1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Di s n van hoa c a m t ngu i ch chua xac dinh

43 7 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Di Sản Văn Hóa Của Một Người Cha “Trở Nên Việt Nam Với Người Việt Nam”
Tác giả Phanxicụ Xaviờ Nguyễn Văn Thuận
Trường học Không rõ trường đại học (không có thông tin cụ thể)
Chuyên ngành Văn Hóa Việt Nam
Thể loại Báo cáo, tổng hợp
Năm xuất bản 1990
Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 280,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DI S?N VAN HÓA C?A M?T NGU?I CHA DI SẢN VĂN HÓA CỦA MỘT NGƯỜI CHA “TRỞ NÊN VIỆT NAM VỚI NGƯỜI VIỆT NAM” Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, Tổng Giám Mục Những Người Lữ Khách Trên Đường Hy Vọng Spes Divi[.]

Trang 1

DI SẢN VĂN HÓA CỦA MỘT NGƯỜI CHA

“TRỞ NÊN VIỆT NAM VỚI NGƯỜI VIỆT NAM”

Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, Tổng Giám Mục: Những Người Lữ Khách Trên Đường Hy Vọng.

Spes-Divine Compassion Publications

(A Collaboration Ministry of Spes & The Sisters of The DivineCompassion)

(22 Crane Ave, White Plains, N.Y 10603 ISBN: 0-6), 1990, 15x26cm.]

0-9629104-Hòa Giang Đỗ Hữu Nghiêm

sắp đặt, tổng hợp, giới thiệu

Đó đây trong quá trình lữ thứ trần gian ở ngay trên đất nướcViệt Nam, hoa thơm cỏ lạ không thiếu Tất cả những hy sinh,khôn ngoan, thánh thiện mà người ta chứng kiến trên thế giớiđều có thể tìm thấy những mẫu mực tuyệt vời trong cuộc sốnghằng ngày ở ngay trên quê hương thân yêu Việt Nam Trên đất

mẹ hiền, không thiếu những bóng hình người mẹ gầy gò, tầntảo, một nắng hai sương, vô danh, âm thầm, không cần ai catụng, không màng lợi danh như những con thoi tham vọng, chỉvới chiếc nón lá, với chiếc áo nâu xồng đầy mùi đất lem luốc,cùng con trâu, cây cuốc trên đồng ruộng Người mẹ ấy là tất cảTình Yêu Vị Tha! Ôi, Mẹ Việt Nam!

Trước khi chết vị Hồng Y Việt Nam thân yêu của chúng ta,

Phanxicô Xaviê, đã ghi lưu nhiều tấm gương cho chúng ta soi

chung, không phải của chính ngài, mà của những bậc thánhhiền tiền bối, tổ tiên thân xác hay tinh thần của chúng ta Ngày

nay chúng ta nói nhiều về “hội nhập văn hóa” như một phong

trào Danh từ thì mới, nhưng thực ra không có gì mới mẻ khác

lạ dưới gầm trời của ánh sáng màu nhiệm Nhập Thể

Trang 2

Thực thể hội nhập văn hóa ấy đã và đang diễn ra và đượcnối tiếp thầm lặng nhưng mãnh liệt như một vết dầu loangkhông sức nào ngăn cản nổi, trong các thế hệ Kitôgiáo, từnguyên thủy cho tới nay, dưới muôn vàn màu sắc phong phú đadạng, trong lịch sử thế giới lan tỏa bắt nguồn từ cộng đồng Kitô.Tinh thần ấy đã được kết tóm gọn gàng qua Tin Mừng của Đức

Chúa Trời thể hiện trong ngôn ngữ loài người của Phaolô: “Trở Nên Tất Cả Cho Tất Cả” [“Omnia Omnibus Factus Sum”] mà

cộng đồng Công giáo tuyên xưng: “Và Ngôi Lời đã Nhập Thể”

[Et Verbum Caro Factum Est].

Hãy tìm trong kho tàng văn hóa Việt Nam trong cuộc lữ hành cùng với vị thánh hiền chung của dân tộc chúng ta, những gương sáng đáng kính yêu, nhân kỷ niệm đệ tam chu niên ngày sinh của ngài vào Cõi Chúa (16/9/2002-2005).

Nương theo tinh thần và phương pháp của sứ đồ Phaolô khi

bị giam cầm xưa kia, trong nhà tù, Đức Cha P.X Nguyễn VănThuận nhắn nhủ để chia sẻ, nâng đỡ và hướng dẫn giáo dâncủa ngài sống Tin Mừng trọn vẹn trong giây phút hiện tại Ôn lạinhững tâm tình thánh thiện để áp dụng trong mọi ngõ ngáchcủa cuộc sống Kitôhữu là một cách kỷ niệm có ý nghĩa thiếtthực nhất, tập trung vào chủ đề Lòng Mến Chúa Yêu Ngườibằng trái tim Dân Tộc Việt Nam

1 RA ĐI KHỞI ĐẦU CUỘC LỮ HÀNH

(1) Bước Qua Mình Song Thân.

Chân Phước Charles Cornay đã từ bỏ gia đình theo tiếng

Chúa gọi Một hôm trên đường truyền giáo, lúc xe lửa dừng lại

ở một ga gần làng của ngài, cha mẹ và tất cả anh chị em ngàiđều ra đó để đón thăm Vì quá thương con, cha mẹ ngài đã ngãlăn trên đường, ngăn cản không cho ngài đi tiếp Cornay canđảm bước qua mình cha mẹ mà ra đi Ngày 22.9.1837, ngài đãchịu Tử Đạo với án lăng trì tại Sơn Tây, Bắc Việt (t.10)

(2) Cha Benoît Lên Núi Phước Sơn.

Trang 3

Ra đi là một sự lột xác, hy sinh cả nếp sống cũ Ngày lễ Đức

Mẹ Lên Trời 15.8.1918, cha Benoît (Cố Thuận) cùng với một

số anh em linh mục mở một bữa tiệc gia đình cuối cùng, có đầy

đủ thịt, cá, rượu Sau bữa ăn đó, ngài từ biệt nếp sống cũ ra đicùng với một người bạn, tiến lên thẳng núi Phước Sơn, QuảngTrị, khai phá một đám rừng đang có cọp ăn mồi ở trong Đêm

ấy, hai người che lều ngủ tạm, và sáng mai bắt đầu một nếpsống mới: không ăn thịt, không uống rượu, hút thuốc, chỉ biếtlấy hy sinh hãm mình, cầu nguyện và xay lúa, giã gạo, tự lựccánh sinh Ngài đã thu hút nhiều kẻ đến sống, cầu nguyện và hysinh như ngài (t.11)

(3) Quyết Không Giả Vờ.

Thánh Micae Hồ Đình Hy (1808-1857) quê ở Nhu Lâm,

Thừa Thiên, là một giáo dân đạo đức, bác ái, một vị quan thanhliêm, chính trực, được thăng đến hàng tam phẩm, trông coi mọiviệc trong đền vua

Cuối năm 1856, một số quan triều bị ngài ngăn chặn trongviệc làm bất chính, đã tố cáo ngài với vua Tự Đức Ngài bị bắtvới một lý do duy nhất: Theo Đạo Giatô, trái lệnh triều đình.Trong chốn ngục tù, ngài bị hành hạ tra tấn quá sức, khiếnnhiều vị quan đồng nghiệp vốn đã quí mến đức độ của ngài giả

vờ chối đạo để được tha, rồi sau đó lại tiếp tục sống đạo…

Hồ Đình Hy cương quyết không giả vờ Ngày 22.5.1857,ngài đã đổ máu đào chết vì đạo Chúa tại An Hòa, Huế (t 13)

2 BỔN PHẬN LÀM NGƯỜI KITÔ

(1) Đức Cha Seitz Và Bổn Phận.

Đức Cha Phaolô Seitz (Kim) luôn hiện diện giữa giáo dân.

Vào năm 1972, khi những trận đánh giải phóng Kontum bùng nổ

ác liệt, ngài vẫn lái xe đi cứu thương dưới làn bom đạn Mộtphóng viên ngoại quốc phỏng vấn ngài trên cảnh đổ nát hoangtàn:

“Đức Cha không sợ sao?”

Trang 4

“Tôi không sợ”, ngài trả lời.

Nhưng ngẫm nghĩ một lát, ngài nói tiếp:

“Không, tôi chưa nói đúng sự thật Tôi sợ lắm chứ! Nhưng vì bổn phận, tôi sẵn sàng sống chết với giáo dân của tôi” (t.15).

(2) Bác Sĩ Longet

Bác sĩ Longet là một bác sĩ người Pháp đã từng phục vụ ở

Việt Nam cách đây mấy mươi năm và cũng nổi tiếng như bác sĩTom Dooley người Mỹ đã phục vụ ở Đông Nam Á Ông tận tụysăn sóc, yêu thương các bệnh nhân trong bệnh viện mình, bất

kể giai cấp tôn giáo, chủng tộc, ngày cũng như đêm (ông thánhhóa bổn phận) (t 17)

Được hỏi:

“Vì sao ông quý bệnh nhân đến thế?” “Vì sao ông có thể bỏ

ăn, bỏ ngủ vì bệnh nhân, xem bệnh nhân là trên hết?”

thuộc các kinh Lạy Cha, Kính Mầng, Sáng Danh đủ để lần hạt

chung với họ là những người khác quốc tịch (ông thánh hóangười khác nhờ bổn phận)

Ít lâu sau, Longet trở về lại Pháp, vào Chủng viện dâng mìnhlàm linh mục và tình nguyện sang phục vụ những người nghèokhổ nhất ở giáo phận Cần Thơ Nhưng tiếc thay, sau khi chịuchức, ông bị bệnh và qua đời trước khi tới nơi mong ước (t.18)

3 BỀN CHÍ TIẾN TỚI

Trang 5

(1) Đức Cha François Pallu

Vào thế kỷ XVII, Tòa Thánh đã phong hai vị Giám mục là Đạidiện Tông tòa đầu tiên; Đức Cha Lambert de la Motte, phụ tráchĐàng Trong kiêm Campuchia, Lào Thái Lan, và Đức Cha

François Pallu, phụ trách Đàng Ngoài, kiêm Trung Quốc, Triều

Tiên Thật là một khu vực rộng lớn không thể tưởng tượng:Dưới quyền Đức Cha F Pallu, chỉ có một ít vị thừa sai, không

có một vị linh mục Việt Nam nào, xứ sở lại đang ở trong tìnhtrạng cấm cách khốc liệt Từ Pháp, Đức Cha từ giã gia đìnhngày 3.1.1662, dùng tàu buồm vượt qua Trung Hải, rồi mentheo đường bộ một thời gian lâu dài, qua hết các nước TrungĐông, vịnh Ba Tư, Ấn Độ mới đến Thái Lan Năm 1670, trênđường đến Bắc Việt, lúc đi ngang qua Huế, thuyền của ngài bịđánh giạt vào Philippin, ngài bị người Tây Ban Nha bắt Sau batháng, lại bị đày vòng qua Thái Bình Dương, vượt cả Đại TâyDương, đến Tây Ban Nha Tuy gian khổ ê chể, nhưng tim ngàivẫn chói sáng một niềm hy vọng:

“Tôi phải (t.26) mang Phúc Âm đến tận Trung quốc.”

Vừa được trả tự do, ngài tìm mọi cách để đến Bắc Kinh, vàcuối cùng thân xác ngài được chôn vùi tại đây theo như ngườitôi trung của Chúa hằng mơ ước Một câu hỏi của ngài đángcho chúng ta ghi nhớ:

“Tôi tự cho mình hạnh phúc nếu có thể đem xương cốt mình bắc một cầu tới Bắc Việt và tới Trung quốc!” (t 27)

4 SIÊU NHIÊN THEO ÁNH SÁNG LƯƠNG TRI

“Cho tôi đĩa cá sấu! Cho tôi đĩa cá voi!”

Chủ quán luôn miện đáp:

Trang 6

“Không có! Không có!”

Thế rồi ông tự nhủ:

“Lạy Chúa, Chúa biết cho con Con đã làm hết sức, để gọi nhiều thứ cá mà chẳng có Thôi! Con đành phải gọi một tô phở thịt bò tái mà ăn trong ngày thứ sáu kiêng thịt vậy!”

Cầu nguyện xong, ông ta thi hành liền “theo đúng sự dàn xếp của lương tâm” (t 47)

5 HY SINH ĐẾN TẬN CÙNG

(1) Hy Sinh Để Cám Ơn Chúa.

Hôm đó, trên chuyến bay từ Ý qua Mỹ, mang theo một số

Giám mục mới đi dự Công đồng Vatican II về, (t 63), có một cô chiêu đãi viên rất đẹp Sau chuyến bay, cô rất bực mình vì một

đôi mắt cứ nhìn chòng chọc vào cô, và đôi mắt đó không là của

ai khác hơn là Đức Cha Fulton Sheen, vị tông đồ lừng danh củanước Mỹ Khi phi cơ hạ cánh, và đợi cho các hành khách xuốnghết, vị Giám mục mới tiến đến trước mặt cô, nói nửa nghiêmtrang nửa bông đùa:

”Cô đẹp lắm! Cô hãy cảm ơn Chúa vì đã cho cô đẹp!”

Vài hôm sau, có tiếng gõ cửa văn phòng của Đức ChaFulton Sheen, cô chiêu đãi viên hôm nọ xuất hiện Nàng vào đềliền:

“Câu nói của Đức Cha làm con suy nghĩ mãi Con phải cám

ơn Chúa thế nào?”

“Cô biết Trại Cùi Di Linh ở Việt Nam chứ?”

“Vâng! Con đọc báo có nghe đến!”

Chúa đã lấy hết sắc đẹp của những người cùi ở đó mà bancho cô Cô hãy qua bên đó mà an ủi họ

Chỉ từng ấy! Cô chiêu đải viên sau đó trút bỏ cả tương laihuy hoàng, khoác bộ áo nữ tu, và sau một thời gian tập sự học

Trang 7

hỏi, đã tình nguyện sang Việt Nam phục vụ, ngay giữa những người cùi Di Linh, để cám ơn Chúa vì đã ban cho mình sắc đẹp (t.64)

5 ĐỨC TIN ANH DŨNG CỦA TỔ TIÊN

(1) Đức Tin Tiên Tổ.

Suốt ba thế kỷ liền, kể từ năm 1533, Phúc Âm của Chúa đếnViệt Nam cùng với Thánh giá Chúa Biết bao tín hữu Chúa bịlưu đầy, bị chiếm đoạt tài sản, lẩn lút trong rừng sâu nước độc,cam chịu mọi đau khổ để trung thành với đức tin Cho đến cuốithế kỷ XIX, ta có thể tính được trên 130.000 đấng thuộc mọithành phần đã được diễm phúc Tử Đạo Trong số đó có 117 vị

đã được các Đức Giáo Hoàng Lêô XIII, Piô X và Đức Piô XIIphong lên bậc Chân phước Và ngày 19.6.1988 Đức GiáoHoàng Gion-Phaolô II đẽ tôn phong các ngài lên bậc Hiểnthánh Chúng ta có thể chia ra như sau:

Trang 8

Giáo Hội Việt Nam ta nghèo nàn không sánh được với cácGiáo hội Âu Mỹ, nhưng chúng ta cũng hãnh diện về lòng trungthành sắt son với Đạo Chúa của Tổ tiên ta: Ba thế kỷ bắt bớ, tù

đày và trên 130.000 Đấng Tử Đạo.(t 112)

(2) Gương Sống Đạo Của Tiền Nhân Chúng Ta.

Trên đây cha đã nhắc sơ đến sự hy sinh vỉ đức tin của ông

bà tổ tiên chúng ta, nói đến số lượng và thành phần của các

thánh Tử Đạo Nay mô tả chi tiết các hình khổ đã dành cho các

ngài Như nào là có những giáo xứ (ở Quảng Trị) bị lính lùa vàonhà thờ, rồi chất rơm chung quanh đốt cháy tất cả Nào là cảNhà Dòng Mến Thánh Giá Phan Rang bị vứt xuống giếng và lấpđất chôn sống đi Nào là có những thiếu nữ Công giáo non yếu

bị đưa về Huế phạt gia hiệu, phơi nắng ngày này sang ngàykhác, rồi chặt một ngón tay trước khi đánh đập và tha về Nào làgương 12 vị Chánh trương, Trùm trưởng khắp nơi bị (t.116) đưa

về Huế, giam trên Thành Lồi (bức thành người Chàm xưa đắplên để đánh với người Việt Nam, xa thị xã độ 10 cây số) Cácông phải bứt cỏ nuôi voi cho nhà vua cho đến khi chết dần chếtmòn tất cả; nay 12 ngôi mộ của các ông vẫn còn nguyên vẹndưới chân thành ấy

Và sau đây, cha xin ghi lại vắn tắt gương sống của một vài vị

để soi chiếu cho chúng ta:

Thánh Micae Hồ Đình Hy, ngài làm quan Thái Bộc tới hàm

tam phẩm và đã chịu trảm quyết thời Tự Đức tại Huế ngày22.5.1857

Thánh Phaolô Tống Viết Bường, chức Thị vệ Đã chịu trảm

quyết ngay trước cổng nhà người con gái ngài, ngày23.10.1833, tại Huế, triều vua Minh Mạng

Thánh Phanxicô Trần Văn Trung, Cai Đội Đã chịu trảm

quyết tại Huế ngày 6.10.1858, dưới triều vua Tự Đức

Thánh Giuse Lê Đăng Thị Cũng là Cai đội Chịu xử giảo tại

Huế ngày 24.10.1860, dưới triều vua Tự Đức

Trang 9

Thánh Micae Nguyễn Huy Mỹ, một lý trưởng gương mấu

liêm khiết Ngài bị xử trảm tại Nam Định, ngày 12.8.1838

Các vị này là những công dân tận tụy với chức vụ, trung thành với Tổ quốc và nhân dân, nhưng chỉ vì không bỏ đạo

mà phải chịu án tử hình (t 117)

Những người giáo dân lãnh trách nhiệm tông đồ trong hội

đồng giáo xứ như:

Thánh Giuse Nguyễn Văn Lựu trùm họ Mặc Bắc Ngài đã

giúp đỡ giấu ẩn cha Thánh Philipphê Minh trong nhà, nêm bịbắt, giải về Vĩnh Long Vì già yếu và với lại chịu lám khổ hình,ngài đã chết rũ tù ngày 2.5.1854

Thánh Antôn Nguyễn Hữu Quỳnh, trùm xứ và thầy thuốc.

Ngài đã bị giam cùng với Đức Cha Cao, cha Điểm, cha Khoa,thầy Phêrô Từ và đã chịu tử hình ngày 10.7.1840, tại Đồng Hới

Thánh Anrê Nguyễn Kim Thông, trùm cả Bình Định, một

trợ tá Đắc Lực của Đức Cha và hàng giáo sĩ Ngài đã bị bắt vàphát lưu vào Mỹ Tho, nhưng vì quá gian khổ nên đã từ trần lúcvừa đến Mỹ Tho ngày 15.7.1855

Thánh Emmanuel Lê Văn Phụng, Câu Phủ Họ Đầu Nước,

tỉnh An Giang, rất nhiệt thành và quí mến hàng linh mục Ngài

đã bị bắt cùng với cha Đoàn Công Quý và hy sinh vì Chúa tạiChâu Đốc, ngày 31.7.1859

Thánh Antôn Nguyễn Đích, thường gọi là ông trùm Đích.

Ngài rất đạo đức, yêu người nghèo và tận tụy giúp đỡ hàng

giáo sĩ Ngài đã bị bắt cùng với con rể là Thánh Micae Lê Mỹ, vì cho linh mục Thánh Giacôbê Mai Năm trú ngụ tại nhà Cả ba

đã trung kiên đến củng và đã bị xử trảm tại Nam Định ngày12.8.1938

Thánh Mathêu Nguyễn Văn Phượng, một người nổi tiếng

đạo đức thông minh, được bầu làm trùm họ Sáo (t 118) Bùn,Quảng Bình Ngài bị bắt vì tội chứa chấp cha Thánh Gioan

Trang 10

Hoan và oa trữ đồ lễ cùng sách vở Công giáo Ngài đã bị xửtrảm ngày 26.3.1861, tại Đồng Hới cùng với cha Hoan.

Những phụ nữ Công giáo Việt Nam đã anh dũng tuyên xưng

đức tin, như:

Thánh Anê Lê Thị Thành, một bà mẹ Công giáo gương

mẫu Vì sốt sắng giúp đỡ các linh mục trong buổi cấm đạo, nên

bà đã bị bắt và chịu quá nhiều cực hình, thân thể đầy thươngtích, lại không ăn uống được, nên kiệt sức và chết rũ tù ngày12.7.1841

Những anh hùng vô danh mà từ Nam chí Bắc, ai đã sốngtrong những tháng năm đầu thế kỷ 20 này đều có thể gặp Đó làcác cụ ông, cụ bà trước đây bị bắt bớ, giam cầm, tra tấn, rồi bị

người ta rạch mặt lấy mực tàu xâm lên má hai chữ “Tả Đạo” để

dù đi đến đâu, nhân dân ai cũng nhận ra đây là những ngườittheo đạo tả; nhưng đối với giáo dân, đây là biểu tượng của đứctin kiên cường sáng chói

“Chúng ta hãy ca tụng những bậc vĩ nhân, những bậc tiền bối của chúng ta” (Giảng viên 44, 3) (t 119)

6 TÔNG ĐỒ TRONG MỌI TÌNH HUỐNG

câu nói của cụ: “Tôi không ham giàu gì; kiếm được đủ ăn và lo

“hầu Chúa”hằng ngày là tôi sung sướng thỏa mãn!”

Cụ hân hoan về sứ mạng Chúa Kitô trao cho cụ và đã lợidụng nghề hớt tóc của mình để triệt để thi hành sứ mạng ấy (t.124)

(2) Cha Gánh Nước Thuê.

Trang 11

Thời Tự Đức cấm đạo gắt gao, có một linh mục tên “cụ Thanh” cải trang đi gánh nước thuê tại chợ Đông Ba, Huế Ban

ngày làm việc lam lũ, tối về trú ngụ nhà bà Tham, thuộc xứ GiaHội Nhờ gánh nước thuê mà cụ Thanh tiếp xúc được với nhiềugiáo dân, cho họ chịu các phép Bí tích, giải tội cho các tín hữu

bị giam ở khám đường, nhất lá cho (t 124) nhưng ai sắp rapháp trường lãnh phúc Tử Đạo Cụ thường trà trộn trong dânchúng, làm dấu sao đó để các giáo hữu nhận ra mình

Lúc linh mục Đặng Đức Tuấn bị bắt đưa ra Huế để xử, ngàiđược tự do tạm một thời gian để làm bản điều trần nổi tiếng vềđạo Công giáo Trong những tháng ngày ấy, thỉnh thoảng ngàighé thăm nhà bà Tham ở Gia Hội Trong nhà bà có tên đầy tớhầu hạ cơm nước rất lễ phép, kính cẩn Sau đôi ba lần thămviếng, cha Đặng Đức Tuấn để ý suy nghĩ:

“Anh này sao thấy có vẻ quen quen”.

Một hôm đang nồi ở bàn ăn, cha Tuấn đam đăm nhìn vàomắt tên đầy tớ ớ gốc phòng, rồi bạo dạn hỏi:

“Phải mày không Thanh?”

“Thưa phải!”

“Trời đất! Vậy mà bao nhiêu tháng nay tao nhìn không ra!”

Nói đoạn cha Tuấn ôm choàng lấy cụ Thanh, nước mắt chảyròng ròng… Thì ra hai anh em đã học cùng nhau một trường ởPenang (Malaysia), sau bao nhiêu năm dài xa cách giờ đây mớigặp nhau lại!

Cụ Thanh vẫn tiếp tục nghề gánh nước thuê như cũ … Chođến một hôm, sắc tha đạo được triều đính ban bố, Đức ChaBình (Sohier) bấy giờ mới ra mắt công khai và chọn ngày làm lễ

tạ ơn trọng thể tại Kim Long, nơi có Tòa Giám Mục Giáo dânkhắp nơi tựu về mừng lễ thật đông đảo Cả những vị quan trongtriều và người bên lương ở Kinh đô cũng đến xem Trong lễ háttrọng thể ấy, vị chủ tế không phải là Đức Cha Bình mà là … Cụ

Trang 12

Thanh Giáo dân xôn xao, người bên lương thì ngạc nhiên khenngợi và trầm trồ bảo:

“Ngỡ là ai, hóa (t.125) ra cụ Thanh gán nước tuê ở chơ Đông Ba Không ngờ ông ta giữ chức vụ to đến thế Ông ca La tinh thật hay mà cả ông Tây cũng phải quỳ chầu nữa…”

Cụ Thanh đã tìm ra phương pháp tông đồ cho thời đại mìnhdưới ánh sánh soi dẫn của Chúa Thánh Linh (t.126)

(3) Tre Tàn, Măng Mọc.

Thánh Gioan Đoàn Trinh Hoan sinh năm 1798 tại Kim

Long, tỉnh Thừa Thiên Ngài là một linh mục thánh thiện gươngmẫu, đã can đảm hy sinh vì Chúa tại Đồng Hới ngày 26.5.1861.Mặc dù thời buổi cấm cách ngặt (t.130) nghèo, ngài không quênnhiệm vụ to lớn và quan trọng cho tương lai là lo chuyển bóđuốc tông đồ sang tay các thế hệ trẻ Ngài đã huấn luyện được

12 người con làm linh mục Vì thế, tuy máu ngài đã đổ ra vìChúa, 12 người con ấy vẫn tiếp tục sứ mạng anh dũng của ngài

cho đến ngày tàn của cuộc đời Và họ cụ thể, “tre tàn măng mọc”, lớp này ngã xuống, lớp khác đứng lên! (t.131)

(4) Cha Của Người Cùi (t 133)

Sau 15 năm làm Giám mục địa phận Sàigòn, Đức ChaGioan Cassaigne đã tình nguyện về sống giữa những bệnhnhân cùi thân yêu ở Di Linh, trong một ngôi nhà gỗ nhỏ hẹp.Tuy không giữ một địa vị nào trước mặt xã hội, nhưng ngài thật

là một chứng nhân tình yêu Thiên Chúa, một con người của bác

ái vị tha Mười tám năm trời ngài sống trong thinh lặng giữarừng núi thâm u, với những bệnh nhân quê mùa chất phác,không mấy ai biết rõ, nhưng khi quả tim của vị anh hùng ấyngừng đập, thì quả tim của của dân Việt cũng như của toàn thểthế giới đều rung cảm lên Ai nấy đều cảm phục tấm gươngchứng nhân anh dũng của ngài (t.134)

7 THANH BẦN, MỘT MỐI PHÚC THẬT

(1) Linh Mục “Ba Xu”.

Trang 13

Cách đây 40 năm, có một cha Việt Nam sống rất nghèo khó

và đạo đức Đặc biệt với số tiền tiết kiệm từng xu năm này sangnăm khác, ngài đã cùng hai người thợ dần dân xây xong mộtngôi nhà trang an, sáng sủa

Mỗi ngày ngài ăn hai bữa, mỗi bữa ba xu va tự nấu ăn lấy:một xu gạo, một xu mắm tôm và một xu tráng miệng bằng mộtmẩu bánh hình ông Phật mà dân địa phương vẫn gọi là bánh

“Tam ích” Lúc nào cũng có người dâng cúng dư tiền mua vật

liệu thì công việc tiến hành mạnh hơn, đến lúc sạch túi thì tạmđình chỉ Tiền bổng lễ mỗi ngày mấy hào ngài cũng dành để trảcông thợ

Lúc mới khởi công ai cũng nói:

“Biết bao giờ mới xong được!”.

Đến ngày khánh thành, mọi người đều hoan hỉ, cảm phục vàtặng cho vị linh mục một biệt hiệu đơn sơ nhưng nói lên tất cả

lòng thương mến biết ơn: “Cha Ba Xu” Vì quá lao lực và cam khổ, chỉ vài năm sau, “Cha Ba (169) Xu” qua đời giữa sự

thương tiếc của mọi người Trước lúc nhắm mắt lìa trần, ngàinói:

“Tôi sung sướng vì đã hy sinh tất cả để làm việc Chúa, tử lao bất tử lao”.

Ngày, ngôi thánh đường vẫn còn sừng sững trước mặt mọingười như tấm gương phản chiếu đức thanh bần và hồn tông

đồ sáng chói của vị linh mục (t 170)

8 TRONG TRẮNG ĐỂ XỨNG ĐÁNG GẦN CHÚA

(1) Lời Cầu Nguyện Của Một Linh Mục

Cha Michel Quoist là một linh mục thánh thiện đã viết rất

nhiều sách báo giúp các linh hồn, trong số đó có cuốn “Prières”

mà lắm người quen thuộc Riêng trong bản Pháp ngữ, tác phẩm

ấy đã in tới 350.000 cuốn Gần đây, nó đã được dịch sang Việt

ngữ dưới một nhan đề rất thi vị “Lời Kinh Thắp Sáng Cuộc Đời”:

Trang 14

Bài “Lời Cầu Nguyện Của Một Linh Mục Chiều Chúa Nhật”

trong tác phẩm ấy nói lên tất cả tâm hồn ngài, tâm hồn nhiềuanh em linh mục, với sự yếu đuối lẫn sự cao cả của một cuốcđời hiến dâng Có thể nói đây là lời kinh diễn tả một cuộc đấutranh, một đời quyết chiến:

“Lạy Chúa, chiều nay một mình trơ trụi Những tiếng đồng

hồ trong nhà thờ lịm tắt dần Những ngưòi đi chấu đi lễ đã rahết cả rồi Và con cũng lủi thủi trở về nhà xứ, một thân mộtbóng

“Con đã gặp những kẻ đi dạo chơi về Con đã đi ngang qua rạp hát vùa lúc đám đông đổ xô ra Con đi dọc thềm các quán càphê ở đó có nhiều người đi dạo, dáng vẻ đã mệt mỏi, đang ngượng ngạo kéo dài cuộc vui của ngày Chúa Nhật Con đụng phải những đứa trẻ đang (t 181) đi chơi trên vỉa hè Những đứa trẻ, lạy Chúa, những đứa trẻ của người khác, chứ không bao giờ là của con.

“Lạy Chúa, này con đây Một bóng một thân Yên lặng làm con ngạt thở Cô đơn làm con bực nhọc Lạy Chúa, năm nay con được 35 tuổi… với một thân thể như bao người khác, với những bàn tay chắc chắn để làm việc, với một quả tim được dành để yêu đương Nhưng con đã hiến dâng tất cả cho Chúa,

vì thật ra Chúa đang cần những cái đó Con đã hiến dâng tất cả cho Chúa Nhưng Chúa ơi, dâng như vậy thật là đau khổ.

“Thật là đau khổ, khi con phải dâng thân xác cho Chúa: vì thân xác đó cũng tận hiến cho một người khác.

Thật là đau khổ, khi con phải yêu mọi người mà không được giữ lại riêng ai.

Thật là đau khổ, khi con bắt một bàn tay mà không được muốn cầm giữ lại.

Thật là đau khổ, khi con vừa gây được một tình cảm, đã phải vội dâng cho Chúa.

Trang 15

Thật là đau khổ, khi con không cho mình chút nào, mà phải hoàn toàn sống cho tha nhân.

Thật là đau khổ, khi con phải sống như những người khác, giữa những người khác, mà phải là một người khác.

Thật là đau khổ, khi con phải luôn luôn ban phát mà không được tìm cách nhận lãnh.

Thật là đau khổ, khi con phải đến với những người khác mà chẳng hề có một kẻ tìm đến với con.

Thật là đau khổ, khi con phải đớn đau vì tội lỗi của tha nhân, nhưng lại không có quyền từ chối nhận lãnh và gang chịu chung.

Thật là đau khổ, khi con biết những kín nhiệm mà không được thổ lộ chi ai.

Thật là đau khổ, khi suốt đời con phải luôn luôn lôi kéo tha nhân mà không để một ai kéo lôi, dù chỉ trong chốc lát.

Thật (t.182) là đau khổ, khi con phải luôn ra tay nâng đỡ những người yếu đuối, còn chính mình lại không thể nương tựa một kẻ mạnh hơn.

Thật là đau khổ, vì phải cô đơn, cô đơn trước mọi người, trước cái chết, trước tội lỗi.

“Này con, con không cô đơn Ta đang ở với con Vì ta cần một nhân tình thứ hai để tiếp tục màu nhiệm Nhập Thể

và Cứu Chuộc Từ muôn thuở, ta đã chọn con Ta cần đến con.

“Ta cần đến con, đề tiếp tục chúc phúc Ta cần đến môi con, để tiếp tục rao giảng Ta cần đến thân con, để tiếp tục đau khổ Ta cần đến tim con, để tiếp tục yêu thươg Ta cần đển con, để tiếp tục cứu độ Con ơi, hãy ở lại với Ta.

“Lạy Chúa, này con đây Này thân xác con đây Này trái tim

con đây Này linh hồn con đây.

Trang 16

“Xin cho con được cao thượng đủ, để vượt lên khỏi thế gian Xin cho con được mạnh mẽ đủ, để nâng đỡ thế gian.

Xin cho con trong sạch đủ, để ôm ấp thế gian vào lòng mà không hề muốn giữ lại nó.

Xin cho con trở nên một nơi gặp gỡ tạm thời thôi.

Xin cho con trở nên một con đường không dừng lại ở bản thân, bởi vì nó có thể tiếp nhận một ai, chỉ là để dẫn đưa họ về cùng Chúa.”

“Lạy Chúa, chiều nay, khi vạn vật đều im tiếng và khi trái tim con cảm thấy đau nhói vì cô quạnh Khi ai nấy đang ngấu nghiến tâm hồn con, mà con lại bất lực không thể làm họ thỏa mãn Khi bao nhiêu khốn nạn về (t 183) tội lỗi của thế gian là cả một khối nặng đang đè trên vai con Thì con nói lại với Chúa tiếng “Xin Vâng”, không phải một trong tiếng cười vang, như là chầm chậm khiêm tốn, sáng suốt, một mình trước mặt Chúa, giữa cảnh chiều tà êm ả”.

(2) Vấn Đề Độc Thân Của Các Linh Mục.

Nhiều lần chúng tôi đã nghe đề cập đến vấn đề sống độcthân của các linh mục Đối với giáo dân Việt Nam và đại đa sốgiáo dân trên thế giới, thì đó là điều được mọi người tự nhiênchấp nhận và đòi hỏi: Người tận hiến cho Chúa, thì phải dângtất cả cuộc đời để làm chứng tình yêu vô hạn của Chúa, và để

đủ điều kiện phục vụ dân Chúa cách tích cực, hữu hiệu hơn.Trước tiên cần xác định như sau: Sống độc thân không chỉ

là một giá trị thuần siêu nhiên, mà cả trong địa hạt nhân bảnnữa Người sống độc thân không trực tiếp nhằm đến việc từchối hôn nhân, nhưng coi độc thân là điều kiện để qui hướngcon tim về một đích điểm khác hẳn một thiếu nữ, tức là NướcThiên Chúa Họ tìm thực (t 185) hiện bản ngã, và điều ấy làm

họ sung sướng, thỏaq mãn con tim trong Chúa Kitô Một thái độrất “người” với một nguyên do siêu việt! Khi nói rằng đời độcthân thánh hiến là dấu chỉ cuộc sống vĩnh cửu, điều ấy không

Trang 17

ám chỉ một sự trốn thoát cuộc sống hiện tại Vì cuộc sống vĩnhcửu, chính là Nước Thiên Chúa, là sự hiện diện của hồng ânThiên Chúa ngay trong đời sống hiện tại, một sự hiện diện thúcđẩy con người mong ước hiến trọn tính yêu.

Độc thân và hôn nhân là hai tiếng gọi, hai ngả đường khácnahu để thực hiện lời mời gọi của Chúa Kitô:

“Hãy nên hoàn hảo như Cha các con ở trên trời là Đấng hoàn hảo.”

Nhưng sở dĩ truyền thống vẫn cho bậc độc thân thánh hiến

là cao trổi hơn bậc sống đôi bạn, vì là truyền thống không xétđến phương diện cá nhân: mỗi người đều hoàn hảo nếu thihành trọn vẹn thánh ý Chúa Kitô, nhưng xét đến bỉnh diện thựchiện cuộc sống vĩnh cửu giá trị hơn cuộc sống trần gian rấtmực Do đó sứ mạng của đời sống độc thân là ôm trọn đời sốngvĩnh cửu và đem tỏ lộ cho trần gian

Đời sống độc thân có ý nghĩa là sứ mệnh tuyệt vời như thế,nhưng không thiếu những tranh luận, chống đối xảy ra tronglòng Hội Thánh, nhất là trong thời đại hậu Công đồng Vatican II

và sau ngày Thông điệp “Sacerdotalis Coelibatus” của ĐứcPhaolô VI (24.6.1967) ra mắt Nhiều linh mục đã bỏ ra đi Nhiềugiáo dân lên tiếng đề nghị:

“Cứ làm như bên giáo hội Tin Lành và giáo hội Chính Thống: chấp nhận cho Mục sư và (t.186) linh mục của họ được tự do sống độc thân hay lập gia đình Như thế có phải là đơn giản hơn không!”

Thay vì tranh luận với kiểu luận lý sơ sài như trên, ta hãynghe đôi lời tâm sự của các bậc có uy tín trong vấn đề độc thânnói lên kinh nghiệm của họ

Mục sư Jungmann nói:

“Quí vị đừng có chỉ nghĩ Giáo hội Công giáo của quí vị gặp khủng hoảng Bên Tin lành chúng tôi còn gặp khủng hoảng hơn bên quí vị rất nhiều!”

Trang 18

Trong một cuộc họp mặt giữa các linh mục Công giáo và cácMục sư Tin lành, một Mục sư đã nói cảm tưởng của mình vềđời sống độc thân như sau:

“Tôi bắt đầu hiểu giá trị đời sống độc thân trong Giáo hội Công giáo Tôi cảm thấy các cha là anh em với nhau và tạo nên một gia đình thực sự Chúng tôi không thể nói như thế đối với chúng tôi… Nếu một mục sư nào đó thành công, tôi không sung sướng gì; nếu một Mục sư nào đó đau khổ, tôi không đau khổ với họ… Giữa chúng tôi không có bàu không khí gia đình, họa chăng chỉ có giữa vợ chồng chúng tôi thôi!”

Dịp Thượng Hội Đồng Giám Mục năm 1971, trong đó haivấn đề chính là thừa tác vụ của linh mục và công bình trên thếgiới, Đức Tổng Giám Mục Công giáo ở Beyrouth (Liban) đã tâm

sự những lời sau đây:

“Các Đức Cha hãy cố giữ lấy kho tàng quí báu của Giáo hội

La Mã, từc là luật độc thân linh mục Tôi đã có nhiều kinh nghiệm trong vấn đề này, vì giáo phận tôi, giáo phận theo nghi thức Đông phương, có những linh mục độc thân và những linh mục lập gia đình Lắm vấn đề phức tạp mà quí vị không thể tưởng tượng được!” (t 187)

Các giáo phận Công giáo chúng tôi, cũng như bên Chínhthống, luôn luôn ở Toà Giám mục mấy cha độc thân để dựphòng sau này làm Giám mục kế vị chúng tôi, vì Giáo luật đòibuộc các Giám mục phải độc thân, không có gia đình

Lại còn phức tạp do luật buộc linh mục chỉ được kết hôn mộtlần trước khi chịu chức thánh, có những trường hợp linh mụcmới 30 tuổi, 35 tuổi mà đã góa vợ, tay bồng tay bế, lũ con nheonhóc, không ai nuôi dưỡng Thực là nan giải!

Đối với các giáo phận có một linh mục qua đời để lại một giađình neo đơn, con thơ vợ dại thì thực là một gánh nặng tàichánh rắc rối Bên Giáo hội Latinh, một linh mục chết rồi chẳngphải giải quyết gì cho gia đình cả!

Trang 19

Trong lãnh vực mục vụ càng phức tạp hơn: mặc dù tập quánlinh mục đã có từ xưa truyền lại, giáo dân vẫn quí mến linh mụcđộc thân hơn: các ngài có thể ở xa hoặc đi đến đâu, họ cũngtìm cách gặp gở để xin lễ, xưng tội.

Linh mục có gia đình chỉ phục vụ trọn vẹn trong ngày Chúanhật, còn những ngày khác thì đi làm ăn để chu cấp cho giađình Như thế làm sao mà tiếp xúc được với đồng đạo giáodân? Thuyên chuyển một linh mục có gia đình thật là một vấn

đề khó khăn Được lệnh ông sẽ bảo:

“Con sẵn sàng đi, nhưng nhà con đang mắc làm việc ở công

sở kia, các cháu lại còn đang theo học ở trường nọ, gia đình con không nhất trí đến địa phương ấy!”

Lắm lúc vị linh mục ấy thì tốt, nhưng bà vợ hoặc con cáichưa nói là xấu, chỉ nói là (t.188) giáo dân không có thiện cảm,thì cũng đủ để họ ghét luôn ông linh mục, rồi dần xa việc đạo;trường hợp xảy ra sự thù hằn thì họ mất đức tin luôn! Mà nếuthuyên chuyển vị linh mục ấy không được, thí cha truyền connối, tiếp tục giữ nhà xứ phải chịu sự áp bức của một gia đình,nên đời sống đạo hạnh sa sút không thể tưởng (t 189)

9 GIA ĐÌNH CHUNG THỦY, MÔI TRƯỜNG SỐNG THÁNH (1) Bà Mẹ Can Trường

Ngày 17.9.1798, thời vua Cảnh Thịnh, Tây Sơn, một ngườianh hùng xứ Huế gục ngã: Thánh Emmanuel Nguyễn VănTriệu Pháp trưởng in vết máu đỏ của ngài Trước đó, trênquãng đường từ khám đường đến nơi hành quyết, người tathấy một bà cụ già đi bên cạnh (t 192) phạm nhân để an ủi,động viên, khích lệ con can trường chết vì đạo Chúa

Khi lý hình vừa hoàn tất phận sự: đầu của Emmanuel Triệuvừa rụng xuống, thì giáo dân nhất loạt ùa ra lấy bông và vảithấm máu của ngài Bà mẹ của ngài tiến thẳng đến trước mặtquan:

“Bẩm quan, khi con tôi còn sống thì thuộc quyền của quan, nay con tôi đã chết, xin quan cho tôi được lĩnh xác mang về

Trang 20

chôn cất, hay ít nữa được chiếc đầu.”

Quan truyền binh lính mang ngay chiếc đầu phạm nhân cho

bà Bà mẹ già bình tĩnh lấy vạt áo trước bọc đầu con lại, ôm siếtvào ngực, giữa đôi bàn tay xương xẩu và đi bộ trên 10 cây số

để trở về nhà (t.193)

10 HỌC MÃI, HỌC SUỐT ĐỜI LÀ KHIÊM TỐN

(1) Cha Đẻ Tiếng Việt.

Không người Việt Nam chính hiệu nào mà lại không biết đếntên cha Đắc Lộ, một giáo sĩ người Pháp mà danh tính gắn liềnvới chữ quốc ngữ của dân tộc (t.277) ta; nhưng thật rất ít ngườibiết trong hoàn cảnh nào ngài đã làm nên một công trình vĩ đạinhư thế

Ở đây, thiết tưởng ta nên nhắc lại những lời nói đầu tiênngài ngỏ với dân bản xứ khi tàu vừa cập bến Cửa Bạng ngày19.3.1627:

“Đây là tàu của người Bồ Đào Nha, những người danh tiếng lừng lẫy khắp phương Đông… Hiện giờ tàu của họ có chở một thứ hạt trai tuyệt đẹp và quí giá, ai muốn mua thí cả đời được giàu có hạnh phúc muôn thuở Không nên sợ giá cao, vì chẳng

ai nghèo đến nổi không đủ tiền để mua trai ấy.”

Tổ tiên chúng ta mới khấp khởi vui mừng, xin ngài ít là choxem qua đôi ba hạt Ngài trả lời:

“Hạt trai ấy mắt xác thịt không thể xem thấy được, chỉ có trí khôn hiểu được mà thôi Hạt trai ấy chính là lề luật Thiên Chúa, một cái gì quí trọng hơn trân châu và hàng hóa Ấn Độ Chúng tôi sẵn sàng giảng luật đó cho anh chị em, nên không ngại vượt biển băng ngàn đến đây.”

Lúc đó vào thời hai chúa Trịnh Nguyễn, một thời vừa cóchiến tranh vừa có cấm cách, bắt đạo Chúa Sự đi lại vô cùngkhó khăn, nhất là đối với một ông Tây “da hồng mũi lõ”! Vì thếthường cha Đắc Lộ phải giảng dậy, làm lễ, cử hành các bí tíchban đêm Còn ban ngày, ngài di chuyển bằng cáng: hai người

Trang 21

gánh một chiếc võng, ngài nằm trong đó, lấy chiếu che lại Dạo

ấy, từ sông Gianh đến Phan Thiết chỉ có lưa thưa một vài giáo

sĩ Lắm lúc cả địa hạt rộng lớn ấy chỉ có một mình cha Đắc Lộtung hoành Ngài phải lẩn trốn nhiều vùng, phải âm thầm đi đilại lại để củng cố giáo đoàn Đàng Trong Mỗi lần ra đến Huế,ngài lại còn lo cho cả giáo dân thuộc (t.278) địa phận ĐàngNgoài nữa Các đại diện của giáo dân bên kia sống Gianh vàogặp ngài, chịu các phép bí tích, nhận chỉ thị để rồi trở về củng

cố cuộc sống đức tin của các giáo hữu vắng bóng chủ chăn.Khắp Đàng Trong, không chỗ nào mà không in dấu cha Đắc

Lộ Ba lần ngài bị phát giác phải đuổi về Macao, và mỗi lần nhưthế, đợi bàu khí hơi hơi lắng dịu ngài lại sắm sửa lễ vật sangdâng cho Chúa Nguyễn, đi theo ghe thuyền nhà buôn trở lạiViệt Nam

Không có văn phòng, quạt điện, máy điều hòa, thư viện,thiếu hẳn mọi tiện nghi tói thiểu, thế mà cha Đắc Lộ soạn thảo

thành công cuốn “Phép giảng 8 ngày cho những người muốn chịu phép Rửa Tội mà vào đạo thánh Đức Chúa Trời” và cuốn

tự điển: “Ba Thứ Tiếng Việt-Bồ-La” gồm cả văn phạm tiếng Việt,

cách dùng chữ Latinh thay cho chữ Nôm, lối phát âm… Ngài đãmang về ấn loát tại nhà in Vatican vào khoảng năm 1651, làmnền tảng cho tiếng Việt ngày nay

Dĩ nhiên, ngài đã căn cứ vào công trình của nhửng ngườitiền phong như cha Buzomi chẳng hạn Nhưng ngài đã có cônglớn trong việc tổng hợp, phân tách từ ngữ, xác định văn phạm,phát âm và đưa tất cả đến tình trạng hoàn chỉnh để phục vụ HộiThánh Ngài đã thâm tín rằng: ngôn ngữ là khí cụ thiết yếu đểđưa Tin Mừng đến cho mọi dân tộc, không phải chỉ trong chốclát mà còn cho muôn vàn thế hệ mai sau Chắc chắn phải cómột tâm hồn hiếu học, một tinh thần tông đồ nồng cháy mới cóthể kiên trì nghiên cứu, bảo quản và hoàn thành (t.279) mộtcông trình khó khăn như thế, giữa bao thử thách gian nan.(t.280)

11 PHÁT TRIỂN MUÔN MẶT, PHỤC VỤ ĐÍCH THỰC

Ngày đăng: 19/03/2023, 15:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w