1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG NÔNG SẢN CHO TỈNH TRÀ VINH ĐẾN NĂM 2010

81 219 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trong đề tài này do thời gian cho phép có hạn, cùng với những nhân tố khách quan khác tác động, cho nên đề tài chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu ở 928 hộ nông dân thuộc 7 Huyện

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

2 Nội dung - mục tiên nghiên cứu

3 Phương pháp nghiên cứu

4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ TÌNH HÌNH KT - XH CÙNG CÁC CHÍNH SÁCH ĐỊNH HƯỚNG CỦA TỈNH 1 KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH

1.1 Vị trí địa lý

1.2 Thành tựu kinh tế - xã hội

2 PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA TỈNH

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG ĐẦU VÀO VÀ ĐẦU RA CHO HÀNG HÓA NÔNG SẢN CỦA TỈNH TRÀ VINH 2.1 THÔNG TIN CHUNG VỀ HO

2.2 CÁC NGUỒN ĐẦU VÀO TRONG SX NÔNG NGHIỆP 2.2.1.Thị trường phân bón-thuốc dùng trong sản xuất nông nghiệp 2.2.2.Thị trường thức ăn cho gia súc gia cầm

2.2.3 Thị trường cây giống và con giống

2.2.4 Hình thức thanh toán cho các nguồn đầu vào

2.2.5 Lý do mua chịu

2.2.6 Cách thức mua các nguồn đầu vào

2.2.7 Lý do chọn nơi mua

* TÓM TẮT KÊNH THỊ TRƯỜNG ĐẦU VÀO TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP 2.3 TÌNH HÌNH THU HOẠCH NÔNG SẢN pẨM

2.3.1 Các loại sản phẩm nông nghiệp

2.3.2 Sản lượng thu hoạch và giá bán

1

1

2

2

3

4

4

4

6

7

9

9

14

14

17

20

23

25

26

29

31

32

32

33

33

Trang 3

2.3.3 Thu hoạch vật nuôi

2.4 THỊ TRƯỜNG ĐẦU RA CỦA NÔNG SẢN

2.4.1 Phương thức bán của nông dân

2.4.2 Phương tiện chở đi bán

2.4.3 Đối tượng và nguồn gốc người mua

2.4.4 Phương thức thanh toán của người mua

2.4.5 Cách liên hệ để người mua đến mua sản phẩm

2.4.6 Lý do bán cho các đối tượng

2.4.7 Khó khăn trong quá trình bán ra

* TÓM TẮT KÊNH THỊ TRƯỜNG ĐẦU RA TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG NÔNG THÔN TRÀ VINH ĐẾN NĂM 2010 1 NHỮNG THUẬN LỢI - KHÓ KHĂN CỦA NÔNG HỘ Ở TỈNH TRÀ VINH TRONG SẢN XUẤT

3.1.1 Những thuận lợi

3.1.2 Những khó khăn

2 MA TRẬN SWOT - THỊ TRƯỜNG ĐẦU VÀO VÀ ĐẦU RA 3 CÁC GIẢI PHÁP MARKETING NHẰM HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG NÔNG SẢN TỈNH ĐẾN NĂM 2010 3.3.1 Thị trường đầu vào

3.3.2 Thị trường đầu ra

IẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN 1 KIẾN NGHỊ

1.1 Đối với Trung Ương

1.2 Các ban ngành có liên quan ở Tỉnh

1.3 Bản thân người nông dân

2 KẾT LUẬN

2.1 Thị trường đầu vào

2.2 Thị trường đầu ra

TÀI LIỆU THAM KHẢO

35

35

37

38

39

41

42

43

44

45

45

45

45

46

49

50

53

56

56

56

56

56

57

57

58

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Nước ta nông nghiệp là ngành sản xuất truyền thống quan trọng trong nền kinh tế, cung cấp những sản phẩm thiết yếu như lương thực, thực phẩm cho con người và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, xuất khẩu Trong quá trình phát triển kinh tế, nông nghiệp cần được phát triển để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về lương thực, thực phẩm của xã hội, sự ổn định xã hội và mức an toàn về lương thực của xã hội phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển của nông nghiệp Thực tế trong thời gian qua, kinh tế nông nghiệp góp phần to lớn trong tổng sản phẩm quốc dân, thu hút phần lớn lực lượng lao động của cả nước và lĩnh vực này Do vậy, nghiên cứu về nông nghiệp bao gồm rất nhiều khía cạnh và lĩnh vực Tuy nhiên, trong đó thị trường nông nghiệp và nông thôn là quan trọng và đòi hỏi phải được xem xét kỹ lưỡng Bởi cho đến nay, thị trường ở nông thôn chỉ mới bắt đầu được hình thành, chưa đồng bộ, còn nhiều hạn chế đối với quá trình sản xuất Người nông dân, các tổ chức sản xuất nông nghiệp muốn tạo ra được nông sản thì nhất thiết phải có các yếu tố đầu vào như đất, nước, giống, lao động, vốn, vật tư, kỹ thuật, thiết bị, công nghệ Đến khi thu hoạch họ lại

lo toan đầu ra cho sản phẩm của mình Thử nghĩ nếu không có hay thiếu các dịch vụ cung ứng đầu vào hoặc các đầu mối tiêu thụ nông sản bị ách tắc thì người nông dân chịu thiệt thòi và gặp khó khăn trong sản xuất là không thể tránh khỏi

Nhận thức được tầm quan trọng của sản xuất nông nghiệp, xuất phát từ nhu

cầu thực tiễn, tôi nhận thấy đề tài: “Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển thị trường nông sản cho tỉnh Trà Vinh đến năm 2010” Cần được

nghiên cứu để giải quyết vấn đề khó khăn nhất trong sản xuất nông nghiệp hiện nay, góp phần giúp phát triển kinh tế Việt Nam nói chung, kinh tế nông nghiệp Tỉnh Trà Vinh nói riêng Đưa nền kinh tế nông nghiệp nước ta thực

Trang 5

hiện thành công sự nghiệp Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa nông thôn thời kỳ

2001 - 2010

2 Mục tiêu - nội dung nghiên cứu

+ Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung nhất của đề tài là nghiên cứu thực trạng cùng với những thuận lợi, khó khăn thuộc về nhân tố thị trường trong sản xuất nông nghiệp, từ đó đưa ra một số giải pháp định hướng phát triển thị trường nông sản cho Tỉnh đến năm 2010

Mục tiêu cụ thể:

- Đưa ra các giải pháp khả thi giúp cho các hộ sản xuất nông nghiệp tìm nguồn đầu vào, và thị trường tiêu thụ nông sản một cách có hiệu quả, nhằm tăng thu nhập đảm bảo ổn định cuộc sống

- Đề tài là căn cứ khoa học giúp: Ngân hàng, sở nông nghiệp, phòng nông nghiệp, các nhà hoạch định chính sách cùng các cửa hàng vật tư, thức ăn, con giống, mạng lưới thu mua, Có những cơ sở để hỗ trợ kịp thời các hộ sản xuất

+ Nội dung nghiên cứu:

- Tìm hiểu sơ lược đặc điểm tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội của Tỉnh

- Phân tích, đánh giá tình hình mua các yếu tố phục vụ cho quá trình sản xuất, trồng trọt và chăn nuôi như: giống cây trồng, vật nuôi, phân bón, thuốc trừ sâu cho cây trồng, thức ăn cho gia súc gia cầm

- Đánh giá tình hình thu hoạch và bán nông sản của nông hộ

- Phân tích những thuận lợi và khó khăn trong việc mua vào vật tư nông nghiệp cho sản xuất cũng như bán ra nông sản của nông hộ

Trang 6

3 Phương pháp nghiên cứu

+ Phương pháp thu thập số liệu:

- Dữ liệu sơ cấp: Thông qua xây dựng bảng câu hỏi, phỏng vấn trực tiếp 928 hộ nông dân trong 7 Huyện và 1 Thị Xã của Tỉnh để thu thập dữ liệu

- Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ các báo cáo tình hình kinh tế xã hội của Tỉnh,

Huyện, niên giám thống kê, các sách, báo, tạp chí có liên quan đến quá trình sản xuất và tiêu thụ trong nông nghiệp

+ Phương pháp xử lý số liệu:

Số liệu thu thập xong sẽ được kiểm tra, tiến hành hiệu chỉnh, sàng lọc, mã hóa và xử lý bằng phần mềm chuyên ngành “SPSS for Windows 10.0” kết hợp

với kỹ thuật thống kê Sự phân tích, nhận xét, đánh giá được thực hiện theo phương pháp suy luận khoa học cùng với so sánh, đối chiếu với thực tế và thiết lập các biểu bảng, biểu đồ, sơ đồ, ma trận minh họa cho những vấn đề nghiên cứu

4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Khi nghiên cứu về thị trường nông thôn mà thế mạnh của nó là thị trường hàng hóa nông sản, thì có rất nhiều vấn đề mà chúng ta cần phải nghiên cứu Tuy nhiên, trong đề tài này do thời gian cho phép có hạn, cùng với những nhân tố khách quan khác tác động, cho nên đề tài chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu ở 928 hộ nông dân thuộc 7 Huyện và 1 Thị Xã của Tỉnh Trà Vinh, đồng thời đề tài chỉ đi sâu vào nghiên cứu hai “công đoạn chính” thuộc quá trình sản xuất của họ, đó là mua vào các tư liệu sản xuất và bán ra các sản phẩm nông sản Do tính chất của đề tài, vì đối tượng phỏng vấn là nông dân, do trình độ của họ có hạn cho nên có một số câu hỏi trong bảng câu hỏi họ trả lời phần nào thiếu chính xác Cùng với các yếu tố kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp, và các chỉ tiêu về kinh tế - xã hội không được đề cập sâu trong chuyên đề này

Trang 7

Cụ thể bố cục của đề tài bao gồm các phần sau:

Chương 1: Giới thiệu sơ lược về tình hình kinh tế xã hội cùng các định hướng chính sách của tỉnh

Chương 2: Thực trạng thị trường đầu vào, đầu ra cho hàng hóa nông sản của tỉnh Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển thị trường hàng nông sản cho tỉnh Trà Vinh đến năm 2010

Trang 8

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI CÙNG CÁC CHÍNH SÁCH ĐỊNH HƯỚNG CỦA TỈNH

Trong tỉnh có 7 huyện và một thị xã, mỗi huyện có vị trí địa lý khác nhau chính vì vậy mà mỗi một vùng trong tỉnh có đặc thù riêng biệt hoàn toàn không giống nhau: hai huyện Duyên Hải và Cầu Ngang có dãy đất đồng bằng ven biển, không có núi đồi, độ cao trung bình từ 2 -3

m so với mực nước biển Khi đó các huyện như Cầu Kè, Tiểu Cần, Trà Cú có một số dãy đất gợn lên như lớp sóng gọi là “gò”, hoặc “giồng”, đất ở vùng này thường là cát pha sét nên rất có lợi thế cho việc trồng các loại cây công nghiệp ngắn ngày như cây lạc, đậu phộng, mía và một số loại hoa màu khác, đa số người dân tộc sinh sống ở những vùng này Các huyện còn lại như huyện Châu Thành, Càng Long và Thị Xã nằm trên trục lộ tiếp nối với các tỉnh, và nằm rất gần ở trung tâm của tỉnh nên rất thuận lợi cho việc phát triển các loại hình dịch vụ - thương mại, hoạt động này năng động với cơ chế thị trường, kinh doanh đa dạng những ngành hàng phát triển mạnh như đại lý xe gắn máy, thông tin liên lạc, giao thông vận tải, vật tư xây dựng, vàng bạc, mặt khác còn có điều kiện tốt cho việc sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Qua đó thấy được trong tỉnh mỗi vùng có đặc thù riêng biệt về khí hậu, vị trí địa lý, vì thế mỗi huyện có tiềm lực kinh tế, xã hội khác nhau, đã tạo nên cơ cấu kinh tế của tỉnh Trà Vinh đa dạng và phong phú bao gồm nhiều lĩnh vực

Trang 9

Trà Vinh có mạng lưới sông rạch chằng chịt, phân bố tương đối đều đặn Mạng lưới sông rạch và kênh đào được phân chia làm 3 hệ thống: Hệ thống thứ nhất đổ ra biển nằm trên địa bàn Huyện Duyên Hải, hệ thống thứ hai: sông rạch đổ ra sông Cổ Chiên nằm trên địa bàn Thị Xã Trà Vinh, chảy dài qua các Huyện Càng Long, Châu Thành, Cầu Ngang, hệ thống thứ ba: đổ ra sông hậu nằm trên địa bàn của Huyện Cầu Kè tiếp nối đến huyện Tiểu Cần và Trà Cú Các hệ thống sông rạch và kênh đào nói trên giao nhau, tạo nên một mạng lưới lưu thông và điều hòa thủy mực các nguồn nước Tính trung bình cứ 100 m2 diện tích tự nhiên có tới 10 m2diện tích mặt nước Mạng lưới sông rạch như vậy, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc tưới tiêu, cung cấp nguồn phù sa, nuôi trồng thủy sản cả nước ngọt lẫn nước lợ và giao thông đường thủy

Trà Vinh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, nóng ẩm quanh năm và chia ra hai mùa rõ rệt Lượng mưa trung bình từ 1.400 - 1.600 mm Số giờ nắng trung bình mỗi năm 2.600 giờ Nhiệt độ trung bình năm từ 250C đến 27 0C, độ ẩm trung bình năm 80-85%

Với điều kiện tự nhiên như vậy Trà Vinh có các nguồn lợi thiên nhiên như sau:

+ Bờ biển dài 65 km và 3.757 km2 thềm lục địa, ngư trường với 1,2 triệu tấn, trữ lượng khai thác 630.000 tấn/năm, khả năng khai thác 50.000 - 55.000 tấn/năm

+ Trên 40.000 ha đất bồi dọc theo bờ biển

+ Hơn 24.000 ha đất ngập mặn có thể chuyển sang nuôi tôm

+ Nằm giữa hai con sông lớn với hệ thống sông rạch chằng chịt, gần 23.000 ha mặt nước tự nhiên có thể nuôi tôm cá

+ Với 117.232 ha ruộng lúa thích hợp cho nuôi tôm càng xanh

+ Dọc theo hai con sông lớn có thể nuôi nghêu, sò huyết, cua

Đặc điểm tự nhiên của Tỉnh rất thuận lợi trong việc phát triển ngành nông nghiệp, nhất là hình thức trồng trọt kết hợp với nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản

Trang 10

1.2 Thành tựu kinh tế - xã hội

Nhìn chung, tình hình kinh tế xã hội của Tỉnh trong những năm đầu sau giải phóng đến năm 1992 còn ở tình trạng thấp kém, kinh tế chủ yếu là nông nghiệp với độc canh cây lúa, sản xuất nông nghiệp còn phụ thuộc nhiều vào thời tiết, khí hậu đời sống của nông dân không ổn định, trên 30 % hộ dân thường xuyên phải cứu đói lúc giáp hạt, cơ sở nông nghiệp tiểu thủ công nghiệp chậm phát triển, lạc hậu, cơ sở hạ tầng tiếp quản từ chế độ cũ càng xuống cấp và chưa được quan tâm đầu tư mới cũng chính trong năm 1992 Trà Vinh tách khỏi tỉnh Vĩnh Long hoạt động thành một tỉnh độc lập cho nên gặp rất nhiều khó khăn, đời sống đại đa số nhân dân, nhất là nông dân thu nhập rất thấp, không đủ sống

Từ thực trạng trên, Tỉnh xác định phải phát triển kinh tế của Tỉnh, nâng cao đời sống nhân dân phải tập trung khai khác đúng tiềm năng nông nghiệp, thủy sản, làm cơ sở cho việc phát triển công nghiệp, du lịch Với định hướng đúng cùng sự quan tâm hỗ trợ của Trung Ương và sự nỗ lực phấn đấu vượt mọi khó khăn của Đảng bộ và nhân dân trong Tỉnh, tình

hình kinh tế xã hội của Tỉnh đã từng bước phát triển

+ Kinh tế:

Nhịp độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh có bước phát triển khá, cụ thể tốc độ phát triển giá trị sản xuất của tỉnh năm 2001 so với 2000 đạt 109,69%, tăng 9,69% trong đó nông nghiệp tăng 2,43%, lâm nghiệp tăng 4,35%, thủy - hải sản tăng 16,59%, công nghiệp tăng 14,57%, xây dựng tăng 36,1%, và dịch vụ tăng 16,43% Còn tốc độ phát triển về giá trị GDP mỗi năm đều gia tăng 8,6% năm 2001 so với 2000 Cơ cấu kinh tế của tỉnh có một bước chuyển dịch đáng kể phục vụ cho yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa So với năm 1992, GDP năm 2001 tăng gấp 2 lần.Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP giảm từ 61,7 % năm 1992 còn 50 % năm

2001, giá trị công nghiệp tăng từ 7,82 % lên 12 %, giá trị thủy sản từ 12,6 % lên 16 %, giá trị dịch vụ từ 15,82 %; lên 22 % Rõ ràng chỉ sau 10 năm tỉnh đã có nhiều thay đổi vượt bậc tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao Về cơ cấu kinh tế của tỉnh năm 2001 dịch vụ chiếm tỷ trọng: 22,71% tăng 1,5% so với năm 2000, về công nghiệp xây dựng chiếm: 3,99% tăng 0,75 %, nông nghiệp chiếm 53,03% giảm 3,29% so với năm 2000, thủy sản chiếm: 11,84% tăng 0,78%, dịch vụ cũng tăng 1,5%, còn lâm nghiệp giảm một lượng không đáng kể 0,08%

Trang 11

- Sản xuất nông nghiệp, nhờ đầu tư cho thủy lợi, ngọt hóa hơn phân nửa vùng đất bị nhiễm mặn, diện tích gieo trồng hàng năm đều tăng cùng với ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, cải tạo giống cây trồng, chuyển đổi mùa vụ, nên đã phá được thế độc canh cây lúa, xóa được nạn đói lúc giáp hạt, sản lượng tăng gấp đôi so năm 1992 (449.000 tấn lên trên 1 triệu tấn với trên 400.000 tấn lúa để xuất khẩu), giá trị sản xuất bình quân tăng 5,46

% năm

- Về thủy sản tiềm năng của một Tỉnh ven biển Tỉnh đã tập trung phát triển nghề nuôi trồng và khai thác hải sản xa bờ, phát triển phong trào nuôi tôm sú, mô hình nuôi tôm càng xanh, cá nước ngọt kết hợp trồng lúa, giá trị nuôi trồng và khai thác thủy hải sản tăng bình quân 14,65 %/năm, thủy sản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Tỉnh

- Về công nghiệp, có một bước đổi mới về công nghệ sản xuất theo hướng phát triển mạnh công nghiệp chế biến gắn với sản xuất nông ngư nghiệp như chế biến thủy sản đông lạnh, chế biến mía đường, lương thực, dừa, khôi phục một bước ngành nghề truyền thống như đồ gốm, thủ công mỹ nghệ đặt biệt là sản xuất các mặt hàng tiêu dùng thủ công: đan chiếu, thảm các loại, các đồ dùng từ thân dừa tạo việc làm cho nông dân lúc nhàn rỗi

- Dịch vụ thương mại và xuất khẩu có sự chuyển biến về khai thác thị trường và xác định mặt hàng chủ lực hỗ trợ cho việc phát triển sản xuất

+ Về xã hội:

Cùng với việc thay đổi nhanh bộ mặt nông thôn thông qua việc đầu tư cơ sở hạ tầng, Tỉnh đã quan tâm chăm lo đời sống nhân dân với các chương trình mục tiêu cụ thể: giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, chăm lo sức khỏe cộng đồng Kết quả là đời sống của đại đa số nhân dân từng bước được nâng lên, khắc phục được nạn đói lúc giáp hạt, giảm hộ nghèo xuống còn khoảng 15 % hộ dân trong toàn Tỉnh Chất lượng các hoạt động văn hóa, giáo dục, giải quyết việc làm, y tế, thể dục thể thao không ngừng được nâng lên Hoàn thành công tác phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ; 84/94 xã, phường, thị trấn có trạm xá, hơn 65 % hộ dân có nước sạch sinh hoạt, 82/94 xã phường thị trấn có điện lưới quốc gia, 40 % hộ dân có điện sử dụng phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất, xây dựng gần 2.000 km lộ giao thông liên xã, liên Huyện, xóa gần 1.000 cầu khỉ nông thôn hạ

Trang 12

tỷ lệ tăng dân số bình quân mỗi năm khoảng 0,1 %, tạo một bước chuyển biến tích cực trong đời sống xã hội nông thôn

2 PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA TỈNH

Từ đây đến năm 2005 và định hướng đến năm 2010 phải tạo sự chuyển biến tích cực để khai thác có hiệu quả tiềm năng to lớn về đất đai, lao động, tiền vốn ở nông thôn, đưa nông nghiệp - nông thôn sang hướng phát triển mới toàn diện Để đạt mục tiêu trên, kế hoạch của UBND Tỉnh xác định giải pháp ưu tiên hàng đầu là phải tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn như thủy lợi, giao thông nông thôn, cơ sở dịch vụ hậu cần, đầu tư chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, ứng dụng và chuyển giao nhanh, có hiệu quả tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, dịch vụ, quản lý, phát triển và mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản Hiệu quả của đầu tư này sẽ mở ra bước phát triển mới cho kinh tế nông - ngư nghiệp và xã hội nông thôn như sau:

- Đầu tư đồng bộ hệ thống thủy lợi, tiếp nhận và sử dụng có hiệu quả dự án Nam Măng Thít của chính phủ, khai khát hết tiềm năng của diện tích trồng lúa, đất xen canh lúa màu, đến năm 2010 chủ động tưới tiêu cả mùa mưa và mùa khô, nâng sản lượng lương thực từ 1.243.000 tấn năm 2005 lên 1.400.000 tấn năm 2010, ngoài đáp ứng nhu cầu lương thực trong Tỉnh, còn có thể cung cấp lúa 700.000 đến 900.000 tấn mỗi năm

- Đầu tư cho lĩnh vực thủy sản làm cơ sở cho việc nuôi thủy sản có giá trị cao (nhất là tôm sú) sẽ phát triển ổn định, giảm thiểu các rủi ro trên cơ sở đầu tư quy hoạch phân vùng, đầu tư hệ thống thủy lợi - thoát nước, nhà máy cung cấp thức ăn nuôi tôm, công nghệ nuôi tôm, sản xuất và cung ứng giống, phòng trừ dịch bệnh và bảo vệ môi trường Tăng cường đầu tư phát triển đánh bắt xa bờ lên 440 chiếc vào năm 2010, nâng sản lượng từ 92.000 tấn năm 2000 (nuôi trồng 36.000 tấn) lên 161.000 tấn năm 2010 (nuôi trồng 81.000 tấn) đáp ứng cho nhu cầu chế biến xuất khẩu

- Kết hợp với hệ thống thủy lợi là đầu tư giao thông nông thôn, nhất là các vùng sâu, vùng

xa, vùng căn cứ kháng chiến cũ, xây dựng hoàn chỉnh các cụm xã kết hợp với đầu tư các dịch vụ hậu cần cho sản xuất nông nghiệp, các nhà máy công nghiệp chế biến gần với tiêu thụ sản phẩm nông - ngư nghiệp, thúc đẩy sản xuất nông - ngư nghiệp phát triển giải quyết việc làm cho nông dân trong mùa nhàn, các hộ không đất, tạo sự chuyển dịch về cơ cấu lao động trong

Trang 13

nông - ngư nghiệp cũng như đất đai, tiền vốn Thay đổi một cách cơ bản bộ mặt đời sống xã hội nông thôn

- Từ sự phát triển của nông nghiệp - thủy sản nêu trên sẽ là cơ sở cho việc giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc của Tỉnh như: giải quyết việc làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo, thay đổi căn bản bộ mặt xã hội nông thôn Sự thay đổi về cơ sở hạ tầng nông thôn sẽ thúc đẩy nhanh hơn sự phát triển của công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến, sự phát triển của ngành dịch vụ hậu cầu cho nông nghiệp, thủy sản và nhất là xuất khẩu có những mặt hàng chiến lược, có giá trị kinh tế cao

Trang 14

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG ĐẦU VÀO VÀ ĐẦU

RA CHO HÀNG HÓA NÔNG SẢN CỦA TỈNH TRÀ VINH

2.1 THÔNG TIN CHUNG VỀ HỘ

Để đảm bảo tính ngẫu nhiên, đại diện đồng thời dữ liệu thu thập được có sự chính xác cao, trong quá trình điều tra các hộ, đề tài sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng Phương pháp chọn mẫu này sẽ giúp giải quyết việc chia nhỏ tổng thể một cách thích hợp nhằm tạo điều kiện chọn mẫu dễ dàng hơn, đại diện hơn, tăng tính chính xác của kết quả khảo sát và nghiên cứu Trong quá trình lấy mẫu, do đặc trưng của Tỉnh Trà Vinh có nhiều dân tộc sinh sống, nên tổng số mẫu của hộ người dân tộc Kinh chiếm 68,3 %, dân tộc Khmer chiếm 31,7 %, với tỷ trọng này thì chúng ta thấy nó mang tính đại diện khác cao, đồng thời còn phù hợp với cơ cấu dân tộc chung của Tỉnh Về số mẫu được chọn ra ở mỗi Huyện của Tỉnh được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 1: Số mẫu điều tra chia theo Huyện

Tổng 928 100

Nguồn: Kết quả phỏng vấn điều tra trực tiếp

Trong tổng số mẫu, tỷ lệ mẫu ở Huyện Cầu Ngang chiếm cao nhất: 28,7% do đặc thù về vị trí và địa lý của huyện nên đa số người dân nơi này sống bằng

Trang 15

nghề nông, là nghề truyền thống của ông cha ta, kế đến là Huyện Châu Thành chiếm 26,4% Số mẫu ở Thị Xã chiếm 3,8% bởi vì Thị Xã là trung tâm kinh tế thương mại của Tỉnh nên phần lớn người dân ở đây tham gia vào hoạt động thương mại- dịch vụ, và sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp là chính, còn hoạt động sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ, chỉ có ở vùng xa trung tâm Thị Xã Số mẫu còn lại phân bố đều cho các Huyện Tiểu Cần, Trà Cú, Cầu Kè, Duyên Hải, Càng Long Ngoài ra, một nhân tố ảnh hưởng khá lớn đến đời sống văn hóa kinh tế của các nông hộ, đó chính là trình độ học vấn

0 20 40 60 80 100

Tỷ trọng (%)

81.7

40 18.4 16.5

Nguồn: Kết quả phỏng vấn điều tra trực tiếp

Vì Trà Vinh là một tỉnh vùng sâu, người nông dân chỉ học hết cấp 1 với tỷ lệ là 42,7%, số người học hết cấp 2 chiếm tỷ lệ tương đối 35,5% Bên cạnh đó số người học hết cấp 3 chiếm 12,8% và một số ít người mù chữ là 9%.Nhìn chung

14.8

1.5 1.6

Trồng lúa

Chăn nuôi

Hoa màu

Cây ăn trái

Thủy sản

Đánh bắt Khác

Loại hình

Đồ thị 2: Tỷ trọng các loại hình hoạt động của hộ

Trang 16

đa số người dân trong tỉnh có trình độ dân trí còn thấp do điều kiện sống khó khăn đồng thời cư trú ở vùng sâu vùng xa, nằm rải rác khắp các vùng của tỉnh vì các hộ sống bằng nghề nông và họ cũng chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc học hành Theo kết quả điều tra lấy mẫu ngẫu nhiên toàn bộ số mẫu có đến 90% người dân của Tỉnh có đi học nhưng đa số chỉ dừng lại ở cấp 1 và một phần tương đối ở cấp 2 Điều này cho thấy các nông hộ của tỉnh gặp phải những khó khăn nhất định trong việc tiếp thu và ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất

Hầu hết người dân của Tỉnh tham gia hoạt động sản xuất nông nghiệp, trong đó hoạt động sản xuất lúa chiếm tỷ lệ cao nhất: 81,7% cho thấy ngành nông nghiệp chiếm vị trí hàng đầu trong các ngành kinh tế của tỉnh; chăn nuôi cũng chiếm tỉ lệ đáng kể: 40% là do cơ cấu giống có nhiều thay đổi và đặc biệt thế mạnh của Tỉnh này chăn nuôi bò, đây là loại hình chăn nuôi đang được Nhà nước khuyến khích phát triển và nhân rộng, ở Đồng Bằng Sông Cửu Long tỉnh Trà Vinh chỉ đứng sau tỉnh An Giang Về số lượng trâu bò, chiếm 21,1% năm

1995, 22,8% năm 1997 đàn bò Đồng Bằng Sông Cửu long Đàn heo cũng gia tăng, nhưng không lớn, hiện nay chất lượng đàn heo được quan tâm theo hướng nạc hóa Tuy nhiên khi tham gia loại hình chăn nuôi này đòi hỏi vốn đầu tư cho con giống rất cao, và thời gian thu hoạch cũng khá lâu Hai ngành nông nghiệp và chăn nuôi đóng góp rất nhiều vào giá trị sản xuất cho toàn Tỉnh Bên cạnh đó hoa màu và cây ăn trái cũng được người nông dân quan tâm, nhưng tỷ lệ của hai ngành này lại không cao, chỉ có 18,4% cho hoa màu và 16,5% cho cây ăn trái Cùng với trồng trọt và chăn nuôi, ngành thủy sản mặc dù chiếm tỷ lệ thấp: 14% và chủ yếu tập trung ở Huyện Duyên Hải một phần nhỏ ở huyện Cầu Ngang và Cầu Kè, nhưng đây là ngành có tiềm năng phát triển cao nếu được đầu tư hợp lý thì tốc độ tăng trưởng rất cao, thời kỳ 1996 - 2000 đạt 10,86%, cao gấp 3lần tốc độ tăng nông nghiệp, mặt khác tỷ trọng ngành thủy sản trong những năm qua tăng dần, tuy không nhiều, giá trị GDP của thủy hải sản năm 2000 314 tỷ đồng, năm 2001 là 365 tỷ đồng, cơ cấu thủy hải sản tỉnh gồm khai thác và nuôi trồng Nuôi trồng chiếm phần lớn và có xu hướng gia tăng, nuôi trồng được quan tâm

Trang 17

phát triển nhất là nuôi tôm sú ở vùng ngập mặn ven biển, thả nuôi tôm giống Ngoài việc thả nuôi tôm sú, nhiều hộ gia đình ở Duyên Hải, Cầu Ngang nuôi cua biển, nuôi nghêu, nuôi tôm thử nghiệm trên ruộng muối Ở vùng nước lợ, nước ngọt như Cầu Ngang, Trà Cú, Cầu Kè nuôi tôm càng xanh, nuôi cá với các mô hình tôm - lúa, cá - lúa rất có hiệu quả Còn khai thác hải sản thực hiện chương trình đánh bắt xa bờ, nhiều ngư dân đã được hỗ trợ đóng mới và nâng cấp tài thuyền để khai thác hải sản xa bờ hạn chế đánh bắt ven bờ Tuy nhiên phát triển thủy sản của tỉnh còn gặp nhiều khó khăn và hạn chế Việc phát triển đánh bắt

xa bờ còn thiếu vốn đầu tư phương tiện đánh bắt hiện đại và đội ngũ cán bộ kỹ thuật chưa có tay nghề cao, nguồn lợi thủy sản ven bờ ngày càng cạn kiệt đánh bắt thủy sản chỉ có 1,6% Nuôi trồng thủy sản có phát triển song chưa đều vẫn mang tính tự phát, chủ yếu nuôi thả ở vùng ngập mặn ven biển chưa có quy hoạch vùng nuôi, cơ sở hạ tầng cho vùng nuôi vẫn ở mức còn thấp, hệ thống trại sản xuất giống, hệ thống thủy lợi cấp thoát nước chưa được đủ điện, thiết bị chuyên dụng và các dịch vụ thức ăn nuôi tôm, kỹ thuật thả nuôi chưa thống nhất theo một qui trình nhất định, đã làm cho năng lực sản xuất tôm giống còn chưa tốt, làm ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất nuôi tôm Chính vì thế Tỉnh cần xem xét và hổ trợ cho người dân làm nghề đánh bắt thủy sản để phát triển thêm ngành này với mục tiêu khai thác hợp lý nguồn tài nguyên của Tỉnh và góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế Tại sao mỗi huyện của tỉnh có một vài loại hình sản xuất riêng biệt, Chúng ta cần phân tích sâu hơn để hiểu rõ thế mạnh sản xuất của mỗi Huyện

Bảng 3: Các hình thức sản xuất phân chia theo Huyện ĐVT:%

Loại hình

sản xuất

Thị Xã

Càng Long

Cầu Ngang

Tiểu Cần

Cầu Kè

Châu Thành

Duyên Hải

Trà Cú

89,98,218,4

- 20,451,0

94,410,526,70,88,350,8

82,83,215,1

- 28,036,6

84,85,112,7

- 39,257,0

89,4 12,2 12,7 0,4 14,3 38,4

1,380,5

- 14,3

- 1,3

84,54,815,5-20,216,7

Trang 18

Nguồn: Kết quả phỏng vấn điều tra trực tiếp

Huyện Duyên Hải với đặc trưng của vùng nước mặn, người dân hoạt động trong lĩnh vực thủy sản gần 80,5%, các Huyện còn lại phần lớn các nông hộ trồng lúa, cụ thể là Huyện Cầu Ngang rất thích hợp cho việc trồng cây lúa nước, tỷ lệ các hộ trồng lúa chiếm tỷ trọng cao nhất 94,4 % số hộ điều tra có tham gia trồng lúa, những Huyện còn lại như Càng Long chiếm 89,9%, Châu Thành chiếm: 89,4%, huyện Cầu Kè chiếm: 84,8%, huyện Trà Cú chiếm 84,5%, huyện Tiểu Cần chiếm: 82,8%, Thị Xã: 80% Chăn nuôi là ngành đứng sau lúa về tỷ lệ số hộ hoạt động trong ngành, cao nhất ở Thị Xã chiếm 65,7%, do có lợi thế về nguồn thức ăn, vốn và kỹ thuật, chủ yếu những hộ ở đây nuôi heo và bò, là 2 vật nuôi truyền thống của Tỉnh và 2 vật nuôi này cũng khá phù hợp với nguồn thức ăn sẵn có và điều kiện tự nhiên của Tỉnh, các huyện khác chiếm tỷ lệ khá cao như Cầu Kè 57%, Càng Long 51%, Cầu Ngang 50,8%, Huyện Châu Thành 38,4%, Tiểu Cần 36,6%, khi đó ở hai huyện Trà Cú và Duyên Hải chiếm rất thấp tương ứng là 16,75 và 1,3% Trong những Huyện trên Duyên Hải chỉ có thế mạnh là nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, còn các hoạt động khác do điều kiện tự nhiên là vùng ven biển nước mặn nên không phù hợp với các loại hình sản xuất khác Trong các nơi trồng cây ăn trái, tỷ lệ cao là Huyện Cầu Kè khoảng 39,2%,

do đất phù sa được bồi đắp từ sông Hậu, rất thích hợp cho những loại cây ăn trái như: chôm chôm, nhãn, sa bô, mận, xoài Hoa màu ở Huyện Cầu Ngang chiếm tỷ lệ cao nhất với gần 26,7%

Qua kết quả phân tích cho thấy đa số người nông dân của Tỉnh hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, một thế mạnh về kinh tế đối với Tỉnh Trà Vinh nói riêng và của cả nước nói chung Do có chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của Tỉnh, phá thế độc canh cây lúa, bố trí lại cơ cấu cây trồng - vật nuôi nên loại hình canh tác của Tỉnh Trà Vinh khá đa dạng Tuy nhiên biểu hiện của sự chuyển dịch còn chưa rõ, trồng lúa và chăn nuôi vẫn là 2 ngành chiếm vị trí chủ lực đóng góp lớn nhất vào giá trị sản xuất của Tỉnh, còn hoa màu, cây ăn trái và thủy sản lại chưa phát triển đồng đều Để đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch

cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp của Tỉnh

Trang 19

thì Tỉnh cần có sự đầu tư hợp lý, chỉ đạo kịp thời về hướng phát triển của các loại hình canh tác, kết hợp hài hòa giữa nông - ngư - nghiệp sao cho phù hợp với đặc điểm sinh thái của từng vùng

2.2 CÁC NGUỒN ĐẦU VÀO TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP

Nền nông nghiệp và kinh tế nông thôn nước ta trong những năm gần đây là một bộ phận đã chuyển sang sản xuất hàng hóa Nhưng nông sản hàng hóa làm

ra chỉ mới đạt được về số lượng chứ chưa đáp ứng được yêu cầu về chất lượng của thị trường trong và ngoài nước Như vậy vấn đề đặt ra là làm sao có được những nông sản phẩm vừa chất lượng tốt vừa có năng suất cao để thỏa mãn nhu cầu thị trường trong và ngoài nước, đồng thời nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp của người nông dân Muốn vậy việc cung cấp các yếu tố đầu vào như nguồn giống ngắn ngày có năng suất cao, vật tư nông nghiệp chất lượng tốt, thức ăn gia súc đầy đủ dưỡng chất là việc làm quan trọng và mang ý nghĩa thiết thực đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp của nông dân cả nước nói chung và của Tỉnh nói riêng

2.2.1 Thị trường phân bón - thuốc dùng trong sản xuất nông nghiệp

Năng suất và chất lượng nông sản thu hoạch được là kết quả tổng hợp từ nhiều kết quả khác nhau như: khí hậu, đất đai, giống, kỹ thuật canh tác Từ thực tiễn nông nghiệp hàng năm, ông cha ta đã có đúc kết: “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” Câu nói này thể hiện sự quan trọng của phân bón thuốc dùng trong nông nghiệp trong mối quan hệ với các nhân tố khác để đạt được mục tiêu cuối cùng trong sản xuất nông nghiệp là thu được nông sản có năng suất cao, chất lượng tốt

Trên thị trường nước ta hiện nay, chủng loại phân thuốc dùng cho nông nghiệp rất đa dạng và phong phú, do các nhà máy của ta sản xuất cũng như nhập từ nước ngoài về Điều đó đòi hỏi người trồng trọt phải hiểu biết và sử dụng đúng các loại phân bón (liều lượng, thời điểm bón, cách phối hợp các loại phân ) cho từng loại cây trồng trên từng loại đất thì mới mang lại hiệu quả kinh tế cao, vừa tăng được sản lượng và chất lượng nông sản phẩm, vừa tiết kiệm

Trang 20

được chi phí sản xuất vừa hạn chế đến mức thấp nhất bất lợi của các loại phân thuốc đối với môi trường

Nhận thức được sự cần thiết của phân thuốc trong sản xuất nông nghiệp nên ngày nay, muốn sản phẩm gieo trồng đạt năng suất cao, chất lượng tốt, hầu hết các hộ nông dân đều sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật Chính vì thế mạng lưới các cửa hàng vật tư nông nghiệp ngày càng phát triển rộng xuống các xã, ấp để phục vụ cho nhu cầu đa dạng của bà con nông dân

Bảng 4: Nơi mua và chủng loại phân thuốc

(%) Chủng loại Phần trăm (%) + Xã ấp

+ Xã Huyện

+ Nơi khác

56,0 28,2 15,8

+ Rất đầy đủ + Đầy đủ + Khá đầy đủ + Thiếu

24,1 58,3 13,7 3,9 Nguồn: Kết quả phỏng vấn điều tra trực tiếp

Theo kết quả điều tra nghiên cứu, để có được các loại phân thuốc dùng vào việc chăm bón cây trồng thì 56% nông hộ chỉ cần đến các cửa hàng vật tư nông nghiệp tại xã ấp mình là sẽ mua được đầy đủ phân thuốc cần dùng Sự lựa chọn này chiếm tỷ lệ cao nhất là vì để thuận tiện cho việc đi lại cũng như tiết kiệm chi phí vận chuyển và nó đã trở thành thói quen của bà con nông dân Bên cạnh đó có 28,2% người nông dân phải đến các cửa hàng ở chợ Huyện để mua phân thuốc trừ sâu Có thể họ cho rằng tại đây họ được chọn lựa nhiều mặt hàng, chủng loại phân thuốc hơn, chất lượng hàng hóa nơi đây được đảm bảo hơn và các chủ cửa hàng có uy tín hơn, do vậy họ sẵn sàng đánh đổi chi phí và quãng đường xa hơn để có được sự thỏa mãn như mong đợi Cũng có một số người mua phân thuốc ở nơi khác với tỷ lệ tương đối nhỏ 15,8% Điều này có thể lý giải là người mua tin tưởng ở chất lượng của nơi này cũng có thể là do chỗ quen biết của họ

Trang 21

Khi lấy ý kiến người nông dân về chủng loại phân bón thuốc dùng nông nghiệp thì đa số người mua hài lòng với sự đầy đủ về chủng loại phân bón cũng như thuốc dùng Chính sự đòi hỏi của thị trường, sự cạnh tranh lành mạnh, muốn tồn tại và phát triển thì phải tuân theo qui luật cạnh tranh của thị trường Do vậy, các nhà máy sản xuất phân thuốc cùng với hệ thống các cửa hàng vật tư đã mang lại nhiều lợi ích cho người nông dân, đó là sự cung cấp phong phú chủng loại, sự phục vụ tận tình chu đáo Thật vậy, theo nhận xét của hơn phân nửa số người mua: 58,3% thì nơi họ mua phân thuốc có đầy đủ chủng loại mà họ cần Kế đến khoảng 24,1% ý kiến cho rằng nơi mình mua vật tư nông nghiệp là rất đầy đủ và 13,7% ý kiến chưa hài lòng hoàn toàn họ chỉ cho rằng khá đầy đủ Còn lại 3,8% nông hộ cho rằng các cửa hàng họ mua là còn thiếu, thậm chí thiếu nhiều, phần này chỉ chiếm tỷ lệ không đáng kể

Đô thị 2: Chủng loại phân thuốc

Rất đầu đủ 24%

Đầy đủ 58%

Khá đầy đủ 14%

Thiếu 3%

Thiếu nhiều 1%

Bảng 5: Sự đa dạng của chủng loại phân thuốc giữa các Huyện

Chủng loại phân

thuốc các Huyện

Thị Xã

Càng Long

Cầu Ngang

Tiểu Cần

Cầu Kè

Châu Thành

Trà Cú

- Rất đầy đủ

-

-

36,454,56,8

- 2,3

18,763,812,83,11,6

23,960,214,81,1

-

15,1 43,8 31,5 8,2 1,4

25,5 58,3 13,2 3,0

-

38,356,81,23,7-

Nguồn: Kết quả phỏng vấn điều tra trực tiếp

Trang 22

Như đã phân tích ở trên, nhìn một cách tổng quát, thì phần đông người mua phân thuốc trừ sâu đều cho nhận xét là đầy đủ về chủng loại Trong ý kiến về sự đầy đủ của phân thuốc giữa các Huyện thì Huyện Cầu Ngang đồng ý ý kiến này với tỷ lệ cao nhất gần 64%, kế đến Tiểu Cần chiếm 60,2%, thứ ba Châu Thành 58,3%, Trà Cú chiếm 56,8%, Càng Long 54,5% còn ở Thị Xã chiếm 41,9% Về sự thiếu hay thiếu nhiều được nhận xét bởi những người dân giữa các huyện chiếm tỷ lệ rất thấp như Càng Long thiếu nhiều chiếm 2,3%, Cầu Ngang thiếu phân thuốc chiếm 3,1%, khi đó Tiểu Cần 1,1%, ở Cầu Kè người dân cho rằng chủng loại phân thuốc còn thiếu chiếm khá cao so với các huyện khác 8,2%, do các cửa hàng ở ấp xã không có vốn lớn nên kinh doanh với qui mô nhỏ và vừa, ở Châu Thành chiếm 3,0%, và Trà Cú thiếu chiếm 3,7% Do đặc thù của huyện Duyên Hải đa số nông hộ đều nuôi trồng thủy - hải sản nên không có điều tra về lĩnh vực nông nghiệp

Vậy, trong điều kiện hiện nay, người dân nói chung ở Tỉnh Trà Vinh và xét riêng giữa các Huyện thì đa số hộ nông dân cho biết chủng loại vật tư nông nghiệp nơi bán là đầy đủ, hơn thế nữa là rất đầy đủ Có rất ít hộ nông dân than phiền thiếu kém trong sự đa dạng các loại cũng như chất lượng phân thuốc, đây là tín hiệu đáng mừng trong sản xuất nông nghiệp, bởi lẽ thiếu phân bón, thuốc trừ sâu thì tình trạng năng suất và phẩm chất nông sản hàng hóa thấp là không thể tránh khỏi

Qua phân tích cho thấy cùng với sự phát triển của ngành thương nghiệp nông thôn, hệ thống các cửa hàng vật tư nông nghiệp tại các xã ấp ngày một đông đúc, hoạt động khá tốt và việc phân phối các loại thuốc đến người nông dân dễ dàng và nhanh chóng hơn Chính sự đòi hỏi của thị trường, sự cạnh tranh đã mang lại nhiều lợi ích cho người nông dân, đó là sự đầy đủ và phong phú về chủng loại, ít để cho tình trạng thiếu hụt vật tư nông nghiệp xảy ra

2.2.2 Thị trường thức ăn cho gia súc gia cầm

Sau trồng lúa, chăn nuôi là hoạt động sản xuất nông nghiệp đứng thứ hai mang lại thu nhập đáng kể cho những hộ làm kinh tế nông nghiệp ở Tỉnh này Tuy nhiên để chăn nuôi đạt năng suất và hiệu quả cao hơn nữa thì nông dân ta

Trang 23

cần chuyển mạnh từ chăn thả, sử dụng các loại thức ăn thô sơ sang chăn nuôi công nghiệp, sử dụng các loại thức ăn pha chế trộn sẵn mang lại dinh dưỡng cao có như vậy ngành chăn nuôi mới thật sự đóng góp nhiều cho sự phát triển kinh tế, mang lại hiệu quả và thu hoạch cao

Thức ăn, dinh dưỡng và nuôi dưỡng là các nhân tố hàng đầu có thể gây tác động hết sức quan trọng đến cơ thể gia súc gia cầm; bằng thức ăn và bằng cách cho ăn, người ta có thể điều khiển quá trình trao đổi chất làm cho phẩm chất gia súc gia cầm tốt hơn và nâng cao sức sản xuất của chúng Cùng với sự phát triển của ngành chăn nuôi công nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa bắt đầu phát triển, việc sử dụng thức ăn công nghiệp cho gia súc ngày càng phổ biến Nhìn chung các loại thức ăn được sử dụng trong chăn nuôi gia súc, gia cầm khá đa dạng Qua điều tra người dân khi chăn nuôi họ thường mua các loại thức ăn như sau: Bảng 6: Chủng loại và nơi mua thức ăn trong chăn nuôi

Các loại thức ăn Phần trăm

- Thuốc tăng trưởng

- Thức ăn hỗn hợp

- Loại khác

32,9 70,5 13,4 22,1 63,2 12,9

- Xã ấp

- Xã Huyện

- Nhà máy xay xát

- Có sẵn ở nhà

- Mua ở xóm

- Nơi khác

45,8 37,4 7,9 22,4 8,9 10,3

Nguồn: Kết quả phỏng vấn điều tra trực tiếp

Cám là một loại thức ăn thích hợp dùng trong chăn nuôi, đặc biệt là đối với nuôi heo bởi nó chứa nhiều dinh dưỡng, cung cấp năng lượng trong quá trình chuyển mỡ trong cơ thể động vật, đồng thời nó còn là sản phẩm phụ của lúa nên có thể nói nó có rất nhiều ở nông thôn, cho nên hầu hết các hộ nuôi heo đều sử dụng cám để chăn nuôi Còn đối với thức ăn hỗn hợp cung cấp cho gia súc prôtein, khoáng chất, sinh tố cần thiết cho quá trình tăng trưởng của vật nuôi Do vậy 2 loại thức ăn này được người dân mua nhiều nhất: 70,5% người chăn nuôi mua cám và khoảng 63% số người điều tra mua thức ăn hỗn hợp, cho dù sử dụng thức ăn hỗn hợp trong chăn nuôi thì giúp cho vật nuôi tăng trọng rất nhanh,

Trang 24

nhưng do giá của loại thức ăn này khá cao nên các hộ chăn nuôi thường dùng khi gia súc còn nhỏ hoặc vừa mới bắt về nuôi hay cho gia súc ăn khi đang trong thời kỳ mang thay nhằm tăng thêm độ đạm và nhiều chất bổ dưỡng cho gia súc Đặc biệt các hộ chăn nuôi thường cho heo nái đang mang thai ăn nhiều thức ăn hỗn hợp trộn sẵn để thỏa mãn nhu cầu prôtein, năng lượng, canxi và photpho của heo nái có thai cũng như tăng trọng lượng của heo con sơ sinh

Tấm vẫn là loại thức ăn truyền thống thường dùng trong chăn nuôi, nhưng ngày nay do xuất hiện nhiều loại thức ăn hỗn hợp trộn sẵn và các thức ăn tăng trưởng nên lượng dùng trong khẩu phần thức ăn gia súc có giảm đi đáng kể, cụ thể qua điều tra chỉ còn có gần 33% số hộ điều tra mua là cho gia súc ăn tấm

Ngoài các thức ăn cơ bản như tấm, cám, thức ăn hỗn hợp, để đảm bảo cho vật nuôi tăng trưởng và phát triển tốt, rút ngắn thời gian nuôi, đồng thời tăng phẩm chất vật nuôi hàng hóa thu hoạch, trong chăn nuôi hiện đại, người ta còn sử dụng các loại thuốc tăng trưởng, bột xương, bột cá cho gia súc gia cầm Tuy nhiên tỷ lệ nông dân dùng thuốc tăng trưởng hay bột cá, bột xương lại không cao, chỉ có khoảng 22% cho thuốc tăng trưởng và 13,4% cho bột xương trong chế độ dinh dưỡng cho gia súc gia cầm Bởi lẽ những loại thức ăn như thế này thường

32.9 70.5

63.2

12.9

0 20 40 60 80

Phần trăm (%)

xương

Thuốc tăng trưởng

Thức ăn HH

Loại khác Tên thức ăn

Đồ thị 3: Các loại thức ăn cho gia súc

Trang 25

bán với giá cao, thay vào đó người chăn nuôi sẽ tận dụng những loại thức sẵn có của mình như rau, cây chuối, bèo, hay các thức ăn dư thừa Và cũng chính vì thế mà đã tồn tại tỷ lệ gần 13% số hộ điều tra trong khẩu phần ăn của gia súc gia cầm sử dụng những loại thức ăn khác, trong đó có cả rau xanh cỏ tươi hay rơm rạ, vừa để bổ sung chất dinh dưỡng và chất sơ cho vật nuôi, vừa để tiết kiệm chi phí

Cùng với sự phát triển của ngành chăn nuôi, các cửa hàng gia súc đã không ngừng lớn mạnh, cung cấp ngày càng nhiều loại thức ăn chất lượng cao giúp gia súc gia cầm tăng trọng tốt, tỷ lệ nạc cao, thời gian tăng trưởng ngắn Mạng lưới cửa hàng cung cấp thức ăn gia súc của Tỉnh Trà Vinh khá phát triển, có mặt khắp các Huyện, thị xã, thậm chí vào các xã ấp tạo thuận lợi cho nông dân trong ngành chăn nuôi Bảng số liệu trên cho thấy khi cần mua thức ăn gia súc, có gần 46% hộ chăn nuôi đã tìm đến cửa hàng vật tư nông nghiệp trong xã, ấp của họ để mua thức ăn, cho thuận tiện gần nhà và dễ chuyên chở ít tốn chi phí và 37,4% hộ mua ở chợ Huyện Loại thức ăn họ mua nhiều nhất ở hai nơi đây là thức ăn hỗn hợp trộn sẵn, thuốc tăng trưởng, bột cá bột xương

Cũng như những nơi khác, khi chăn nuôi, nông dân thường sử dụng tấm, cám hoặc rau cỏ làm nguồn thức ăn chính nên có gần 1/4 số hộ sử dụng nguồn thức ăn sẵn tại nhà Một số hộ mua thức ăn ở các nhà máy xay xát, mua ở xóm hoặc nơi khác Những vấn đề trên chứng tỏ mạng lưới các cửa hàng thức ăn gia súc phân bố khá rộng rãi có mặt hầu hết các xã Huyện Điều này cũng là một trong những lợi thế đáng kể đối với người chăn nuôi

2.2.3 Thị trường cây giống và con giống

Trong trồng trọt cũng như chăn nuôi có thể nói cây giống và con giống là những yếu tố quan trọng quyết định năng suất, chất lượng của sản phẩm thu hoạch Chính vì vậy, việc lựa chọn nguồn giống mang tính chất quyết định đối với năng suất thu hoạch sau này của bà con nông dân

Sản xuất nông nghiệp khác với nhiều ngành sản xuất khác ở đặc tính sinh học vì nó được tiến hành trên các cơ thể sống là cây trồng, vật nuôi Để hoàn

Trang 26

thành chức năng của mình là bảo đảm cung cấp đầy đủ lương thực cho con người, thức ăn cho gia súc và nguyên liệu cho công nghiệp, sản xuất nông nghiệp luôn đòi hỏi phải có các giống cây trồng, vật nuôi mới, năng suất cao, phẩm chất tốt, thích ứng với những điều kiện sản xuất nhất định, vả lại giống cây trồng vật nuôi trong nông nghiệp thường khi chọn giống chúng ta còn phải chú ý đến thế hệ lai tạo, đời cây giống, con giống sau này Vì thời gian đầu tư dài nhất là những cây lâu năm và cây công nghiệp dài ngày Do vậy những người làm nông nghiệp cần phải chú ý nhiều hơn nữa đối với công tác chọn giống, có như vậy thì cây trồng, vật nuôi mới đem lại những kết quả đáng khả quan

Bảng 7: Nguồn gốc giống cây trồng - vật nuôi Nơi mua cây giống Phần trăm (%) Nơi mua vật nuôi Phần trăm (%)

- Giống nhà

- Các vườn trong xóm

- Tại các vườn ươm

- Từ các ghe

- Xã khác

60,125,19,814,517,9

- Các hộ trong xóm

Nguồn: Kết quả phỏng vấn điều tra trực tiếp

Với kết quả có được từ bảng số liệu trên, ta thấy trên 60% người nông dân thường sử dụng cây giống của nhà mình từ các vụ trước để tiếp tục gieo trồng cho những vụ sau nhất là cây lúa Bởi lẽ qua nhiều vụ gieo trồng trước, các hộ nông dân đã có không ít hiểu biết về đặc điểm của các loại giống này đồng thời chi phí giống khá rẻ, thêm vào đó một phần có lẽ đây là một trong những Tỉnh khá xa các trường, các trung tâm nghiên cứu, các vườn ươm, các viện nghiên cứu giống Do vậy, họ không có cơ hội để mua các giống cây trồng mới có chất lượng cao từ những nơi này, lựa chọn ưu tiên nhất của họ cho mùa vụ tiếp theo chính là nguồn giống sẵn có ở nhà Đây làm một trong những vấn đề mang tính cấp bách đòi hỏi sở nông nghiệp, các ban ngành có liên quan cần quan tâm đến thị trường cây giống nhiều hơn Nếu không có sẵn cây giống tại nhà, 25% hộ nông dân thường sang các vườn ươm trong xóm để mua Họ cũng đến mua ở xã khác, ở các vườn ươm nơi khác và từ các ghe bán dạo từ Bến Tre chở qua, nhưng

Trang 27

tỷ trọng này chiếm phần trăm không cao Điều này nói lên phần nào thực trạng mà chúng ta cần quan tâm Trong sản xuất nông nghiệp giống rất quan trọng mà

ở đây thị trường giống cây chưa phát triển mạnh

Đối với giống vật nuôi hơn phân nửa (51,9%) số hộ nông dân khi chọn mua giống vật nuôi thường mua từ các hộ trong xóm nhất là heo và bò giống Vì phần lớn các nông hộ đều sản xuất theo hướng lấy thịt cho nên việc sử dụng giống nhà là tương đối ít gần 22%, thêm vào đó các hộ ở đây do vốn ít cho nên họ chỉ nuôi với qui mô nhỏ khoảng 2-3 con/lứa Mà chúng ta biết để sản xuất con giống có hiệu quả thì đòi hỏi phải là những hộ chăn nuôi có nhiều kinh nghiệm, thời gian đầu tư dài và số vốn đầu tư tương đối lớn Ngoài ra họ có thể mua ở chợ với heo con giống thì mua ở chợ thường có giá rẻ hơn so với họ mua ở xóm nhưng nói chung chất lượng heo con không tốt do không xác định được nguồn gốc heo bố mẹ đồng thời tỷ lệ heo mắc bệnh cũng khá cao Còn những trường hợp họ đến những trại giống để mua heo về nuôi hầu như rất ít Đối với bò giống, do đây là một trong những Tỉnh có điều kiện khá thuận lợi cho việc chăn nuôi bò, nên chủ trương chính sách của Tỉnh ưu tiên phát triển, cho nên trong thời gian gần đây cũng có nhiều hộ nuôi bò đã tiếp nhận được những giống bò mới có

Đồ thị 4: Nguồn gốc giống vật nuôi

Trang 28

năng suất, chất lượng cao từ các chương trình khuyến nông của Tỉnh Đây là một trong những việc mà các ban ngành có liên quan cần phải quan tâm, tìm cách hỗ trợ và có những chủ chương khuyến khích, hỗ trợ kịp thời giúp cho những người chăn nuôi có nhiều điều kiện thuận lợi hơn

2.2.4 Hình thức thanh toán cho các nguồn đầu vào

Bảng 8: Hình thức thanh toán phân - thuốc - con giống

Phân – thuốc Thức ăn gia

súc

Cây - con giống

Hình thức

thanh toán

Phần trăm (%)

Phần trăm (%) Phần trăm (%)

61,330,033,7

86,410,39,5

Nguồn: Kết quả phỏng vấn điều tra trực tiếp

Qua điều tra cho thấy có đến hơn phân nửa số hộ (55,3%) trả tiền mua phân thuốc sau khi bán nông sản phẩm thu hoạch được, vì hiện nay, do nhu cầu cạnh tranh trong việc tiêu thụ vật tư nông nghiệp, đồng thời nguồn vốn sản xuất của nông dân có hạn nên có khá nhiều cửa hàng bán vật tư nông nghiệp sẵn sàng cho khách hàng của mình thanh toán theo hình thức gối đầu, tức là sau khi thu

Đồ thị 5: Hình thức thanh toán phân thuốc, thức ăn cây, con giống

Trang 29

hoạch và bán nông sản, các nông hộ mới trả tiền cho các cửa hàng, đại lý Nếu người mua có khả năng thanh toán nhanh thì họ có thể trả tiền mặt ngay 1 lần, chiếm khoảng 42% hoặc họ có thể chia làm nhiều lần để trả Vấn đề này cũng phản ánh lên phần nào sự thiếu hụt vốn đầu tư trong sản xuất của các nông hộ Khi mua thức ăn cho gia súc có 61,3% số hộ trả tiền mặt ngay một lần, vì người chăn nuôi luôn tận dụng nguồn thức ăn dư thừa nên mỗi lần mua thức ăn cho gia súc thì chi phí không lớn lắm nên họ thanh toán bằng tiền mặt ngay một lần cho tiện Còn những người mua không có khả năng thanh toán ngay thì họ có thể thanh toán nhiều lần 30% hoặc sau khi bán sản phẩm mới thanh toán 33,7%, tỷ lệ hai trường hợp này là gần như tương đương nhau khoảng 1/3 bởi do đa số người nông dân đều nghèo không đủ vốn hoặc có vốn rất ít

Phần đông (86,4%) số người mua cây giống và con giống họ thanh toán cho người bán bằng tiền mặt do chi phí không nhiều và do đặc tính của sản phẩm và phải trải qua một thời gian dài họ mới mua tiếp Cũng vì lý do đó mà có rất ít người thanh toán làm nhiều lần và sau khi bán sản phẩm

Bảng 9: Hình thức thanh toán phân chia theo dân tộc

52,6

39,1 27,7

60,5

Nguồn: Kết quả phỏng vấn điều tra

Trong tổng số mẫu điều tra, kết quả là 68,3% dân tộc Kinh, Khmer chiếm 30,2%, số rất ít là người Hoa Nhìn vào kết quả trên chúng ta thấy có sự khác biệt khá đáng kể giữa các hình thức thanh toán của 2 nhóm nông hộ phân chia theo dân tộc Với hình thức thanh toán tiền mặt khi mua các yếu tố đầu vào thì rõ ràng các hộ Kinh có tỷ lệ thanh toán tiền mặt cao hơn khá nhiều so với các hộ Khmer, còn ngược lại đối với hình thức mua chịu nghĩa là khi bán sản phẩm rồi mới có tiền để thanh toán thì người Khmer lại cao hơn người Kinh gần 10 % Thực trạng này phản ánh lên phần nào đời sống kinh tế của các hộ nói chung, và

Trang 30

đặc biệt là các hộ người Khmer, chứng tỏ đời sống kinh tế của họ còn gặp khá nhiều khó khăn cho nên phải mua chịu các yếu tố đầu vào, cho dù họ biết rằng khi mua chịu phải chịu một mức giá chênh lệch khá đáng kể, thêm vào đó có những trường hợp người bán chỉ bán những sản phẩm có chất lượng không tốt cho những người mua chịu Khi mua các nguồn đầu vào trong quá trình sản xuất, chúng ta thấy 55,3 % các nông hộ phải chấp nhận mua chịu, vì không có đủ vốn trong quá trình sản xuất và do vậy phải chấp nhận một mức giá chênh lệch, đối với phân thuốc gần 3,5 % so với thanh toán bằng tiền mặt, mà chúng ta cũng biết đối với thị trường đầu vào mặt hàng phân, thuốc có thể nói chiếm số lượng và giá trị khá lớn so với các nguồn đầu vào khác Còn thức ăn và con giống mức chênh lệch bình quân khi mua chịu cũng hơn 2 % Điều này phản ánh lên được phần nào những khó khăn và thiệt thòi cho nông hộ trong quá trình sản xuất nhất là các hộ nghèo, họ đã không có đủ vốn trong sản xuất mà còn phải chịu phần chênh lệch giá, dẫn đến giá thành nông sản làm ra khá cao, ảnh hưởng một phần đáng kể đến lợi nhuận của họ, đồng thời còn gây khó khăn về vốn cho các nơi bán đầu vào phục vụ cho sản xuất nông nghiệp

Đồ thị 6: Mức chênh lệch trung bình khi mua chịu

2.2.5 Lý do mua chịu

Để hiểu rõ những nguyên nhân nào dẫn đến các hộ mua chịu, ta xem bảng sau:

Trang 31

Bảng 10: Những lý do mà các hộ phải mua chịu các nguồn đầu vào

Phân- thuốc Thức ăn gia súc Cây giống và

con giống

Lý do mua chịu

Phần trăm (%) Phần trăm (%) Phần trăm (%)

- Không có khả năng

- Đầu tư vào việc khác

- Thói quen mua hàng

- Khác:

71,522,820,74,4

70,2 17,3 11,5 1,4

50,015,64,21,0 Nguồn: Kết quả phỏng vấn điều tra trực tiếp

Người nông dân mua chịu các nguồn đầu vào do không có khả năng thanh toán đều chiếm tỷ lệ cao ở 3 trường hợp, cụ thể: mua phân thuốc và thức ăn gia súc tương ứng chiếm 71,5% và 70,2%, mua cây giống và con giống chiếm 50% Các hộ có vốn dùng đầu tư vào việc khác khi mua phân - thuốc 22,8%, còn thức ăn gia súc chiếm 17,3% và cây giống và con giống 15,6%, có thể các hộ này họ có tiền mặt nhưng họ không dám trả hết cho nguồn đầu vào, mà trong quá trình sản xuất thời hạn giữa các vụ khá dài, bình quân khoảng 40 tháng Do đó, trong suốt khoảng thời gian này họ cần phải chi ra cho nhiều khoản khác, cho nên họ không dám trả hết toàn bộ, mà buộc họ phải chừa lại một phần vốn dành cho nhu cầu chi tiêu hàng ngày và mua các nguồn đầu vào khác Còn khi mua chịu

do thói quen mua hàng, người bán do cạnh tranh với nhau nên đã chọn nhiều hình thức thanh toán khá dễ, từ đó hình thành thói quen mua chịu cho dù có thể họ có tiền mặt trong tay của phân - thuốc 20,7%, thức ăn gia súc 11,5% và cây giống và con giống chiếm rất nhỏ 4,2% Nhưng trường hợp mua chịu do thói quen và trường hợp khác như bán sản phẩm chưa thu kịp đành mua chịu vài hôm, hoặc là vốn có được từ các nguồn khác đều chiếm tỷ lệ không đáng kể Từ những vấn đề trên chúng ta thấy được phần nào, nếu những nông hộ có đủ vốn đầu tư cho sản xuất thì chắc rằngü trong quá trình sản xuất họ gặp khá nhiều thuận lợi hơn, so với hộ không có đủ vốn

Trang 32

2.2.6 Cách thức mua các nguồn đầu vào

58,7 41,3

51,948,1

15,0 85,0

22,577.5

3 Hình thức sở hữu

- Của nhà

- Thuê

74,725,4

84,6 15,4

81,318,7 Nguồn: Kết quả phỏng vấn điều tra trực tiếp

Phần lớn người nông dân mua các nguồn từ thị trường đầu vào khi vận chuyển họ sử dụng xe, cụ thể mua phân thuốc chiếm 69,3% và thức ăn chiếm 58,7 %; mua cây giống và con giống chiếm 51,9%, ngoài ra, họ còn sử dụng phương tiện vận chuyển khác đó là ghe thường ít khi dùng loại phương tiện này

vì nó vận chuyển rất chậm, mà đa số các hộ đều có xe vì thị trường xe gắn máy hiện nay rất đa dạng và phong phú, cộng với điều kiện đường xá cũng được nâng cao, đó là những lý do nhiều hộ chuyên chở bằng xe

Cách thức đi mua phân thuốc được người bán chở tới nhà chiếm tỷ lệ 19,8%

vì đa số các hộ mua với số lượng ít nên phải tự chở về hoặc quá giang người quen mặt khác các nông hộ thường là mua chịu nên không có yêu cầu người bán chở tới nhà, nên tỷ lệ này chiếm khá cao 60,2%, đối với thức ăn gia súc người bán chở tới cho người mua 85% vì người mua mua thức ăn đều trả bằng tiền mặt, khi mua số lượng tương đối khá, bên cạnh đó do tính cạnh tranh của thị trường nên để giữ mối về lâu về dài, các chủ cửa hàng bán thức ăn thường chở đến nhà cho người mua, còn trường hợp người mua lượng hàng quá ít thì tự trở về chiếm

Trang 33

15%, về cây giống và con giống thì được đa số người bán chở tới chiếm 77,5%, nhưng vẫn có một số trường hợp là người mua tự chở chiếm 22,5% Hầu hết các phương tiện mà người nông dân dùng để vận chuyển các nguồn đầu vào đều là của gia đình: cụ thể khi mua phân thuốc chiếm 74,7%, về thức ăn gia súc 84,6% còn đối với cây và con giống chiếm khá 81,3% do điều kiện giao thông đường bộ đang dần đổi mới hướng đến việc bê tông hóa các dường làng xã, bên cạnh đó giá cả của các phương tiện giao thông như xe cộ lại phù hợp với thu nhập của người dân trong tỉnh nói riêng và của Đồng Bằng Sông Cửu Long nói chung, nó lại là phương tiện vận chuyển nhanh và mau lẹ nhất nên được đa số người dân chọn hình thức này và rất ít khi đi thuê bên ngoài trừ khi số lượng vận chuyển quá lớn mà do đường xa hay lý do nào đó mà người mua không vận chuyển được, qua phân tích ta có số liệu tương ứng: 25,4%, 15,4% và 18,7% Đây phần nào cũng nói lên thói quen mua hàng của người nông dân, trong quá trình sản xuất chăn nuôi do tính chất lợi nhuận không cao, cho nên trong quá trình sản xuất họ chủ yếu lấy công làm lời, nếu mọi thứ đều phải thuê mưới thì tin chắc là họ sẽ không có lợi nhuận, thậm chí thua lỗ, phần nào cũng phản ánh lên một phần mạng lưới giao thông nông thôn ở đây khá thuận tiện cho họ trong quá trình giao thông và hiện nay chương trình bê tông quá các đường xã ấp ở các Huyện được vận động và phát triển rất mạnh

Bảng 12: Khoảng cách từ nhà đến nơi mua ĐVT: Km Khoảng cách từ

nhà đến nơi mua

Phân thuốc Thức ăn Cây - con

giống Trung bình

Cao nhất

Thấp nhất

2,5730,000,10

2,6430,000,10

3,44 40,00 0,10

Nguồn: Kết quả phỏng vấn điều tra trực tiếp

Trang 34

Chúng ta thấy mạng lưới phân phối các cửa hàng vật tư và các đại lý thức ăn gia súc khá gần, có mặt hầu hết ở các Huyện xã, có lẽ cũng một phần là do sự cần thiết và tầm quan trọng của các mặt hàng này ở thị trường nông thôn Khi mua các yếu tố đầu vào bình quân họ đi chưa tới 3 km2 thì đã có nơi mua, đối với giống cây trồng vật nuôi có nhiều trường hợp để có giống chất lượng tốt buộc họ đi xa để tìm mua thường là các trại giống hoặc họ phải lên Tỉnh

2.2.7 Lý do chọn nơi mua

Bảng 13: Các lý do chính họ chọn nơi để mua các yếu tố đầu vào

Lý do chọn nơi mua Phân- thuốc Thức ăn gia

súc Cây - con giống

- Quen biết trước

- Giống tốt

- Giá bán rẻ

- Cân đong chính xác

- Thuận tiện gần nhà

- Cho mua chịu

- Nói chuyện vui vẻ

- Chất lượng tốt

- Người bán chở tới nhà

- Khác

77,5-10,98,430,645,39,39,814,21,7

65,3

- 11,3 12,9 23,2 26,3 8,7 12,4 4,2 0,8

36,447,214,4-19,05,93,6 4,9 Nguồn: Kết quả phỏng vấn điều tra trực tiếp

Số hộ mua phân thuốc trừ sâu ở nơi mà họ quen biết chiếm tỷ lệ khá cao, thật vậy có đến 77,5% số nông hộ mua phân thuốc trừ sâu do quen biết, vì bà con nông dân thường trung thành trong quan hệ mua bán, họ thường mua bán với những mối quen có quan hệ từ lâu Bên cạnh đó người bán vật tư, do quen biết

Trang 35

cho nên họ có thể cho người mua thiếu chịu cũng làm cho bà con nông dân thích mua hơn, có khoảng 45,3% số nông hộ mua phân thuốc trừ sâu vì người bán cho họ thiếu Yếu tố gần nhà chỉ chiếm khoảng 30,6% và chỉ 10,9% chú ý đến giá bán và càng rất nhiều người bỏ qua chất lượng nên chỉ có 9,8% mua phân thuốc trừ sâu vì chất lượng tốt, điều này nói lên phần nào do tính chất cạnh tranh để giữ khách hàng giữa các điểm bán vật tư, cho nên khi bán ra mức giá và chất lượng cùng một mặt hàng cho dù giữa các cửa hàng, đại lý khác nhau nhưng hầu như sự chênh lệch không đáng kể, ngoài ra do sự hạn chế của người nông dân về trình độ và kiến thức, về tính cạnh tranh, cách thức mua bán họ chỉ chú ý đến giá cả và hình thức thanh toán mà không quan tâm vấn đề cân đong, đo đếm, đây là vấn đề gây thiệt thòi không nhỏ đối với người nông dân, các lý do còn lại chiếm tỷ lệ nhỏ

Cũng giống như khi mua phân thuốc trừ sâu, hơn 65,3,0% số người mua thức ăn cho gia súc vì quen biết Trường hợp chọn nơi mua người bán cho người mua mua chịu và nơi mua gần nhà chiếm khoảng 26,3% và 23,2% Yếu tố giá và chất lượng thức ăn nó cũng giống như phân thuốc Và đối với các lý do các hộ dân chọn mua thì chúng ta thấy giá cả rẻ và chất lượng là những lý do họ không cho là quan trọng lắm, là vì do qui luật cạnh tranh của thị trường cho nên các đại lý, cửa hàng muốn giữ được khách hàng phải lấy những hàng hóa đảm bảo chất lượng và giá bán cũng không định giá chênh lệnh quá cao Những điều này làm cho người mua yên tâm hơn phần nào

Do giống rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, ai cũng biết chúng ta có chọn giống tốt để gieo trồng thì khi đó mới có thể gặt hái được những quả ngọt trái to, giá bán lại cao Nên khác với khi mua phân thuốc trừ sâu và thức ăn gia súc, yếu tố chất lượng được người mua chú trọng nhất, chiếm khoảng 47,2% là tỷ lệ cao nhất trong các lý do mua giống Kế đến là do quen biết trước khoảng 36,4% và những tỷ lệ thấp cho các lý do như giá bán rẻ 14,4%, thuận tiện gần nhà 19%, người bán cho mua chịu 5,9% và lý do khác chiếm 4,9%

Trang 36

* TÓM TẮT KÊNH THỊ TRƯỜNG ĐẦU VÀO

TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP

Lúa, cây ăn trái, hoa màu

Giống cây trồng

Phân thuốc dùng trong sản xuất

Cửa hàng, đại lý vật tư tại xã ấp

Cửa hàng, đại lý vật tư tại xã huyện

Nơi khác (trạm khuyến nông, )

Nhà Vườn ươm Hàng xóm Ghe lái Địa phương khác

Thức ăn cho vật nuôi

Gia súc, gia cầm, thủy sản

CÁC LOẠI HÌNH

SẢN XUẤT

Trang 37

2.3 TÌNH HÌNH THU HOẠCH NÔNG SẢN PHẨM

2.3.1 Các loại sản phẩm nông nghiệp

Do đặc thù của Tỉnh là có thế mạnh về nông nghiệp, nên loại hình canh tác của Tỉnh chủ yếu là: cây lúa, hoa màu, cây ăn trái, là những loại hình sản xuất nông nghiệp chính Cụ thể diện tích và số vụ canh tác bình quân thể hiện qua bảng sau:

Bảng 14: Diện tích và số vụ bình quân của các loại hình canh tác

Loại nông sản Diện tích bình

quân (công/hộ)

Số vụ bình quân/năm

- Lúa

- Hoa màu

- Cây ăn trái

10,35 2,79 4,61

2,04 3,8 1,62 Nguồn: Kết quả phỏng vấn điều tra trực tiếp

Trong các loại hình sản xuất nông nghiệp của các hộ thì chúng ta thấy cây lúa vẫn chiếm diện tích gieo trồng lớn nhất trong cơ cấu sản xuất, bình quân mỗi hộ của các vùng trong tỉnh trồng lúa hơn 10,35 công, hiện nay đời sống kinh tế của các nông hộ rất khó khăn những người làm ăn thua lỗ không có bất kỳ nguồn kinh phí nào để bù đắp và càng không có vốn chi tiêu hàng ngày nên đành phải sang bán ruộng đất đi làm công nuôi sống qua ngày hoặc bỏ quê lên thành thị sinh sống, còn những hộ nào trụ được là do biết ít nhiều về kỹ thuật canh tác nên làm ăn có lời hoặc có vốn từ một nguồn nào khác để đầu tư vào vụ sau, nên ngày càng mở rộng diện tích kinh doanh, chính vì những lý do này mà diện tích gieo trồng bình quân của các hộ trong tỉnh khá cao, cây ăn trái có diện tích gieo trồng đứng hàng thứ hai, mỗi hộ trồng bình quân 4,61 công, những loại cây ăn trái phổ biến của vùng này thường là nhãn, chôm chôm, bưởi, mận, sa bô, dừa nói chung những loại cây này rất phù hợp với điều kiện tự nhiên của vùng Tuy nhiên, giá trị không cao do các nông hộ trong quá trình trồng chủ yếu trồng theo qui mô nhỏ, vả lại giống từ những cây trồng trước chiết lại, nên chất lượng các trái cây thu hoạch không cao, tỷ trọng trái đủ tiêu chuẩn xuất khẩu không nhiều còn hoa màu chiếm 2,79 công Về số vụ lúa trong năm thì chúng ta thấy những hộ trồng phổ biến nhất là 2/năm Có một vài vùng 3 vụ nhưng chiếm tỷ lệ

Trang 38

không cao thường ở các huyện Càng Long, Châu Thành, Cầu Kè, Tiểu Cần, Trà Cú và Thị Xã, hai huyện Cầu Ngang và Duyên Hải chỉ sản xuất được hai vụ, ở hai huyện này không sản xuất được vụ đông xuân vì khí hậu nơi này không thuận lợi cho việc gieo trồng cây lúa và không có đủ nước ngọt cho việc tưới tiêu Do vậy, Tỉnh này cần phải coi trọng nhiều hơn công tác thủy lợi, và chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi sao cho phù hợp với xu hướng phát triển của thị trường, mang lại giá trị cao

2.3.2 Sản lượng thu hoạch và giá bán

Bảng 15: Sản lượng thu hoạch và giá bán lúa

Tổng sản lượng (Kg) Giá bán Chỉ tiêu

- Trung bình

- Cao nhất

- Thấp nhất

8.613,42300.000,00150,00

7.161,85178.500,00

0,00

1.670,12 2.660,00 900,00 Nguồn: Kết quả phỏng vấn điều tra trực tiếp

Trong các loại hàng hóa nông sản các hộ thu hoạch thì doanh thu từ lúa là chiếm tỷ trọng khá cao 931.356 tấn, mỗi hộ bình quân mỗi năm trồng 2 vụ lúa và sản lượng thu hoạch hằng năm mỗi hộ hơn 8,5 tấn/hộ, khi thu hoạch tùy theo diện tích canh tác và số nhân khẩu mỗi gia đình, nhưng bình quân họ bán khoảng

85 % sản lượng thu hoạch họ chỉ để lại ăn khoảng 15 %, thậm chí có nhiều hộ sản xuất do diện tích gieo trồng nhỏ, sản lượng thu hoạch ít do vậy họ không có bán lúa mà chỉ để lại ăn và dùng để chăn nuôi gia súc, gia cầm Khi bán giá bán lúa nói chung nó lệ thuộc rất nhiều vào yếu tố thị trường đặc biệt là tình hình xuất khẩu lúa gạo của nước ta chất lượng không cao mà chi phí sản xuất khá nên khi định giá bán để bảo đảm có lời thì giá xuất khẩu cao nên rất khó cạnh tranh với gạo của Thái Lan và các nước khác Nhiều khi họ bán với giá rất cao khoảng 2.660 đ/kg Tuy nhiên có nhiều khi họ phải chấp nhận giá bán thấp 900 đ/kg, do lúa có chất lượng không tốt hạt không đầy, hoặc khi đó gạo xuất khẩu không đủ tiêu chuẩn về chất lượng

Trang 39

2.3.3 Thu hoạch vật nuôi

Bảng 16: Số con, lứa nuôi và giá bán các loại vật nuôi

- Trung bình

- Cao nhất

- Thấp nhất

5,5935,001,00

1,642,501,00

10.862,41 17000,00 9.000,00 Nguồn: Kết quả phỏng vấn điều tra trực tiếp

Xét về vật nuôi thì cũng như những Tỉnh khác, có thể nói con heo và bò là hai loại vật nuôi phổ biến nhất ở các hộ Đối với heo thì các hộ này họ thường nuôi dưới dạng thương phẩm bán cho lò mỗ Trung bình các hộ có chăn nuôi mỗi hộ nuôi bình quân gần 5,6 con/hộ/năm Có nhiều hộ do có vốn mạnh, cộng với kinh nghiệm họ nuôi với qui mô khá lớn 35 con/năm Số lứa heo bình 1,6 lứa/năm Chủ yếu họ nuôi dạng bỏ ống do vậy thời gian nuôi dài, dẫn đến số lứa/năm thấp Về giá bán những lúc cao điểm nhất là thời gian những năm gần đây nhiều khi heo thịt họ bán 17.000 đ/kg nếu mức giá này ổn định thì tin chắc rằng những người nuôi heo có thể đạt được lợi nhuận khá cao Còn với giá bán 9.000 đ/kg heo thịt thì rõ ràng khả năng sinh lời do nuôi heo mang lại không có lời Đối với bò trong thời gian gần đây Tỉnh và các Huyện đã kêu gọi các hộ nên đầu tư chăn nuôi bò, ngân hàng nông nghiệp sẵn sàng hỗ trợ vốn cho họ để mua con giống, tuy nhiên nuôi bò thì lượng thức ăn không tốn chi phí nhiều, nhưng thời gian dài, số vốn đầu tư lớn Do vậy, những hộ có nuôi bò chiếm tỷ trọng không đáng kể Bên cạnh việc nuôi gia súc gia cầm của tỉnh đạt 5.557.742 con gia cầm như gà, vịt, ngan, ngỗng, riêng Huyện Duyên Hải do đặc thù là Huyện ven biển nên rất có lợi thế về nuôi tôm, và phong trào nuôi tôm sú của Huyện này cũng đã hình thành khá lâu, nhưng những hộ nuôi do vốn đầu tư ít, lại là Huyện vùng xa, nên chưa được nhà nước quan tâm nhiều về vốn và kỹ thuật nuôi trồng, hình thức nuôi chủ yếu là quảng canh, chứ không phải là nuôi dạng công nghiệp nên trong những năm vừa qua năng suất thu được không cao, và đời sống những người dân ở Huyện này còn gặp khá nhiều khó khăn Đây cũng

Trang 40

chính laø moôt trong nhöõng vaân ñeă quan tróng maø caùc ban ngaønh coù lieđn quan caăn sôùm coù nhöõng giại phaùp kòp thôøi

2.4 THÒ TRÖÔØNG ÑAĂU RA CỤA NOĐNG SẠN

2.4.1 Phöông thöùc baùn cụa nođng dađn

Khi ñaău tö sạn xuaât caùc nođng hoô ñeău mong muoân laøm sao cho thu hoách caøng sôùm caøng toât, vôùi nađng suaât cao, chaât löôïng phuø hôïp vôùi yeđu caău cụa thò tröôøng trong vaø ngoaøi nöôùc, giaù baùn cao nhaỉm ñạm bạo laø coù lôøi, vaø cạ nhöõng nhađn toâ khaùc ạnh höôûng ñeân quaù trình baùn ra sao cho thaôt thuaôn lôïi ñeơ coù ñoăng voân taùi sạn xuaât vaø giại quyeât nhieău vaân ñeă kinh teâ cho gia ñình Vaân ñeă ñaău tieđn maø chuùng ta caăn xem xeùt ñoâi vôùi quaù trình baùn ra cụa nođng hoô laø caùch thöùc baùn

Bạng 17: Caùch thöùc baùn nođng sạn cụa nođng hoô

9,9 36,5 40,6 17,8 49,1 Nguoăn: Keât quạ phoûng vaân ñieău tra tröïc tieâp

0.0 20.0 40.0 60.0 80.0

100.0 Phần trăm (% )

Lu ïa Vật n uôi Hoa màu Cây ăn trái Thủy sản

L oại nông sản

Đ ồ thị 7: H ình thức bán nông sản của hộ

Bán tại chô ù

Chở đi bán

Ngày đăng: 06/08/2015, 22:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.2.4. Hình thức thanh toán cho các nguồn đầu vào.......................... - MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG NÔNG SẢN CHO TỈNH TRÀ VINH ĐẾN NĂM 2010
2.2.4. Hình thức thanh toán cho các nguồn đầu vào (Trang 2)
Bảng 3: Các hình thức sản xuất phân chia theo Huyện     ĐVT:% - MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG NÔNG SẢN CHO TỈNH TRÀ VINH ĐẾN NĂM 2010
Bảng 3 Các hình thức sản xuất phân chia theo Huyện ĐVT:% (Trang 17)
Bảng 5: Sự đa dạng của chủng loại phân thuốc giữa các Huyện - MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG NÔNG SẢN CHO TỈNH TRÀ VINH ĐẾN NĂM 2010
Bảng 5 Sự đa dạng của chủng loại phân thuốc giữa các Huyện (Trang 21)
Đồ thị 3: Các loại thức ăn cho gia súc - MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG NÔNG SẢN CHO TỈNH TRÀ VINH ĐẾN NĂM 2010
th ị 3: Các loại thức ăn cho gia súc (Trang 24)
Đồ thị 4: Nguồn gốc giống vật nuôi - MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG NÔNG SẢN CHO TỈNH TRÀ VINH ĐẾN NĂM 2010
th ị 4: Nguồn gốc giống vật nuôi (Trang 27)
Hình thức - MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG NÔNG SẢN CHO TỈNH TRÀ VINH ĐẾN NĂM 2010
Hình th ức (Trang 28)
Bảng 10: Những lý do mà các hộ phải mua chịu các nguồn đầu vào - MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG NÔNG SẢN CHO TỈNH TRÀ VINH ĐẾN NĂM 2010
Bảng 10 Những lý do mà các hộ phải mua chịu các nguồn đầu vào (Trang 31)
Bảng 17: Cách thức bán nông sản của nông hộ - MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG NÔNG SẢN CHO TỈNH TRÀ VINH ĐẾN NĂM 2010
Bảng 17 Cách thức bán nông sản của nông hộ (Trang 40)
Bảng 20: Nguồn gốc người mua    ĐVT: %  ẹũa chổ   Luùa  Hoa màu Cây ăn trái  Vật nuôi  Thủy sản - MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG NÔNG SẢN CHO TỈNH TRÀ VINH ĐẾN NĂM 2010
Bảng 20 Nguồn gốc người mua ĐVT: % ẹũa chổ Luùa Hoa màu Cây ăn trái Vật nuôi Thủy sản (Trang 44)
Đồ thị 8: Hình thức thanh toán khi bán các loại nông sản - MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG NÔNG SẢN CHO TỈNH TRÀ VINH ĐẾN NĂM 2010
th ị 8: Hình thức thanh toán khi bán các loại nông sản (Trang 45)
Bảng 21: Số ngày mua thiếu trung bình và cao nhất của các lái buôn - MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG NÔNG SẢN CHO TỈNH TRÀ VINH ĐẾN NĂM 2010
Bảng 21 Số ngày mua thiếu trung bình và cao nhất của các lái buôn (Trang 45)
Bảng 23: Các tiêu chí mà người bán quan tâm khi chọn lựa đối tượng - MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG NÔNG SẢN CHO TỈNH TRÀ VINH ĐẾN NĂM 2010
Bảng 23 Các tiêu chí mà người bán quan tâm khi chọn lựa đối tượng (Trang 47)
3. Hình thức thanh toán khi mua (nhiều nhất số 1, nhì 2,. . .) - MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG NÔNG SẢN CHO TỈNH TRÀ VINH ĐẾN NĂM 2010
3. Hình thức thanh toán khi mua (nhiều nhất số 1, nhì 2,. . .) (Trang 68)
3. Hình thức thanh toán khi mua (nhiều nhất số 1, nhì 2,. . .) - MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG NÔNG SẢN CHO TỈNH TRÀ VINH ĐẾN NĂM 2010
3. Hình thức thanh toán khi mua (nhiều nhất số 1, nhì 2,. . .) (Trang 69)
2. Hình thức thanh toán khi mua (nhiều nhất số 1, nhì 2,. . .) - MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG NÔNG SẢN CHO TỈNH TRÀ VINH ĐẾN NĂM 2010
2. Hình thức thanh toán khi mua (nhiều nhất số 1, nhì 2,. . .) (Trang 70)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w