Như vậy quy mô thịtrường không phụ thuộc vào số lượng người đã mua hàng và cũng không phụthuộc vào số lượng người có nhu cầu và mong muốn khác nhau.[20] 1.1.2 Khái ni ệm về phát triển th
Trang 1TRẦN QUỐC DƯƠNG
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
LÂM SẢN NGOÀI GỖ TẠI HUYỆN LẬP THẠCH
TỈNH VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2011
Trang 2TRẦN QUỐC DƯƠNG
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
LÂM SẢN NGOÀI GỖ TẠI HUYỆN LẬP THẠCH
Trang 3MỞ ĐẦU
Rừng là bộ phận không thể thiếu của hệ sinh thái trái đất, là nguồn tàinguyên vô cùng quý giá Các sản phẩm từ rừng rất phong phú và đa dạng baogồm gỗ và lâm sản ngoài gỗ
Hiện nay, Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) ngày càng được quan tâm chú ýhơn không chỉ vì chúng có giá trị ngày càng cao trên thị trường mà còn docon người nhận thức ngày một đầy đủ hơn về giá trị kinh tế cũng như giá trịsinh thái của nó Đặc biệt phát triển thị trường LSNG còn góp phần xóa đóigiảm nghèo, phát triển kinh tế cho đồng bào trung du, miền núi LSNG có thểkhai thác một cách bển vững vì ít tác động đến tính ổn định của rừng, tănghiệu quả sản xuất kinh doanh đối với rừng trồng, tăng thu nhập cho người sảnxuất Để quản lý sử dụng bền vững tài nguyên rừng nhất thiết phải quan tâmchú ý vấn đề phát triển kinh doanh LSNG Kinh doanh LSNG có ưu thế là cần
ít vốn, chu kỳ kinh doanh ngắn, nhanh cho thu hồi vốn đầu tư, rất phù hợp vớiđặc điểm khu dân cư trung du, miền núi Thành công to lớn trong kinh doanhbuôn bán LSNG sẽ tạo thu nhập ổn định đời sống người dân vùng trung du,miền núi, tăng thu nhập kinh tế quốc dân
Huyện Lập Thạch là một huyện trung du, miền núi của tỉnh Vĩnh Phúc,
có tiềm năng về lao động, diện tích rừng sản xuất có LSNG tương đối lớn, việcbuôn bán LSNG đã hình thành thành từ lâu đời, cho đến nay đã hình thànhmạng lưới thu mua LSNG rất thuận lợi cho việc tiêu thụ LSNG của các hộ nôngdân trong huyện Việc buôn bán LSNG đã hình thành tại các chợ nông thôn,các đầu mối giao thông của Huyện Tuy nhiên, cùng với quá trình chuyển sangnền kinh tế thị trường ở nước ta, thị trường LSNG hầu như bị thả nổi, thiếu sựđiều tiết vĩ mô của Nhà nước, mang nhiều yếu tố tự phát và đang nảy sinh nhiềuvấn đề cần được nghiên cứu giải quyết Với thực trạng trên, có hàng loạt câu hỏiđang đặt ra, như: ai đang tham gia vào thị trường LSNG? Ai là người có lợi nhất
Trang 4và ai là người chịu thiệt nhất khi tham gia vào thị trường?Làm thế nào đề tạo lập
và phát triển thị trường LSNG với cơ chế mềm dẻo, linh hoạt, đảm bảo hài hòalợi ích giữa người sản xuất, người buôn bán và người tiêu dùng LSNG”? Để
trả lời một phần câu hỏi trên, Tôi đã nghiên cứu đề tài: “Th ực trạng và giải pháp phát tri ển thị trường LSNG tại huyện Lập Thạch, Tỉnh Vĩnh Phúc”.
Trang 5Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về thị trường
1.1.1 Khái niệm về thị trường
Thị trường là một phạm trù kinh tế khách quan gắn liền với sản xuấthàng hóa, ở đâu có sản xuất hàng hóa thì ở đó có thị trường Thị trường là nơimua bán hàng hóa, là một quá trình trong đó người mua và người bán traođổi, tác động qua lại nhau để xác định giá cả và số lượng mua bán Thị trường
là nơi diễn ra hoạt động mua bán bằng tiền trong một thời gian và không giannhất định
Dưới góc độ Marketing, thị trường bao gồm tất cả những khách hàngtiềm ẩn cùng có một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năngtham gia trao đổi để thỏa mãn nhu cầu và mong muốn đó Người làmMarketing coi tập hợp người mua thành thị trường Thuật ngữ thị trường ởđây ám chỉ nhóm khách hàng có nhu cầu và mong muốn nhất định, do đó cóthể được thỏa mãn bằng một sản phẩm hay dịch vụ cụ thể, họ có đặc điểmgiới tính hay tâm sinh lý nhất định, độ tuổi nhất định và ở một vùng cụ thể
Từ cách hiểu thị trường dưới góc độ Marketing quy mô thị trường sẽtùy thuộc vào hai yếu tố: thứ nhất, số lượng người có cùng nhu cầu và mongmuốn; thứ hai, lượng thu nhập bằng tiền mà họ sẵn sàng chi trả để mua sắmhàng hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn đó Như vậy quy mô thịtrường không phụ thuộc vào số lượng người đã mua hàng và cũng không phụthuộc vào số lượng người có nhu cầu và mong muốn khác nhau.[20]
1.1.2 Khái ni ệm về phát triển thị trường lâm sản
Dưới góc độ vi mô (góc độ của doanh nghiệp): phát triển thị trườnglâm sản có thể hiểu là phát triển các yếu tố cấu thành nên thị trường lâm sản
Trang 6của doanh nghiệp bao gồm các yếu tố thị trường đầu vào và các yếu tố thịtrường đầu ra.[20]
1.1.3 Vai trò và chức năng của thị trường
- Thị trường là yếu tố quyết định sự sống còn đối với hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế hàng hoá, mục đích của các nhà sản xuất hàng hoá
là sản xuất ra hàng hoá ra để bán, để thoả mãn nhu cầu của người khác Vìthế các doanh nghiệp không thể tồn tại một cách đơn lẻ mà mọi hoạt độngsản xuất kinh doanh đều phải gắn với thị trường Quá trình sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp diễn ra không ngừng theo chu kỳ mua nguyên vậtliệu, vật tư, thiết bị… trên thị trường đầu vào, tiến hành sản xuất ra sản phẩm,sau đó bán chúng trên thị trường đầu ra Doanh nghiệp chịu sự chi phối củathị trường hay nói cách khác thị trường đã tác động và có ảnh hưởng quyếtđịnh tới mọi khâu của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Thịtrường càng mở rộng và phát triển thì lượng hàng hoá tiêu thụ được càngnhiều và khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp càng cao
và ngược lại Bởi thế còn thị trường thì còn sản xuất kinh doanh, mất thịtrường thì sản xuất kinh doanh bị đình trệ và các doanh nghiệp sẽ có nguy cơ
bị phá sản Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, có thể khẳng định rằng thịtrường có vai trò quyết định tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
- Thị trường điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá: Thị trường đóngvai trò hướng dẫn sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường Các nhàsản xuất kinh doanh căn cứ vào cung cầu, giá cả thị trường để quyết định sảnxuất kinh doanh cái gì? Như thế nào ? và cho ai? Sản xuất kinh doanh đềuphải xuất phát từ nhu cầu của khách hàng và tìm mọi cách thoả mãn nhu cầu
đó chứ không phải xuất phát từ ý kiến chủ quan của mình Bởi vì ngày naynền sản xuất đã phát triển đạt tới trình độ cao, hàng hoá và dịch vụ được cung
Trang 7ứng ngày càng nhiều và tiêu thụ trở nên khó khăn hơn trước Do đó, kháchhàng với nhu cầu có khả năng thanh toán của họ, bộ phận chủ yếu trong thịtrường của doanh nghiệp, sẽ dẫn dắt toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp Thị trường tồn tại một cách khách quan nên từng doanhnghiệp chỉ có thể tìm phương hướng hoạt động thích ứng với thị trường Mỗidoanh nghiệp phải trên cơ sở nhận biết nhu cầu của thị trường kết hợp vớikhả năng của mình để đề ra chiến lược, kế hoạch và phương án kinh doanhhợp lý nhằm thoả mãn tốt nhất nhu cầu của thị trường và xã hội.
- Thị trường phản ánh thế và lực của doanh nghiệp
Mỗi doanh nghiệp hoạt động trên thương trường đều có một vị thếcạnh tranh nhất định Thị phần ( phần thị trường mà doanh nghiệp chiếm lĩnhđược ) phản ánh thế và lực của doanh nghiệp trên thương trường Thị trường
mà doanh nghiệp chinh phục được càng lớn chứng tỏ khả năng thu hút kháchhàng càng mạnh, số lượng sản phẩm tiêu thụ được càng nhiều và do đó mà vịthế của doanh nghiệp càng cao Thị trường rộng giúp cho việc tiêu thụ thuậnlợi hơn dẫn tới doanh thu và lợi nhuận nhanh hơn, tạo điều kiện cho doanhnghiệp tái đầu tư hiện đại hoá sản xuất, đa dạng hoá sản phẩm, tăng thêm khảnăng chiếm lĩnh và mở rộng thị trường Khi đó thế và lực của doanh nghiệpcũng được củng cố và phát triển.[20]
1.1.4 Phân lo ại thị trường
Đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng có rất nhiều loại thị trường
mà doanh nghiệp cần tiếp cận Việc nghiên cứu phân loại thị trường sẽ giúpcho doanh nghiệp hiểu biết rõ về những đối tượng mà mình đang tiếp cận vàtham gia vào [10]
Nếu phân loại thị trường theo các giai đoạn tạo nên sản phẩm, người ta
có thể chia thị trường thành hai loại: thị trường các yếu tố đầu vào của sảnxuất và thị trường sản phẩm
Trang 8Nếu phân loại thị trường căn cứ vào đặc điểm của hàng hóa tham giathị trường có thể chia thị trường thành:
+ Thị trường tư liệu sản xuất
+ Thị trường tiêu dùng
+ Thị trường vốn
+ Thị trường lao động
1.1.5 Phân lo ại kênh thị trường
Bản chất của kênh thị trường (Kênh Marketing)
Vấn đề tiêu thụ sản phẩm giữ vai trò quan trọng trong hoạt động kinhdoanh của mỗi doanh nghiệp Hiên nay doanh nghiệp không chỉ quan tâm đếnviệc đưa ra thị trường sản phẩm gì với giá bao nhiêu mà còn đua sản phẩm rathị trường như thế nào? Đây chính là chức năng phân phối của Marketing.Chức năng này được thực hiện thông qua mạng lưới kênh tiêu thụ sản phẩm(Kênh Marketing) của doanh nghiệp.[10]
Có nhiều định nghĩa khác nhau đang tồn tại về Marketing Trên quanniệm ra quyết định quản lý Marketing ở các doanh nghiệp sản xuất thì kênhMarketing được xem xét như là một trong những lĩnh vực quyết định chính
mà người quản lý Marketing phải làm: “ Vậy, kênh Marketing như là một tổchức các quan hệ bên ngoài để quản lý các hoạt động phân phối nhằm đạt cácmục tiêu của doanh nghiệp”
Như vậy, xây dựng kênh phân phối sản phẩm chính là thiết lập các mốiquan hệ kinh tế nằm ở bên ngoài doanh nghiệp chứ không phải trong nội bộdoanh nghiệp, Vì thề khi xây dựng kênh phân phối sản phẩm cho doanhnghiệp phải phân tích môi trường kinh doanh sau đó căn cứ vào khả năng củadoanh nghiệp, đặc điểm tính chất của hàng hóa để quyết định lựa chọn loạihình kênh phân phối sản phẩm.[10]
Phân loại Marketing
Trang 9Dựa vào các căn cứ khác nhau người ta phân loại kênh thị trường thànhcác loại sau
Căn cứ vào mối quan hệ giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng người
ta phân chia kênh thị trường thành:
+ Kênh phân phối trực tiếp: tức là người sản xuất bán và phân phối trựctiếp đến người tiêu dùng
+ Kênh phân phối gián tiếp: tức là sản phẩm từ người sản xuất đếnngười tiêu dùng thông qua mạng lưới trung gian phân phối tiêu thụ
Căn cứ vào số lượng các lực lượng trung gian tham gia trong kênhngười ta chia kênh thành kênh phân phối trung gian, kênh phân phối dài
+ Kênh phân phối một cấp
+ Kênh phân phối hai cấp
+ Kênh phân phối ba cấp
Hình 1.1 Sơ đồ các kênh phân phối sản phẩm
Kênh phân phối là tập hợp các doanh nghiệp với trung gian để tổ chứcvận chuyển hàng hoá, đưa hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng cuối
Người sản xuất
Người tiêu
dùng
Bán lẻ
Người tiêu dùng
Bán buôn
Bán lẻ
Người tiêu dùng
Đại lý
Bán buôn
Bán lẻ
Người tiêu dùng
Người sản xuất
Người sản xuất Người sản
xuất
Trang 10cùng nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu cho người tiêu dùng Đối với các sảnphẩm là hàng tiêu dùng thông thường có kênh phân phối sau:
+ Kênh không cấp (kênh trực tiếp): Người tiêu dùng mua hàng trực tiếp
từ người sản xuất, giữa người sản xuất và người tiêu dùng không có khâutrung gian
+ Kênh một cấp (kênh ngắn): Hàng hoá từ người sản xuất được chuyểnđến cho người bán lẻ hoặc đại lý rồi mới đến tay người tiêu dùng
+ Kênh nhiều cấp (kênh dài): Giữa người sản xuất và người tiêu dùng
có nhiều khấu trung gian Như đại lý, người bán buôn, người bán lẻ…
Kênh phân phối phải thực hiện những chức năng cụ thể và cần thiếtsau:
+ Chức năng tìm hiểu và nắm vững thị trường mục tiêu để đề ra chiếnlược phân phối và vận động hàng hóa phù hợp
+ Tổ chức phân phối và vận động hàng hóa trên kênh sao thông suốt,nhanh chóng, đúng địa điểm kịp thời gian, chi phí vận tải thấp nhất, tỷ lệ haohụt nhỏ nhất
+ Thanh toán sòng phẳng, dứt khoát, nhanh gọn
+ Chức năng thông tin trong kênh cần được tổ chức và duy trì thôngsuốt
+ Chức năng hỗ trợ và xúc tiến được tiến hành thường xuyên
+ Chức năng thương lượng thỏa thuận hợp tác giữa các thành viêntrong kênh đảm bảo sự thông suốt
Các thành viên của kênh thị trường
Bao gồm những người tham gia được nối với nhau bởi các dòng chảyđàm phán và sở hữu
Người sản xuất (Người cung cấp): là người sản xuất trực tiếp, chế tạo
ra sản phẩm gồm nhiều loại thuộc nhiều loại hình kinh doanh như: công
Trang 11nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp… Tồn tại dưới nhiều quy mô khác nhausong họ có cùng mục đích là đưa ra những sản phẩm thỏa mãn và đáp ứngnhu cầu thị trường.
Những người sản xuất thường không thuận lợi để phân phối sản phẩm
cả họ trực tiếp cho thị trường sử dụng cuối cùng Vì họ thiếu kinh nghiệm vàquy mô hiệu quả để thực hiện tất cả các công việc phân phối sản phẩm cầnthiết Vậy họ thường chuyển các công việc phân phối cho các thành viên kháctrong kênh
Người trung gian thương mại: những người trung gian thương mại làcác doanh nghiệp độc lập hỗ trợ giúp người sản xuất và người tiêu dùng cuốicùng trong việc thực hiện các chức năng đàm phán và các công việc phânphối khác Họ hoạt động ở hai cấp độ bán buôn và bán lẻ
Những người trung gian bán buôn: bán buôn bao gồm các doanhnghiệp có liên quan đến mua hàng bán cho người bán lại hoặc sử dụng kinhdoanh như những người bán lẻ, công ty sản xuất công nghiệp, tổ chức ngànhnghề, bao gồm:
Bán buôn hàng hóa: là các doanh nghiệp thương mại mua, sở hữu hànghóa, dự trữ và quản lý vật chất sản phẩm với số lượng tương đối lớn và bán lạisản phẩm với số lượng nhở cho người bán lẻ sản xuất công nghiệp, thươngmại, các tổ chức nghề nghiệp hoặc cho người bán buôn khác Tên gọi như làngười bán buôn, người phân phối, nhà sản xuất, nhà nhập khẩu, nhà lắp ráp …
Đại lý, môi giới và bán buôn hàng hóa ăn hoa hồng: họ là các trunggian độc lập, đảm nhiệm tất cả hoặc phần lớn công việc kinh doanh của họ
Họ không sở hữu hàng hóa mà họ phân phối, nhưng họ có liên quan thật sựđến các chức năng đảm nhiệm về mua bán trong khi hoạt động Thu nhập của
họ dưới hình thức tiền hoa hồng trên doanh số bán hoặc khoản lệ phí nhấtđịnh
Trang 12Các chi nhánh và đại diện bán của người sản xuất: được làm chủ vàquản lý hoạt động bởi người sản xuất nhưng được tách biệt về vật chất với cácdoanh nghiệp sản xuất Mục đích chủ yếu của họ tồn tại là phân phối các sảnphẩm của người sản xuất cho người bán buôn Ngoài ra thực hiện chức năng
dự trữ, cung cấp các sản phẩm được đặt hàng từ người khác Họ không phảingười bán buôn độc lập
Trung gian thương mại bán lẻ: người bán lẻ bao gồm các doanh nghiệpkinh doanh bán hàng hóa cho tiêu dùng cá nhân hoặc hộ gia đình và các dịch
vụ cho thuê bổ trợ phục vụ bán hàng hóa
Người tiêu dùng cuối cùng: là những người sở hữu và sử dụng hànghóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ Họ trực tiếp mua từ nhà sảnxuất hay qua các trung gian thương mại trong kênh phân phối
Các tổ chức bổ trợ: là công ty kinh doanh trợ giúp cho việc thực hiệncác công việc phân phối khác ngoài mua, bán và chuyển quyền sở hữu
Các tổ chức vận tải: gồm tất cả công ty vận tải nói chung thực hiện cácdịch vụ vận tải như: đường sắt, ô tô, tàu thủy, hàng không …
Các công ty kho hàng: gồm tất cả các công ty kho công cộng, chuyênmôn hóa trong việc lưu kho hàng hóa trên cơ sở thu phí lưu kho
Các đại lý quảng cáo: cung cấp cho các thành viên kênh dịch vụ pháttriển các chiến lược xúc tiến
Các tổ chức hành chính: bao gồm các công ty tài chính, các tổ chức tiếtkiệm và cho vay, ngân hàng, các tổ chức chuyên môn hóa trong thanh toán
Họ trợ giúp thành viên kênh về vốn, kinh nghiệm quản lý tài chính, giúp thựchiện quá trình thanh toán dễ dàng
Các tổ chức bảo hiểm: cung cấp cho người quản lý các kênh và cácthành viên kênh dịch vụ giảm bớt rủi ro
Trang 13Các công ty nghiên cứu thị trường: cung cấp cho người quản lý cáckênh thông tin nếu họ thiếu kỹ năng cần thiết để thu thập thông tin liên quanđến phân phối Cung cấp cho các thành viên kênh về phát triển các chiến lượcphân phối hiệu quả…[19]
1.2 Khái niệm và phân loại LSNG
Ngày nay, trong Lâm nghiệp, thuật ngữ LSNG được dùng phổ biến,chính thức thay cho thuật ngữ lâm sản phụ (minor forest product/ secondaryforest product) Định nghĩa của thuật ngữ này được thông qua trong Hội nghị
tư vấn lâm nghiệp Châu Á-Thái Bình Dương tại Băng Cốc, 5-8-1991: “LSNG(Non-wood forest product) bao gồm những sản phẩm tái tạo được ngoài gỗ,củi và than gỗ LSNG được lấy từ rừng, đất rừng hoặc từ những cây thân gỗ”
Do đó, không được coi là LSNG những sản phẩm như cát, đá, nước, dịch vụ
du lich sinh thái
Trong điều kiện Việt Nam hiện nay chúng ta có thể hiểu: “LSNG là cácsản phẩm có nguồn gốc sinh vật lấy từ rừng hoặc đất rừng (kể cả đất hoanghóa) không bao gồm gỗ, củi, than gỗ và các sản phẩm không có nguồn gốcsinh vật LSNG bao gồm các loại tre, nứa, song mây, cây thuốc, cây lươngthực, thực phẩm, gia vị, tinh dầu, dầu béo, nhựa mủ, ta nanh, thuốc nhuộm,cây cảnh, động vật hoang dã và các sản phẩm của chúng”
Trang 141.2.2 Phân lo ại LSNG
Ở Việt Nam, khung phân loại LSNG đầu tiên được chính thức thừanhận bằng văn bản “Danh mục các loài đặc sản rừng được quản lý thống nhấttheo ngành” Đây là văn bản kèm theo Nghị định số 160-HĐBT ngày10/12/1984 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về việc thống nhấtquản lý các đặc sản của rừng (nay gọi là LSNG)
Theo danh mục này đặc sản được chia làm hai nhóm lớn: hệ cây rừng
và hệ động vật Mỗi nhóm lớn được chia thành nhiều nhóm phụ như sau:
a) Hệ cây rừng:
- Nhóm cây rừng cho nhựa, ta nanh, dầu và tinh dầu như thông, quế,hồi, tràm, đước, vẹt, trám, bạch đàn, bồ đề …
- Nhóm cây rừng cho dược liệu như: ba kích, hà thủ ô, thảo quả …
- Nhóm cây rừng cho nguyên liệu làm các loại hàng tiểu thủ công và
mỹ nghệ như song mây, tre trúc, lá buông …
- Các sản phẩm công nghiệp được chế biến có nguồn gốc từ các loạicây rừng như cánh kiến, dầu thông, tùng hương …
1.2.3 Nghiên c ứu thị trường LSNG
Thị trường được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau nhưng trong quá trìnhquản lý doanh nghiệp được hiểu như sau: Thị trường là tập hợp những khách
Trang 15hàng tiềm ẩn cùng có một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khảnăng tham gia trao đổi để thoả mãn nhu cầu và mong muốn đó.
Nghiên cứu thị trường là việc xác định các yếu tố trong thị trường sẽ tácđộng tới doanh nghiệp khi tham gia sản xuất kinh doanh Đó là thị trường cầnsản phẩm gì? Có đặc điểm như thế nào? hiện trạng về sản phẩm đó trên thịtrường như ra sao?
Kết quả của việc nghiên cứu thị trường sẽ giúp cho doanh nghiệp xácđịnh được hướng đi trong thời gian tới Tuy nhiên công việc này nếu cónhững sai lệch so với thực tế rất có thể đưa doanh nghiệp tới bờ vực phá sản
Do vậy nghiên cứu thị trường đòi hỏi độ chính xác cao
Trong thị trường LSNG của nước ta tuy phong phú nhưng rất manhmún tản mạn, chỉ một số rất ít được chế biến công nghiệp chủ yếu để xuấtkhẩu sản phẩm Đối với những LSNG không phải là nguyên liệu của côngnghiệp, chỉ tiêu thụ trong nội bộ nhân dân, có hai cách tiêu thụ sản phẩmLSNG:
- Nông dân tự mang sản phẩm đi bán tại các chợ
- Bán cho các thương nhân là những người trung gian giữa thị trường và sảnxuât Nông dân tự bán hàng ở các chợ thường gặp nhiều trở ngai: Thiếu thôngtin thị trường, không biết giá nên bị thua thiệt nhiều; đường sá vùng núikhông thuận tiện thậm chí không có đường và phương tiện chuyên chở.; Nếukhông bán được sản phẩm thì nhiều trường hợp phải huỷ bỏ sản phẩm nếu làtươi sống Tiêu thụ sản phẩm thông qua thương nhân , nông dân có thuận lợi
là không phải vận chuyển sản phẩm đi xa nhưng có nhiều thiệt thòi khi bánhàng: thiếu thông tin thị trường, không biết giá nên dễ bị ép giá Trong nhữngvùng không có đường sá thì thương nhân cũng không đến được Trước đây,khi mậu dịch quốc doanh còn đặt các trạm thu mua ở những vùng có LSNG,nông dân thường không quan tâm lắm đến chất luợng sản phẩm nhưng ngày
Trang 16nay các thương nhân phân biệt rất tỉ mỉ các chỉ tiêu phẩm chất Điều đó cũnggây khó khăn nhất định Sản xuất LSNG phần lớn ở vùng sâu vùng xa cộngvới điều kiện thị trường không thuận tiện nên không phát triển được Trongtrường hợp của những sản phẩm xuất khẩu thường xuyên các hộ sản xuấttrong hợp lại thuê phương tiện chở đến đầu mối xuất khẩu Cách làm đó ởĐầm hà do những người sản xuất Quế thực hiện hình thành mối liên kết giữanhững người sản xuất và công ty thương mại để có thể hỗ trợ nhau trong sảnxuất và tiêu thụ Đó là một kinh nghiệm tốt Những LSNG là nguyên liệucông nghiệp như tùng hương, tre, mây thì xí nghiệp chế biến là nơi tiêu thụ.Nông dân có thể bán sản phẩm trực tiếp cho nhà máy hoặc qua một trunggian Nói chung có thuận lợi là nơi sản xuất thường gần nhà máy, có đườnggiao thông và phương tiện vận tải nhưng đầu mối trung gian lại là một trởngại ngăn cách người sản xuất với các nhà máy Khâu trung gian là nơi bóclột nông dân và gây phiền hà cho nhà máy Do đó việc thu mua nguyên liệutrở thành phức tạp, đặc biệt là nếu có sự cạnh tranh giữa các nhà máy vớinhững thương nhân thu mua nguyên liệu để xuất khẩu Đó là trường hợp củacác nhà máy chế biến nhựa thông như xí nghiệp Uông bí, các xí nghiệp chếbiến trúc.
1.2.3.1 Quan điểm tiêu thụ trong tình hình hiện nay
Tiêu thụ sản phẩm chính là quá trình thực hiện giá trị của sản phẩm, làgiai đoạn đưa sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng
Trong tình hình hội nhập hiện nay thì những quan điểm về tiêu thụ đã
có nhiều thay đổi đánh kể Việc tiêu thụ được những sản phẩm không còn đơnthuần là việc sản xuất sản phẩm bán ra ngoài thị trường kiếm lời đơn thuần
mà nó phụ thuộc vào các yếu tố quan trọng sau:
- Thương hiệu: hiện nay vấn đề thương hiệu đã trở thành một phầnkhông thể thiếu được của doanh nghiệp, một doanh nghiệp muốn lớn mạnh và
Trang 17được nhiều người biết đến đòi hỏi phải có một thương hiệu mạnh, hiệu naycác thương hiệu mạnh của nước ta như Cà Phê Trung Nguyên,Vinaconex,Hoàng Anh Gia Lai, FPT…Đang từng bước chiếm lĩnh thị trường trong nước.
- Đối thủ cạnh tranh: Đối thủ cạnh tranh hiện nay không chỉ đơn thuần
là các doanh nghiệp sản xuất có cùng mặt hàng với mình mà còn các đối thủsản xuất hàng hoá thay thế nữa, nên việc có các đối thủ cạnh tranh cũng gópphần tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể biết được những điểm yếu vàđiểm mạnh của mình từ đó có thể đưa ra những quyết định sáng suốt chodoanh nghiệp của mình
- Thị trường tiềm năng, thị trường mục tiêu: Mỗi một doanh nghiệp sảnxuất kinh doanh đều có trong tay những thị trường đã có và thị trường mìnhcần hướng đến Thị trường tiềm năng là nơi mình có thể bán được các sảnphẩm trong thời gian tới
- Thị phần của doanh nghiệp trên thị trường: lấy một ví dụ điển hìnhcho việc thị phần quan trọng đối với doanh nghiệp và nó cũng quyết định chỗđúng của doanh nghiệp đó là thị phần của xà phòng OMO hiện nay đã chiếmkhoảng 50% thị phần ở thị trường Việt Nam, số còn lại là các hãng xà phòngkhác Tide, Viso, Vì Dân chia nhau thị phần Vì công ty này có chiến lượckinh doanh rất hợp lý nên trong một khoảng thời gian không lâu đã chiếmđược thị phần rất lớn trên thị trường với doanh số bán ngày càng tăng
- Hệ thống phân phối hàng hoá của doanh nghiệp
Hiện nay việc phân phối hàng hoá ra thị trường là đa cấp và nhiều kênh,qua nhiều trung gian mới đến tay người tiêu dùng, điều này có thể làm cho giácủa hàng hoá tăng lên nhưng đổi lại khách hàng có thể mua những hàng hoácủa doanh nghiệp ở mọi nơi, mọi chỗ và rất thuận tiện
- Dịch vụ chăm sóc chăm sóc khách hàng
Trang 18Dịch vụ chăm sóc khách hàng như tư vấn, bảo hành sau bán hàng vàđảm bảo chất lượng sản phẩm tốt nhất khi đến tay người tiêu dùng.
1.2.3.2 Vai trò của tiêu thụ
Tiêu thụ sản phẩm có vai trò lớn trong xã hội bởi việc tổ chức tốt cáchoạt động tiêu thụ sẽ thúc đẩy nhanh quá trình phân phối lưu thông, đẩy mạnhquá trình tái sản xuất xã hội Trên cơ sở đó thúc đẩy sự phát triển về mọi mặtcủa nền kinh tế
Còn tại doanh nghiệp, kết quả của khâu tiêu thụ sản phẩm có tác độngrất lớn nhiều khi đóng vai trò quyết định đến hiệu quả của quá trình sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp Từ khâu tiêu thụ mà doanh nghiệp có thể thuhồi được chi phí đã bỏ ra, thực hiện được mục tiêu thu lợi nhuận và các mụctiêu khác của doanh nghiệp
Kết quả của quá trình tiêu thụ sản phẩm sẽ phản ánh tính đúng đắn củamục tiêu và chiên lược kinh doanh, chất lượng của bộ máy quản lý doanhnghiệp nói chung và bộ máy tiêu thụ sản phẩm nói riêng
1.2.3.3 Nội dung của công tác tiêu thụ sản phẩm
Trong doanh nghiệp, để tiến hành tốt hoạt động tiêu thụ thì buộc doanhnghiệp phải nắm vững các nội dung của công tác tiêu thụ Đó là nghiên cứuthị trường; xây dựng chiến lược tiêu thụ sản phẩm; tổ chức quá trình bánhàng; đánh giá hiệu quả hoạt động tiêu thụ sản phẩm
1.2.3.4 Nghiên cứu thị trường
Thị trường được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau nhưng trong quá trìnhquản lý doanh nghiệp được hiểu như sau: Thị trường là tập hợp những kháchhàng tiềm ẩn cùng có một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khảnăng tham gia trao đổi để thoả mãn nhu cầu và mong muốn đó
Nghiên cứu thị trường là việc xác định các yếu tố trong thị trường sẽ tácđộng tới doanh nghiệp khi tham gia sản xuất kinh doanh Đó là thị trường cần
Trang 19sản phẩm gì? Có đặc điểm như thế nào? hiện trạng về sản phẩm đó trên thịtrường như ra sao?
Kết quả của việc nghiên cứu thị trường sẽ giúp cho doanh nghiệp xácđịnh được hướng đi trong thời gian tới Tuy nhiên công việc này nếu cónhững sai lệch so với thực tế rất có thể đưa doanh nghiệp tới bờ vực phá sản
Do vậy nghiên cứu thị trường đòi hỏi độ chính xác cao
1.2.3.5 Xây dựng chiến lược tiêu thụ sản phẩm
Sản phẩm hàng hoá là tất cả những gì có lợi ích và nó được thể hiệnbằng những hàng hoá hay dịch vụ thực hiện với những yếu tố đi kèm để đápứng tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng
Sản phẩm hàng hoá khi được đưa ra tiêu thụ có những chu kỳ sốngriêng Mà chu kì sống của sản phẩm là khoảng thời gian được tính từ khi sảnphẩm đó được đưa ra thị trường và nó kết thúc khi sản phẩm đó rút lui khỏithị trường Chu kỳ sống của sản phẩm có 4 giai đoạn:
+ Giai đoạn thâm nhập
+ Giai đoạn phát triển
+ Giai đoạn chín muồi
+ Giai đoạn suy thoái
1.3 Vái nét về thị trường LSNG ở Việt Nam
- LSNG là thành phần quan trọng của rừng nhiệt đới có giá trị kinh tế
và dược lý cao (khoảng 1800 loài thảo mộc có giá trị dược lý, 40 loài songmây, 76 loài cho nhựa thơm, 600 loài có ta nanh, 160 loài cho tinh dầu và 260loài cho dầu béo …) LSNG là nguyên liệu của nhiều ngành công nghiệp:Công nghiệp dược phẩm, thực phẩm, mỹ phẩm và công nghiệp hoá chất.Trong các thập kỷ gần đây do sự suy giảm của diện tích rừng và sự khai thácquá mức làm cho nguồn LSNG giảm không chỉ về trữ lượng mà còn cả chấtlượng Nguồn tài nguyên LSNG với đặc điểm đa dạng và phong phú về loài,
Trang 20nhưng trữ lượng ớt, chất lượng khụng đồng đều, phõn tỏn và phõn bố chủ yếu
ở cỏc vựng rừng nỳi nơi mà cơ sở hạ tầng cũn cú nhiều khú khăn Với đặcđiểm của nguồn nguyờn liệu LSNG như vậy đó quyết định quy mụ và trỡnh độcụng nghệ khai thỏc, bảo quản, chế biến, thị trường buụn bỏn Cụ thể ngànhchế biến LSGN cú quy mụ nhỏ, trỡnh độ cụng nghệ lạc hậu, khả năng cơ giớihoỏ thấp, thị trường LSNG khụng ổn định Theo số liệu thống kờ về giỏ trịcủa sản phẩm LSNG Việt Nam được buụn bỏn ở 4 thị trường chớnh (EU,Nhật, Mỹ và Trung Quốc ) chỳng ta thấy LSNG Việt Nam, chiếm thị trườngphần nhỏ, tỷ giỏ của cỏc sản phẩm chỉ đạt 0,5 đến 0,7 tỷ giỏ trung bỡnh của thịtrường, trừ một số sản phẩm LSNG đặc hữu của Việt nam như một số cõydược thảo, gừng, tinh dầu, sản phẩm mỹ nghệ mõy, tre, đan và một số sảnphẩm truyền thống, phỏt triển ổn định như Quế, hồi, tre là cú tỷ giỏ cao hơn tỷgiỏ trung bỡnh của cỏc thị trường, điều đú đó phản ỏnh thực trạng trỡnh độ sảnxuất LSNG của Việt nam.[12]
- Trong thời gian gần đõy, cựng với việc mở rộng quy mụ hội nhập kinh
tế quốc tế đó mở rộng trao đổi buụn bỏn hàng húa trờn thị trường ngoài nước,làm phong phỳ chủng loại và tăng nhanh nhu cầu hàng húa LSNG, tạo nờnnhững cơ hội cho cỏc doanh nghiệp, hộ gia đỡnh, làng nghề truyền thống chếbiến và kinh doanh LSNG
Theo Đề ỏn Phỏt triển lõm sản ngoài gỗ giai đoạn 2006 - 2020 của BộNụng nghiệp và Phỏt triển nụng thụn, giai đoạn 2000-2005,tốc độ tăng trưởngxuất khẩu không cao, bình quân 17-27%/năm Tổng kim ngạch xuất khẩuLSNG năm 2004 gần 200 triệu USD (chưa kể giá trị hàng xuất khẩu tiểungạch qua biên giới phía Bắc không thống kê được) Một số mặt hàng LSNGxuất khẩu tăng mạnh nhưng phần lớn sản phẩm truyền thống lại tăng chậm:Sản phẩm mõy tre đan cú tốc độ tăng trưởng bỡnh quõn 31,25%/năm Mật ongtốc độ tăng trưởng cao; quế, hồi, dựoc liệu từ năm 2000 đến nay tốc độ tăng
Trang 21trưởng chậm Việt Nam đã có thị trường truyền thống về LSNG (Nhật Bản,Trung Quốc, Đài Loan, Mỹ ), xuất khẩu sang gần 90 nước và vùng lãnh thổ,tuy nhiên khá phân tán không có những thị trường lớn Thị trường Nhật Bản và
Đài Loan chiếm thị phần cao và ổn định, thị trường Mỹ mới có từ năm 2001
và là thị trường tiềm năng, những thị trường truyền thống là Liên xô cũ và cácnước XHCN Đông Âu cũ chưa được khôi phục
1.4 Phõn tớch chuỗi hành trỡnh sản phẩm (chuỗi giỏ trị)
Chuỗi hành trỡnh sản phẩm là một hệ thống xỏc minh và theo dừi gỗ (hoặc LSNG) được cấp chứng chỉ tại mỗi cụng đoạn mà nguyờn liệu đi quacho đến khi trở thành sản phẩm cuối cựng Quỏ trỡnh theo dừi này trong thực
tế diễn ra khỏ phức tạp vỡ cụng nghệ chế biến gỗ (LSNG), nguyờn liệu phảiqua rất nhiều cụng đoạn khỏc nhau và trải qua cỏc chủ sở hữu khỏc nhau từkhi cõy gỗ (LSNG) được khai thỏc từ rừng, qua cỏc giai đoạn buụn bỏn, vậnchuyển, kể cả vận chuyển quốc tế, trước khi được chế biến thành sản phẩmcuối cựng Do vậy, cần thiết phải xõy dựng một hệ thống để theo dừi tất cảcỏc quỏ trỡnh từ nguyờn liệu cho đến sản phẩm cuối cựng
Theo sơ đồ của chuỗi hành trỡnh thỡ mỗi đơn vị là một mắt xớch quantrọng trong toàn bộ hành trỡnh của nguyờn liệu từ chế biến đến lưu thụng trờnthị trường, do vậy, yờu cầu cỏc đơn vị đều phải xõy dựng và ỏp dụng hệthống để theo dừi cỏc nguyờn liệu, sản phẩm tại mỗi mắt xớch của dõychuyền.[10]
Một hệ thống cú 5 yờu cầu cơ bản:
- Yờu cầu về chất lượng
- Yờu cầu về cung cấp nguyờn liệu
- Yờu cầu về kiểm tra sản xuất nội bộ và ghi chộp dữ liệu
- Yờu cầu về sản phẩm và dón nhón sản phẩm
- Yờu cầu về lưu trữ tài liệu thụng tin
Trang 221.5 Tổng quan các công trình nghiên cứu về thị trường LSNG
LSNG từ lâu đã là đối tượng nghiên cứu của nhiều tổ chức trong nướcthuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các Bộ khác, các tổ chứcquốc tế CIFOR, FORD, JICA… với các mục tiêu khác nhau Hiện nay Việtnam có khoảng 11 Viện và Trung tâm, 4 trường Đại học đang nghiên cứu sửdụng tài nguyên này Nhưng hiện chưa có một hệ thống hữu hiệu nào để thuthập thông tin, phân tích, giám sát việc sản xuất, xuất khẩu để hỗ trợ cho việcxây dựng chiến lược phát triển LSNG cấp quốc gia, mặt khác do quản lý cònđang chồng chéo giữa các ngành, Bộ về LSNG đã làm cho sự phối hợp nghiêncứu của các tổ chức còn ít và các vấn đề nghiên cứu chưa tập trung cho chiếnlược phát triển LSNG
Tại Việt Nam, LSNG rất đa dạng, phong phú, giàu tiềm năng, phân bốrộng khắp cả nước, nhưng nghiên cứu về LSNG còn rất hạn chế Chỉ có một
số ít các tổ chức, cơ quan nghiên cứu về vấn đề này Năm 1978, Trung tâmnghiên cứu Đặc sản rừng được thành lập (thực chất là nghiên cứu về LSNG)với nhiệm vụ nghiên cứu phát triển LSNG, phương pháp chế biến, gây trồnglâm sản có giá trị Trung tâm này thường phối hợp với Trung tâm nghiên cứuTài nguyên và Môi trường (CRES-Đại học Quốc gia Hà nội) và Viện Kinh tếSinh thái (ESCO-ECO) để thực hiện các dự án về sử dụng bền vững LSNG.Các hoạt động nghiên cứu bao gồm: phát triển và thử nghiệm các hệ thốngquản lý rừng và LSNG, nghiên cứu hệ thống sở hữu LSNG ở Việt Nam,nghiên cứu thử nghiệm gây trồng một số loài LSNG có giá trị kinh tế cao dựatheo nhu cầu của người dân địa phương, gây trồng một số loài tre và dượcliệu Một số tổ chức khác có nghiên cứu về LSNG gồm có Trường Đại họcLâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Huế, Viện Điều tra Qui hoạch rừng,Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
Trang 23Để phát triển và sử dụng rừng nói chung và LSNG nói riêng chúng takhông chỉ giải quyết thuần túy các yếu tố kỹ thuật như chọn, tạo giống, cácbiện pháp kỹ thuật gây trồng, bảo vệ và chăm sóc rừng, mà còn phải nghiêncứu giải quyết rất nhiều vấn đề có liên quan tác động qua lại với nhau Vì vậycác hướng nghiên cứu chính về LSNG tập trung biện chứng vào các vấn đềtheo chuỗi hành trình của sản phẩm từ khâu tạo nguyên liệu như chọn, tạogiống, gây trồng, bảo tồn, phát triển, rồi đến khai thác, chế biến, thị trườngtiêu thụ sản phẩm Song song với nó là việc điều tra, khảo sát các đặc điểm vềđịa hình, khí hậu, tài nguyên LSNG, cộng đồng dân cư và văn hóa, phong tục,tập quán của họ Việc đề xuất các chương trình, chính sách văn bản về quản
lý, khai thác và thị trường tiêu thụ sản phẩm cũng giữ vai trò quan trọng trongviệc nghiên cứu LSNG
Trang 24Chương 2
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 M ục tiêu tổng quát
Trên cơ sở đánh giá thực trạng, đề xuất một số giải pháp chủ yếu phát triển
thị trường một số LSNG tại huyện Lập Thạch, Tỉnh Vĩnh Phúc.
2.2 Đối tượng phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu các yếu tố liên quan đến thị trường LSNG như cung cầu
và quan hệ cung cầu lâm sản, các kênh lưu thông, biến động giá cả, các yếu tốảnh hưởng đến thị trường LSNG
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: nghiên cứu trong phạm vi huyện Lập Thạch– Tỉnh Vĩnh Phúc
- Phạm vi về thời gian: số liệu thu thập từ 2006 - 2010
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Một số vấn đề lý luận chủ yếu liên quan đến thị trường và phát triểnthị trường LSNG
Trang 25- Đánh giá thực trạng phát triển thị trường một số LSNG chủ yếu tạihuyện Lập Thạch – Vĩnh Phúc.(quan hệ cung cầu, các kênh lưu thông LSNG,biến động giá cả, chuỗi giá trị lâm sản )
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển thị trường LSNGtại huyện Lập Thạch – Vĩnh Phúc
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Nghiên c ứu thứ cấp
Kế thừa các tài liệu và kết quả nghiên cứu đã có
2.4.2 Nghiên c ứu sơ cấp
a) Chọn điểm nghiên cứu
- Chọn Công ty lâm nghiệp Lập Thạch, một số hộ gia đình cung ứngnguyên liệu, người thu gom, đại lý và người sử dụng LSNG trên địa bànhuyện Lập Thạch – Vĩnh Phúc
b) Phương pháp thu thập số liệu
- Phát phiếu điều tra: phát phiếu điều tra tại 3 xã, tại công ty lâm nghiệpLập Thạch với số lượng 150 phiếu
- Phỏng vấn cán bộ Công ty lâm nhgiệp Lập Thạch, một số hộ gia đìnhcung ứng nguyên liệu, người thu gom, đại lý và người sử dụng LSNG trên địabàn huyện Lập Thạch – Vĩnh Phúc
- Phương pháp chuyên gia
2.4.3 Xử lý, tổng hợp và phân tích số liệu
- Phương pháp thống kê và phương pháp phân tích kinh tế
+ Phân tích chuỗi hành trình sản phẩm (chuỗi giá trị)
+ Phương pháp khái quát hoá
+ Phân tích SWOT
Trang 26Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế- xã hội của huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
-Vị trí địa lý:
Lập Thạch là huyện miền núi của tỉnh Vĩnh Phúc, nằm ở vị trí từ 105o30' đến 105o45' độ kinh đông và 21o10' đến 21o30' độ vĩ bắc Phía bắc giáptỉnh Tuyên Quang, phía đông giáp huyện Tam Đảo và huyện Tam Dương,phía năm giáp huyện Vĩnh Tường và phía tây giáp tỉnh Phú Thọ
Diện tích đất tự nhiên là 17310,22 trong đó:
Đất nông nghiệp chiếm 12582,38 ha
Đất lâm nghiệp chiếm 4352,87 ha
Địa bàn huyện có thể chia thành 3 tiểu vùng:
+ Tiểu vùng miền núi gồm 9 xã thị trấn (Quang Sơn, Ngọc Mỹ, Hợp
Lý, Bắc Bình, Vân Trục, Xuân Hòa, Thái Hòa, Liên Sơn, TT Hoa Sơn), vớitổng diện tích tự nhiên là 93,73 Km2, chiếm 54,15% diện tích tự nhiên toànhuyện Địa hình tiểu vùng này thường bị chia cắt bởi độ dốc khá lớn, hướngchính từ Bắc xuống Nam Độ cao trung bình so với mực nước biển từ 200 –
Trang 27300m Tiểu vùng này đất đai có độ phì khá cao, khả năng sinh trưởng pháttriển rừng cón khá lớn Điều kiện tự nhiên và đất đai thích hợp với các loạicây ăn quả, cây công nghiệp, cây lâm nghiệp và chăn nuôi gia súc.
+ Tiểu vùng ven sông, bao gồm 3 xã (Sơn Đông, Triệu Đề, Đồng Ích)với tổng diện tích tự nhiên là 37,94 Km2 chiếm 16,14% diện tích tự nhiêntoàn huyện Tiểu vùng này đa phần là đất lúa một vụ, thường bị ngập úng vàomùa mưa, thích hợp cho việc cấy lúa và nuôi trồng thủy sản
+ Tiểu vùng giữa, bao gồm 8 xã, thị trấn ( TT Lập Thạch, Liên Hòa,Bàn Giản, Xuân Lôi, Tử Du, Tiên Lữ, Đình Chu, Văn Quán) với tổng diệntích tự nhiên là 51,43 Km2, chiếm 39,71% diện tích tự nhiên toàn huyện Tiểuvùng này thường có một số ít đồi xen lẫn với đồng ruộng, độ dốc trung bình.Tiểu vùng này trồng lúa hằng năm chiếm chủ yếu do vậy đây là vùng chủ lựcsản xuất lương thực cũng như rau màu hàng hóa để phục vụ nội huyện và cácđịa phương lân cận
Địa hình Lập Thạch khá phức tạp, thấp dần từ phía Bắc xuống phía Nam,ruộng đất xen kẽ dãy đồi thấp, nhiều sông suối, địa hình bị chia cắt đa dạng
- Khí hậu thời tiết:
Lập Thạch thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình từ
220C, số giờ nắng trung bình trong năm là 1.450 đến 1.550 giờ, lượng mưatrung bình 1500-1800 mm/năm Độ ẩm trung bình 84% và được chia làm 4mùa rõ rệt, mưa nhiều vào mùa hè gây úng lụt vùng trũng, khô hanh vào mùađông gây hạn hán cho vùng gò đồi
- Tài nguyên nước
Phía Nam và phía Đông huyện Lập Thạch có sông Phó Đáy ngăn cáchhuyện Vĩnh Tường và huyện Tam Dương với tổng lưu lượng rất khá Ngoài
ra, huyện còn có hệ thống các ap hồ phục vụ cho hoạt động sản xuất và sinhhoạt trên địa bàn Tuy nhiên lượng nước tập trung vào mùa mưa, mùa khô chỉ
Trang 28chiếm 10% tổng lượng dòng chảy Theo đánh giá của nhiều chuyên gia và quađiều tra ở một số xã cho thấy nguồn nước ngầm của huyện rất hạn chế, trữlượng không lớn và sâu, hàm lượng ion canxi và ooxxit sắt trong nước ngầmtương đối lớn do đó việc khai thác rất khó khăn.
Nguồn nước của huyện được đánh giá là tương đối dồi dào, tuy nhiênphân bố không đều trong năm Về mùa khô vẫn nhiều thời điểm thiếu nước,
Để đảm bảo hài hòa nguồn nước cho phát triển kinh tế cần phải quan tâm xâydựng thêm những công trình điều tiết và có biện pháp khai thác nước ngầm bổsung mới đảm bảo cho sản xuất và sinh hoạt
- Tài nguyên khoáng sản
Trên địa bàn có các loại khoáng sản sau: có than bùn ở Văn Quán, đãđược khai thác làm phân bón và chất đốt, Barit, đồng, vàng, thiếc, sắt… Vậtliệu xây dựng như cát, sỏi, thạch anh, silic… Theo khảo sát sơ bộ ở LậpThạch có khá nhiều loại tài nguyên khoáng sản nhưng đa phần chưa cóchương trình nào điều tra, thăm dò một cách kỹ lưỡng đề đưa vào khai thác,
- Cảnh quan thiên nhiên có tiềm năng phát triển du lịch sinh thái và dulịch nghỉ dưỡng Trên địa bàn có nhiều cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, thơ
Trang 29mộng hấp dẫn khách du lịch như Sơn Đông – Đình Chu – Văn Quán – XuânLôi, Bản Giản – Triệu Đề - Vân Trục, Bò Lạc…
- Tài nguyên đất đai
Đất canh tác trên địa bàn huyện có 3 nhóm chính: Nhóm đất phù sa vensông Lô, Phó Đáy chiếm 7,25%; Nhóm đất bạc màu trên phù sa cổ chiếm9,46%; Đất đồi núi chiếm 24, 86% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện Nhìnchung đất canh tác ở đây nghèo dinh dưỡng, đất ở độ cao +9, +8, +7 trở xuống
có đá gốc kết cấu chặt và ổn định, thuận lợi cho xây dựng các công trình LậpThạch có lợi thế: tính đa dạng của đất đai, trong huyện có nhiều đơn vị đất cótính chất khác nhau, phân bố ở cả đồng bằng và vùng dôc, cho phép phát triển hệsinh thái đa dạng với nhiều loại cây trồng có giá trị Tuy nhiên hạn chế về độ phìcủa đất không cao, hiện tượng xói mòn, rửa trôi còn xảy ra ở vùng đất dốc có độche phủ thấp làm suy giảm chất lượng đất Tình hình diện tích đất theo mục đích
sử dụng năm 2010 – 2011 được thể hiện qua bảng 3.1 như sau:
Trang 30Bảng 3.1: Thống kê diện tích đất sử dụng theo mục đích 2010-2011
(Huyện Lập Thạch- Vĩnh Phúc)
A Diện tích đất tự nhiên 17310,22Trong đó chia ra:
14 Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 1098,31
Nguồn: Báo cáo năm 2010 Phòng Tài nguyên – Môi trường huyện Lập Thạch
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
-Về kinh tế:
Nền kinh tế huyện Lập Thạch đang từng bước phá thế độc canh, song
tỷ trọng thu nhập chủ yếu vẫn từ kinh tế nông nghiệp Ngoài ra, các cây lươngthực, cây nguyên liệu, cây công nghiệp ngắn ngày như lạc, đậu tương, mía, vẫn được duy trì và phát triển Một số cây công nghiệp dài ngày đang dầnđược thu hẹp về diện tích để nhường chỗ cho các giống cây ăn quả có giá trịkinh tế cao như: nhãn, vải, hồng, xoài,
Bên cạnh đó, các vùng chiệm trũng ven sông đang phát triển phong tràocải tạo đồng chiêm trũng nuôi thả cá vụ, những năm gần đây luôn duy trì ởmức khoảng 1.200 ha Ngoài gia súc gia cầm là vật nuôi truyền thống, một số
Trang 31con nuôi mới đã được đưa vào sản xuất với quy mô tương đối rộng như bòsữa, dê, ong mật,
Phát triển đa dạng sản phẩm hàng hóa và quy mô sản xuất, quy mô hộgia đình và nhóm hộ gia đình gắn với nông nghiệp nông thôn Khôi phục vàđầu tư chiều sâu các ngành nghề truyền thống, ưu tiên phát triển sản xuất vậtliệu xây dựng, sơ chế, chế biến nông lâm sản, sản xuất hàng tiêu dùng, sửachữa cơ khí, điện, điện tử
Những mặt hàng truyền thống về mây, tre đan ở Triệu Đề, các sảnphẩm chế tác đã mỹ nghệ ở Hải Lựu sẽ là một trong những thế mạnh củahuyện nếu có được thị trường ổn định và sự quan tâm đầu tư đúng mức
- Về xã hội:
Huyện có 18 xã và 02 thị trấn Với số dân 119.527 người, gồm 07 dântộc anh em: Kinh, Dao, Cao lan, Sán dìu, Tày, Nùng, Hoa Mật độ dân số 554người / km2 Lực lượng lao động đông đảo đây cũng chính là nguồn lực, tiềmnăng kinh tế của huyện Dân số phân bố không đồng đều theo đơn vị hànhchính Mật độ dân số cao nhất là thị trấn Lập Thạch (1903 người/km2), xãTriệu Đề (1262 người/km2) thấp nhất là Văn Trục (360 người/km2) Tổng sốlao động đến độ tuổi là 56491 người chiếm 47,26% tổng dân số Trong đó laođộng nông lâm nghiệp thủy sản là 41747 ngưởi chiếm 73,9% Trên địa bàn có
7 dân tộc anh em sinh sống: Kinh, Dao, Cao Lan, Sán Rìu, Tày, Nùng, Hoa
Lực lượng lao động trên địa bàn huyện là khá dồi dào nhưng chất lượnglao động nhìn chung còn thấp, lao động phổ thông chiếm trên 78%, lực lượnglao động có chuyên môn kỹ thuật khoảng 22% Hệ số sử dụng lao động ởnông thôn đạt 85 – 87%, hiệu quả lao động nhìn chung còn thấp
- Lịch sử, di tích văn hóa: Trên địa bàn huyện có 151 di tích văn hóa ởkhắp các xã, thị trấn, trong đó có 25 di tích lịch sử văn hóa được xếp hạng cấpquốc gia và cấp tỉnh Một trong những di tích quan trọng có ý nghĩa lịch sử,
Trang 32tâm linh là đền thờ tướng quốc Trần Quốc Tuấn Là vùng đất cổ kính nhất củatỉnh Vĩnh Phúc, huyện Lập Thạch là nơi sinh tụ của người Việt cổ Có tên từthế kỷ XIII, là nơi sản sinh nhiều anh hùng và danh nhân văn hóa làm phongphú thêm cho lịch sử phát triển của huyện, của tỉnh Vĩnh Phúc qua các thời kỳchống giặc ngoại xâm và xây dựng đất nước Trên địa bàn có các lễ hội như lễ
“bắt trạch trong chum”, “leo cầu” tại làng Trạc Trục; tục “đá cầu”, “cướpphết” ở xã Bàn Giản… Bên cạnh những phong tục, lễ hội đó là những kiếntrúc nổi tiếng như đình Sen Hồ Ngoài những phong tục, tập quán trên địa bànhuyện còn có những cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp với văn hóa ẩm thực đặctrưng giàu bản sắc văn hóa như Bánh Gạo Ranh ngon nổi tiếng tại xã Tiên Lữ,bánh làm từ khoai phơi khô, tục ăn đất sét hun khói
Mạng lưới giáo dục rộng khắp phân bố đều trên địa bàn, đáp ứng nhucầu học tập của con em nhân dân trong huyện Hệ thống các trường được đầu
tư xây dựng kiên cố, cao tầng Ngoài ra còn có sự quan tâm đầu tư thích đángcủa tất cả các cấp, các ngành và nhân dân trong huyện nên chất lượng giáodục ở tất cả các cấp học, bậc học ngày càng được nâng lên
Các cơ sở khám chữ bệnh trong huyện được trang bị cơ sở vật chấttương đối đầy đủ Đội ngũ cán bộ y tế dần dần được nâng lên cả về số lượng
và chất lượng đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của đông đảo nhân dân tronghuyện
Các chính sách xã hội đối với người có công, người nghèo, vấn đề xóađói giảm nghèo, giải quyết việc làm cũng được các cấp chính quyền của LậpThạch quam tâm góp phần ổn định xã hội
Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Lập Thạch
- Thuận lợi: Trải qua 30 năm đổi mới cùng với toàn tỉnh, Lập Thạch đãthu được nhiều thành tựu quan trọng Kinh tế, xã hội của huyện liên tục pháttriển, cơ sở vật chất kỹ thuật được cải thiện, nhiều công trình được xây mới,
Trang 33từng bước phát huy hiệu quả Lực lượng lao động dồi dào, bình quân đất nôngnghiệp còn tương đối cao, có tiềm năng về rừng, tài nguyên khoáng sản, nằmtrong vùng quy hoạch tổng thê phát triển kinh tế, xã hội vùng đồng bằng sôngHồng được Chính phủ phê duyệt.
- Khó khăn, hạn chế: là một huyện miền núi của tỉnh Vĩnh Phúc nênđiều kiện thu hút đầu tư còn hạn chế Tích lũy nội bộ nền kinh tế còn thấp.Quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, tác động của cơ chế thị trường
và sự cạnh tranh sẽ ngày càng gay gắt quyết liệt hơn Nội lực của huyện chưamạnh, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, hạ tầng kỹ thuật còn thiếu, đặcbiệt giao thông chưa đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạntới Chất lượng nguồn nhân lực còn chưa cao, lao động chưa qua đào tạochiếm tỷ trọng còn lớn, một bộ phận cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu đổimới Đầu tư bên ngoài và từ doanh nghiệp ít, ngân sách bội chi, cơ cấu kinh tếlạc hậu
3.2 Thực trạng thị trường tiêu thụ một số sản phẩm LSNG chủ yếu tại huyện Lập Thạch – Vĩnh Phúc
LSNG được sử dụng đa mục đích trong nhiều lĩnh vực của đời sống xãhội như làm dược liệu, đồ trang sức, đồ gia dụng, hàng thủ công mỹ nghệ,thực phẩm… Do vậy chúng đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sốngcủa nhân dân Có rất nhiều loại LSNG như: song mây măng, cây luồng, mậtong, cây thuốc dưới đây là thực trạng thị trường sản xuất và tiêu dùng một
số loài LSNG chủ yếu tại huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc
3.2.1 Hi ện trạng thị trường tiêu thụ cây Luồng
3.2.1.1 Sơ lược về sản phẩm cây Luồng
Tre luồng thuộc phân họ tre (bambusoidae), họ cỏ (poaceae) Trên thếgiới có khoảng 1300 loài, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới.Một số loài phân bố ở vùng ôn đới ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, tre
Trang 34luồng thường mọc thành rừng thuần loài hay hỗn giao với cây gỗ Tổng diệntích vùng tre luồng (cả rừng thuần và rừng hỗn giao) trên thế giới ước tínhkhoảng 20 triệu ha Trung quốc và Ấn Độ là 2 nước có thành phần loài phongphú và diện tích rừng tre luồng lớn nhất thế giới.
a) Giá trị sử dụng của tre luồng
Tre luồng là một nguồn tài nguyên của vùng nhiệt đới, do nó có vùngphân bố rộng, sinh trưởng nhanh, dễ gia công và có nhiều tính chất tốt, nên treluồng được sử dụng rộng rãi trong cuộc sống thường ngày ở nhiều địa phươngthuộc nhiều quốc gia trên thế giới Có lẽ không có loài thực vật nào ở vùngnhiệt đới lại có thể cung cấp cho con người nhiều lợi ích về mặt kỹ thuật nhưvới tre luồng Cường độ của thân cây, độ thẳng nhẵn kết hợp với độ cứng vàruột rỗng lớn; khả năng tách chẻ dễ và đều; nhiều kích cỡ khác nhau giúpchúng thích hợp với nhiều mục đích sử dụng khác nhau, như sử dụng tre trongxây dựng, làm ván sàn, ván dăm, ván dán, sản xuất bột giấy, làm đồ mộc, đanlát, đồ mỹ nghệ… ván nhân tạo làm từ tre không những đã thay thế một lượnglớn nguyên liệu gỗ mà nó còn là loại ván có tính chất cơ học rất cao, rất thíchhợp khi dùng làm vật liệu trong xây dựng, giao thông vận tải, tàu thuyền…
Trong những năm gần đây, tre luồng đã thâm nhập vào thị trường thếgiới có sức cạnh tranh cao trong các lĩnh vực như bột giấy, ván sàn, đồ thủcông mỹ nghệ Công dụng có ý nghĩa nhất trong khu vực Đông Nam á là vậtliệu xây dựng, đan lát Các công dụng quan trọng khác là nguyên liệu sản xuấtgiấy, dụng cụ âm nhạc, đồ mộc và các mặt hàng thủ công
Hiện nay, ở Việt Nam có 6 nhà máy sản xuất giấy và bột giấy (sử dụng20- 30% nguyên liệu là tre luồng) với công suất của mỗi nhà máy từ 15.000-130.000 tấn sản phẩm/ năm
Một hạn chế lớn nhất của tre luồng đó là dễ bị vi sinh vật phá hoại do ởtre luồng có chứa hàm lượng tinh bột cao, hàm lượng tanin, nhựa và sáp ít Vì
Trang 35thế trong quá trình gia công chế biến và sử dụng cần đặc biệt chú ý để có thểphòng tránh kịp thời nhằm nâng cao giá trị sử dụng của tre luồng.
Hiện nay chúng ta chưa phát huy được đúng vai trò của nguồn tàinguyên tre luồng trong sự phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá của cộng đồngngười Việt Tiềm năng của cây tre, luồng sử dụng làm nguyên liệu đang nhậnđược sự chú ý ngày một nhiều vì trong lúc nguồn tài nguyên thiên nhiên đang
bị suy kiệt, tre luồng không chỉ phong phú về loài, giàu về sản lượng, có khảnăng tái sinh nhanh, mạnh mà còn có tính chất cơ lý rất đặc biệt có thể thaythế nguyên liệu gỗ Trong tương lai không xa, tre luồng sẽ góp phần quantrọng trong trương trình xoá đói giảm nghèo và phát triển kinh tế, xã hội vàvăn hoá của nhiều quốc gia chứ không chỉ riêng ở Việt Nam
Tiêu thụ sản phẩm chính là quá trình thực hiện giá trị của sản phẩm, làgiai đoạn đưa sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng Tiêu thụ sảnphẩm có vai trò lớn trong xã hội bởi việc tổ chức tốt các hoạt động tiêu thụ sẽthúc đẩy nhanh quá trình phân phối lưu thông, đẩy mạnh quá trình tái sản xuất
xã hội Trên cơ sở đó thúc đẩy sự phát triển về mọi mặt của nền kinh tế Còntại doanh nghiệp, kết quả của khâu tiêu thụ sản phẩm có tác động rất lớnnhiều khi đóng vai trò quyết định đến hiệu quả của quá trình sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Từ khâu tiêu thụ mà doanh nghiệp có thể thu hồiđược chi phí đã bỏ ra, thực hiện được mục tiêu thu lợi nhuận và các mục tiêukhác của doanh nghiệp Kết quả của quá trình tiêu thụ sản phẩm sẽ phản ánhtính đúng đắn của mục tiêu và chiên lược kinh doanh, chất lượng của bộ máyquản lý doanh nghiệp nói chung và bộ máy tiêu thụ sản phẩm nói riêng
Hiện nay, sản phẩm tre luồng trên địa bàn huyện Lập Thạch chủ yếucung cấp nguyên liệu để sản xuất giấy và bột giấy cho nhà máy giấy Việt Trì,nhà máy giấy Bãi Bằng Một phần còn lại tiêu thụ cho các mục đích khác như
Trang 36xây dựng, làm đũa, tăm, làm chiếu… trong địa bàn và cung cấp cho các đơn
vị ngoài địa bàn
b) Khai thác tre luồng
Do đặc điểm cấu tạo của luồng chứa nhiều tinh bột, đường, chất khoáng
đó là thức ăn chủ yếu cho các loại vi sinh vật hại chúng, vì vậy tre nên đượckhai thác theo các bộ phận được sử dụng (thân hoặc măng) theo tuổi cây vàtheo mùa Để lấy thân, việc khai thác cần tiến hành vào mùa khô hoặc bắt đầubước vào mùa khô, nhằm ngăn ngừa sự phá hoại của mọt, vì khi đó hàmlượng đường và tinh bột trong thân cây là thấp nhất Các cây ở độ tuổi 1-2năm là thích hợp để khai thác làm hàng thủ công mỹ nghệ và sản xuất bộtgiấy Các cây 3-4 năm tuổi thích hợp nhất để làm vật liệu xây dựng, đồ mộc
và các đồ dùng sinh hoạt khác…
Hiện nay luồng là một trong những loài cây trồng chính của Chươngtrình trồng mới 5 triệu ha rừng Hội thảo "Xác định loài cây trồng rừng vàchọn loài ưu tiên" tại các vùng lâm nghiệp đã xác định luồng là loài cây trồngrừng vùng Đông Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Bắc Tới nay luồng vẫn là loài tre
có diện tích rừng trồng lớn nhất và được sử dụng nhiều nhất ở nước ta Vềmặt lâm sinh, Luồng đã được nghiên cứu khá nhiều, nhưng về các mặt phòngtrừ sâu bệnh, đặc tính cơ lý, kỹ thuặt chế biến, bảo quản thân tre và măngluồng còn ít được nghiên cứu Trong thời gian tới cần tập trung nghiên cứuthêm về các mặt này để đáp ứng việc mở rộng vùng sản xuất; đồng thời cũngphải chú ý đến công tác chọn giống để tạo ra các giống luồng có năng suất vàchất lượng tốt hơn để đáp ứng yêu cầu sản xuất trong tương lai
3.2.1.2 Cung cầu về sản phẩm cây Luồng tại huyện Lập Thạch
a) Cung về sản phẩm cây Luồng tại vùng
Hiện tại ở huyện Lập Thạch, Vĩnh Phúc, Luồng được trồng và khai tháctheo mỗi hộ gia đình Mức khai thác hàng năm từ 3-4 cây /bụi Mật độ cây
Trang 37luồng trồng 163 gốc /ha Toàn bộ huyện Lập Thạch có thể cung cấp 276.600cây luồng các loại Song thực tế mức cung cấp này chưa thỏa mãn với tiềmnăng về cây luồng trong vùng (hơn 1.600 ha rừng luồng ).
Bảng 3.2 : Kết quả sản xuất lâm nghiệp huyện Lập Thạch giai đoạn 2005-2010
1 Trồng cây tập trung Ha 284 254 186 160 227
2 Trồng cây phân tán Ha 40,5 52,7 59,3 48,1 90,4
3 Gỗ tròn khai thác m3 7.350 7.562 8.114 7.906 8.580
4 Củi khai thác Ste 28.630 27.410 28.965 28.227 28.500
5 Tre luồng khai thác 1.000cây 336 282,7 285,7 280,6 276,6
Nguồn: Báo cáo năm 2006-2010 Công ty lâm nghiệp Lập Thạch
Qua bảng 3.2 ta thấy, sản lượng tre luồng giảm dần trong giai đoạn2005-2010 Năm 2001 sản lượng khai thác luồng là 421,7 nghìn cây là năm
có sản lượng cao nhất trong giai đoạn, các năm tiếp theo lần lượt sản lượng là
336 nghìn cây; 282,2 nghìn cây; 285,6 nghìn cây và 276,6 nghìn cây năm
2010 giảm 65,6% so với năm 2001 Có thể thấy được khả năng sản xuất treluồng chưa tương xứng với tiềm năng của vùng với hơn 1.600 ha trồng treluồng, sở dĩ chưa phát huy được tiềm năng là do hệ thống đường giao thông,phương tiện vận chuyển tương đối khó khăn Bên cạnh đó nhu cầu về chấtlượng cây luồng ngày càng cao, trong khi đó luồng tại huyện Lập Thạch ítđược quan tâm chăm sóc (do nhiều nguyên nhân ) nên dẫn đến chất lượngluồng không cao, càng làm cho giá xuống thấp và sức cạnh tranh với luồngvùng khác ngày càng khó khăn
Trang 38Bảng 3.3: Giá trị sản xuất một số loại lâm sản huyện Lập Thạch
Lượng
Đơn giá (1000đ)
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo năm 2010 Công ty lâm nghiệp Lập Thạch
Qua bảng 3.3 có thể thấy giá trị sản xuất theo giá thực tế của tre, luồng
là tương đối cao là 8.298 triệu đồng Chính vì thế do mấy năm gần đây sảnlượng tre, luồng trên địa bàn huyện giảm xuống làm giảm giá trị sản xuất lâmnghiệp Đây cũng chính là vấn đề đặt ra để nâng cao sản lượng tre, luồng trênđịa bàn nhằm nâng cao giá trị sản xuất của toàn ngành lâm nghiệp của huyện
Cây luồng là loại lâm sản có tác dụng nhiều mặt cả về kinh tế, xã hội vàphòng hộ bảo vệ môi trường Về giá trị kinh tế, trong họ tre, luồng, nứa, trúc thì cây luồng là loài cây dùng làm vật liệu xây dựng rất tốt và có sức bền lâuhàng trăm năm Cây luồng sau khi trồng, chăm sóc bảo vệ 5 năm thì cho sảnphẩm khai thác thành thục (tức là luồng già đủ tuổi khai thác), cứ mỗi dóngkhoan một lỗ, ngâm dưới nước từ 7 tháng đến 1 năm theo kinh nghiệm dângian đã tổng kết (nứa 3-luồng 7-gỗ đẫy 1 năm), vớt lên rửa sạch phơi khô, câyluồng trở thành vật liệu rất tốt, chất tinh bột trong thân cây luồng đã tiêu huỷ,không còn là nguồn thức ăn hấp dẫn cho mối mọt xâm nhập phá hoại, các tia
gỗ trong thân luồng cũng trở nên cứng rắn và khả năng chịu lực, sức bền vềmặt lý-hoá tính của luồng cũng tăng lên, luồng trở thành loại vật liệu rất tốttrong xây dựng Trong ngành xây dựng, ngoài gỗ, xi măng, sắt thép, gạchnung là những vật liệu chính nhưng cũng không thể thiếu cây luồng Ngoài ra
Trang 39cũng từ cây luồng mà nhiều ngành nghề thủ công truyền thống đã sản xuất racác sản phẩm hàng mỹ nghệ có giá trị xuất khẩu cao, thu hút và giải quyếtnhiều việc làm, tạo nguồn thu nhập cho nhiều lao động Trong thời đại côngnghiệp hoá-hiện đại hoá, cùng với các loại tre-nứa, cây luồng đóng vai trò chủyếu về nguyên liệu cho sản xuất bột giấy các loại, đáp ứng cho nhu cầu ngàycàng tăng của xã hội Bằng công nghệ tiên tiến, luồng còn là nguyên liệu sảnxuất ván sàn dùng trong trang trí nội thất nhà ở, nhà hàng, khách sạn cao cấpvừa đẹp vừa bền, vừa tiết kiệm chi phí Cây luồng không chỉ có tác dụng tolớn về kinh tế xã hội mà còn có vai trò quan trọng cả trước mắt và lâu dàitrong phòng hộ bảo vệ môi trường sinh thái, điều hoà khí hậu, điều hoà và bảo
vệ nguồn nước phục vụ cho sản xuất, sinh hoạt và đời sống con người Rừngluồng còn có tác dụng vô cùng to lớn về chống xói mòn rửa trôi đất đai,chống sa mạc hoá ở vùng trung du miền núi Nếu trồng luồng hỗn giao (trồngxen) với các loài cây khác có đặc tính sinh học phù hợp với điều kiện đất đai,khí hậu tương tự như cây luồng thì chất lượng sinh trưởng phát triển của câyluồng càng tốt, hiệu quả kinh tế càng cao và chức năng phòng hộ bảo vệ môitrường của rừng luồng càng phát huy tốt hơn
Từ những đặc điểm trong trồng, chăm sóc, khai thác, chế biến, bảoquản tre, luồng và điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Lập Thạch ta
có thể đề xuất các giải pháp để ổn định nguồn cung cấp sản phẩm luồng trênđịa bàn
b) Cầu sản phẩm
Thực tế hiện nay người tiêu dùng trong nước có xu hướng thích sửdụng những sản phẩm đã qua chế biến như: chiếu luồng, giấy viết, bàn ghế…còn cầu về Luồng lại đang có xu hướng giảm trong lĩnh vực xây dựng do xuấthiện nhiều sản phẩm thay thế cây Luồng và giá cả rẻ hơn Trong khi đó các cơ
Trang 40sở chế biến những sản phẩm từ cây Luồng lại không nhiều nên không thể đápứng yêu cầu tiêu dùng trong nước và ngoài nước.
Cầu về sản phẩm đã qua chế biến của thị trường nước ngoài cũng tăngnhư thị trường Đông Âu, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc… Thị trường nướcngoài thường yêu cầu chất lượng sản phẩm cao còn sản phẩm của Việt Namthì còn nhiều vấn đề chất lượng chưa phù hợp với yêu cầu
Luồng là một trong những nguyên liệu sản xuất bột giấy Hiện nay tạikhu vực gần địa bàn huyện đang cung cấp nguyên liệu giấy cho công ty giấyViệt Trì và công ty giấy Bãi Bằng… Nhu cầu sử dụng giấy và các sản phẩm
từ giấy ngày càng tăng, từ đó làm nhu cầu bột giấy tăng cao
Để duy trì và phát triển các cơ sở chế biến lâm sản trên địa bàn hoạtđộng hiệu quả, cấp uỷ, chính quyền và ngành chức năng ở huyện Lập Thạch
đã tích cực tuyên truyền đến chủ các cơ sở phải hoạt động đúng quy định củapháp luật; sử dụng luồng, gỗ đúng nguồn gốc cho phép của cơ quan kiểm lâm.Huyện cũng luôn tạo điều kiện thuận lợi về giải phóng mặt bằng, các thủ tụcđầu tư để thu hút các doanh nghiệp vào đầu tư xây dựng cơ sở chế biến lâmsản; khuyến khích đồng bào các dân tộc trên địa bàn tích cực khoanh nuôi,chăm sóc và trồng thêm diện tích rừng mới, để mỗi gia đình nông dân có thểlàm giàu từ nghề rừng, gắn bó với rừng
3.2.1.3 Mạng lưới kênh phân phối sản phẩm Luồng
Các thành viên tham gia kênh phân phối tiêu thụ Luồng tại huyện LậpThạch như sau :
a) Người trồng Luồng
Người trồng Luồng trong kênh phân phối sản phẩm là người trực tiếpsản xuất cung cấp cho thị trường Luồng Luồng đem ra thị trường tiêu thụ vớinhiều mục đích khác nhau như: làm nguyên liệu giấy, vật liêu xây dựng…Những người dân ở đây cũng giống như những người sản xuất khác, họ trồng