Việt Nam hiện đang thiếu hệ thống chính sách kiểm soát chất lượng sản phẩm, thiếu chế tài để điều chỉnh sự sử dụng lâm sản theo hướng bền vững hay kết hợp hài hòa giữa các lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường. Hệ thống chính sách kiểm soát việc tiêu thụ và chế biến gỗ lậu còn yếu kém. Các chính sách và chiến lược phát triển hệ thống chế biến, đầu tư phát triển trồng rừng nguyên liệu chưa phù hợp với thực tế phát triển thị trường... Mời các bạn tham khảo để nắm bắt vấn đề.
Trang 1ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ DỰ BÁO XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG LÂM SẢN VIỆT
NAM
Trần Việt Trung
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu, đánh giá thị trường gỗ và sản phẩm gỗ giai đoạn 2001 – 2005 đã đạt được một số thành quả và có ý nghĩa thiết thực góp phần cung cấp tư liệu cũng như là cơ sở dữ liệu cho công tác dự báo thị trường lâm sản trong giai đoạn tới
Kết quả 2 năm nghiên cứu và đánh giá thị trường gỗ và sản phẩm gỗ trên địa bàn 12 tỉnh, thành (trong đó 8 tỉnh thuộc duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đồng bằng Nam Bộ và 4 tỉnh phía Bắc) Trong bài viết này đưa ra một số kết quả nghiên cứu đạt được như sau:
Thực trạng phát triển thị trường gỗ và sản phẩm gỗ Việt Nam trong giai đoạn 2001 – 2005 đã thể hiện các ưu điểm theo xu hướng như: Tổng cung, tổng cầu đều tăng trưởng khá nhanh; nhiều tỉnh thành trong cả nước đã ngày càng mở rộng ra nhiều thị trường chính, khó tính, tiềm năng; giảm xuất thô đáng kể; tăng nhập khẩu gỗ nguyên liệu để tăng xuất khẩu; trồng rừng nguyên liệu đã được chú ý,
hệ thống doanh nghiệp chế biến lâm sản ngày càng phát triển, từng bước đổi mới thiết bị công nghệ cũng như năng lực cạnh tranh ngày càng phù hợp với xu hướng phát triển thị trường trong nước cũng như ngoài nước
Tuy nhiên bên cạnh đó còn nhiều hạn chế: Thị trường phát triển thiếu đồng bộ; quy hoạch trồng rừng nguyên liệu chưa tổng thể; điều kiện phát triển thị trường còn bất cập nhất là chính sách, khoa học và công nghệ, quản lý Nhà nước; hiệu quả thị trường còn thấp; bảo vệ rừng và môi trường chưa tốt
Nhiều luật và chính sách có tác động tích cực đến việc phát triển thị trường, song mức tác động vẫn còn khiêm tốn, thậm chí có lúc, có nơi còn là “lực cản”:
Các chính sách phát triển kinh tế thị trường vẫn đang bộc lộ rất rõ nét sự thiếu thống nhất và không rõ ràng dẫn đến những bất cập trong chính sách đầu tư, ưu đãi đối với các doanh nghiệp nhà nước
Một số luật mới ban hành gần đây như Luật đầu tư, Luật canh tranh, Luật Doanh nghiệp chưa thực sự có hiệu lực do chưa có đủ các văn bản hướng dẫn thi hành luật
Việt Nam hiện đang thiếu hệ thống chính sách kiểm soát chất lượng sản phẩm, thiếu chế tài
để điều chỉnh sự sử dụng lâm sản theo hướng bền vững hay kết hợp hài hoà giữa các lợi ích kinh tế,
xã hội và môi trường
Hệ thống chính sách kiểm soát việc tiêu thụ và chế biến gỗ lậu còn yếu kém Các chính sách
và chiến lược phát triển hệ thống chế biến, đầu tư phát triển trồng rừng nguyên liệu chưa phù hợp với thực tế phát triển thị trường
Từ khóa: Thị trường lâm sản, Chính sách đầu tư và phát triển
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong nền kinh tế thị trường, hệ thống thị trường từng quốc gia ngày càng trở nên thống nhất, thông suốt và phát triển Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, hệ thống thị trường quốc gia tất yếu phải phù hợp với xu thế vừa hợp tác, vừa cạnh tranh để tồn tại và phát triển Thị trường lâm sản của Việt Nam ngày nay cũng vậy, nó là bộ phận hữu cơ trong hệ thống thị trường của đất nước, hướng ngoại, cạnh tranh và hợp tác để phát triển bền vững
Trong vài năm gần đây thị trường lâm sản Việt Nam đã phát triển khá sôi động, đặc biệt là xuất khẩu đồ gỗ, có mức tăng trưởng rất nhanh (>30%/năm) Nhu cầu gỗ nguyên liệu cũng vì thế mà tăng nhanh, vì vậy cần phải nhập khẩu và mở ra thị trường cung cấp gỗ lớn nội địa Tuy nhiên Việt Nam cũng còn trong tình trạng sơ khai về thị trường nói chung và thị trường lâm sản nói riêng, nên còn kém lợi thế về nhiều mặt so với các nước Vì vậy, việc đánh giá thực trạng thị trường lâm sản ở nước ta trong giai đoạn hiện nay và tìm hiểu xu hướng phát triển thị trường lâm sản là một yêu cầu tất yếu vừa
có tính cơ bản lâu dài, vừa mang tính cấp thiết trước mắt
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 2Đối tượng Phạm vi
Sản phẩm gỗ: Đồ gỗ, ván nhân tạo và dăm
gỗ
Nguyên liệu gỗ: Gỗ tròn và gỗ xẻ
Đà Nẵng, Bình Định, Gia Lai, ĐăkLăk, TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Kiên Giang, Phú Thọ, Quảng Ninh, Bắc Ninh và Nghệ An
Phương pháp nghiên cứu
Thông tin thứ cấp được thu thập qua nhiều kênh thông tin: Niên giám thống kê, đề án phát triển kinh tế xã hội của các tỉnh và các tài liệu liên quan
Thông tin sơ cấp được thu thập thông qua các phương pháp sau:
- Phương pháp đánh giá và phân tích thị trường
- Phương pháp điều tra bán cấu trúc và cấu trúc để điều tra điểm nghiên cứu, phỏng vấn các
hộ gia đình, các đại lý thu mua, cơ sở chế biến và các cơ quan liên quan bằng bảng câu hỏi thiết kế sẵn
- Phương pháp chuyên gia, hội thảo: Gặp gỡ, hội thảo trao đổi để tham khảo ý kiến của chuyên gia, cán bộ quản lý trên từng lĩnh vực nghiên cứu
- Phương pháp thống kê, phân tích: Tổng hợp tài liệu, số liệu thu thập được ở cơ quan trung
ương và địa phương, trên mạng Internet và tài liệu điều tra Có sử dụng thống kê mô tả và thống kê so sánh
- Các phương pháp toán kinh tế: Sử dụng phần mềm Excell trong tính toán xử lý số liệu khảo sát nghiên cứu; phần mềm oralce để quản lý dữ liệu, thông tin về thị trường lâm sản
Các bước thực hiện nghiên cứu
Trang 3KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Mục đích nghiên cứu
Thu thập thông tin, số liệu làm cơ sở cho đánh giá và dự báo thị trường lâm sản
Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường lâm sản
Đề xuất định hướng và một số giải pháp
Bộ công cụ
Quan sát trực tiếp
Phỏng vấn bán cấu trúc
Phỏng vấn cấu trúc
Hội thảo cộng đồng
Hội thảo SWOT
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích
Phương pháp phỏng vấn
cấu trúc, bán cấu trúc
Phương pháp dự báo
Phương pháp chuyên gia
Phương pháp kế thừa
Đối tượng nghiên cứu
Các đối tượng có tác động đến thị trường lâm sản:
- Các cơ quan và cán bộ có liên quan
- Hệ thống chính sách liên quan đến thị trường lâm sản trên địa bàn nghiên cứu
Các tổ chức cá nhân tham gia trực tiếp vào thị trường lâm sản:
- Cá nhân tiêu dùng sản phẩm và trồng rừng nguyên liệu
- Các tổ chức sản xuất, tiêu thụ, xuất nhập khẩu
Phân tích và xử lý số liệu
Đánh giá thị trường gỗ và sản phẩm gỗ giai đoạn
2001 – 2005, góp phần cung cấp tư liệu và đề xuất khuyến nghị cho công tác chuyên môn dự báo thị trường lâm sản trong giai đoạn 2010 - 2020
Nội dung nghiên cứu
Đánh giá thực trạng thị trường lâm sản
Phân tích, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường lâm sản
Đề xuất giải pháp ổn định và phát triển thị trường lâm sản
Trang 4Thực trạng xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ 12 tỉnh điều tra
Biểu 2 Kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ 12 tỉnh, thành giai đoạn 2001–2005 (Giá CIF)
Đơn vị tính: triệu USD
Tỉnh, thành Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005
TP Hồ Chí Minh 127,458 143,510 333,81 216,046 434,88
Tổng kim ngạch xuất
khẩu của 12 tỉnh thành 302,112 388,191 699,642 1.015,739 1.427,364
(Nguồn: Cục Công nghệ thông tin – Tổng cục Hải quan, báo cáo điều tra khảo sát thị trường gỗ và
sản phẩm gỗ 12 tỉnh, thành năm 2006, 2007 và tính toán) Ghi chú: (-) không có số liệu
Một số đánh giá về tình hình xuất khẩu đồ gỗ và sản phẩm gỗ ở các tỉnh, thành điều tra
Tổng kim ngạch xuất khẩu của 4 tỉnh Bình Dương, TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Định chiếm tỷ lệ xuất khẩu lớn nhất 1,350 tỷ USD chiếm xấp xỉ 95% tổng giá trị xuất khẩu/12 tỉnh thành điều tra; chiếm 85% so với tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước
Tổng kim ngạch xuất khẩu của 4 tỉnh phía Bắc (Bắc Ninh, Phú Thọ, Quảng Ninh, Nghệ An) năm
2005 là 23,542 triệu USD chiếm tỷ trọng rất nhỏ xấp xỉ 1,65% so với tổng kim ngạch xuất khẩu của 12 tỉnh thành và chiếm 1,47% so với cả nước Ví dụ như tỉnh Phú Thọ từ 2001-2004 giá trị xuất khẩu rất nhỏ, năm 2005 tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh có tăng so với các năm trước nhưng cũng chỉ đạt 0,755 triệu USD
Thực trạng tiêu thụ gỗ và sản phẩm gỗ của các tỉnh điều tra
Bảng 3 Giá trị và khối lượng tiêu thụ nội địa gỗ và sản phẩm gỗ của các tỉnh điều tra giai đoạn
2001- 2005
Tỉnh Chỉ tiêu Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005
Bắc Ninh
Trang 5Tỉnh Chỉ tiêu Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005
Phú Thọ
Giá trị (tr.đ) 63.999 88.032 111.949 160.429 217 831
Khối lượng (m3) 186.199 180.365 188.600 202.241 218.932 Quảng Ninh
Khối lượng (m3) 53.000 54.000 35.000 49.000 57.000 Nghệ An
Giá trị (tr.đ) 172.196 193.774 137.540 206.958 272.006
Khối lượng (m3) 28.797 30.351 33.392 35.776 41.582
Đà Nẵng
Giá trị (tr.đ) 93.560 108.911 126.626 178.116 244.332
Khối lượng (m3) 28.475 30.450 32.890 38.100 41.600 Bình Định
Giá trị (tr.đ) 118.400 126.700 136.850 158.530 173.100
Khối lượng (m3) 160.650 122.135 88.507 113.527 117.860 Gia Lai
Giá trị (tr.đ) 102.336 85.925 90.614 108.236 103.734
ĐăkLăk
Giá trị (tr.đ) 157.268 231.945 259.573 329.311 399.104
TP HCM
Giá trị (tr.đ) - 1.866.902 2.270.100 3.275.914 4.609.253
Bình Dương
Giá trị (tr.đ) 628.229 986.154 1.546.198 2.431.614 3.095.272
Đồng Nai
Khối lượng (m3) 40.926 42.180 44.340 45.390 44.400 Kiên Giang
Giá trị (tr.đ) 90.037 105.295 133.020 145.248 164.280
Ghi chú: Giá trị tính theo giá cố định năm 1994
(-) không có số liệu (Nguồn: Niên giám thống kê các tỉnh, thành; Cục Chế biến lâm sản - Bộ NN&PTNT; các báo cáo thực trạng thị trường gỗ và sản phẩm gỗ 2006, 2007)
Nhìn chung tiêu thụ nội địa của các tỉnh năm 2005 đều tăng so với năm 2001 Khối lượng cho tiêu thụ nội địa của tỉnh Quảng Ninh tương đối lớn (năm 2005 là 218.932m3 so với năm 2001 là 186.199m3) Các tỉnh Nghệ An, Đà Nẵng, Bình Định khối lượng cho tiêu dùng nội địa tăng dần đều qua các năm
Giá trị tiêu thụ nội địa của 12 tỉnh đều gia tăng với tốc độ khá lớn Thành phố Hồ Chí Minh có mức tiêu thụ nội địa tăng trưởng lớn nhất (năm 2002 là 1866 tỷ đồng, năm 2005 là trên 4.000 tỷ đồng, gấp hơn 3 lần so với 2002), tiếp đến là tỉnh Bình Dương năm 2002 là 986 tỷ đồng đến năm 2005 là trên 3000 tỷ đồng, gấp hơn 2,7 lần so với năm 2002 Các tỉnh khác tốc độ tiêu thụ tăng với lượng không cao
Trang 6Thực trạng thị trường nguyên liệu
Tổng trữ lượng toàn quốc là 811,678 triệu m3, trong đó trữ lượng rừng sản xuất là 281,216 triệu
m3 chiếm 34,6% tổng trữ lượng Trữ lượng rừng phân theo chức năng của các vùng trong cả nước tại thời
điểm năm 2006 được thống kê trong bảng 4:
Bảng 4 Sản lượng gỗ tròn khai thác của các tỉnh điều tra giai đoạn 2001 - 2005
Sản lượng gỗ tròn khai thác năm (m 3 )
Tổng sản lượng gỗ tròn
khai thác từ rừng tự nhiên
và rừng trồng
448.398 559.521 489.892 895.629 1199.218
(Nguồn: Các Niên giám thống kê, báo cáo khảo sát thị trường gỗ và sản phẩm gỗ
các tỉnh thành và xử lý số liệu điều tra 2006, 2007)
Tổng sản lượng khai thác gỗ qui tròn của 9 tỉnh thành điều tra năm 2005 xấp xỉ 1,2 triệu m3,
chiếm 44% tổng sản lượng khai thác của cả nước (2,7 triệu m3) Khối lượng khai thác gỗ tròn của tỉnh
Đồng Nai chiếm tỷ trọng lớn nhất, cụ thể năm 2004 là 406.992 m3 (trong đó gỗ Cao su 92.455 m3, gỗ
rừng trồng 284.349 m3, gỗ rừng tự nhiên 6.612 m3, gỗ từ vườn hộ 23.576 m3)và năm 2005 là 500.758
m3(trong đó gỗ Cao su 114.738 m3, gỗ rừng trồng 354.125 m3, gỗ rừng tự nhiên 5.685 m3, gỗ vườn hộ
26.210 m3), số liệu này chứng tỏ nhu cầu nguyên liệu của tỉnh cho chế biến nội địa và xuất khẩu là rất
lớn và ngày càng tăng
Thực trạng hệ thống doanh nghiệp
Biểu 5 Thực trạng biến động hệ thống doanh nghiệp chế biến lâm sản
Vùng
Số doanh nghiệp
Cơ cấu (%)
Số doanh nghiệp
Cơ cấu (%)
Số doanh nghiệp
Cơ cấu (%)
Trang 7Tây Bắc 10 1.49 20 1,16 216 8,55
Đồng bằng sông Cửu
(Nguồn: - năm 2000: Bộ NN&PTNT; 2005: FOMIS; 2007: Vifores)
Có sự phát triển rất nhanh số lượng doanh nghiệp trong thời kỳ 2000-2007, số lượng doanh
nghiệp năm 2007 là 2526, gấp 2,8 lần năm 2000, tốc độ tăng bình quân 40%/năm Ngay 2 năm gần đây số lượng doanh nghiệp vẫn tăng nhanh, tốc độ tăng của thời kỳ 2005-2007 là 23,5%/ năm Số lượng doanh nghiệp của miền Bắc tuy có tăng nhưng chậm hơn miền Nam Có sự biến đổi sâu sắc
về cơ cấu phân bố doanh nghiệp theo vùng: 80% tổng số doanh nghiệp cả nước tập trung ở miền Nam và đặc biệt đã hình thành "vùng tam giác" trọng điểm chế biến gỗ: Đồng Nai-Bình Dương - TP
Hồ Chí Minh, có 1440 DN, chiếm tỷ lệ 57% tổng số doanh nghiệp cả nước, hay 96,4% của vùng Đông Nam Bộ Công nghiệp chế biến gỗ của Việt Nam đã thu hút mạnh mẽ dòng vốn đầu tư từ các nước vào Việt Nam Hiện nay cả nước có 410 dự án đầu tư nước ngoài vào ngành chế biến gỗ, trong đó có hơn 300 dự án đã thực hiện với vốn đầu tư hơn 1 tỷ USD Chỉ tính trong năm 2006, các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài trong chế biến gỗ đã đóng góp hơn 50% tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ 1,93
tỷ USD Bình Dương, nơi đóng góp gần 40% kim ngạch xuất khẩu gỗ cả nước, có tới 369 doanh nghiệp chế biến gỗ; trong đó có 194 doanh nghiệp nước ngoài với vốn đầu tư hơn 700 triệu USD
Các yếu tố kinh tế xã hội ảnh hưởng đến phát triển thị trường lâm sản Việt nam
Thu nhập và dân số
Theo số liệu của Tổng Cục Thống kê, GDP thực tế tăng trưởng bình quân khoảng 7%/ năm trong giai đoạn 1990 đến 2003, 6,5% trong giai đoạn 1995 - 2003 và 5,5% trong 5 năm vừa qua Thời gian gần đây, nền kinh tế đã tăng trưởng với tốc độ nhanh đáng kể trung bình khoảng 8,5% trong giai đoạn 2005-2008 Dự tính tốc độ phát triển GDP sẽ là 7% từ năm 2009 trở đi cho đến 2020
Theo kết quả điều tra mức sống của tổng cục thống kê thì mức chi tiêu bình quân cho các sản phẩm gỗ của các hộ gia đình vào khoảng 1,08 triệu đồng/năm (tại thời điểm năm 2004) Theo tính toán tốc độ chi tiêu hàng năm cho sản phẩm gỗ của các hộ gia đình là 14,47% như vậy khoản chi hàng năm cho đồ dùng bằng gỗ của hộ gia đình năm 2010 là 2,4 triệu đồng và 9,5 triệu đồng vào năm
2020 Như vậy giá trị tiêu dùng nội địa cho sản phẩm gỗ vào năm 2010 là ước khoảng 2,6 tỷ USD và trên 13 tỷ USD vào năm 2020
Bảng 6 Dự báo về Dân số và GDP giai đoạn 2010-2020
Năm Dân số
(Triệu)
Tăng trưởng dân số (%/ năm)
GDP (tr.đồng)
Tăng trưởng GDP thực tế (%)
GDP/ đầu người tăng trưởng (%/ năm)
GDP/ đầu người (Đồng/USD)
(Nguồn: Triển vọng thị trường và kịch bản tương lai của ngành lâm nghiệp Việt Nam: Những gợi ý cho đầu tư- Marko Katila, 2007)
Trang 8Xu hướng nhu cầu tiêu thụ trong tương lai của ngành chế biến gỗ
Tiêu dùng nội địa giai đoạn 2010-2020 được dự báo dựa trên các dự báo kinh tế đơn giản phối hợp với các phân tích về lượng tiêu dùng thực tế trước đây và các xu hướng tương lai Những
dự báo về tiêu thụ gỗ xẻ và ván nhân tạo giai đoạn 2010-2020 được thể hiện trong bảng 06:
Bảng 7 Dự báo tiêu thụ Gỗ xẻ và Ván nhân tạo giai đoạn 2010-2020
Tăng trưởng hàng năm (%)
Tiêu thụ cho 1000 dân năm
2003 (m 3 )
Tiêu thụ cho 1000 dân năm
2020 (m 3 )
Gỗ dán & gỗ lạng (m3) 18366 26149 37246 7-9 0,1 0,4
Tổng số ván nhân tạo 245566 359049 516146
(Nguồn: Triển vọng thị trường và kịch bản tương lai của ngành lâm nghiệp Việt Nam: Những gợi ý cho đầu tư- Marko Katila, 2007)
Dự báo tiêu thụ gỗ xẻ và ván nhân tạo giai đoạn 2010-2020 có tốc độ tăng trưởng khá ổn định
từ 7-9%/năm, trong đó tăng trưởng về tiêu thụ gỗ xẻ là 7%/năm, tiêu thụ cho 1000 dân năm 2020 là 11,6 m3, bình quân 0,116 m3/khẩu
Bảng 8 Dự báo tiêu dùng Giấy và Bìa giai đoạn 2010-2020
Tăng trưởng hàng năm (%)
Tiêu thụ cho 1000 dân năm
2003 (kg)
Tiêu thụ cho 1000 dân năm
2020
Giấy khác và bìa (tấn) 1.240.900 1.880.900 2.856.400 9-11 8,4 28,7
(Nguồn: Triển vọng thị
trường và kịch bản tương
lai của ngành lâm nghiệp
Việt Nam: Những gợi ý cho
đầu tư -Marko Katila,
2007)
Tốc độ tăng trưởng cho
tiêu dùng giấy bìa giai
đoạn 2010-2020 là
9-11%/năm, trong đó tiêu thụ
cho 1000 dân vào năm
2020 xấp xỉ 41 kg/năm,
Xuất khẩu dăm gỗ được
dự đoán sẽ tăng từ 0,8
triệu tấn khô trong năm
0 2000000 4000000 6000000 8000000 10000000 12000000 14000000 16000000 18000000 20000000
Năm
Total Industrial Log Requirem ents
Small wood for PB, MDF, and chips
Pulpwood Requirem ents
Total Wood Requirem ents
Sustainable supply of logs from natural forests
Supply of wood from existings plantations
Tổng nhu cầu gỗ công nghiệp
Gỗ nhỏ sản xuất ván dăm, MDF,
và dăm gỗ Nhu cầu về gỗ sản xuất bột giấy Tổng nhu cầu gỗ
Lượng cung gỗ bền vững từ rừng TN
Lượng cung gỗ từ rừng trồng hiện có
Đồ thị 1 Ước tính nhu cầu về gỗ
Trang 92003 lên khoảng 1,5 triệu tấn khô năm 2015 Sau năm 2015 xuất khẩu dăm gỗ có thể giảm đi vì nguyên liệu sẽ được sử dụng cho sản xuất ván MDF và ván dăm
Nhu cầu gỗ trụ mỏ được dự đoán sẽ tăng từ 60.000 m3 năm 2003 đến 200.000 m3 năm 2020 Những ước tính về nhu cầu gỗ được thể hiện trong đồ thị 1:
Những phát hiện mới về xu hướng phát triển lâm nghiệp của Việt Nam
- Hoạt động trồng rừng và chế biến sản phẩm rừng trồng sẽ đóng vai trò lớn quan trọng hơn trong việc cung cấp gỗ và lâm sản khác cho nền kinh tế quốc dân Như đã đề cập ở phần trên, do nhu cầu về gỗ và lâm sản trong nước tiếp tục duy trì ở mức độ cao, nên giá cả sản phẩm gỗ sẽ tiếp tục tăng lên tạo ra nhiều lợi nhuận cho những người trồng rừng và đây chính là động lực kích thích các hoạt động trồng, chế biến lâm sản ở Việt Nam Mặt khác do ở Việt Nam vẫn còn một diện tích khá lớn đất trống đồi trọc (khoảng 6 triệu ha), trong thời gian tới với sự kích thích của giá cả sản phẩm lâm nghiệp diện tích này sẽ nhanh chóng được người dân sử dụng để trồng rừng cung cấp gỗ
- Tổng giá trị của các sản phẩm do các hoạt động lâm nghiệp tạo ra sẽ duy trì mức đóng góp
từ 4-5% GDP hàng năm của đất nước
- Hoạt động lâm nghiệp sẽ có vai trò lớn hơn trong việc tạo việc làm, thu nhập cho lực lượng lao động của đất nước
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Phát triển thị trường lâm sản nói chung và thị trường gỗ và sản phẩm gỗ nói riêng là một yêu cầu cấp bách của cả nước Từ đó cần chú ý đến những vấn đề về lý luận và thực tiễn về thị trường thế giới nhằm phục vụ cho việc phát triển thị trường lâm sản Việt Nam một cách có cơ sở khoa học Thực trạng phát triển thị trường gỗ và sản phẩm gỗ Việt Nam trong giai đoạn 2001 – 2005 đã thể hiện các ưu điểm theo xu hướng như: Tổng cung, tổng cầu đều tăng trưởng khá nhanh; nhiều tỉnh thành trong cả nước đã ngày càng mở rộng ra nhiều thị trường chính, khó tính, tiềm năng; giảm xuất thô đáng kể; trồng rừng nguyên liệu đã được chú ý Tuy nhiên bên cạnh đó còn nhiều hạn chế: Thị trường phát triển thiếu đồng bộ; quy hoạch trồng rừng nguyên liệu chưa tổng thể; hiệu quả thị trường chưa thật sự tốt; bảo vệ rừng và môi trường còn nhiều hạn chế
Một số giải pháp cần lưu tâm như: (1) Nhóm chính sách liên quan đến cung cầu; (2) Nhóm
chính sách liên quan đến lưu thông, phân phối sản phẩm gỗ; (3) Nhóm chính sách khác liên quan
Nghiên cứu thị trường, hoàn thiện, bổ sung, xây mới cơ chế chính sách đặc biệt là lý luận về vai trò và vị trí của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế Việt Nam; khoa học và công nghệ; đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, v.v… Nâng cao vai trò Hiệp hội lâm sản và các Hiệp hội chế biến đồ gỗ xuất khẩu ở các địa phương; nâng cao chất lượng và tính chuyên nghiệp trong xúc tiến thương mại và xây dựng thương hiệu cho gỗ và sản phẩm gỗ Việt Nam,…
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Cao Lâm Anh, 2005 chuyên đề “Đánh giá thị trường trong nước và xuất khẩu rừng trồng
nguyên liệu” thuộc đề tài “Nghiên cứu một số giải pháp công nghệ phát triển rừng trồng nguyên liệu”
2 Bộ NN&PTNT, 2005 Hệ thống thông tin giám sát ngành Lâm nghiệp Việt Nam
3 Bộ NN&PTNT, 2006 Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006 – 2020
4 Niên giám thống kê 12 tỉnh nghiên cứu – 2005
5 Tài liệu: “Hội thảo xây dựng chương trình Chế biến gỗ và thương mại lâm sản trong Chiến
lược lâm nghiệp Quốc gia” tại TP Hồ Chí Minh ngày 9/9/2005
6 Viện điều tra quy hoạch rừng: “Dự thảo Đề án trồng rừng nguyên liệu gỗ phục vụ công nghiệp
chế biến, sản xuất sản phẩm xuất khẩu” 4/2005
7 Các báo cáo khảo sát thị trường gỗ và sản phẩm gỗ của 12 tỉnh điều tra – 2006
8 Các bản tin “Thông tin thương mại” Trung tâm thông tin – Bộ Thương mại
9 Forest product market development- FAO-2000
10 Whiteman,A,in pre, “The outlook for global forest products markets to the year 2010”: report of
the global forest products outlook study, FAO,Rome
STATUS AND IMPEDIMENTS FOR THE FOREST PRODUCTS SECTOR IN VIETNAM
Tran Viet Trung
Trang 10Forest Science Institute of Vietnam
SUMMARY
During the period 2001-2005, the market for timber products in Vietnam grew rapidly with markets expanding in many provinces However there was a considerable reduction in the supply of local raw materials, seeing an increase in imported raw materials for manufacture and eventual export of processed wood products
The number and sophistication of enterprises involved in forest product processing has resulted in the upgrading of processing facilities and improved marketing for both the domestic and international markets The sector is now well-developed and technologically advanced and is internationally competitive
However, there are some limitations and impediments to the further growth of the forest products sectors:
Implementation methodologies for several new legal documents and laws, such as the Investment Law, Competition Law, Business, have not been released
Policies and regulation of quality control standards and systems have not been adequately developed or implemented
Investment policies and incentives for State owned enterprises requires clarification for consistency and efficiency
Market development based on policy, science and technology and management by agencies and institutions needs improvement
The market is often inefficiency
Standards for ecologically sustainable environmental management are currently inadequate
Use of illegally harvested timber continues and certification and chain of custody polices are required, especially to meet international standards
Some existing policies and strategies related to forest products processing systems, investment and plantation development are require modernising to meets actual market demand
Keywords: Market for timber products, Investment policies and incentives, Institutions