương Nam trước Hán tự và khác Hán tự.
Giai đoạn văn hóa thời Bắc thuộc khởi đầu từ trước Công nguyên và kéo dài đến khi NgôQuyền giành lại được đất nước Những đặc điểm chủ yếu của giai đoạn văn hóa thời Bắc thuộc là:Thứ nhất, ý thức đối kháng bất khuất và thường trực trước nguy cơ xâm lăng từ phương Bắc
Sự ra đời của quốc hiệu Nam Việt từ trước Công nguyên đã lần đầu tiên xuất hiện yếu tố chỉphương Nam và tồn tại trong suốt các quốc hiệu về sau, đánh dấu một bước ngoặt trong nhận thứccủa dân tộc về hiểm họa xâm lăng thường trực từ phương Bắc mà từ đời Tần-Hán đã trở thành một
đế quốc hùng mạnh bậc nhất khu vực Triệu Đà sau khi xâm lăng nước Âu Lạc bằng thủ đoạn hônnhân, thâu tóm quyền lực và lãnh thổ, đã đứng về phía cư dân phương Nam quyết liệt đối đầu vớiTrung Hoa Chí vì vậy nhiều sử gia từ Đại Việt sử lược đến Trần Trọng Kim đã coi nhà Triệu là mộtvương triều nối tiếp nhà Thục Tinh thần đối kháng thường trực và bất khuất trước hiểm họa xâmlăng khởi đầu từ trước Công nguyên đã được nuôi dưỡng và bộc lộ mạnh mẽ qua các cuộc khởinghĩa của Hai Bà Trưng (40-43), Triệu Thị Trinh (246), Lý Bôn (544-548), Triệu Quang Phục(548-571), Mai Thúc Loan (722), Phùng Hưng (791), Khúc Thừa Dụ - Khúc Thừa Mỹ (906-923),Dương Đình Nghệ (931-937) và đạt đỉnh cao ở cuộc khởi nghĩa thắng lợi của Ngô Quyền (938).Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng được nhân dân khắp vùng Nam Việt - Âu Lạc - Cửu Chân -Nhật Nam - Nam Hải - Uất Lâm hưởng ứng Người Chuang - một nhánh Bách Việt Austroasiatique
ở Quảng Tây đến nay còn giữ nhiều truyền thuyết về Hai Bà, còn miếu Bà Trắc thờ Hai Bà Trưng ởngay phía Nam hồ Động Đình
Đặc điểm thứ hai của giai đoạn văn hóa thời Bắc thuộc là sự suy tàn của nền văn minh VănLang - Âu Lạc bắt nguồn từ sự suy thoái tự nhiên của một nền văn hóa sau khi đạt đến đỉnh cao,cũng như từ sự tàn phá cố tình của kẻ xâm lược phương Bắc với âm mưu đồng hóa thâm độc Từđời Tần, Trung Hoa đã chiếm cả thiên hạ, cướp đất Dương Việt, đưa những người bị đày đến ở lẫnvới người Việt Thời Hán, Mã Viện đưa quân Trung Hoa sang ở lẫn để đồng hóa người Việt Năm
231, Tiết Tông dâng sớ kể rằng Hán Vũ Đế chia nước Việt thành 9 quận, đặt ra quan thứ sử GiaoChâu, từ những tội nhân Trung Hoa chạy sang, ở lẫn với dân, dạy học sử sách và phổ cập phong tục
lễ giáo Trung Hoa Cư dânTrung Hoa do Mã Viện đưa sang định cư làm chỗ dựa cho chính quyền
đô hộ và đồng hóa người Việt được gọi là dân Mã lưu (dân do Mã Viện để lại)
Đặc điểm thứ ba là giai đoạn thời Bắc thuộc đã mở đầu cho quá trình giao lưu tiếp biến vănhóa Trung Hoa, quá trình văn hóa Việt Nam hội nhập vào khu vực Tuy tiếp xúc trực tiếp và thườngxuyên với Trung Hoa nhưng giai đoạn thời Bắc thuộc, Việt Nam tiếp nhận văn hóa Trung Hoa chưa
Trang 37nhiều Nho giáo hầu như chưa thâm nhập được vào xã hội Việt Nam, chưa có chỗ đứng trong xã hộiViệt Nam Lý do của sự kiện này rất đơn giản, đó là do văn hóa Trung Hoa đến theo vó ngựa xâmlăng do kẻ xâm lược tìm cách áp đặt vào làng xã Việt Nam Vì vậy cùng với sự chống áp bức quyếtliệt về mặt chính trị, nét chủ đạo của giai đoạn thời Bắc thuộc là xu hướng chống Hán hóa về mặtvăn hóa và Việt Nam hóa các ảnh hưởng Trung Hoa Ngay từ mấy chục năm đầu Công nguyên, cácthái thú Nhâm Diên, Tích Quang đã ra sức truyền bá điển lễ hôn nhân gia đình theo lối Trung Hoa,
Sĩ Nhiếp vào thế kỷ II đã ra sức mở trường dạy học truyền bá văn hóa Trung Hoa thủ tiêu văn tựngôn ngữ Việt, Tô Định - Mã Viện ra sức thiết lập nền pháp trị hà khắc bằng giáo ươm suốt mấy thế
kỷ văn hóa Trung Hoa nói chung và và Nho gia nói riêng vẫn không bám rễ được vào làng xã ViệtNam Dân Mã lưu do Mã Viện để lại không những không thực hiện được nhiệm vụ đồng hóa ngườiViệt làm chỗ dựa cho chính quyền mà còn bị Việt hóa ngược lại hoàn toàn Trong khi đó, Phật giáođến Việt Nam trực tiếp từ Ấn Độ một cách hòa bình, được người Việt Nam tự giác tiếp nhận.Những đoạn liên quan đến Giao Chỉ trong sử sách Trung Hoa thời kỳ này viết về Phật giáo thì nhiều
mà nói về Nho giáo thì ít, ngoại trừ mấy nhân vật đỗ đạt làm quan cho Trung Hoa như Lý Cầm, LýTiến làm túc vệ, thứ sử đời Hán, Khương Công Phụ người Ái Châu đỗ tiến sĩ năm 766 làm quan đếnchức tể tướng đời Đường, …
Nhờ đã có được nền móng vững vàng tạo nên từ đỉnh cao rực rỡ trong lớp văn hóa bản địa,văn hóa Văn Lang-Âu Lạc vẫn tồn tại như một mạch ngầm trong suốt thời Bắc thuộc, để khi bướcsang giai đoạn văn hóa Đại Việt, chỉ sau ba triều đại Ngô - Đinh - Tiền Lê, đã được khôi phục vàthăng hoa nhanh chóng Giai đoạn văn hóa Đại Việt đã trở thành đỉnh cao thứ hai trong lịch sử vănhóa Việt Nam với hai cột mốc: Lý Trần và Hậu Lê Truyền thống tổng hợp bao dung của lớp vănhóa bản địa dân tộc được tiếp sức bởi văn hóa Phật giáo thời Bắc thuộc giàu lòng nhân ái đã làmnên linh hồn của thời đại Lý-Trần Văn hóa Đại Việt thời đại Lý-Trần đã chứng kiến thời kỳ hưngthịnh nhất của Phật giáo, cùng với nhu cầu xây dựng và củng cố nhà nước quân chủ chuyên chếtrung ương tập quyền, cũng đánh dấu thời điểm Đại Việt chính thức tiếp nhận Nho giáo Đồng thời,với tinh thần tổng hợp bao dung, nó cũng mở rộng cửa cho việc tiếp thu Đạo giáo Tam giáo đồngquy trên cơ sở văn hóa bản địa đã khiến cho văn hóa Đại Việt thời đại Lý-Trần phát triển mạnh mẽ
về mọi phương diện Vì vậy, Nho giáo cùng với văn hóa Trung Hoa trong suốt thời Bắc thuộc trướcnăng lực bảo tồn và sức đề kháng mạnh mẽ của văn hóa bản địa đã không thể thâm nhập sâu rộngđược, giờ đây từ khi được nhà Lý mở cửa và đặt nền móng (xây Văn Miếu thờ Khổng Tử năm 1070,lập trường Quốc Tử giám năm 1076, …) đã trở nên mỗi ngày một mạnh Sở dĩ như vậy là nhờ Nhogiáo làm một hệ thống chính trị xã hội nhập thế có tính ưu việt hơn hẳn so với Phật giáo như mộttôn giáo xuất thế trong vai trò cai trị xã hội Đến giữa thời Trần, Nho giáo đã trở thành một lực
Trang 38lượng đáng kể trong triều đình Song trong xã hội thượng lưu, Nho giáo vẫn chưa có được tính ápđảo, ngoài xã hội, Nho giáo chưa thấm ra được là bao Vì vậy, trong triều đình, các nho sĩ phải tựkhẳng định bằng cách quay lại công kích Phật giáo và các triều vua trước, ngoài xã hội, sứ thần nhàNguyên là Trần Phụ từng nhận xét “Tục dân rất nóng nổi, chưa biết lễ nhạc Trung Hoa” Đến thời
Lê, Nho giáo mới đạt đến độ thịnh vượng nhất và nắm trong tay toàn bộ guồng máy xã hội Xuhướng tiếp nhận văn hóa Trung Hoa trở thành chủ đạo Tính cách trọng động, cứng rắn, độc tôn đãthâm nhập dần vào xã hội Việt Nam, nhà nước tuyên bố lấy Nho giáo làm quốc giáo, pháp luậtphỏng theo Trung Hoa, phụ nữ con hát ngày một bị khinh rẻ Văn hóa Đại Việt thời Hậu Lê chuyểnsang đỉnh cao kiểu khác: văn hóa Nho giáo Đại Việt Quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa TrungHoa chồng lên lớp văn hóa bản địa đã đạt cực hạn Việc giao lưu với Trung Hoa dẫn đến việc dùngchữ Hán làm văn tự Lớp văn hóa giao lưu với Trung Hoa đặc trưng bởi việc dùng chữ Hán làm văn
tự chính thống chủ yếu Chữ Nôm - một trong những sản phẩm của cuộc giao lưu này - manh nha từcuối giai đoạn chống Bắc thuộc và hình thành vào đầu giai đoạn Đại Việt được dùng trong sáng tácvăn chương và đặc biệt được đề cao dưới triều Hồ và Tây Sơn Vua Quang Trung đã sử dụng chữNôm làm văn tự chính thức trong các chiếu chỉ, từng có kế hoạch giao cho Viện trưởng Viện Sùngchính - La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp tổ chức dịch các sách vở kinh điển từ chữ Hán sang chữ Nôm.Cuối cùng là văn hóa Đại Nam và văn hóa hiện đại có hai xu hướng trái ngược song song tồntại song biểu hiện của chúng không còn rạch ròi theo từng giai đoạn mà đan cài trong thời gian vàkhông gian Văn hóa Đại Nam được chuẩn bị từ thời các chúa Nguyễn và kéo dài hết thời Phápthuộc Văn hóa Đại Nam có các đặc điểm:
Thứ nhất, từ những tiền đề mà triều đại Tây Sơn đã chuẩn bị, với sự hoàn tất của nhà Nguyễn,lần đầu tiên nước ta có được sự thống nhất về lãnh thổ và tổ chức hành chính từ Đồng Văn (CaoLạng) đến Cà Mau (Minh Hải)
Thứ hai, sau thời kỳ hỗn độn Lê-Mạc, Trịnh-Nguyễn, đến nhà Nguyễn, Nho giáo lại đượcphục hồi làm quốc giáo nhưng ngày càng suy tàn
Thứ ba, khởi đầu thời kỳ thâm nhập của văn hóa phương Tây cùng với Thiên Chúa giáo cũng
là khởi đầu thời kỳ văn hóa Đại Nam hội nhập văn hóa nhân loại Sự giao lưu đó làm biến đổi nềnvăn hóa Đại Nam về mọi phương diện, khiến lịch sử văn hóa Đại Nam lật sang trang sử mới Lối tưduy phân tích phương Tây đã bổ sung nhuần nhuyễn cho lối tư duy tổng hợp truyền thống, ý thức vềvai trò cá nhân được nâng cao bổ sung cho ý thức cộng đồng truyền thống, đô thị ngày càng đóngvai trò quan trọng trong đời sống xã hội, quá trình đô thị hóa diễn ra ngày càng nhanh hơn, cùng với
Trang 39đó là sự lớn mạnh của công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa và nhu cầu về một cuộc sống vănminh, tiện nghi hơn.
Lớp văn hóa giao lưu với phương Tây đã đem đến một sản phẩm của cuộc giao lưu mới là chữQuốc ngữ
Văn hóa hiện đại được chuẩn bị từ trong lòng văn hóa Đại Nam Sự giao lưu với văn hóaphương Tây đã thổi vào Việt Nam luồng gió với những tư tưởng mới của V.I.Lenin, K.Marx Từnhững năm 1930-1940, văn hóa Đại Nam đã bước sang giai đoạn văn hóa Việt Nam hiện đại Tuynhiên, vì văn hóa là tiếp nối, thời gian văn hóa là khái niệm mờ, một giai đoạn văn hóa ngắn nhưvăn hóa Đại Nam cũng phải bằng 2-3 thế kỷ, nên mấy chục năm của văn hóa Việt Nam hiện đạichưa cho phép tổng kết đầy đủ những đặc điểm của nó Đây là giai đoạn văn hóa đang định hình.Lối phân tích, khoa học thâm nhập từ cuối giai đoạn văn hóa Đại Nam cùng với các tư tưởng triếthọc duy vật biện chứng Marxist đã bổ sung tương đối nhuần nhuyễn cho lối tư duy tổng hợp truyềnthống
Câu 84 Triết lý Âm Dương: bản chất và khái niệm
Trong cuộc sống, dân tộc nào cũng va chạm với những cặp đối lập đực-cái, nóng-lạnh,cao-thấp, … Mối quan tâm số một của cư dân nông nghiệp là sự sinh sôi nảy nở của hoa màu và conngười, họ luôn mong sao cho mùa màng bội thu và gia đình đông đúc Không những thế, cư dânnông nghiệp còn luôn mong sao cho mùa màng bội thu và gia đình đông đúc, luôn quan tâm đến sựsinh sôi nảy nở của hoa màu và con người với hai cặp đối lập mẹ-cha, đất-trời Đối với cư dân nôngnghiệp lúa nước, điều này bội phần quan trọng Vì nghề lúa nước mang tính thời vụ rất cao, cần rấtnhiều sức người Thời xưa, đất rộng, thêm người thêm việc, tăng thu hoạch, chưa phải lo thiếu ăn,nên dân gian có triết lý Trời sinh voi sinh cỏ Mặt khác, cư dân nông nghiệp sống định cư, việc sinh
đẻ không ảnh hưởng đến cuộc sống và sinh hoạt của cộng đồng Ngược lại, cư dân du mục để coisóc một đàn gia súc cần những người khỏe mạnh, nhanh nhẹn, không cần sinh đẻ đông đúc gâykhông ít khó khăn cho việc di chuyển của bộ lạc Người ta cũng dần nhận ra hai hình thái sinh sảnnày có cùng một bản chất Đất được đồng nhất với mẹ, trời được đồng nhất với cha Việc hợp nhấtcủa hai cặp mẹ-cha và đất-trời chính là sự khái quát hóa đầu tiên trên con đường dẫn tới triết lý âmdương Từ Yang (dương) trong tiếng Hoa được mượn từ yang, yak, srang, giàng … của tiếng ĐôngNam Á cổ đại (nghĩa là thần), còn yin (âm) được mượn từ yna, yana, yanna, iana, … (nghĩa là mẹ)của tiếng Đông Nam Á cổ đại Cư dân nông nghiệp Austroasiatique không chỉ hội tủ đủ ý niệm vàước mơ về hai quá trình sinh sản với các đối lập mẹ-cha, đất-trời mà còn thường xuyên tiếp xúc vớinhững cặp đối lập khác như úng-hạn, nắng-mưa, nước-lửa, … Bản thân cây lúa là một loại thực vật
Trang 40đặc biệt: gốc ngâm trong đất (âm), ngọn tắm trong nắng (dương), đến độ nở bông thì hoa chỉ baymàu vào giờ ngọ (dương) và giờ tý (âm), hấp thụ đủ khí âm dương của đất-trời mà biến thành hạtlúa Vào thời xa xưa, Âm dương là những từ có ý nghĩa rất cụ thể Ý nghĩa ban đầu của chúngkhông gì khác là mẹ-cha, đất-trời Chính từ quan niệm âm dương với hai cặp đối lập gốc là mẹ-cha,đất-trời, người xưa đã dần suy ra vô số những cặp đối lập phổ biến khác Những cặp này lại trởthành cơ sở để suy ra hàng loạt những đối lập mới Tiếp thêm một bước, tổ tiên cư dânAustroasiatique đã từ những cặp đối lập âm dương đã biết tiến tới xác định được bản chất âm dươngcủa những đối lập khá trừu tượng Chẳng hạn, từ cặp lạnh-nóng, có thể suy ra: về phương hướng,phương Bắc lạnh nên thuộc âm, phương Nam nóng nên thuộc dương; về thời tiết, mùa đông lạnhthuộc âm, mùa hè nóng thuộc dương; về thời gian, ban đêm lạnh nên thuộc âm, ban ngày nóng nênthuộc dương Tiếp tục, đêm tối nên màu đen thuộc âm, ngày nắng nên màu đỏ thuộc dương Từ cặpmẹ-cha có thể suy ra: vì giống cái có tiềm năng mang thai và sau khi sinh con thì con gắn bó với mẹnên về loại số tuy một mà hai, âm ứng với số chẵn, giống đực không có khả năng ấy nên dương ứngvới số lẻ, bởi vậy thời xa xưa khi chưa có chữ viết, tổ tiên cư dân Austroasiatique đã dùng hai vạchngắn để ký hiệu cho âm, một vạch dài để ký hiệu cho dương Cách ký hiệu này sau được dùng trongbát quái Muốn phân biệt tre cái tre đực xem cành đầu tiên trên gốc: nếu có 2 cành là tre cái, còn 1cành là tre đực Về hình khối, khối vuông ổn định, vững chãi, tĩnh nên thuộc về âm, còn khối cầu dễchuyển động nên thuộc về dương Ngoài ra, Tỉ lệ giữa cạnh và chu vi của hình vuông là 1:4, số 4thuộc về âm, tỉ lệ giữa đường kính và chu vi hình tròn là 1:3 - số 3 thuộc về dương Vì vậy ngườiViệt ưa dùng biểu tượng vuông-tròn.
Âm Dương gia là trường phái tư tưởng ra đời vào thời Chiến Quốc Trường phái này dựa vàothuyết Âm Dương Ngũ hành để giải thích sự biến hóa trong giới tự nhiên và sự phát triển của xã hội
Để giải thích sự biến đổi của sự vật, phái Âm Dương gia nêu ra quy luật về mối quan hệ tương sinhtương thắng của Ngũ hành Tương sinh cụ thể là mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinhthủy, thủy sinh mộc Tương thắng là chống nhau, cụ thể là mộc thắng thổ, thổ thắng thủy, thủythắng hỏa, hỏa thắng kim, kim thắng mộc Ngũ hành lại ứng với nhiều thứ khác như bốn mùa, bốnphương, ngũ sắc, ngũ vị, ngũ tạng, ngũ âm, thập can, ví dụ:
Mộc: mùa xuân, phương Đông, màu xanh, vị chua
Hỏa: mùa hạ, phương Nam, màu đỏ, vị đắng
Thổ: giữa mùa hè-thu, phương trung tâm, màu vàng, vị ngọt
Kim: mùa thu, phương Tây, màu trắng, vị cay
Thủy: mùa đông, phương Bắc, màu đen, vị mặn