1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu giải pháp nhằm quản lý, sử dụng và phát triển bền vững lâm sản ngoài gỗ tại 2 xã ba lòng và hải phúc thuộc vùng đệm khu BTTN đakrông quảng trị

98 189 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó để đáp ứng được một phần nhu cầu nào đó của xã hội về các sản phẩm từ tài nguyên rừng, đồng thời đảm bảo tính đa dạng sinh học và khả năng phục hồi rừng, vừa giải quyết được đời số

Trang 1

LÊ VĂN QUỐC

NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NHẰM QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VÀ PHÁT

TRIỂN BỀN VỮNG LÂM SẢN NGOÀI GỖ TẠI 2 XÃ

BA LÒNG VÀ HẢI PHÚC THUỘC VÙNG ĐỆM KHU BTTN ĐAKRÔNG - QUẢNG TRỊ

Chuyên ngành: Lâm học

Mã số: 60.62.60

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học:

TS LÊ SỸ VIỆT

Hà Nội, 2011

Trang 2

Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ quý báu

về mọi mặt của các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong việc cung cấp tài liệu, tham gia phỏng vấn, tổ chức hỗ trợ hiện trườmg, đặc biệt là sự giúp đỡ trực tiếp của thầy giáo TS Lê Sỹ Việt trong cả quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này

- Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới ban giám hiệu, khoa đào tạo sau đại học Trường đại học Lâm nghiệp và toàn thể các thầy cô giáo đặc biệt là thầy giáo TS Lê Sỹ Việt đã truyền đạt, hướng dẫn cho tôi những kiến thức trong suôt thời gian vừa qua

- Tôi xin chân thành cảm ơn đến Lãnh đạo Sở NN&PTNT, Chi cục Kiểm lâm Quảng Trị, Ban quản lý khu BTTN Đakrông đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi theo học khoá học này Tôi xin chân thành cảm ơn đến cá nhân, những đồng nghiệp đã dành thời gian giúp đỡ tôi trong suốt thời gian khảo sát thực địa, thu thập điều tra hiện trường và xữ lý số liệu trong quá trình thực hiện đề tài

- Cảm ơn đến người dân, các cơ sở thu mua, chế biến hàng LSNG tại hai xã

Ba Lòng và Hải Phúc, tham gia các buổi họp, phỏng vấn, cung cấp thông tin

và đống góp nhiều ý kiến về các vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu Tôi xin chân thành cảm ơn đến lãnh đạo, bộ phận chuyên môn của UBND 2 xã Ba Lòng và Hải Phúc giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập, cung cấp tài liệu, số liệu phục vụ cho nghiên cứu đề tài

Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng để hoàn thành đề tài nghiên cứu này nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót Chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến đống góp của các nhà khoa học và các đồng nghiệp để luận văn tốt nghiệp này được hoàn thiện hơn Xin chân thành cản ơn

Quảng Trị , ngày tháng 9 năm 2011

Tác giả

Lê Văn Quốc

Trang 3

Lời nói đầu i

Mục lục ii

Danh mục các chữ viết tắt iv

Danh mục các hình ảnh, sơ đồ iv

Danh mục các bảng biểu v

Đặt vấn đề 1

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu 4

1.1, Trên thế giới 4

1.2, Ở trong nước 9

Chương II: Mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu 13

2.1, Mục tiêu nghiên cứu 13

2.1.1, Mục tiêu chung 13

2.1.2, Mục tiêu cụ thể 13

2.2 Nội dung nghiên cứu 13

2.3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 13

2.3.1 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 13

2.3.2, Đối tượng nghiên cứu 14

2.4, Phương pháp nghiên cứu 14

2.4.1, Phương pháp luận tổng quát 14

3.4.2, Các phương pháp tiếp cận chủ yếu 14

Chương 3: Tổng quan về khu vực nghiên cứu 18

3.1, Tổng quan về Khu BTTN Đakrông 18

3.2, Điều kiện cơ bản của khu vực nghiên cứu 19

3.2.1, Điều kiện tự nhiên 2 xã Ba lòng và Hải Phúc 19

3.2.2, Điều kiện kinh tế - xã hội 24

3.3, Đánh giá chung về điều kiện cơ bản 30

3.3.1, Những thuận lợi 30

3.3.2, Khó khăn 31

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận 33

4.1, Kết quả điều tra, phân loại tài nguyên thực vật cho LSNG ở xã Ba Lòng, Hải Phúc 33

Trang 4

nghiên cứu 33

4.1.2, Phân loại thực vật cho LSNG theo mục đích sữ dụng 34

4.2, Đánh giá hiện trạng, tiềm năng và các nhân tố ảnh hưởng đến tài nguyên thực vật cho LSNG tại khu vực nghiên cứu 39

4.2.2, Đánh giá tiềm năng phát triển thực vật cho LSNG 50

4.2.3, Các chính sách ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của LSNG 57

4.3, Lựa chọn và đề xuất tập đoàn cây trồng cho LSNG 59

4.3.1, Quan điểm lựa chọn 59

4.3.2, Nguyên tắc lựa chọn 59

4.3.3, Các tiêu chí lựa chọn cây trồng cho LSNG 60

4.3.4, Các loại thực vật cho LSNG có triển vọng 61

4.3.5, Hiệu quả của các loại cây lựa chọn 64

4.4, Một số giải pháp quản lý bền vững tài nguyên LSNG 70

4.4.1, Quan điểm đề xuất giải pháp 70

4.4.2, Giải pháp kinh tế - xã hội 70

4.4.3, Giải pháp về hoàn thiện thể chế và tăng cường sự quản lý của nhà nước 77

5.4.3, Giải pháp kỹ thuật 79

Chương V: Kết luận, Tồn tại, Khuyến nghị 86

5.1, Kết luận 86

5.1.1, Hiện trạng tiềm năng tài nguyên thực vật cho LSNG tại vùng đệm 86

5.1.2, Hiện trạng, tiềm năng, nhân tố ảnh hưởng đến tài nguyên LSNG 87

5.1.3, Kết quả chọn lựa tập đoàn cây cho LSNG có triển vọng phát triển 88

5.1.4, Đánh giá công tác quản lý và phát triển thực vật cho LSNG 88

5.1.5, Kết quả đề xuất các giải pháp sử dụng hợp lý và phát triển thực vật cho LSNG 89

5.2, Một số tồn tại 89

5.3, Khuyến nghị 90

Tài liệu tham khảo chính 91

Tiếng việt 91

Tiếng anh: 92

Trang 5

Chữ viết tắt Nội dung chữ viết tắt

NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH, SƠ ĐỒ 1- Hình ảnh

3.1 Điều kiện địa hình, tài nguyên khu vực nghiên cứu 32 4.1 Người dân khai thác Lá nón trong rừng đặc dụng khu BTTN 42 4.2 người thu gom hàng LSNG trên địa bàn nghiên cứu 54

2- Sơ đồ

4.1 Dòng sản phẩm LSNG từ sản xuất đến tiêu thụ 55

Trang 6

Biểu

3.1 Dân tộc, dân số và lao động khu vực nghiên cứu 24

4.5 Hiện trạng trồng rừng và giao khoán rừng 46 4.6 Đánh giá cho điểm các loài thực vật cho LSNG 63 4.7 Tổng hợp vốn và nhân công trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng

cho 1ha cây bản địa trồng bổ sung

64

4.9 Dự tính chi phí trồng 1ha của một số cây trồng chủ yếu 66 4.10 Dự tính thu nhập 1ha của một số cây trồng chủ yếu 66 4.11 Tổng thu chi(10năm) đối với các loài cây lâu năm 67 4.12 Tổng hợp các chỉ tiêu kinh tế cho các loài lựa chọn 68 4.13 Tổng thu chi đối với các loài cây hàng năm 68

Trang 7

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ngày nay nguồn tài nguyên về gỗ, củi hay sản phẩm từ rừng tự nhiên ngày một cạn kiệt dần, do khai thác quá mức, quá khả năng phục hồi, tái tạo của rừng nên nguồn tài nguyên không đáp ứng được nhu cầu xã hội Do đó để đáp ứng được một phần nhu cầu nào đó của xã hội về các sản phẩm từ tài nguyên rừng, đồng thời đảm bảo tính đa dạng sinh học và khả năng phục hồi rừng, vừa giải quyết được đời sống vật chất của xã hội, nhất là người dân sống gần rừng và ven rừng, tạo được công ăn việc làm có được thu nhập từ nghề rừng, thì lâm sản ngoài gỗ (LSNG) là một yếu tố giữ một vai trò hết sức quan trọng và cấp thiết

Cũng như các nước nhiệt đới khác, rừng nước ta có nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ rất phong phú và đa dạng Tài nguyên lâm sản ngoài gỗ đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống của cộng đồng dân tộc thiểu số sống phụ thuộc vào rừng

Khu Bảo tồn thiên nhiên(BTTN) Đakrông được thành lập từ năm 2002 theo quyết định 4343/QĐ-UB của Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng trị và sự ra đời của khu Bảo tồn đã làm thay đổi nhận thức, tập quán canh tác và cuộc sống của người dân xung quan vùng đệm của khu bảo tồn Trong đó, sự thay đổi lớn nhất là người dân mất đi tư liệu sản xuất chủ yếu là rừng, đất canh tác

để phát, đốt làm nương rẫy và các nguồn lợi khác từ rừng Sự thay đổi này kết hợp với tập quán canh tác lạc hậu và trình độ dân trí thấp, đã làm cho cuộc sống người dân gặp nhiều khó khăn Để tìm ra được giải pháp hữu hiệu vừa bảo tồn đa dạng sinh học cho khu BTTN Đakrông, bảo vệ môi trường và có thể nâng cao đời sống cho người dân vùng đệm góp phần xoá đói, giảm nghèo

Để khắc phục những khó khăn cho người dân, đồng thời để giải quyết các vấn đề và mối quan tâm trên, trong gần 10 năm qua các chương trình dự

Trang 8

án, các hoạt động của khu bảo tồn đều nhằm đến mục đích phát triển và ổn định cuộc sống người dân 8 xã vùng đệm như: trồng rừng sinh kế cho người dân, trồng mây dưới tán rừng, trồng lô ô, xây dựng vườn ươm lâm nghiệp, và một số hoạt động khác nhằm nâng cao nhận thức như: Tuyên truyền vận động người dân trong phát triển rừng, bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học(ĐDSH) đã được triển khai một cách rộng khắp trên toàn vùng nhằm nâng cao thu nhập và xoá đói, giảm nghèo cho các cộng đồng dân cư ở đây Những kết quả bước đầu của các chương trình này đã góp phần đáng kể vào việc cải thiện điều kiện sống của người dân, gắn liền với mục tiêu phát triển rừng bền vững và bảo vệ môi trường

Tất cả các giải pháp đã được triển khai thì giải pháp về khai thác, phát triển LSNG được coi là môt trong những giải pháp khả thi, để giải quyết các vấn đề quan tâm trên Lâm sản ngoài gỗ đã được thừa nhận như là một nhân

tố mà thông qua nó việc chia sẻ lợi ích từ rừng giữa nhà nước và người dân được đảm bảo

Ngoài ra, điều kiện khí hậu, đất đai, khu vực vùng đệm khu BTTT ĐaKrông rất thuận lợi cho việc phát triển nguồn tài nguyên LSNG, song cho đến nay nguồn tài nguyên này vẫn chưa được quản lý và sử dụng một cách có hiệu quả Việc phát triển LSNG còn thu hút được cộng đồng dân cư tham gia vào công tác bảo vệ rừng vì lợi ích của chính họ Từ xa xưa con người đã thường xuyên sử dụng LSNG phục vụ cho lợi ích của họ song họ chưa nhận thức được vai trò to lớn của LSNG Hệ quả của tình trạng đó tài nguyên LSNG ngày càng bị suy giảm cả về số lượng và chất lượng, những loài quý hiếm đã bị khai thác quá mức và đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, nguồn thu của người dân từ tài nguyên LSNG cũng ngày một ít dần Xuất phát từ thực tế đó, việc nghiên cứu các giải pháp để phát triển tài nguyên LSNG tại

Trang 9

khu vực vùng đệm, và trong khu bảo tồn, đang trở thành một yêu cầu rất bức thiết bởi các lý do sau đây:

- Phát triển LSNG còn góp phần tăng thêm tính đa dạng sinh học và bảo tồn các nguồn gen quý hiếm trong các khu rừng nhiệt đới ở nước ta nói chung và trong rừng đặc dụng khu bảo tồn nói riêng

- Cùng với sự suy thoái của rừng bởi quá trình khai thác bất hợp lý và hiện tượng du canh du cư, đốt nương làm rẫy v.v… nguồn tài nguyên LSNG ở nước ta cũng đang bị cạn kiệt với tốc độ hết sức nhanh chóng

- Cũng như nhiều cộng đồng dân cư ở vùng miền núi khác, cộng đồng dân ở

2 xã Ba Lòng và Hải Phúc đã và đang sử dụng LSNG ngày một nhiều hơn, vì diện tích đất sản xuất nông nghiệp còn lại rất ít Thu nhập hiện tại của phần đông người dân là dựa vào rừng, nhưng rừng ở đây lại chủ yếu là rừng đặc dụng nên con đường duy nhất để tạo nguồn thu nhập cho người dân nơi đây là phát triển các loài thực vật cho LSNG có giá trị kinh tế để ổn định cuộc sống, đồng thời góp phần bảo vệ rừng bảo tồn ĐDSH tại khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông

Với những lý do trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu giải pháp nhằm quản lý, sử dụng và phát triển bền vững lâm sản ngoài gỗ tại 2 xã Ba Lòng, Hải Phúc, thuộc vùng đệm khu BTTN ĐaKrông – Quảng trị”

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1, Trên thế giới

Khái niệm và thuật ngữ về LSNG

Thuật ngữ LSNG được thông qua trong hội nghị tư vấn lâm nghiệp Châu Á - Thái Bình Dương tại Băng Cốc, 5-8-1991: “lâm sản ngoài gỗ (Non - wood forest product, viết tắt là NWFPs) bao gồm những sản phẩm tái tạo được ngoài gỗ, củi và than gỗ, lâm sản ngoài gỗ được lấy từ rừng, đất rừng hoặc những cây thân gỗ” Do đó không được coi là LSNG những sản phẩm như cát, đá, nước dịch vụ du lịch sinh thái[2]

Hội nghị lâm nghiệp do tổ chức nông lương liên hiệp quốc triệu tập từ tháng 6 năm 1999 đã đưa ra và thông qua một khái niệm và định nghĩa khác về LSNG “ Lâm sản ngoài gỗ (Non Timber Forest Product, viết tắt là NTFPs) bao gồm những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác gỗ, được được khai thác từ rừng, đất có rừng (wooded lands) và cây ở ngoài rừng[2]

Từ việc phân tích và tổng luận các quan điểm, quan niệm của hàng loạt tác giả trên thế giới về LSNG Đề tài đã hình thành nhận thức về LSNG như sau:

Tuy có sự khác biệt giữa hai thuật ngữ sử dụng trong tiếng Anh là timber forest products (NTFPs) và Non- Wood forest products (NWFPs) song

Non-cả hai thuật ngữ này đều được hiểu bằng tiếng Việt là LSNG Tuy nhiên, nếu hiểu một cách chính xác hơn thì NTFPs là nhằm chỉ các lâm sản ngoài gỗ lớn (Timber-gỗ lớn), còn NWFPs nhằm chỉ các loài lâm sản ngoài gỗ nói chung

Vì vậy, một số loại sản phẩm như gỗ nhỏ, gỗ củi, ngọn cây có thể xếp vào NTFPs, nhưng không thể xem chúng là NWFPs, như định nghĩa trên đã nêu

Trong thực tế, có nhiều loại sản phẩm cùng loại với LSNG được sản xuất trên đất không có rừng (như nấm, mộc nhĩ, măng, quả trám, hạt giổi,

Trang 11

thảo dược,v.v ) nhưng chúng không phải là LSNG bởi vì: các lâm sản bao gồm những sản phẩm có nguồn gốc sinh học từ rừng hoặc từ một hệ thống sử dụng đất tương tự rừng theo định hướng lâm nghiệp

Giá trị kinh tế –xã hội của LSNG

Thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau, từ cung cấp lương thực, thực phẩm, vật liệu xây dựng, nguyên liệu làm thủ công mỹ nghệ, dược phẩm, đến giải quyết công ăn, việc làm, phát triển ngành nghề, bảo tồn và phát huy kiến thức bản địa, tôn tạo nét đẹp văn hoá, xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống nhiều mặt cho người dân, đặc biệt là dân nghèo (FAO,1994; Sharma,1995)[22]

Theo tổ chức FAO, LSNG đóng vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo

an toàn lương thực cho hộ gia đình Chúng bổ sung cho hộ gia đình các sản phẩm nông nghiệp Chúng đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc làm giảm những khó khăn thiếu thốn trong “giai đoạn đói” của nhà nông [22] LSNG có tác dụng chống lại sự thất thường và đảm bảo tính sẵn có của lương thực và thực phẩm; đồng thời cũng đóng góp một phần đáng kể vào lượng chất dinh dưỡng của hộ gia đình Chúng cũng có giá trị như là những thành phần xã hội và văn hoá Tuy nhiên, việc việc sử dụng và giá trị của LSNG là rất khác nhau từ vùng này đến vùng khác

Mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu về LSNG song cho đến nay những hiểu biết về LSNG còn rất hạn chế, đặc biệt là đối với những loài có giá trị kinh tế cao nên chưa phản ánh đầy đủ về nguồn tài nguyên LSNG vốn rất phong phú và đa dạng này và do đó chưa phát huy đầy đủ các chức năng có lợi của LSNG đối với nền kinh tế, đối với đời sống của người dân miến núi và đối với việc bảo tồn tính đa dạng sinh học và môi trường sinh thái Để LSNG phát huy tốt hơn nữa trong sự phát triển miền núi cần tập trung nghiên cứu xác định đặc điểm sinh thái học cũng như kĩ thuật gây trồng, chăm sóc, nuôi dưỡng chúng gắn với quản lý bền vững; Đồng thời cần xây dựng và truyền bá những mô hình

Trang 12

trình diễn về cung cấp LSNG để người dân học tập và làm cơ sở chuyển giao công nghệ phát triển rừng cung cấp LSNG

Theo De Beer (1996)[17] thì tài nguyên rừng và đặc biệt là tài nguyên LSNG là nguồn sống chủ yếu của ít nhất 27 triệu người dân ở vùng Đông Nam á Cũng với cách nhìn nhận đó Peter (1989)[23]cho rằng, giá trị thu nhập hiện tại của LSNG có thể lớn hơn giá trị thu nhập hiện tại từ bất kì loại hình thức sử dụng đất nào Vì vậy, việc bảo tồn và khai thác có kiểm soát nguồn tài nguyên này ở các địa phương cũng cần được ưu tiên về kinh tế so với các loại hình sử dụng đất khác

Song song với những phát hiện của The De Beer (1996) và Peter (1989), thông qua nghiên cứu của mình, Mendelsohn (1992)[25] đã đi đến kết luận là bằng cách duy trì tính nguyên vẹn của rừng tự nhiên, việc bảo tồn có khai thác có thể nuôi dưỡng tình da dạng sinh học cơ bản và bảo vệ môi trường sinh thái; đồng thời việc khai thác có kiểm soát nguồn tài nguyên LSNG sẽ góp phần cung cấp và đáp ứng các nhu cầu của xã hội về các loại LSNG một cách bền vững

Theo Pilamber Sarrma (1995) [9] thách thức đối với sự phát triển miền núi trong giai đoạn hiện nay về cơ bản là vấn đề giảm được đói nghèo, tăng được các cơ hội lựa chọn việc làm, bảo tồn được môi trường và sinh cảnh vùng núi và bảo đảm các biện pháp phân bổ công bằng thông qua việc thu hút

sự chú ý của phụ nữ và các nhóm có liên quan hoặc bị thiệt thòi Trong bối cảnh của vùng núi thì LSNG là một trong số các tài nguyên mà nó liên kết với tất cả các khía cạnh của sự phát triển toàn vẹ miền núi Chúng hầu như không

có sự cạnh tranh và thường cung cấp việc sử dụng đất bổ sung có liên quan đến nông nghiệp vùng núi, nơi mà một trong những vấn đề chính là sự khan hiếm đất có khả năng canh tác LSNG chỉ ra tiềm năng để thống nhất giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, mà sự thống nhất là một trong những

Trang 13

thách thức chủ yếu nhất trong phát triển miền núi Là nguồn gốc của việc làm

và sự phục hồi nguồn thu nhập, các LSNG cũng có thể hỗ trợ và duy trì cho phát triển kinh tế đối với các vùng núi nghèo khó Thật ra về mặt truyền thống thì LSNG đã là một phương kế cuối cùng đối với nền kinh tế tiêu điểm của những người nghèo Sử dụng bền vững LSNG sẽ tạo ra sự cần thiết để duy trì bảo tồn sinh khối và bảo tồn đa dạng sinh học LSNG cung cấp các cơ sở tiềm tàng cho sự tương tác và trao đổi giữa vùng cao và vùng thấp Với việc chế biến tốt hơn và các cơ hội tăng giá LSNG có thể cung cấp cho các cộng đồng vùng núi cơ hội múa bán và khả năng thương lượng giá cả tốt hơn Một số lượng lớn kiến thức dân gian liên quan đến LSNG được các cộng đồng miền núi sử dụng qua hàng thế kỷ và giúp ích nhiều cho việc bảo tồn tài nguyên này LSNG ở vùng núi vẫn tiếp tục được thu hoạch từ các nguồn tài nguyên

sở hữu cộng đồng vì thế LSNG tạo thuận lợi cho sự thúc đẩy các tiếp cận tham gia trong quản lý tài nguyên thiên nhiên và cũng có thể là phương tiện

để giải quyết những nỗi lo toan về kinh tế của những người nghèo và của những nhóm người hoặc cộng đồng bị thiệt thòi trong xã hội

Những nghiên cứu về khai thác, chế biến và thị trường LSNG

Những nghiên cứu về khai thác cũng đã chỉ ra rằng, việc thu hoach các LSNG từ tự nhiên hoang dã và từ các loại hình canh tác khác còn nhiều bất cập, đặc biệt là về phương diện dụng cụ và thiết bị, công nghệ, việc chuẩn bị trước khai thác, xử lý sau thu hoặch và những đòi hỏi của chế biến trung gian

Do chưa quan tâm đến cộng nghệ sau thu hoạch nên thường gây lãng phí về

cả số lượng và chất lượng trong quá trình thu hái, vận chuyển và cất trữ sản phẩm[22]

Theo tài liệu công bố của tổ chức FAO năm 1995[22] cho thấy có sự khác nhau trong hệ thống tổ chức thu hoạch LSNG Một hệ thống thông thường là thu hái LSNG dựa vào người dân địa phương dưới các quyền được

Trang 14

quy định, họ đem bán ở thị trường địa phương hoặc sẽ nhận được một số tiền dưới các hình thức khác từ cơ quan mua bán lâm sản Một hệ thống khác là dựa vào các lao động thông thường hoặc lao động dưới hình thức hợp đồng, những người tiếp cận thị trường hoặc thông qua những người quản lý tài nguyên Vì vậy hàng triệu người thu hái LSNG không có những đầu tư thích hợp cho các kỹ thuật thu hái đúng quy tắc và bền vững

- Về chế biến, những nghiên cứu về LSNG nhìn chung ít xem xét các sản phẩm có giá trị thương mại, mà lại tập trung vào viềc thay thế các sản phẩm mới, chúng đòi hỏi kinh phí nghiên cứu lớn, các phương tiện phức tạp

- Do tính chất đặc thù và đa dạng của LSNG nên cho đến nay những nghiên cứu về thị trường LSNG còn rất ít ỏi Một số nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng, mặc dù LSGN có giá trị to lớn, nhưng những người sản suất ra LSNG thì lại thu được hiệu quả rất thấp do sự hạn chế tiếp cận thông tin thị trường một cách có tổ chức hoặc thiếu các giải pháp kỹ thuật phù hợp để nâng cao chất lượng sản phẩm theo đòi hỏi của thị trường Để góp phần giải quyết vấn

đề trên, vào năm 1992 Chương Trình Rừng - Cây - Con người đã phát triển các bản hướng dẫn cho việc tạo ra hệ thống các thông tin thị trường LSNG ở cấp địa phương và giới thiệu một số kinh nghiệm về kỹ thuật nuôi trồng, canh tác và phát triển thực vật LSNG, như phát triển rừng cung cấp dược thảo ở Nêpan, rừng cung cấp cây họ dầu, tanin, cau dừa ở vùng Amazon-Brazin, rừng cung cấp song mây ở Malaysia…

Nhìn chung, những nghiên cứu về LSNG trên thế giới đều cho thấy tiềm năng to lớn của LSNG ở các nước nhiệt đới, đã khẳng định được vai trò quan trọng của LSNG trong đời sống kinh tế xã hội nông thôn miền núi, coi đây là một trong những nhân tố có triển vọng nhất cho bảo tồn và phát triển rừng, góp phần vào việc thực hiện mục tiêu quản lý rừng bền vững của các nước nhiệt đới Các nghiên cứu cũng chỉ ra các nguyên nhân cản trở, những rào cản

Trang 15

chính đối với việc quản lý hiệu quả tài nguyên rừng, đặc biệt là tài nguyên LSNG ở nhiều nước, như thị trường LSNG chưa hoàn hảo và chưa giữ được vai trò là đồn bẩy cho phát triển kinh doanh LSNG, nhận thức chưa đầy đủ về LSNG, thiếu kỹ thuật và thông tin quan trọng về mô hình rừng cung cấp LSNG có hiệu quả kinh tế cao Cho đến nay, việc phát triển LSNG được xem

là một trong những nội dung của chiến lược quản lý rừng bền vững theo hướng ‘’Bảo tồn có khai thác’’ Tuy nhiên, các giải pháp về kỹ thuật lâm sinh cho phát triển LSNG thực sự là chưa được chú ý đúng mức chưa tương xứng, còn dàn trải và chung chung

1.2, Ở trong nước

Trước cách mạng tháng 8 năm 1945, ở Việt Nam lâm sản được chia làm 2 loại:

- Lâm sản chính (Principale richese forestiere) là những sản phẩm gỗ

- Sản phẩm phụ của rừng hay lâm sản phụ (produid secondaie de la forest), bao gồm động và thực vật cho sản phẩm ngoài gỗ

Từ năm 1961 lâm sản phụ được coi trọng và được mang tên đặc sản rừng bao gồm cả thực vật rừng và động vật rừng là nguồn tài nguyên giàu có của đất nước, nó có vị trí quan trọng trong sự nghiệp cộng nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, trong đời sống nhân dân, quốc phòng và xuất khẩu[2] Theo định nghĩa đó đặc sản rừng là một bộ phận của tài nguyên rừng nhưng chỉ tính đến những sản phẩm có công dụng hoặc giá trị đặc biệt và ngoài các thực vật dưới tán rừng còn bao gồm các loài cây cho gỗ đặc hữu hoặc được coi là đặc hữu của Việt Nam, như Pơ mu, hoàng đàn, kim giao như vậy thuật ngữ đặc sản rừng mang ý nghĩa kinh tế, vì không tính đến những sản phẩm không có hoặc chưa biết giá trị Vì thế, danh mục những đặc sản rừng trong từng thời điểm củng tập trung sự chú ý vào một số sản phẩm nhất định

Trang 16

Ngày nay trong lâm nghiệp thuật ngữ lâm sản ngoài gỗ được dùng phổ biến, chính thức thay cho thuật ngữ lâm sản phụ (minor forest product/secondary forest product)

Ở Việt Nam, việc sử dụng LSNG đã gắn liền với sự sinh tồn của các cộng đồng dân cư và phát triển các làng nghề thủ công truyền thống từ lâu đời Khai thác và sử dụng LSNG đã góp phần giải quyêt công ăn việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho người dân Tuy nhiên, cũng giống như nhiều quốc gia đang phát triển, việc quản lý sử dụng rừng ở Việt Nam chủ yếu là khai thác gỗ, ít quan tâm đến quản lý, gây trồng,bảo vệ và phát triển LSNG Vì vậy cùng với điện tích rừng tự nhiên bị giảm thì nguồn tài nguyên LSNG cũng bị cạn kiệt đi và có ảnh hưởng xấu đến cuộc sống dân cư sống dựa vào rừng Xuất phát từ thực tế đó, trong những năm gần đây nhiều nghiên cứu về phát triển LSNG đã được triển khai nhằm trả lời cho các câu hỏi sau:

- Tiềm năng, vị trí của LSNG đối với kinh tế hộ gia đình vùng trung du và miền núi như thế nào?

- Kỹ thuật lâm sinh nào có thể lồng ghép LSNG và nương rẫy trong lòng hệ sinh thái rừng để bảo vệ rừng, vừa tạo ra thu nhập ổn định cho người dân?

- Những loại LSNG nào cần được ưu tiên phát triển?

Khi nghiên cứu vai trò của LSNG, tác giả D.A.Gilmour và Nguyễn Văn Sản (1999)[9], đã phát hiện được trong 2 năm 1997-1998 ở vườn quốc gia Ba

Vì - Hà Tây đã khai thác xấp xỉ 200 tấn cây dược liệu, ước tính gần 60% người dân tộc Dao tại Ba Vì tham gia vào thu hái Đây là nguồn thu nhập thứ hai đứng sau lúa và sắn Nghiên cứu của Trần Ngọc Lân (1999)[12] ở khu bảo tồn tự nhiên Pù Mát (Nghệ An) cũng cho thấy, có tới 100% số hộ dân sống dựa vào rừng thông qua khai thác gỗ và LSNG như Măng, Mật ong, Song, Mây, Nứa … Tác giả cũng cho thấy, có tới 22,5% số hộ thường xuyên khai

Trang 17

thác nứa, 11,75% số hộ thường xuyên khai thác măng, mộc nhĩ Trên 90%

số hộ ở bản Châu Sơn vào rừng đào củ mài, củ nâu để làm thức ăn

- Nhưng nghiên cứu của Lương Văn Tiến, Hà Chu Chử (1999)[9] về chủng loại LSNG quan trọng ở Việt nam cũng đã cho thấy, các loài LSNG được khai thác sử dụng nhiều nhất ở Việt Nam những loài cung cấp nguyên liệu cho các làng nghệ thủ công mỹ nghệ như song, mây, tre, nứa, các loại cho nhựa, cây thảo dược và các loại nấm Tổng giá trị suất từ LSNG của Việt Nam từ năm 1986-1990 đã đạt 40 triệu USD/năm

- Thông qua việc triển khai một số công trình nghiên cứu và phát triển LSNG, các nhà khoa học đã phát hiện xác định được danh mục các loài LSNG, trong

đó khoảng 40 loài tre nứa, 40 loài song mây, 60 loài cây có chứa tanmin, 260 loài cho tinh dầu và nhựa, 160 loài chứa tinh dầu, 70 loài chứa chất thơm và hàng triệu loài được dùng làm thức ăn Riêng đối với loài cây được dùng làm dược liệu, theo tài liệu của Viện Dược Liệu, Việt Nam đã phát hiện được

1863 loài cây thuốc quý thuộc 1033 chi, 236 họ và 101 bộ, 17 lớp, 11 nghành thực vật Con số này còn được bổ sung thêm (Trần Văn Kỳ,1995)[9]

- Về thực tiễn phát triển LSNG, từ năm 1998[9] Viện nghiên cứu đặc sản rừng

đã thực hiện một dự án lớn về LSNG với khoảng kinh phí dự toán là hơn 1,7 triệu USD Tuy nhiên, dự án mới tập trung vào việc phát hiện loài cho LSNG

ở một số khu bảo tồn thiên nhiên (Ba Bể, Kẻ Gỗ) Ngoài ra, dự án cũng xây dựng một số các mô hình trình diễn phát triển thực vật cho sản phẩm ngoài gỗ như mô hình trồng Trúc sào ở Ba Bể, mô hình phát triển thuốc nam ở Kẻ Gỗ,

Ba Vì…

Nhìn chung, những công trình nghiên cứu trên chủ yếu tập trung vào việc định loại, mô tả và có phần chú ý nhiều vào cây thuốc Những công trình nghiên cứu khác về LSNG còn ít và mới chỉ ở giai đoạn ban đầu, còn thiếu nhiều công trình về kỹ thuật lâm sinh bảo vệ và phát triển LSNG Cho đến

Trang 18

nay nước ta vẫn chưa có phần lớn những nghiên cứu một công trình khoa học nào nghiên cứu một hệ thống và đồng bộ về thực vật cho LSNG

Tóm lại, phần lớn các nghiên cứu ở nước ta về LSNG mới được phát

hiện theo hướng chuyên ngành tập trung phát hiện loài cho lâm sản ngoài gỗ,

mô tả hình thái, công dụng, giá trị kinh tế, một số đặc điểm sinh thái, mà thiếu hẳn những nghiên cứu về giải pháp lâm sinh cho xây dựng và phát triển rừng cung cấp LSNG Chình vì vậy mà tiềm năng to lớn về LSNG vẫn chưa được phát huy và phát triển bền vững ở Việt Nam nói chung và vùng đệm khu BTTN Đakrông nói riêng

Trang 19

Chương II MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1, Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá hiện trạng và tiềm năng phát triển thực vật cho LSNG

- Đề xuất một số giải phát phát triển LSNG nhằm góp phần nâng cao mức sống cộng đồng và bảo vệ rừng đặc dụng tại địa bàn nghiên cứu

2.2, Nội dung nghiên cứu

Nhằm thực hiện các mục tiêu trên, đề tài tập trung nghiên cứu một số nội dung chủ yếu sau đây:

- Điều tra, phân loại và đánh giá tài nguyên thực vật cho LSNG tại địa bàn 2

xã Ba Lòng và Hải Phúc

- Đánh giá hiện trạng, tiềm năng các nhân tố ảnh hưởng thực vật cho LSNG tại khu vực nghiên cứu

- Lựa chọn và đề xuất tập đoàn cây trồng cho LSNG tại khu vực

- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển nguồn tài nguyên LSNG tại vùng nghiên cứu

2.3, Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

2.3.1, Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Thực hiện ở vùng rừng đặc dụng trên địa bàn 2 xã Ba Lòng và Hải Phúc thuộc huyện Đakrông tỉnh Qảng trị trên địa bàn vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông

Trang 20

2.3.2, Đối tượng nghiên cứu

- Các hoạt động kinh tế xã hội có liên quan đến bảo vệ phát triển rừng đặc dụng, các hoạt động canh tác nông nghiệp, sử dụng đất ở các xã vùng đệm

- Những hệ sinh thái rừng đặc dụng Đakrông, bao gồm rừng tự nhiên và rừng trồng cây lá rộng, rừng tre nứa

- Tập đoàn cây thực vật cho LSNG Hiện trạng và tiềm năng phát triển

- Hệ thống các giải pháp khoa học - công nghệ và kiến thức bản địa liên quan đến sử dụng đất dốc, phục hồi và phát triển LSNG

2.4, Phương pháp nghiên cứu

2.4.1, Phương pháp luận tổng quát

Phương pháp nghiên cứu tổng quát của đề tài là tiến hành đánh giá các điều kiện về tự nhiên, kinh tế-xã hội, điều kiện tài nguyên rừng và thực vật ngoài

gỗ (LSNG) trên cơ sở đó đánh giá hiện trạng và tiềm năng phát triển LSNG cũng như vai trò của chúng trong đời sống xã hội của người dân trong bảo vệ môi trường ở khu vực Tiếp theo là xác định nhu cầu và khả năng của hộ gia đình người dân trong phát triển LSNG, đánh giá tác động của một số yếu tố kinh tế xã hội chủ yếu đến sự phát triển của LSNG Cuối cùng là đề xuất các giải pháp kinh tế- xã hội chủ yếu đến sự phát triển LSNG theo định hướng đề ra

3.4.2, Các phương pháp tiếp cận chủ yếu

- Sử dụng kết hợp giữa phương pháp tiếp cận có sự tham gia với phương pháp phân tích thống kê để phát hiện số lượng thực vật cho LSNG, vai trò của chúng trong đời sống cộng đồng, phát hiện ra mối quan hệ giữa các yếu tố kinh tế và quản lý sử dụng LSNG Người dân sinh sống trong vùng, khai thác

và sử dụng LSNG như là một trong những kế sinh nhai Vì vậy, muốn phát triển tài nguyên rừng được bền vững, phải giải quyết được hài hoà các mối quan hệ giữa các yếu tố kinh tế, xã hội và sinh thái

2.4.2.1, Phương pháp điều tra thu thập số liệu

Các phương pháp được sử dụng trong đề tài gồm:

Trang 21

a) Phương pháp kế thừa

Phương pháp kế thừa được sử dụng để điều tra thu thập thông tin từ những tài liệu, văn bản hiện có, những số liệu thống kê lưu trữ hàng năm có liên quan đến đối tượng điều tra bao gồm:

- Các kết quả nghiên cứu về LSNG từ trước tới nay tại khu vực nghiên cứu

- Các tài liệu có liên quan đến điều kiện tự nhiện, điều kiện kinh tế -xã hội tại khu vực nghiên cứu

- Hệ thống bản đồ, cơ sở dữ liệu liên quan đến LSNG

b) Phương pháp điều tra thực địa

Đây là phương pháp điều tra trực tiếp trên thực địa với các hình thức chọn mẫu khác nhau cho phù hợp với đặc điểm của các loại hình LSNG và các yêu cầu về thông tin bao gồm:

- Phương pháp điều tra trên các tuyến điển hình

- Điều tra điều tra trên các ô tiêu chuẩn điển hình

c) Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia

Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) bao gồm nhiều công cụ khác nhau mà người điều tra có thể lựa chọn sử dụng cho phù hợp với nội dung và đối tượng điều tra Trong đề tài này, tuỳ theo nội dụng và tính chất của các loại thông tin cần thu thập để lựa chọn và sử dụng các công cụ đó một cách thích hợp Sau đây là những công cụ được sử dụng để điều tra thu thập thông tin phục vụ cho các nội dung của đề tài:

- Phương pháp phỏng vấn

- Phương pháp phân tích kinh tế hộ

- Phương pháp thảo luận nhóm

- Phương pháp phân tích thị trường

d) Phương pháp chuyên gia

- Phương pháp chuyên gia được sử dụng trong đề tài này nhằm tham vấn các nhà chuyên môn về những hiểu biết và kinh nghiệm của họ liên quan đến

Trang 22

công tác gây trồng, chăm sóc, khai thác sử dụng, chế biến và tiêu thụ các nguồn tài nguyên LSNG

- Để tập hợp các kiến thức và kinh nghiệm về các nội dung chuyên môn của

đề tài, các chuyên gia về thực vật, lâm sinh, y học cổ truyền, khái thác chế biến, sẽ được đề tài lấy ý kiến tham vấn

e- Phương pháp ma trận phân loại

- Phương pháp này được sử dụng để đánh giá và lựa chọn các loài thực vật cho LSNG có triển vọng ở khu vực nghiên cứu, cụ thể như sau:

- Hàng ngang của bảng gi các chi tiết, tiêu trí dùng để đánh giá Có 3 chỉ tiêu

là sinh thái, kinh tế, xã hội Mỗi tiêu chuẩn được cụ thể hoá bằng các tiêu chí khác nhau và các tiêu chí được đánh giá bằng các phương pháp cho điểm từ 1-10 điểm

- Cột dọc ghi tên các loài cây dự tuyển, mỗi cột ghi tên một cây

- Căn cứ vào ý kiến của dân về khả năng đáp ứng của từng loài với từng tiêu chí, căn cứ vào các tài liệu có liên quan đến lựa chọn LSNG ở khu vực tiến hành cho điểm từng loài

- Tính tổng điểm cho từng loài và sắp sếp chúng theo thứ tự ưu tiên

2.4.2.2, Phương pháp phân tích hiệu quả kinh tế

a) Phương pháp tĩnh

Coi các yếu tố kinh tế và kết quả là độc lập tương đói và không chịu tác động của nhân tố thời gian, mục tiêu đầu tư và bị động của giá trị đồng tiền Công thức tính:

Trong đó: P là tổng lợi nhuận trong 1 năm

Tn là tổng thu nhập trong 1 năm

Cp là tổng chi phí sản xuất kinh doanh trong 1 năm

Trang 23

Pv là hiệu quả vốn đầu tư trong 1 năm

Vdt là tổng vốn đầu tư trong 1 năm

b) Phương pháp động

Coi các yếu tố về chi phí và kết quả có mối quan hệ với mục tiêu đầu

tư, thời gian và giá trị đồng tiền

Các chỉ tiêu được tập hợp và tính toán bắng hàm: NPV, BCR, IRR trong chương trình Excel 7.0

NPV=

n i

ti

Ct Bt

Trong đó :

- NPV là giá trị hiện tại của thu nhập ròng

- Bt là giá trị thu nhập ở năm thứ t

- Ct là giá trị chi phí ở năm thứ t

- i là tỷ lệ chiết khấu hay lãi suất vay vốn

- T là thời gian thực hiện các hoạt động sản xuất

- Tỷ lệ thu nhập so với chi phí (BCR) là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và được tính toán theo công thức sau:

t i Ct

t i

Ct Bt

0

) 1 (

) 1 (

Trang 24

Chương 3 TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1, Tổng quan về Khu BTTN Đakrông

Khu BTTN Đakrông đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT thẩm định tại văn bản số 4218/BNN-KH ngày 05/12/2000 và được thành lập theo quyết định số 768/QĐ-UB của UBND tỉnh Quảng Trị ngày 9/4/2001 và quyết định 4304/QĐ- UB về thành lập ban Quản lý khu bảo tồn Với quy mô ban đầu là 40.526 ha Thực hiện chủ trương của Thủ tướng Chính phủ về việc rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng (Chỉ thị số 38/2005/CT-TTg ngày 5/12/2005), tỉnh Quảng Trị đã tiến hành rà soát, quy hoạch lại ranh giới, quy mô của Khu bảo tồn, giảm diện tích quản lý xuống còn 37.640 ha, nằm trên địa bàn của 8 xã:

Ba Lòng, Triệu Nguyên, Hải Phúc, Đakrông, Tà Long, Húc Nghì, Ba Nang, A Bung thuộc huyện Đakrông (đây đồng thời cũng là các xã vùng đệm của Khu BTTN Đakrông)

Vùng lõi của Khu BTTN Đakrông có diện tích là 37.640 ha, trong đó diện tích phân khu bảo vệ nghiêm ngặt là 23.590 ha, phân khu phục hồi sinh thái 13.409 ha, phân khu hành chính dịch vụ là 641 ha Trong Khu bảo tồn hiện có:

ẩm nhiệt đới vùng thấp; iii) rừng kín thường xanh phục hồi sau khai thác (kiểu phụ thứ sinh nhân tác; iv) rừng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới sau khai thác (kiểu phụ thứ sinh nhân tác); v) rừng hỗn giao tre nứa, gỗ phục hồi sau

Trang 25

nương rẫy và khai thác; vi) trảng cỏ cây bụi thứ sinh nhân tác; vii) thảm cây nông nghiệp; viii) thảm thực vật khu núi đá Ngoài ra, Khu BTTN Đakrông là một trong số 200 vùng sinh thái trọng yếu của thế giới, một trong 3 vùng chim đặc hữu của Việt Nam với giá trị khoa học cao được thừa nhận Khu BTTN Đakrông là một mắt xích quan trọng trong chuỗi các khu bảo tồn, tạo nên môi trường sống thích hợp cho các loài có nguy cơ tuyệt chủng

Tổng diện tích của 8 xã vùng đệm là 85.066 ha, trừ diện tích Khu BTTN Đakrông, diện tích vùng đệm là: 47.426 ha, trong đó: Rừng tự nhiên: 18.035

ha, rừng trồng: 1.354 ha, đất chưa có rừng quy hoạch cho lâm nghiệp: 23.039

ha, đất sản xuất nông nghiệp: 3.018 ha, đất phi nông nghiệp: 1.183 ha và đất chưa sử dụng khác: 797 ha

3.2, Điều kiện cơ bản của khu vực nghiên cứu

3.2.1 Điều kiện tự nhiên 2 xã Ba lòng và Hải Phúc

3.2.1.1 Vị trí địa lý

Vị trí địa lý của vùng nghiên cứu đề tài nằm trên địa bàn hai xã Ba Lòng và Hải Phúc thuộc huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị, cách trung tâm huyện lỵ 18 km về phía Nam

- Phía Bắc giáp với xã Triệu Ái, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng trị

- Phía Nam giáp với huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế

- Phía Đông giáp với xã Triệu Nguyên, huyện Đakrông, tỉnh Quảng trị

- Phía Tây giáp với xã Tà Long, Húc Nghì, huyện Đakrông

3.2.1.2 Đặc điểm địa hình

Địa hình của 2 xã khu vực nghiên cứu có kiểu địa hình đồi núi thấp bị chia cắt mạnh bởi nhiều sông, suối, kênh rạch rất phức tạp Địa hình thấp dần

từ Tây sang Đông và được bao bọc bởi 2 dãy núi và bị chia cắt bởi con sông

Ba Lòng nên tạo thành dãy thung lũng ở giữa kéo dài qua 4 xã từ Mò Ó, Triệu Nguyên, Ba Lòng và Hải Phúc và nơi tập trung dân cư, đất sản xuất và chăn

Trang 26

nuôi Địa hình nơi cao nhất là Động Chè có độ cao 800m so với mặt nước biển, độ cao bình quân của khu vực là 200- 300m Độ dốc bình quân là 250, một số nơi độ dốc trên 300 Đặc điểm địa hình khu vực nghiên cứu có ảnh hưởng rất lớn tới sản xuất và sinh hoạt của người dân Những tác động thiếu thận trọng của con người sẽ làm biến đổi tính chất của khu vực Hoạt động sản xuất canh tác nông nghiệp cũng như trồng rừng, nếu không chú ý đến biện pháp bảo vệ đất sẽ gây ra xói mòn, rửa trôi nghiêm trọng, đất đai mất dần sức sản xuất, nguồn nước bị suy thoái nhanh chóng, ngày càng bị bồi lắng 3.2.1.3 Điều kiện thổ nhưỡng

a) Đất

Đất trong khu vực nghiên cứu được hình thành chủ yếu gồm 4 nhóm đất chính sau: đất đỏ vàng trên đá phiến sét Fs), đất nâu tím trên đá phiến sét (Fe), đất đỏ vàng trên đá mác ma axit (Fa), đất vàng nhạt trên đá cát (Fq)

- Đất đỏ vàng trên phiến đá sét (Fs): Loại độ dốc từ 3 - 80 thích hợp cho việc phát triển cây lương thực và cây lâu năm, loại đất có độ dốc lớn hơn 200 thích hợp cho việc khoanh nuôi, bảo vệ phát triển rừng

- Đất nâu tím trên đá phiến sét (Fe): Độ dốc phổ biến lớn hơn 200 thành phần

cơ giới thịt nặng thích hợp cho việc khoanh nuôi bảo vệ rừng

- Đất đỏ vàng trên đá mácma axit (Fa): Loại độ dốc từ 30 - 80 thích hợp cho việc phát triển cây lương thực và cây màu, Loại đất có độ dốc từ 80 - 150 thích hợp cho việc trồng cây lâu năm, cây công nghiệp Loại đất có độ dốc >

200 thích hợp cho việc khoanh nuôi bảo vệ, trồng rừng

b) Khí hậu

Vùng nghiên cứu nằm trong vùng đồi núi thấp chịu ảnh hưởng lớn của loại hình khí hậu nhiệt đới gió mùa Khí hậu chia thành bốn mùa tương đối rõ rệt, song khí hậu ở đây có đặc điểm là mùa Đông lạnh và mưa nhiều, mùa hè khô nóng và chịu ảnh hưởng lớn của gió mùa tây nam Tính

Trang 27

chất nhiệt đới thể hiện rõ ràng, nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25,3

0C Nhiệt độ cao nhất vào khoảng tháng 6 từ 270- 290C Nhiệt độ cao tuyệt đối là 410C, tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng 12 và tháng 1, nhiệt độ từ

180- 200C, nhiệt độ tối thấp là 90-100C

- Vào mùa khô nền nhiệt độ cao cộng với độ ẩm thấp thường làm nước bốc hơi rất nhanh làm thiếu nước tưới, gây khô hạn ảnh hưởng lớn đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng

- Độ ẩm trung bình hàng năm 74%, đô ̣ ẩm qua các tháng dao đô ̣ng không lớn

Đô ̣ ẩm cao nhất 84% vào tháng 8 và thấp nhất 66% vào tháng 3

- Lượng bố c hơi trung bình hàng năm khoảng 774,3 mm

- Lượng mưa trung bình năm vào khoảng 2.260 mm, lượng mưa phân bố không đều tập trung chủ yếu từ tháng 8 đến tháng 12 Tổng số ngày mưa trung bình cả năm là 122 ngày

- Gió Tây nam khô, nóng thường phát triển mạnh từ tháng 4 đến tháng 8 Hoạt động của gió Tây nam thường gây nên hạn hán trong thời kỳ đầu Trong những tháng này nhiệt độ tối cao có thể vượt 390C và độ ẩm thấp nhất có thể xuống dưới 30%

- Mưa bão: Hai tháng xuất hiện nhiều bão nhất là tháng 9 và tháng 10 Bão thường kèm mưa lớn lụt lội gây thiệt hại khá nghiêm trọng

3.2.1.5 Chế độ thuỷ văn

a) Nguồ n nươ ́ c mặt:

Vùng nghiên cứu có nguồn nước mặt khá phong phú, trên địa bàn có nhiều khe suối, mật độ các khe suối dày và hầu hết đổ ra con sông lớn chảy qua địa bàn xã Ba Lòng, đoạn sông này dài khoảng 9 km Là con sông chính cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt cho vùng hạ lưu thuộc hai huyện Hải Lăng và Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị thông qua công trình thuỷ lọi lớn Nam Thạch Hãn

Trang 28

- Các khe nhánh cung cấp các công trình thuỷ lợi nhỏ phục vụ sản xuất nông nghiệp sinh hoạt tại chỗ trên địa bàn 2 xã gồm: Khe cây, khe Thụ Lụ, khe

Gió, khe Tà lang, Khe Su

- Hệ thống sông suối trên đã cung cấp nguồn nước khá phong phú phu ̣c vu ̣ cho sản xuất và sinh hoa ̣t của người dân trong xã

b) Nguồ n nươ ́ c ngầm:

Qua khảo sát trên đi ̣a bàn xã qua mô ̣t số giếng khơi cho thấy mực nước ngầm tương đố i sâu, thườ ng từ 7 - 15 m Hiê ̣n nay khai thác chủ yếu phu ̣c vu ̣ sinh hoạt, chất lươ ̣ng nước tương đối tốt

3.2.1.7, Tài nguyên thực vật

Hiện có 1412 loài thực vật bậc cao, thuộc 528 chi và 149 họ

- Một số loài có giá trị cao về kinh tế và khoa học, trong đó có 24 loài được ghi trong sách đỏ việt Nam gồm 1loài thuộc nhóm đang nguy cấp (E), 5 loài thuộc nhóm sẽ nguy cấp (V), 7 loài thuộc nhóm hiếm(R) và 9 loài thuộc nhóm không biết chính xác(K), 2 loài thuộc nhóm bị đe doạ (T) Trong đó có một số loài đại diện như Cẩu tích, hoàng đàn giả, Trầm hương, Vũ hương, Kimh giao, Huyết đằng, Vàng đắng, Hoàng đằng, Tuế, Rau Sắng

- Trong số 149 họ thì 10 họ có số lượng loài khá cao như họ Đậu Fabaceae (70), Thầu dầu Euphorbiaceae (64), Cà phê Rubiaceae(36) họ Long nảo Lauraceae (36), họ Dâu tằm Moracae (35) họ Lan Orehidaceae (35), họ Hoà thảo Paoceae (24)

- Trong khu vực có tổ thành loài cây thuốc phong phú, được chia ra làm 8 nhóm công dụng khác nhau Nhóm cây cho gỗ, nhóm cây làm thuốc, nhóm cây có tinh dầu, nhóm cây làm đồ thủ công mỹ nghệ, nhóm cây cảnh và bóng mát, nhóm cây có dầu béo, nghóm cây cho tamin, và làm thuốc nhuộm, nhóm cây thực

Trang 29

Tuy nhiên tài nguyên thực vật có nguy cơ bị giảm mạnh về chủng loại,

số lượng do nạn khai thác trái phép, khai thác thiếu bền vững và một số hoạt động tiêu cực khác

3.2.1.8, Tài nguyên động vật

Theo kết quả điều tra của dự án tăng cường công tác quản lý và bảo tồn khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông- Quảng Trị và vùng phụ cận (SACODA- 76053) đã được phát hiện có tới 193 loài chim, 67 loài thú, 71 loài cá, 69 loài mối, 210 loài bướm, 17 loài ếch nhái và 32 loài bò sát

- Với tài nguyên động vật tự nhiên hoang dã phong phú và đa dạng như vậy

đã góp phần lớn trong bảo tồn ĐDSH và bảo tồn nguồn gen, trong đó có nhiều loài được ghi trong sách đỏ Việt nam, sách đỏ thế giới và ghi trong nghị định

32 Tuy nhiên, độ đa dạng sinh học bị suy giảm nghiêm trọng bởi tình trạng săn, bẫy bắt trái phép của người dân địa phương vẫn diễn ra thường xuyên

- Thành phần động vật nuôi: đàn gia súc, gia cầm của các xã vùng đệm chủ yếu là các loài Trâu, Bò, lợn, Ngan, Gà, Dê, vv

- Với diện tích mặt nước khá lớn, đặc biệt là con sông Ba Lòng cá, tôm được coi là nguồn tài nguyên quan trọng trong đời sống người dân một số thôn của

xã Ba Lòng trong đó có nhiều loài cá khai thác phổ biến như: cá chép, cá quả,

cá mương, cá thát lát, cá trắm, cá mè,…

Qua đó cho thấy tài nguyên về động vật có tiềm năng to lớn để giải quyết khó khăn trong quá trình phát triển ở vùng đệm nói chung cũng như ở khu vực 2 xã nói riêng Chúng không những đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm thuốc men, củi gỗ và nhiều loại sản phẩm thiết yếu khác mà còn góp phần làm tăng thêm sự phong phú và đa dạng của hệ sinh thái nơi đây.Vì thế cần có các chính sách để bảo vệ nghiêm ngặt và quản lý, khai thác chúng bền vững có hiệu quả

Trang 30

3.2.2, Điều kiện kinh tế - xã hội

3.2.2.1 Dân tộc, dân số, lao động và việc làm

Hiện trạng dân tộc, dân số và lao động 2 xã Ba Lòng và Hải Phúc tại thời điểm điều tra được tổng hợp trong biểu 3.1

Biểu 3.1 Dân tộc, dân số và lao động khu vực nghiên cứu

TT Tên xã Tổng số

hộ DT Kinh

DT Vân Kiều

Tổng số khẩu

Số lao động

(Nguồn: UBND xã Ba Lòng và UBND xã Hải Phúc năm 2011)

Qua biểu ta thấy có sự khác nhau về sự phân bố dân tộc giữa 2 xã khu vực nghiên cứu xã Ba Lòng có thành phần người dân tộc kinh chiếm đa số còn ngược lại xã Hải Phúc chủ yếu là người đồng bào dân tộc thiểu số là dân tộc Vân kiều, nên những đặc điểm sinh sống và phong tục tập quán củng có phần rất khác nhau

- Người Vân Kiều là dân tộc bản địa có tổ chức làng xã khá chặt chẽ do trưởng bản hoặc già làng đứng đầu

- Điều cần được quan tâm đặc biệt ở đây là dân số và lao động ở khu vực nghiên cứu tương đối đông, nhất là xã Ba Lòng, trong khi đó diện tích đất nông nghiệp lại rất ít, đất lâm nghiệp chủ yếu thuộc rừng đặc dụng khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông nên sức ép về việc làm và sinh kế tương đối lớn

- Lao động trong khu vực chủ yếu là lao động trẻ, trình độ văn hoá thấp, chưa được đào tạo về kỹ thuật chuyên môn Sản xuất nông nghiệp chủ yếu là theo thời vụ cây trồng chủ yếu là trồng lạc, ngô nên thời gian nông nhàn nhiều Người dân địa phương trong thời gian nông nhàn chủ yếu lợi dụng khai thác củi, gỗ và lâm sản ngoài gỗ trong rừng đặc dụng để phục vụ cho nhu cầu cuộc

Trang 31

sống, sinh hoạt của gia đình, đời sống của người dân hiện tại vẫn còn nhiều

khó khăn và không ổn định phù thuộc rất nhiều vào điều kiện thời tiết 3.2.2.2, Đặc điểm kinh tế

Thu nhập của người dân trên 2 xã nghiên cứu từ trước tới nay chủ yếu

là từ sản xuất nông, lâm nghiệp, chăn nuôi Tuy nhiên, từ khi hầu hết đất canh

tác nương rẫy được quy hoạch cho rừng đặc dụng nên cuộc sống của người

dân gặp khó khăn về đất sản xuất nhất là đất sản xuất nương rẫy

Qua kết quả thu thập số liệu tại địa phương 2 xã cho thấy, thu nhập

bình quân đầu người đạt khoảng 500.000- 600.000 đồng/tháng/người, tỷ lệ hộ

nghèo chiếm tới 15- 20% trong tổng số số hộ Số hộ nghèo phần lớn rơi vào

xã Hải Phúc và thôn Khe Cau xã Ba Lò.ng là người đồng bào dân tộc thiểu số

3.2.2.3, Tình hình sản xuất kinh doanh

a) Sản suất nông nghiệp

Nông nghiệp là ngành sản xuất chính trên địa bàn 2 xã nghiên cứu song

diện tích canh tác nông nghiệp bình quân đầu người ở đây lại rất thấp Kết

quả điều tra về hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của 2 xã được tổng hợp

7 Cây khác

(Nguồn: UBND xã Ba Lòng và UBND xã Hải Phúc năm 2010)

Trang 32

Sản xuất nông nghiệp của 2 xã chủ yếu là tập trung vào các cây ngắn ngày, cây hàng năm như Lúa, đậu, lạc, ngô… Phương thức canh tác chủ yếu là thâm canh nhưng lại phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết nên năng suất không ỗn định qua các năm Trong sản xuất nông nghiệp đối với xã Ba Lòng cây Lạc và đậu xanh, ngô đóng vai trò chủ đạo và là nguồn thu nhập chính Còn đối với xã Hải Phúc thì lúa nước, Ngô và Sắn là nguồn thu nhập chính của người dân

b) Sản xuất lâm nghiệp

Là xã miền núi có đất quy hoạch cho lâm nghiệp rất lớn rừng và đất rừng chiếm đại đa số diện tích, độ che phủ rừng của 2 xã lên đến 75- 76%, Phần lớn diện tích rừng và đất rừng ở đây được quy hoạch là rừng đặc dụng khu BTTN Đakrông, nên nguồn thu chủ yếu từ nghề rừng là khai thác từ rừng trồng và lâm sản ngoài gỗ từ rừng tự nhiên Rừng tự nhiên là rừng sản xuất chưa được đầu tư để kinh doanh, khai thác hưởng lợi từ rừng Khi thành lập rừng đặc dụng người dân không có cơ chế hưởng lợi từ rừng nên chưa có ý thức đầy đủ trong bảo vệ rừng Qua phỏng vấn trong các hộ gia đình có tới 80% số hộ cho rằng rừng là của nhà nước nên họ ít quan tâm đến việc quản lý

và bảo vệ rừng

c) Chăn nuôi

Tình trạng chăn nuôi mang tính tự phát nhỏ lẻ theo quy mô hộ gia đình, hầu hết các hộ trong xã đều chăn nuôi trâu, bò, lợn, gia cầm… Phương thức chăn nuôi vẫn mang tính chất thả rông tự nhiên, thiếu tính quy hoạch tổng thể

và chăn nuôi theo kiểu hàng hoà, chưa có quy hoạch các vùng nguyên liêu, dự trử thức ăn, thiếu đầu tư giống và phòng dịch nên gia súc phát triển chậm, hiệu quả đem lại chưa cao, thường dịch bệnh và chết rét vào mùa đông lạnh

Trang 33

Biểu 3.3 Tình hình chăn nuôi gia súc gia cầm ở 2 xã

(Nguồn: UBND xã Ba Lòng và UBND xã Hải Phúc năm 2010)

Qua biểu 3.3 cho thấy, chăn nuôi trâu là một ưu thế chiếm tỷ lệ lớn trong tổng đàn, vật nuôi gia súc, gia cầm có sự biến động theo từng loài, Nguồn thu từ chăn nuôi là một nguồn thu đáng kể trong cơ cấu thu nhập của người dân vùng này hầu hết các hộ điều tham gia vào chăn nuôi để cải thiện thêm thu nhập Tuy nhiên, việc chăn nuôi Trâu, bò có xu hướng giảm mạnh vào các năm gần đây do nguồn thức ăn bị thu hẹp bởi đất tróng đưa vào trồng rừng sản xuất và có xu hướng tăng vật nuôi nhốt như: lợn hay gia cầm các loại Điều đáng chú ý ở đây là diện tích mặt nước trên địa bàn 2 xã nghiên cứu khá lớn, nhưng việc khai thác đánh bắt chưa được bền vững nên chưa đem lại hiệu quả kinh tế cao và ổn định, khai thác chủ yếu là dùng xung điện

để đánh bắt cá nên mức độ suy giảm sản lượng rất lớn và huỷ hoại nguồn tài nguyên môi trường, đánh mất một tiềm năng to lớn nếu biết khai thác, nuôi trồng và lợi dụng hợp lý thì sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao

3.2.2.4, Cơ sở hạ tầng

a) Hệ thống giao thông

Hệ thống giao thông ở khu vực này tương đối thuận lợi tổng chiều dài đường nhựa liên xã 15km các tuyến đường liên thôn xóm đều được bê tông hoá

Trang 34

và hàng chục tuyến đường nội đồng đều được kiến cố rất thuận lợi cho việc đi lại và lưu thông hàng hoá nông, lâm sản của người dân Tuy nhiên do nằm trong vùng thung lũng nên hàng năm điều bị ảnh hưởng của lũ lụt thiên tai nên rất dễ xuống cấp và hư hại nếu không được duy tu bảo dưỡng thường xuyên

b) Thuỷ lợi

Trên địa bàn có nhiều khe suối và diện tích manh mún, tuy nhiên hệ thống các công trình thuỷ lợi trong những năm qua được sự đầu tư của nhiều chương trình dự án như dự án 135, dự án giảm nghèo miền trung, dự án 30a

Hệ thống một số công trình thuỷ lợi đã được đầu tư xây dựng, phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt như công trình thuỷ lợi khe Cây phục vụ tưới tiêu cho khoảng 5ha lúa nước, công trình thuỷ lợi khe Vò cho 2 ha và công trình thuỷ lợi khe Lau cho 15ha công trình thuỷ lợi khe Tà lang (đang thi công) dự định tưới tiêu cho khoảng 20ha Ngoài ra sản suất còn lợi dụng một số lượng khá lớn nước trời, nước tự nhiên từ các sông suối, ao đập nhỏ Hệ thống thuỷ lợi đáp ứng tương đối cho người dân sản xuất nông lâm nghiệp trên địa bàn

c) Hệ thống điện, bưu chính viễn thông

Được sự đầu tư của nhà nước hiện nay ở các xã đã có điện lưới quốc gia đến tận các xóm và các hộ phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt

Mỗi xã đều có một trạm bưu điện và trên địa bàn 2 xã đều có trạm phát sống của các mạng điện thoại Vinaphone, Mobiphone, Viettenll, và mạng EVN hệ tống mạng điện thoại rất phong phú đáp ứng nhu cầu tốt đối với người dân ở khu vực này

d) Hệ thống giáo dục, y tế

Giáo dục: Cả hai xã đều có trường mầm non và cấp 1 riêng đối với xã

Ba Lòng có trường cấp 2, các trường đều có cơ sở vật chất tương đối khang trang, hầu hết các trường đều được xây kiên cố bằng vốn hỗ trợ của nhà nước, chất lượng đảm bảo, đội ngũ giáo viên về trình độ không ngừng được nâng

Trang 35

cao Tuy nhiên, do đời sống còn nhiều khó khăn, mặt khác trường trung hoc lại cách xa nhà (nếu đi từ xã Hải Phúc đến trường phổ thông trung học khoảng 20km) Nên học sinh học hết phổ thông còn thấp chỉ đạt từ 20 – 40% trong độ

tuổi

Biểu 3.4 Hiện trạng giáo dục

Tên xã Tên trường và cấp

học

Số khối học

Số học sinh Số giáo viên

(Nguồn: UBND xã Ba Lòng và UBND xã Hải Phúc năm 2010)

Y tế; Các xã đều có trạm y tế nhưng đội ngũ cán bộ y tế còn thiếu về số

lượng và hạn chế về trình độ chuyên môn, trang thiết bị kỹ thuật còn rất nghèo nàn nên chỉ mới đáp ứng được yêu cầu khám, chữa các bệnh thông thường Tuy nhiên, vấn đề kế hoạch hoá gia đình đã được cán bộ xã và người dân hưởng ứng tham gia cho nên đã hạn chế được tỷ lệ tăng dân số, các gia đình đã

biết sử dụng muối Iốt trong các bữa ăn hàng ngày để phòng bệnh bướu cổ

Biểu 3.5 Mạng lưới nhân viên y tế

STT Tên xã Số lượng cán bộ Trình độ đào tạo

(Nguồn: UBND xã Ba Lòng và UBND xã Hải Phúc năm 2010)

Trang 36

3.3, Đánh giá chung về điều kiện cơ bản

- Là các xã nằm trong điều kiện là xã khó khăn và trong vùng 62 huyện nghèo nên được ưu đãi của nhiều chương trình, nhiều dự án được đầu tư vào đây, nhằm xoá đói giảm nghèo, tăng thu nhập, nâng cao đời sống của người dân như: Dự án 135, dự án trồng rừng JIBICH, dự án 661, dự án giảm nghèo miền trung…

- Diện tích mặt nước khá nhiều nên thuận lợi cho đánh bắt và nuôi trồng thuỷ hải sản

- Thu nhập từ chăn nuôi gia súc gia cầm chiếm tỷ lệ cao trong tổng thu nhập của hộ gia đình

- Về trật tự an ninh, 2 xã không có tệ nạn xã hội như nghiện hút, mại dâm…

- Lực lượng lao động trong khu vực rất rồi dào và chủ yếu là lao động trẻ

- Giao thông ở khu vực tương đối thuận lợi cả đường thuỷ và đường bộ Từ trung tâm xã về thị trấn khoảng 20km, đường bộ ở đây chủ yếu là đường nhựa thuận tiện cho các phương tiện vận chuyển

- Nhân dân tin tưởng vào đường lối chính sách của Đảng và nhà nước, mọi quy định của địa phương

Trang 37

3.3.2, Khó khăn

- Tài nguyên đất đai lớn, cơ sơ hạ tầng được đầu tư khá bài bản tuy nhiên do nằm trong vùng khí khậu khắc nghiệt, mùa hè nắng nóng, hạn hán cục bộ Mua đông mưa nhiều, rét đậm, rét hại kéo dài, nên dẫn đến khó áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản

- Mặc dù nguồn lao động dồi dào, chủ yếu là lao động trẻ, có nhiều thời gian nhàn rỗi, song phương thức canh tác còn lạc hậu và trình độ khoa học kỹ thuật còn thấp kém nên việc áp dụng khoa học kỹ thuật của nhân dân còn hạn chế

- Do trình độ dân trí thấp, chưa thoát khỏi nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu tự cung tự cấp nên nếu không có sự hỗ trợ của Nhà nước thì đời sống người dân địa phương gặp rất khó khăn

- Địa phương chưa đào tạo được cán bộ giỏi có năng lực để hướng dẫn nhân dân trong sản xuất nông lâm và chăn nuôi

- Vốn đầu tư cho các hộ sản xuất chăn nuôi còn manh mún chưa có hướng sản xuất với quy mô lớn sản xuất mang tính hàng hoá

- Bình quân đất nông nghiệp, đặc biệt là diện tích lúa nước chiếm tỷ lệ rất thấp (khoảng 50m2) Đây là một thách thức rất lớn đối với một địa bàn mà dân cư sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp

- Địa hình có độ dốc lớn, đất đai thiếu nước, kém màu mỡ Mặt khác chưa có quy hoạch sử dụng đất đai hợp lý, việc giao khoán đất lâm nghiệp còn chưa triệt để do vậy rừng vẫn bị khai thác dù đã được quản lý tốt hơn

- Đầu tư vào sản xuất còn chưa cao, kỹ thuật canh tác còn lạc hậu nên việc sử dụng lao động còn lãng phí

- Trình độ của đội ngũ quản lý xã nhất là xã có đồng bào dân tộc thiểu số xã Hải Phúc còn yếu về chuyên môn nghiệp vụ

Trang 38

- Đầu tư của Nhà nước về quản lý bảo vệ phát triển tài nguyên rừng còn thấp chưa thực sự tạo động lực để thu hút người dân tham gia, chưa có cơ chế hưởng lợi từ rừng thõa đáng

- Chưa có đầu tư xây dựng các làng nghề thủ công mỹ nghệ để phát huy lợi thế của địa phương

Hình 3.1 Điều kiện địa hình, tài nguyên khu vực nghiên cứu

Trang 39

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Kết quả điều tra về khu hệ thực vật tại khu vực nghiên cứu được tổng hợp trong biểu 4.1

Biểu 4.1 Kết quả điều tra về khu hệ thực vật ở khu vực

(Nguồn Khu BTTN Đakrông- Quảng trị)

Kết quả ở biểu 4.1 cho thấy, tại khu vực nghiên cứu có khoảng 1412 loài thực thuộc 4 ngành và 149 họ Trong đó có 3 loài thuộc ngành thông đất,

30 loài thuộc ngành dương xỉ, 10 loài thuộc ngành thông, 1171 loài thuộc

Trang 40

ngành hạt kín lớp 2 lá mầm và 198 loài thuộc lớp 1 lá mầm Qua đó cho thấy thực vật ở khu vực rất phong phú và đa dạng

Khi nghiên cứu về tập đoàn thực vật cho LSNG, có tới 358 loài thực vật cho LSNG được phát hiện, với các dạng sống khác nhau từ thân gỗ lớn,

gỗ nhỡ, gỗ nhỏ, cây bụi, thảm tươi, dây leo, thân thảo…đến thực vật phụ sinh, thực vật kí sinh… Trong đó,

Nhóm thực vật thân gỗ cho LSNG gồm 24 loài, chúng cung cấp các loại sản phẩm khác nhau cần thiết cho nhu cầu con người như cho quả và hạt (Sấu, trám, giổi ) cho nhựa, nhội), cho tinh dầu (Re hương, Trầm Gió, Màng tang, Long não, Bời lời, ) cho lá (Sung rừng, Chân chim, Cỏ tranh, Lá dong), cho vỏ (Chay rừng, Chân chim)

4.1.2, Phân loại thực vật cho LSNG theo mục đích sữ dụng

- Nhóm cây làm thuốc: có khoảng 186 loài trong tổ thành loài cây có mặt

trên địa bàn 2 xã nghiên cứu, các loài cây làm thuốc chiếm tỷ lệ tương đối lớn Một số loài phổ biến như; Hà thu ô, Máu chó, Chuồn, Hoàng đằng, Huyết

dụ, Thiên niên kiện, Bách bộ, Chè dây, Lá Vằng, Đào tiên, Dung, Kim cang,

Bá bệnh, Ba gạc lá lớn, Đổ trọng nam, Củ Bình vôi, Củ 1 lá Theo kế quả nghiên cứu phân loại theo các nhóm tác dụng chữa bệnh của các loài dùng làm thuốc của tiến sỹ Đỗ Tất Lợi Đây được coi là một tài sản quý báu không chỉ có tác dụng bảo vệ cộng đồng địa phương mà còn mở ra triển vọng to lớn

để phát triển nghề khai thác và chế biến dược thảo

- Nhóm cây có tinh dầu; Gồm khoảng 34 loài một số loài tiêu biểu như : Màng tang, Bời lời, Bưởi bung, Hoa dẻ, Muồng truổng, Hoàng đàn dã, Vũ hương, Sẻn, Giổi, Thiên niên kiện, tuy có số lượng thành phần loài tương đối lớn nhưng nhóm cây này ít được người dân quan tâm đến chỉ một ssố đối tượng ngoài địa phương vào khai thác một cách trái phép nhất là khai thác tinh dầu dè một loại dược liệu quý có giá trị trên thị trường hiện nay

Ngày đăng: 28/09/2017, 14:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Lâm Nghiệp - Kế hoạch phát triển đặc sản rừng, 1981- 1990, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch phát triển đặc sản rừng, 1981- 1990
2. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn 2006, Cẩm nang ngành lâm nghiệp năm 2006, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang ngành lâm nghiệp năm 2006
3. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2005), Quyết định số 40/2005/QĐ- BNN ngày 7 tháng 7 năm 2005 về quy chế khai thác gỗ và lâm sản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 40/2005/QĐ-BNN ngày 7 tháng 7 năm 2005 về quy chế khai thác gỗ và lâm sản
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Năm: 2005
4. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2006), Thông tư 99/2010/TT- BNN về hướng dẫn thực hiện một số điều của quy chế quản lý rừng, ban hành kèm theo quyết định 186/2006/QĐ- TTg, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 99/2010/TT- BNN về hướng dẫn thực hiện một số điều của quy chế quản lý rừng, ban hành kèm theo quyết định 186/2006/QĐ- TTg
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Năm: 2006
5. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2011), Thông tư số 35/2011/TT- BNNPTNT về hướng dẫn khai thác gỗ và Lâm sản ngoài gỗ. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2011), "Thông tư số 35/2011/TT-BNNPTNT về hướng dẫn khai thác gỗ và Lâm sản ngoài gỗ
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Năm: 2011
6. Cục kiểm lâm (1994), văn bản pháp luật về quản lý rừng, quản lý lâm sản, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: văn bản pháp luật về quản lý rừng, quản lý lâm sản
Tác giả: Cục kiểm lâm
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1994
7. Cục lâm nghiệp (2004), phát triển rừng cung cấp lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam, NXB nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: phát triển rừng cung cấp lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam
Tác giả: Cục lâm nghiệp
Nhà XB: NXB nông nghiệp
Năm: 2004
8. Võ Văn Chi (1995) Tự điển cây thuốc Việt nam, NXB trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự điển cây thuốc Việt nam
Nhà XB: NXB trẻ
10. Phạm Hoàng Hộ (2000) Cây cỏ Việt nam. NXB trẻ. Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ Việt nam
Nhà XB: NXB trẻ. Thành phố Hồ Chí Minh
11. Phạm Xuân Hoàn (2003), Lâm học, NXB Nông nghiệp, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lâm học
Tác giả: Phạm Xuân Hoàn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2003
12. Trần Ngọc Lân (1999): Phát triển bền vững vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ): Phát triển bền vững vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia
Tác giả: Trần Ngọc Lân
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1999
13. Đổ Tất Lợi (1997) Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam. NXB Khoa học và kỹ thuật. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật. Hà Nội
25. Mendelsoln(1992) Non-Timber Forest Products. Tripical Fores Handbook. Volume 2. 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Non-Timber Forest Products
9. Phạm Văn Điển (2003) Báo cáo khoa học đề án nghiên cứu đề xuất một số giảI pháp kinh tế- xã hội nhằm phát triển cho lâm sản ngoài gỗ ở vùng hồ thuỷ điện tỉnh Hoà Bình 5/2003 Khác
14. Hoàng Xuân Tý (1999): Vai trò của kiến thức bản địa trong các dự án phát triển nông thôn và vùng cao Khác
15. Tài liệu tập huấn (2003): Bảo tồn và quản lý khu bảo tồn thiên nhiên - Dự án tăng cường quản lý bảo tồn khu Bảo tồn thiên nhiên Đakrông và vùng phụ cận (SMACODA). 2003 Khác
16. Tuyển tập báo cáo khu Bảo tồn thiên nhiên Đakrông(2005) NXB Khoa học và kỹ thuật Hà Nội.Tiếng anh Khác
17. De Beer. Mac Demolt MT (1996). Non- Timber Forest Products in The Ecomomic vallue of Non- Timber Forest Products in South east Asia Khác
18. De Beer. Mac Demolt(1989). The Ecomomic vallue of Non- Timber Forest Products in South east Asia. 1989 Khác
19. De Beer. Mac Demolt (1989). The Ecomomic vallue of Non- Timber Forest Products in Asia With enphasis on Ịndonesia, Malaisia Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm