Fernando Potess Bản quyền: Cục Kiểm Lâm, Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Lưu trữ tại: www.undp.org.vn/projects/parc Các quan điểm đưa ra trong báo cáo này là quan điểm của cá nh
Trang 2Báo cáo này trình Chính Phủ Việt Nam trong khuôn khổ dự án tài trợ bởi GEF và UNDP
VIE/95/G31&031 “Xây dựng Các Khu bảo tồn nhằm Bảo vệ Tài nguyên Thiên nhiên trên Cơ sở Sinh thái Cảnh quan” (PARC) Báo cáo được viêt bởi Cố vấn nghiên cứu khả thi lâm sản phi gỗ, Ninh Khac Ban, Viện tài nguyên sinh thái.
Tên công trình: Ninh Khac Ban,2000, Phân tích và phát triển thị trường: Lâm sản phi gỗ, Dự án
PARC VIE/95/G31&031, Chính Phủ Việt Nam (Cục Kiểm Lâm) /UNOPS/UNDP/IUCN, Hà Nội
Dự án tài trợ bởi: Quỹ Môi trường Toàn cầu (GEF), Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc
(UNDP) và Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn
Cơ quan chủ quản: Cục Kiểm Lâm
Cơ quan thực hiện: Văn Phòng Dịch Vụ Dự án Liên Hợp Quốc (UNOPS)
Cong ty Scott Wilson Asia-Pacific, The Environment and Development Group,
và FRR Ltd (Giám đốc hiện trường: L Fernando Potess)
Bản quyền: Cục Kiểm Lâm, Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn
Lưu trữ tại: www.undp.org.vn/projects/parc
Các quan điểm đưa ra trong báo cáo này là quan điểm của cá nhân tác giả chứ không nhất thiết là quan điểm của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc, Cục Kiểm lâm hay cơ quan chủ quản của tác giả
Đây là báo cáo nội bộ của dự án PARC, được xây dựng để phục vụ các mục tiêu của dự án Báo cáo
được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các thành phần của phương pháp tiếp cận hệ sinh thái mà
dự án sử dung Trong quá trình thực hiện dự án, một số nội dung của báo cáo có thể đã được thay đổi
so với thời điểm phiên bản này được xuất bản
ấn phẩm này được phép tái xuất bản cho mục đích giáo dục hoặc các mục đích phi thương mại khác không cần xin phép bản quyền với đIũu kiện phảI đảm bảo trích dẫn nguồn đầy đủ Nghiêm cấm tái xuất bản ấn phẩm này cho các mục đích thương mại khác mà không được sự cho phép bằng văn bản của cơ quan giữ bản quyền
Trang 3Mục lục
Lời nói đầu 3
Giới thiệu 4
Tóm tắt 5
1 Thông tin cơ bản, mục tiêu và nhiệm vụ của nhóm nghiên cứu 5 1.1 Thông tin cơ bản: 5
1.2 Mục tiêu và nhiệm vụ của nhóm nghiên cứu 6
1.3 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 6
1.4 Kế hoạch công việc (Xem phụ lục 1) 7
2 Kết quả của nghiên cứu 7 2 1 Bước 1: Xác định nhóm đối tượng 7
2.2 Bước 2: Xác định mục tiêu kinh tế của các doanh nghiệp có liên quan .8
2 3 Bước 3: Lập danh mục các nguồn lực và sản phẩm hiện tại 9
2 4 Bước 4: Xây dựng những trở ngại làm hạn chế hoạt động của hệ thống thị trường hiện nay 9
2 5 Bước 5: Loại trừ các sản phẩm không khả thi 11
2 6 Bước 6: Hỗ trợ các doanh nghiệp đề xuất phương án can thiệp .12
3 Kết luận và đề xuất 12 a Những sản phẩm có tiềm năng phát triển 12
b Các doanh nghiệp địa phương có tiềm năng để bắt đầu hoạt động 13
C Đề xuất cho những giai đoạn sau: 13
Phụ lục 14
Phụ lục 1: Lịch trình 14
Phụ lục 2: Phân tích mức sống và mong đợi 15
Phụ lục III: Bảng 5.Danh mục các sản phẩm và nguyên liệu hiện nay ở khu vực nghiên cứu 16
Phụ lục IV: Bảng 6 Lịch sản xuất và thu hoạch 17
Phụ lục V: Bảng 7 Loại trừ các sản phẩm không khả thi 17
Phụ lục VI : Bảng 8 Danh mục các sản phẩm do nông dân 2 thôn đề xuất 18
Phụ lục VII: Bảng 9 Danh sách các doanh nghiệp tiềm năng 18
Phục lục VIII: Bảng 10 Danh sách những người được phỏng vấn 19
I Thông tin cơ bản 21
1 Mục tiêu 21
2 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 21
3 Lịch làm việc (xem phụ lục 1) 22
4 Lựa chọn các sản phẩm tiềm năng,kênh tiếp thị, phương tiện quảng bá trên thị trường .22
5 Loại thông tin thu thập 22
6 Tóm tắt kết quả đối với mỗi sản phẩm 23
Trang 4Lời cảm ơn
Nghiên cứu này sẽ không thể thực hiện được nếu không có sự hỗ trợ của dự án PARC Ba Bể/Na Hang Chúng tôi xin chân thành cảm ơn ông Tony Stubbings, cố vấn phát triển kinh tế nông thôn của dự án PARC Ba Bể/Na Hang Chúng tôi cũng xin cảm ơn Ban quản lý Vườn quốc gia Ba Bể và Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang, các cơ quan có liên quan tại huyện Ba
Bể, Na Hang,tỉnh Bắc Cạn, Tuyên Quang Xin cám ơn chính quyền địa phương và những người nông dân thôn Ban Cam, xã Nam Mau và thôn Don Tao, xa Thanh Tương, những người đã chia sẻ những kinh nghiệm quý báu với chúng tôi Lời cảm ơn của chúng tôi cũng dành cho rất nhiều các tổ chức cấp quốc gia và những người kinh doanh cây thuốc ở làng Ninh Hiệp vì đã cung cấp cho chúng tôi rất nhiều thông tin có giá trị cho báo cáo này
Trang 5Lời nói đầu
'Xây dựng khu bảo tồn tài nguyên thiên nhiên bằng phương pháp sinh thái học cảnh quan' (PARC) là một dự án hợp tác giữa chính phủ Việt Nam (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) với Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) Văn phòng Dịch vụ Dự án Liên hợp quốc (UNOPS) phối hợp với Cục kiểm lâm (FPD) triển khai thực hiện Dự án được thực hiện thông qua các hợp đồng phụ với Scott Wilson Asia-Pacific Ltd., Nhóm Môi trường và Phát triển, Công ty tài nguyên và tái tạo rừng Quá trình thực hiện dự án phối hợp cán bộ chính quyền cấp tỉnh, huyện, xã, và cán bộ của khu bảo tồn, nhân dân địa phương Dự án PARC
được tài trợ bởi Quỹ môi trường toàn cầu (GEF) và UNDP/TRAC, nằm trong chiến lược bảo tồn đa dạng sinh học của Quỹ môi trường toàn cầu (GEF)
Mục tiêu của dự án PARC nhằm xây dựng một mô hình trình diễn về bảo vệ tài nguyên đa dạng sinh học phong phú ở Việt Nam thông qua bảo vệ các sinh cảnh tự nhiên Sử dụng phương pháp tiếp cận sinh thái học sinh cảnh để liên hệ các mục đích sử dụng đất trong hệ thống các vùng bảo tồn nghiêm ngặt, vùng đệm, rừng tái sinh Dự án sẽ làm giảm và xóa bỏ các nguy cơ đe dọa đa dạng sinh học thông qua kết hợp mục tiêu bảo tồn và phát triển Hai
địa điểm đã được chọn làm thử nghiệm mô hình dự án PARC Điểm thứ nhất là Vườn quốc gia Yok Don, Tây nguyên Điểm thứ hai là Vườn quốc gia Ba Bể (tỉnh Bắc cạn) và Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang (tỉnh Tuyên Quang) ở miền Bắc Việt Nam
Trọng tâm của dự án PARC là tiến hành chương trình bảo tồn và phát triển cụ thể sử dụng phương pháp tiếp cận có sự tham gia của cộng đồng và cán bộ địa phương Do đó việc tiến hành các hoạt động dự án được xem như là các công cụ để xây dựng năng lực cho cộng
đồng Đáp ứng nhu cầu tăng cường năng lực tổ chức của Vườn quốc gia Ba Bể và Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang, Dự án tập trung xây dựng năng lực kỹ thuật, quản lý và thực hiện công việểntên thực địa cho cán bộ bảo tồn Dự án cũng chú ý đến các khía cạnh lập kế hoạch, thực hiện và giám sát sinh thái, bảo tồn và các dịch vụ khuyến nông cộng đồng, bao gồm cả các hoạt động tạo thu nhập có tiềm năng Cộng đồng địa phương đóng vai trò trung tâm trong tất cả các hoạt động của dự án Vì vậy, hoạt động của dự án phải theo phương pháp tiếp cận có sự tham gia Qua đó, người dân địa phương được khuyến khích thể hiện nhu cầu, mong muốn, và những quan tâm đối với các hoạt động của dự án, do đó họ có thể tham gia lập kế hoạch và xây dựng dự án
Trang 6Giới thiệu
Đây là báo cáo về bảo tồn đa dạng sinh học của dự án PARC tại Ba Bể và Na Hang và là kết quả chuyến công tác thứ 6 của Cố vấn bảo tồn Những khuyến nghị trình bày dưới đây là những hướng dẫn cơ bản cho công tác bảo tồn quản lý tổng hợp đa dạng sinh học ở "Khu liên hợp bảo tồn Ba Bể/Na Hang" Các kế hoạch công việc, khuyến nghị, gợi ý được trình bày trong báo cáo này là những chỉ dẫn cơ bản để thực hiện các hoạt động trong khuôn khổ dự
án PARC Tuy nhiên, các chỉ dẫn cũng không thể tránh được sự điều chỉnh, thay đổi về quy mô, thời gian, và chiến lược thực hiện Những lý do dẫn đến điều chỉnh là do áp dụng phương pháp tiếp cận tổng hợp bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế-xã hội của dự án PARC, nên dự án phải cân nhắc nhiều yếu tố khác nhau để đảm bền vững cho các hoạt
động của dự án PARC, vì vậy mà một sự thay đổi về điều kiện vật lý, sinh học và kinh tế-xã hội đều ảnh hưởng đến chiến lược tổng thể thực hiện dự án PARC
Trang 7Tóm tắt
Dự án Xây dựng khu bảo tồn tài nguyên thiên nhiên quyết định sử dụng phương pháp phân tích và phát triển thị trường để xác định các hoạt động tạo thu nhập có tiềm năng từ rừng và phi nông nghiệp Mong đợi của dự án là xác định những sản phẩm và những cơ hội kinh doanh tốt ở cấp thôn để giúp người dân tạo thu nhập, nhưng không huỷ hoại tài nguyên rừng
Để đạt được mục tiêu này, dự án đã yêu cầu nhóm tư vấn về các sản phẩm lâm nghiệp phi
gỗ tiến hành 3 giai đoạn nghiên cứu và phát triển thị trường ở 2 thôn (thôn Ban Cam, xã Nam Mau, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc cạn và thôn Don Tau, xã Thanh Tương, tỉnh Tuyên Quang) từ ngày 20 tháng 1 đến ngày 2 tháng 2 và 11 tháng 2 đến ngày 28 tháng 2 năm 2000 Theo mô tả công việc, nhóm tư vấn có nhiệm vụ:
• Thảo luận với nông dân và các bên liên quan tại các thôn được lựa chọn, thu nhập số liệu về các sản phẩm phi gỗ
• Xác định các hoạt động tạo thu nhập có tiềm năng ở các thôn để phát triển thị trường ở
địa phương trong khi đảm bảo sự bền vững sinh thái
• Lựa chọn 2 hoạt động có tiềm năng tạo thu nhập nhất và ít nhất 1 nông dân hoặc 2 nhóm nông dân sẽ tham gia vào hoạt động này
• Xác định các nhu cầu nguồn lực và chi phí
• Xây dựng kế hoạch thực hiện
Kết quả nghiên cứu cho thấy:
87% tổng dân số tại 2 thôn được lựa chọn sản xuất hàng hoá bán ra thị trường: họ là đối tượng của nghiên cứu này Các cơ sở sản xuất thu mua măng tre, nấm, mây, cây thuốc ,đây
là những sản phẩm chính của những người khai thác Các doanh nghiệp tiềm năng của 2 thôn đã được xác định cho các tác động của dự án trong tương lai
Phân tích mục tiêu kinh tế của các hộ gia đình trong nhóm cho thấy, mong muốn của họ là thu nhập được tăng thêm khoảng từ 1.920.000 đồng đến 4.510.000 đồng để đáp ứng những nhu cầu cơ bản của cuộc sống Thu nhập tiền mặt từ lâm sản của các hộ gia đình ở các nhóm đối tượng là 8% (ở Ban Cam) và 4% (ở Don Tau) Có hơn 50 sản phẩm và tài nguyên
được xác định Các yếu tố quyết định ảnh hưởng đến hệ thống thị trường hiện nay của lâm sản phi gỗ cũng được đề cập đến
Việc xóa bỏ những sản phẩm không khả thi đã được tiến hành bởi những người nông dân tham gia hội thảo Các sản phẩm do nông dân đề xuất (8 sản phẩm ở Ban Cam và 9 ở Don Tàu) dựa trên kiến thức của họ về thị trường Thông tin về các phương thức tiếp thị và những yêu cầu của thị trường, giá cả thị trường cho các sản phẩm đầu vào (Ví dụ: mây tre, mật ong, cây thuốc) cũng được thu thập
Những nông dân tham gia làm nghề nuôi ong và trồng mây Các chiến lược cụ thể cho trồng mây và nuôi ong cũng được xác định dựa trên những cơ hội và sự khắc phục khó khăn Các
kế hoạch kinh doanh bền vững đối với những sản phẩm có triển vọng cũng được thiết kế để phát triển trong tương lai
1 Thông tin cơ bản, mục tiêu và nhiệm vụ của nhóm nghiên cứu
1.1 Thông tin cơ bản:
Dự án PARC được thiết kế nhằm cải thiện điều kiện sống ở thôn Ban Cam, xã Nam Mau, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Cạn và thôn Don Tau , xã Thanh Tương, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang Là một khu vực ở miền núi, thuộc địa phận Vườn quốc gia Ba Bể và Khu bảo tồn
Trang 8thiên nhiên Na Hang, với vị trí trên cao và được bao phủ bởi rừng, các địa bàn nghiên cứu vẫn không thể sản xuất đủ lương thực để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ mức tối thiểu của người dân Do khả năng tăng sản lượng lương thực bị hạn chế, để góp phần bảo tồn rừng, dự án có
ý định mở rộng các hoạt động tạo thu nhập, đặc biệt các sản phẩm phi gỗ có tiềm năng và các sản phẩm vườn gia đình, những sản phẩm sẽ cho phép mua bán lương thực được nhiều hơn
Dự án quyết định áp dụng phương pháp phân tích và phát triển thị trường để xác định các hoạt động tạo thu nhập tiềm năng bền vững từ rừng Mong đợi của dự án là tìm ra các sản phẩm và các cơ hội kinh doanh tốt ở cấp thôn, góp phần tạo ra thu nhập mà không làm hủy hoại tài nguyên rừng Để đạt được mục tiêu này, dự án đã đề nghị ông Minh Khắc Bản thực hiện giai đoạn 1 của qúa trình nghiên cứu và phát triển thị trường tại hai thôn nói trên
1.2 Mục tiêu và nhiệm vụ của nhóm nghiên cứu
Mục tiêu và nhiệm vụ chính của nhóm nghiên cứu là (xem đề cương công việc):
• Tiến hành giai đoạn 1 của quá trình nghiên cứu và phát triển thị trường tại 2 thôn (Ban Cam và Don Tau)
• áp dụng phương pháp phân tích và nghiên cứu thị trường theo những mục tiêu cụ thể như sau:
+ Đánh giá tính sẵn sàng của các thôn có hoạt động tạo thu nhập
+ Xác định mục tiêu kinh tế của các doanh nghiệp tiềm năng
+ Chuẩn bị 1 danh mục các sản phẩm hiện có
+ Xác định những yếu tố hạn chế hoạt động của hệ thống thị trường hiện tại
+ Loại trừ các sản phẩm không khả thi
+ Xác định các sản phẩm tiềm năng
Nghiên cứu này đã cho những kết quả sau:
• 1 danh mục các sản phẩm sẽ làm cơ sở cho giai đoạn tiếp theo
• Hình thức can thiệp được đề xuất cùng với các doanh nghiệp địa phương
1.3 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận
Phương pháp luận được áp dụng là giai đoạn đầu của nghiên cứu và phát triển thị trường
Mục đích cuối cùng của việc nghiên cứu và phát triển thị trường là giúp các doanh nghiệp nông thôn xác định và xây dựng các ý tưởng kinh doanh có thể đem lại cho họ thu nhập và lợi nhuận trong bối cảnh phát triển nông thôn và sử dụng rừng bền vững Phân tích và phát triển thị trường theo suốt các công đoạn của một sản phẩm từ khâu đầu đến khâu cuối Phương pháp và công cụ để xác định và xây dựng các ý tưởng kinh doanh được sắp xếp theo
1 chu trình lôgíc gồm 3 giai đoạn:
• Giai đoạn 1: Đánh giá tình trạng hiện tại: loại bỏ các sản phẩm không khả thi và xác
Trang 9Phương pháp và kế hoạch thực hiện trên thực địa
Việc hiểu được quan hệ của người dân với rừng và các yếu tố ảnh hưởng tới các doanh nghiệp lâm sản địa phương đòi hỏi phải thiết lập được 1 nền tảng kiến thức Việc phân tích thông tin, phỏng vấn trực tiếp, quan sát, đối thoại với người dân được coi là một phương pháp phù hợp để nghiên cứu các chủ đề cơ bản một cách toàn diện Phương pháp khảo sát theo 4 khía cạnh được sử dụng để thu thập số liệu
• Các khía cạnh liên quan tới thị trường và nền kinh tế
• Các khía cạnh môi trường/ quản lý thiên nhiên
• Các khía cạnh thể chế/ xã hội/ luật pháp
• Các yếu tố công nghệ/ khoa học
1.4 Kế hoạch công việc (Xem phụ lục 1)
2 Kết quả của nghiên cứu
2 1 Bước 1: Xác định nhóm đối tượng
Các tác động trong tương lai nên phù hợp với các doanh nghiệp nông thôn trong khu vực
Điều này chỉ thực hiện được nếu chúng ta biết rõ các doanh nghiệp là ai
Các hộ gia đình tham gia vào quá trình chế biến cho thị trường
Mục tiêu đặt ra là phải xác định được các doanh nghiệp và các nhóm liên quan cho tác động trong tương lai Nhóm nghiên cứu đã xác định những người đã tham gia vào việc chế biến các loại sản phẩm cho thị trường Bảng dưới đây cho thấy khoảng 87% dân số của 90 hộ gia
đình trong khu vực nghiên cứu sản xuất cho thị trường Họ thường mang ra thị trường các sản phẩm đa dạng thu hoạch từ rừng, như là một chiến lược sinh kế của gia đình Chỉ có 13% là không tham gia vào sản xuất cho thị trường, đa số là những gia đình nhân lực hạn chế, hoặc những gia đình có thu nhập tiền mặt từ các hoạt động khác ví dụ làm cán bộ nhà nước Hiện
có 79 hộ gia đình đang sản xuất cho thị trường và trở thành nhóm đối tượng của dự án Phần còn lại của nghiên cứu sẽ tập trung điều tra sâu về những hộ gia đình này
Bảng 1: Số hộ gia đình sản xuất cho thị trường
Làng Không sản xuất cho thị trường Sản xuất cho thị trường
Nguồn thông tin này có được từ phỏng vấn trực tiếp các trưởng thôn, những người nắm số liệu kinh tế xã hội của mỗi gia đình Những số liệu này được kiểm tra chéo thông qua phỏng
vấn trực tiếp các hộ gia đình trong mỗi nhóm, sản xuất và không sản xuất cho thị trường
Thông tin về 79 hộ gia đình sản xuất cho thị trường
Những người nông dân phối hợp các hoạt động khác nhau để đáp ứng được nhu cầu thu nhập tiền mặt
Trang 10Các gia đình sản xuất cho thị trường kết hợp các chiến lược khác nhau để duy trì cuộc sống Tùy theo địa điểm, loại đất, số nhân công trong mỗi gia đình, cơ hội tiếp cận với kiến thức và vốn, yêu cầu của gia đình, họ kiếm tiền từ các nông sản, chăn nuôi và thu hoạch lâm sản Do hạn chế về mặt thời gian, nghiên cứu này không thể đưa ra một bức tranh toàn diện về tầm quan trọng của mỗi một hoạt động đối với kinh tế hộ gia đình Số liệu của nghiên cứu cho thấy trong số 29/79 hộ gia đình sản xuất cho thị trường được phỏng vấn, có khoảng 80% sinh sống bằng cách buôn bán lâm sản, chiếm 4-8 % thu nhập gia đình Một số ít hộ gia đình
được phỏng vấn thuộc diện đủ ăn quanh năm, có cách kết hợp để thu nhập rất đơn giản Họ bán gia súc như lợn, gà, vịt Họ cũng đi rừng vào thời gian rỗi rãi, lúc nông nhàn để thu hoạch lâm sản như măng tre, cây thuốc, bắt cá và củi đun
Khoảng hơn một nửa số hộ gia đình ở 2 thôn kiếm sống bằng cách kết hợp các hoạt động mang tính chất phức tạp hơn để bổ sung cho thực phẩm bị thiếu từ sản xuất nông nghiệp Các hoạt động đó là thu nhập từ việc nuôi gia cầm và đánh cá chứ không phải là thu nhập từ lâm sản Các hoạt động với hình thức kết hợp này bao gồm nuôi lợn, gà, vận chuyển hàng hóa, kiếm củi, thu hoạch lâm sản phi gỗ
Bảng 1: Thu nhập bình quân từ tài nguyên rừng đối với các loại hộ gia đình (%)
Loại hộ Làng Ban Cam Làng Don Tau
đình thuộc diện nghèo nhất đi rừng nhiều hơn và thu hoạch bất cứ sản phẩm nào kể cả những thứ có giá trị khá thấp Tuy nhiên, những gia đình khá giả hơn ở 2 thôn vẫn vào rừng nhưng không thường xuyên và họ thu lượm những sản phẩm có giá trị cao hơn
Gần 95% lâm sản được đưa ra thị trường ở dạng thô ngay sau khi thu hoạch trừ măng tre
được đun lên và sấy khô trước khi đem bán
2.2 Bước 2: Xác định mục tiêu kinh tế của các doanh nghiệp có liên quan
Các doanh nghiệp nông thôn sẽ phải điều hành các hoạt động của họ mà không có quá nhiều rủi ro về lâu dài Mục tiêu kinh tế do các doanh nghiệp đặt ra cần phải dễ hiểu để kế hoạch can thiệp đáp ứng được mong đợi và khả năng của họ Phân tích nhu cầu cuộc sống của 29 hộ (ví dụ kèm theo phụ lục 2) dựa trên tính toán các mục tiêu kinh tế trung bình Việc phân tích 29 hộ gia đình và những mong đợi của hộ từ những kết quả tính toán mục tiêu kinh tế chỉ ra rằng: để trang trải các nhu cầu cơ bản, các hộ gia đình cần có một khoảng thu nhập thêm khoảng từ 192.000 đ đến 451.000 đ Một số gia đình khá giả hơn những gia đình khác (chiếm 6% ở thôn Don Tau) mong muốn có 1-2 triệu đồng để đầu tư cho việc mở rộng sản xuất như nuôi lợn, gia súc hoặc trồng cây ăn quả Từ đó cho thấy, sự can thiệp trong tương lại cần phải giúp tăng từ 2-4 triệu đồng / 1 năm như nguyện vọng của những người nông dân Con số này cũng chỉ ra quy mô của sự can thiệp trong tương lai Đây là một con
số khả thi có thể đạt được nếu biết sử dụng những chiến lược khác nhau Giai đoạn tiếp theo
Trang 11sẽ nhằm lựa chọn các sản phẩm và phương án can thiệp có thể giúp mang lại con số này
cho phần lớn nhóm đối tượng Điều tra cũng nên đề cập đến khả năng chế biến các tài
nguyên ở địa phương của các doanh nghiệp Họ sẽ tạo ra nhu cầu về nguyên liệu thô hoặc
các sản phẩm chế biến ban đầu từ một số hộ gia đình
2 3 Bước 3: Lập danh mục các nguồn lực và sản phẩm hiện tại
Nhóm đối tượng của các doanh nghiệp địa phương và mục tiêu kinh tế của họ đã được xác
định Chúng tôi cố gắng hiểu theo một nghĩa rộng về khái niệm lâm sản phi gỗ và các sản
phẩm vườn gia đình sẵn có
Danh mục các nguồn lực và sản phẩm ở 2 thôn được liệt kê ở phụ lục 3 Các số liệu cho thấy
cả 2 thôn đều có nhiều các sản phẩm sử dụng tại hộ gia đình như là một nguồn thu bằng tiền
mặt Cuối đợt khảo sát, chúng tôi phát hiện:
• 5 sản phẩm có ý nghĩa quan trọng đối với một số hộ gia đình tham gia vào việc khai
thác, ví dụ: cá, măng tre, củi, cây thuốc Mặc dù đã bị chính phủ cấm, họ vẫn tiếp tục
khai thác và mua bán hoặc sử dụng cho gia đình Măng tre, cá, mây, cây đậu khấu lai
đều cạn kiệt dần gây ra sự huỷ hại nghiêm trọng đối với hệ sinh thái rừng
• Loại sản phẩm thứ hai là sản phẩm có giá trị thấp hơn trên thị trường, ví dụ: rau rừng,
quả rừng Mức độ khai thác hiện nay không có ảnh hưởng tiêu cực đến nguồn dự trữ
của rừng và không nằm trong rừng đặc dụng do Nhà nước quy định
2 4 Bước 4: Xây dựng những trở ngại làm hạn chế hoạt động của hệ thống thị
trường hiện nay
Những sản phẩm rừng và gia súc đóng một vai trò quan trọng đối với kinh tế hộ gia đình của
nhóm đối tượng ở hai thôn Theo tính toán của chúng tôi, thu nhập từ nuôi gia súc và lâm sản
chiếm trung bình 12-26% tổng thu nhập của các hộ gia đình Trong số đó, cá, măng tre, lợn
là những sản phẩm đóng góp nhiều nhất đến thu nhập của các hộ gia đình Mức tiêu thụ củi
của các hộ gia đình là 10-20 kg/hộ/ ngày
Bảng 2: Mức thu nhập tiền mặt gần đây của các hộ gia đình trong nhóm đối tượng (%)
Sản phẩm Làng Bản Cam Làng Don Tau
Khía cạnh kinh tế/ thị trường
Cá nhân người sản xuất không thể cung cấp cho khách mua một cách thường xuyên và đủ
số lượng sản phẩm bởi vì họ phải phụ thuộc vào trữ lượng tài nguyên và mùa vụ sản xuất
Người sản xuất chỉ mang ra thị trường được một số lượng nhỏ và nhận được phần thu nhập
rất thấp Thiết nghĩ rằng,những người sản xuất nên tập hợp lại trong một nỗ lực chung để
cung cấp hàng hóa cho người mua thường xuyên và đầy đủ Tại 2 thôn chúng tôi nhận thấy,
người sản xuất ở rải rác các nơi bán sản phẩm của mình cho những người trung gian (ở bên
ngoài hoặc trong xã) Những người trung gian này đóng một vai trò quan trọng trong việc
chung chuyển hàng và họ kiếm được khoản tiền lớn hơn nhiều so với công sức của họ bỏ ra
Trang 12Chất lượng hàng hóa thấp và không đồng đều là lý do mà người mua thường đưa ra để được giảm giá
Chúng tôi nghĩ rằng, chất lượng là một khía cạnh thị trường mà các thương gia địa phương ở
2 thôn cần phải hiểu rõ Đã có một số gia đình đem trộn lẫn măng khô non với măng khô già, hoặc trộn nước và đường với mật ong Những người sản xuất lâm sản không đáp ứng được yêu cầu về chất lượng của thị trường vì họ thiếu tiếp cận thông tin về yêu cầu chất lượng của khách hàng
Nhu cầu hiện nay đối với mặt hàng mây , củi đun, mật ong, cây thuốc tương đối đủ, tuy nhiên vẫn chưa biết liệu nhu cầu này sẽ còn tiếp tục duy trì hay không Một doanh nghiệp không thể dựa vào một sản phẩm mà nhu cầu đối với sản phẩm đó còn hạn chế trong khi những nỗ lực để kích cầu quá phức tạp Do đó, cần phải thu nhập thông tin nhiều hơn để
đánh giá thị trường cho các sản phẩm hiện tại một cách dài hạn
Cạnh tranh giữa những người làm nghề trung gian không thể hiện ở cấp thôn trong khu vực nghiên cứu Người thu hoạch không còn một sự lựa chọn nào khác ngoài việc bán sản phẩm của họ cho khách hàng hay cho những người trung gian với một cái giá đã được người mua
Thông tin về thị trường gần đây đã đến được nhà sản xuất thông qua người mua và những người làm nghề trung gian tư nhân Tuy nhiên, thông tin về giá cả hay những khách mua tiềm năng ở 2 thôn vẫn không tiếp cận được người sản xuất Điều này thể hiện ở sự khác nhau về giá cả giữa thôn này với thôn khác Ví dụ 1 cân măng khô cùng chất lượng và ở cùng thời
điểm chênh nhau từ 20.000 đến 30.000 Nghiên cứu đã chỉ ra rằng cần phải có những thông tin để người sản xuất chuyển từ hình thức bán hiện nay sang hệ thống thị trường Mục đích nên đặt ra là người sản xuất có thông tin thị trường đáng tin cậy, không chỉ đối với thị trường hiện nay mà còn trong tương lai
Hai thôn được lựa chọn đều nằm ở khu vực miền núi, do đó đều được hưởng chính sách giảm lãi suất ngân hàng 30% Đa số nông dân rất khó tiếp cận được với vốn vay và hiếm khi vay vốn cho những mục đích khác ngoài mục đích chăn nuôi gia cầm (lợn, bò) hoặc mua xuồng vận chuyền Nhìn chung, ngân hàng nhà nước cấp vốn cho người nghèo theo các thủ tục áp dụng cho ngân hàng dành cho người nghèo Những khoản vay này có thể quản lý được với một nhóm làng, thường là hội nông dân hoặc Hội phụ nữ Mỗi người nông dân đều có thể vay các ngân hàng nông nghiệp mà chỉ cần phải thế chấp tài sản nếu như khoản vay không quá
10 triệu và nếu người nông dân không có giấy sử dụng đất
Khía cạnh môi trường và quản lý tài nguyên
Chất lượng nguyên liệu thô là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến thị trường lâm sản và các sản phẩm vườn gia đình Số lượng cung ứng nguyên liệu thô thường có liên quan trực tiếp đến các yếu tố về sinh thái Rất khó đưa ra các con số chính xác về số lượng các sản phẩm được khai thác hiện nay Tuy nhiên, theo ước tính, có ít nhất 1000 tấn mây được sản xuất vào 1990 – 1991 ở xã Thanh Tương (điều rất hiếm hiện nay) Cả hai thôn đều có nhiều loại lâm sản phong phú
Vì người dân địa phương phụ thuộc rất nhiều vào lâm sản nên cần phải có một sự chú ý đặc biệt đến khả năng cung ứng dài hạn các sản phẩm nếu như muốn mở rộng thị trường của các sản phẩm đó Đầu tiên, nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng các sản phẩm bị cấm đang tiếp tục bị khai thác và giá của những sản phẩm đó ngày càng cao do sức hấp dẫn đối với người
Trang 13thu hoạch áp lực vẫn đè nặng lên cây gỗ (ở làng Ban Cam), củi đun, măng và cá Mất rất nhiều thời gian mới đến được nguồn nguyên liệu trong khi mỗi ngày lượng lâm sản phi gỗ thu
được cũng không nhiều do sự xuống cấp nghiêm trọng của tài nguyên rừng Một số loại như mây cỡ to, Amomum aromaticum, stephania spp đã hoàn toàn cạn kiện Tuy vậy, một số loài
có giá trị thấp như rau, quả rừng lại không giảm đi do không có nhu cầu trên thị trường Nhiều sản phẩm có mùa thu hoạch rất ngắn (xem phụ lục 4 về lịch sản xuất) Sản xuất nguyên liệu thô phụ thuộc vào khoảng thời gian thu hoạch do chu kỳ sinh học và phần khai thác Việc trồng các cây lâm sản có thể là giải pháp thay thế để tránh sự suy thái tài nguyên rừng Đánh giá bổ sung nguồn cung ứng bền vững sản phẩm tiềm năng sẽ được đưa vào trong giai đoạn tiếp theo
Dự án cần nỗ lực thảo luận với chính quyền địa phương khu vực dự án và giúp tạo điều kiện cho người nông dân được sử dụng đất dài hạn , đồng thời hỗ trợ việc phát triển những sản phẩm tiềm năng nhất
Trong danh mục của chúng tôi, hầu hết các hộ gia đình của nhóm đối tượng đều có mức phát triển kinh tế xã hội thấp Vì họ phải phụ thuộc nhiều vào tài nguyên trong mùa cao điểm,
đồng thời họ rất cần tiền mặt để mua thực phẩm, họ buộc phải bán sản phẩm của mình bằng mọi giá và do đó mất quyền được quyết định giá cao hơn Mặc dù vậy, các cá nhân trong nhóm đối tượng đều được xác định là có đủ kiến thức để bắt đầu ý tưởng kinh doanh và sản xuất mới
Giai đoạn đầu tiên cho thấy người nông dân thể hiện có ý chí mạnh mẽ muốn xây dựng thị trường cho sản phẩm của mình Tuy nhiên, họ lại thiếu thông tin về giá trị kinh tế tiềm năng của sản phẩm; họ sẽ bị thuyết phục chỉ khi nào họ được nhìn thấy lãi thực sự trong những hoạt động kinh doanh mới
Khía canh công nghệ/ khoa học
Hệ thống hạ tầng đường xá ở 2 thôn nghiên cứu không được tốt vì thế chi phí vận tải sẽ cao hơn Mạng lưới liên lạc còn nhiều hạn chế và hệ thống điện quốc gia chưa được nối ở 2 thôn Ban Cam và Don Tau gây thêm nhiều trở ngại cho các sản phẩm chế biến tiềm năng
2 5 Bước 5: Loại trừ các sản phẩm không khả thi
Nhóm nghiên cứu cũng lôi kéo sự tham gia của một số thành viên trong nhóm đối tượng và cán bộ dự án để giảm bớt những sản phẩm mà rõ ràng là sẽ rất mạo hiểm nếu phát triển Các cuộc hội thảo được tổ chức để các bên liên quan cùng xem xét các sản phẩm hiện tại và kiểm tra lại các sản phẩm đó theo tiêu chí loại trừ (xem tiêu chí loại trừ ở phụ lực 5), Kết quả
là 31 sản phẩm (ở Ban Cam) và 27 sản phẩm (ở Don Tau) bị cắt giảm vì không phù hợp với
sự phát triển của các doanh nghiệp nông thôn, chủ yếu do những nguyên nhân về mặt thể chế, nguyên nhân bảo tồn thiên nhiên và vì lý do thị trường (giá thành và nhu cầu sản phẩm thấp)
Trang 142 6 Bước 6: Hỗ trợ các doanh nghiệp đề xuất phương án can thiệp
1 công cụ khác được sử dụng trong nghiên cứu này để làm rõ thêm lý lẽ trong phần 1 đó là huy động ở mỗi thôn 1 nhóm người sản xuất để đưa ra những phương án can thiệp mà trọng tâm là các sản phẩm không ở trong danh sách loại trừ Chúng tôi đã hỗ trợ các nhóm nông dân ở mỗi thôn đánh giá những sản phẩm còn lại dựa trên những tiêu chí và những phương
án can thiệp dựa vào kiến thức của họ về những hạn chế và cơ hội phát sinh ở bước trước Những sản phẩm đề xuất do nông dân gợi ý dựa trên kiến thức của họ về môi trường thị trường Có nhiều sản phẩm thậm chí vượt ra ngoài hạng mục mà chúng tôi đã lập (xem phụ lục 6) Để tạo ra sự cởi mở ở mức tối đa, không có một lĩnh vực nào bị giới hạn nhằm tạo điều kiện để những người nông dân bày tỏ được mối quan tâm chính của mình Cần phải có thêm
điều tra để đánh giá lại sản phẩm nào trong danh sách này có nhiều triển vọng và sản phẩm nào trong số những sản phẩm không được giữ lại có thể được phát triển nếu như có một thị trường dài hạn Những người nông dẫn cũng được tham gia vào quá trình lựa chọn doanh nghiệp đứng đầu, những người sau này có thể mở rộng kinh nghiệm của mình cho những người nông dân khác Những nhà doanh nghiệp tiềm năng được lựa chọn theo một danh mục các tiêu chí (xem phụ lục 7)
3 Kết luận và đề xuất
a Những sản phẩm có tiềm năng phát triển
Thu nhập của người dân ở 2 thôn đang nghiên cứu chủ yếu phụ thuộc vào lâm sản, đây được coi là một phần trong thu nhập kiếm sống của cả gia đình Bất cứ một sự can thiệp nào ở cấp này sẽ giúp cải thiện tình trạng của nhóm đối tượng Vì hầu hết các gia đình trong nhóm đối tượng thuộc tầng lớp các gia đình nghèo hoặc trung bình (chíếm 88% tổng số hộ gia đình trong thôn), mong muốn của họ chỉ đơn giản là có 1 cuộc sống ổn định quanh năm Họ muốn thu nhập được tăng thêm khoảng từ 1.920.000 đ đến 4.510.000 mỗi năm Điều này cho thấy rằng quy mô của sự can thiệp cần phải rộng về số hộ tham gia nhưng mức độ cải thiện thì không nên quá cao Trong trường hợp này, cần phải xác định các đối tượng chủ chốt trên thị trường, những người sẽ tạo ra nhu cầu nguyên liệu thô, đặc biệt là những sản phẩm chế biến chủ đạo cho phần lớn người sản xuất Chiến lược phối hợp sản phẩm và thị trường sẽ góp phần giảm bớt sự phụ thuộc của người sản xuất vào một sản phẩm và do đó, giảm nguy cơ năng suất thấp do thiên tai, đồng thời hạn chế ảnh hưởng của việc giá cả dao động Đó là lý
do cần phải tiến hành các nghiên cứu và hành động để xây dựng một bộ sản phẩm chứ không phải là một số lượng ít sản phẩm Theo kết quả nghiên cứu, chúng tôi phân chia thành
2 loại sản phẩm mà sẽ phải phát triển đồng thời
• Sản phẩm đầu vào với rủi ro không cao, ví dụ những sản phẩm hiện tại cho thị trường hiện nay Sự tự tin của người nông dân sẽ được củng cố, nếu sự can thiệp bắt đầu bằng những sản phẩm đầu vào rất dễ phát triển này Mật ong, mây loại nhỏ là những sản phẩm đầu vào nên có hành động trước Những sản phẩm này đã có sẵn trên thị trường
và người sản xuất có quyết tâm mạnh mẽ để phát triển chúng Sẽ không có nguy cơ cạn kiện nguyên liệu vì những sản phẩm này đều có thể tạo ra được và vì thế có thể góp phần làm giảm sức ép đối với các loài ở trong rừng Những cái tiến về mặt kỹ thuật
có thể dễ dàng thực hiện ở Việt Nam
• Những sản phẩm bao gồm những sản phẩm có giá trị thị trường thấp cũng như những sản phẩm mà thông tin trên thị trường về nhu cầu đối với sản phẩm đó không được tiếp cận tại địa bàn Nếu thị trường của những sản phẩm này được khẳng định, nguồn cung cấp bền vững của những sản phẩm này nên được kiểm định lại ở những giai đoạn tiếp theo Củi đun đóng 1 vai trò rất quan trọng trong các gia đình ở 2 thôn nghiên cứu Dự
án nên xem xét vấn đề trồng củi đun trong tương lai
Trang 15b Các doanh nghiệp địa phương có tiềm năng để bắt đầu hoạt động
Mục đích của phân tích và phát triển thị trường là một mục đích kép:đó là phát triển kinh tế và bảo tồn rừng.Cần thành lập nhóm sở thích không chính thức đối với các sản phẩm được chọn ở 2 thôn để chuẩn bị cho phương án can thịêp Nhóm sở thích không chính thức có thể bắt đầu từ những người nông dân có mong muốn được hành động (xem danh sách những doanh nghiệp đi đầu)
C Đề xuất cho những giai đoạn sau:
Giai đoạn 2 và 3 của phân tích và phát triển thị trường nên được tiến hành Thời gian thực hiện là 18 ngày
Đối với những sản phẩm đầu vào, mục tiêu đặt ra là phải làm rõ quá trình lựa chọn sản phẩm, các kênh tiếp thị và nhu cầu thị trường Một mục tiêu nữa là nắm bắt t thông tin để ra quyết định tốt hơn về vấn đề sản phẩm thô có thể được chế biến theo cách hiệu quả hơn hay không, nhu cầu thị trường đối với sản phẩm có được bảo đảm hay không và liệu có người mua hay không Những vấn đề này đòi hỏi phải thu thập số liệu và phân tích các kênh thị trường mật ong, mây loại nhỏ, chú trọng đến việc tạo ra các cơ hội để chuẩn bị một phân tích
về chi phí lợi nhuận và kế hoạch kinh doanh bền vững nhằm phát triển các sản phẩm Để thực hiện được điều đó cần tiến hành 2 bước:
• Tìm thông tin thị trường bên ngoài 2 thôn nghiên cứu Nghiên cứu thị trường ở cấp tỉnh
và cấp quốc gia có thể tiến hành trong khoảng 11 - 15 và 17 - 19, tháng 2/2000 Cố vấn và chuyên gia kinh tế nên đảm nhận nghiên cứu này
• Nghiên cứu thực địa để khẳng định với người nông dân số lượng tiềm năng đầu vào và chi phí sản xuất ở cấp thôn Nghiên cứu thực địa của phương án 2 và 3 có thể thực hiện trong khoảng từ 16 - 20 - 22 / 2/ 2000
• Cuối cùng là hạn viết báo cáo sẽ từ 23 – 28/2/2000
Trang 16Phụ lục
Phụ lục 1: Lịch trình
20/1/2000 Đến Vườn quốc gia Ba Bể, gặp ông Tony
21/1/2000 Thăm thôn Bản Cam, thảo luận với trưởng thôn
22/1/2000 Thăm Ngân hàng cho người nghèo và Sở Nông Lâm thuộc huyện Ba Bể, thảo
luận với Giám đốc Vườn quốc gia Ba Bể
23/1/2000 Phỏng vấn nông dân thôn Ban Cam
24/1/2000 Hội thảo với nông dân thôn Bản Cam, loại bớt các sản phẩm không khả thi 25/1/2000 Đến Na hang và họp với ông Tony
26/1/2000 Thăm các Sở có liên quan thuộc huyện Na hang
Những người được phỏng vấn:
Ông Nguyễn Thế Giang, Sở KHĐT
Ông Lê Phúc, Phó Giám đốc Cục Thuế
Ông Nguyễn Thai Hải, Ngân hàng phát triển nông nghiệp
Bà Đặng Thị Lịch, Giám đốc Sở Nông Lâm
Ông Nguyễn Văn Thường, Trưởng Ban quản lý Dự án 135 27/1/2000 Thăm UBND xã Thanh Tương
28/1/2000 Phỏng vấn nông dân thôn Don Tan
Hội thảo với nông dân, loại bớt các sản phẩm không khả thi
29/1/2000 Viết báo cáo
30/1/2000 Quay lại Vườn quốc gia Ba Bể và gặp ông Tony
31/1/2000 Viết báo cáo
1/2/2000 Gặp ông Tony và về Hà Nội
2/2/2000 Viết báo cáo
Trang 17Phụ lục 2: Phân tích mức sống và mong đợi
Chú ý: Tính toán dựa vào giá thị trường hiện nay / kg ở 2 thôn
Bảng 4: Hộ gia đình ông Nguyễn Vân Nha, thôn Ban Cam, Nam Mau, Ba Bể
Loại nhu cầu
Người cung cấp
đương
Chiến lược hiện nay để đáp ứng nhu cầu ngắn hạn
Thực phẩm Gạo: 3.000 kg
Lúa mì: 600 kg Cá: 200 kg Lợn: 2.000.000 đ
4,500 kg
600 kg
200 kg 21.600.000 đ
1.500 kg 1.600.000 đ
Trang 18Phụ lục III: Bảng 5.Danh mục các sản phẩm và nguyên liệu hiện nay ở khu vực
Sa nhan Tre, nứa Củi Mây Song Trấu Lai Trầm Mật ong Sấu Vả
Sung Qua dọc Quả bua
Me rừng
đu đủ Rau ngót Binh voi Phong lan đất Thao quyet minh Rau ron
Chuối
Củ mài
Vo tang tang Cam
Hồng Hồng bì
Mơ
Mận
Đào Dứa
ổi Mac vi
Da da Nho rừng Qua mac liem Huyet dang Hoang dang Guot Cafe Táo
Vải
Vỏ khoai Thien nien kien Lá dong
Vỏ quế Bach bo Trầm hương
Trang 19Phô lôc IV: B¶ng 6 LÞch s¶n xuÊt vµ thu ho¹ch
Phô lôc V: B¶ng 7 Lo¹i trõ c¸c s¶n phÈm kh«ng kh¶ thi
Kh«ng thÓ Qu¸ cao
Cã nguy c¬ cao M¹o hiÓm
0
0
0
Trang 20Phụ lục VI : Bảng 8 Danh mục các sản phẩm do nông dân 2 thôn đề xuất
Thôn Bản Cam Thôn Don Tau Tên tiếng Anh Ghi chú Tên tiếng Anh Ghi chú
cây trám Dracontomelum
Phụ lục VII: Bảng 9 Danh sách các doanh nghiệp tiềm năng
Có kế hoạch mở rộng giống gia súc mới
Có thông tin và các loài cây mới Nắm bắt các cơ hội đi tâp huấn
Nắm bắt được cơ hội Thôn Don Tau
Nắm bắt được cơ hội, có khả năng thuyết phục
Có thông tin
Mong muốn nâng cao chất lượng cây ăn quả trong vườn
Có khả năng tìm kiếm thông tin thị trường, có khả năng giải quyết vấn đề Chất lượng công việc tốt
Trang 21Phục lục VIII: Bảng 10 Danh sách những người được phỏng vấn
Họ và tên Vị trí/Đơn vị công tác
Huyện Ba Bể
Ma Vĩnh Yến Phó giám đốc Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn
Dong Văn Bưu “
Huyện Na Hang
Dang Thi Lich Giám đốc Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 22Ph©n tÝch vµ ph¸t triÓn thÞ tr−êng
Giai ®o¹n 2 vµ 3