Tuy nhiên, nghiên cứu khả thi cần đảm bảo là việc trồng chè San Tuyết sẽ đáp ứng được các mục tiêu bảo tồn của dự án PARC và tạo nguồn thu nhập cho người dân địa phương cho thời kỳ giáp
Trang 1Nông dân ở Nà Hang trồng chè San Tuyết trên đất dốc
Dự án tài trợ bởi UNDP VIE/95/G31&031 Xây dựng Các Khu bảo tồn nhằm Bảo vệ Tài nguyên Thiên nhiên
trên Cơ sở Sinh thái Cảnh quan (PARC)
Hà Nội, Tháng 7 Năm 2001
Trang 2Báo cáo này trình Chính Phủ Việt Nam trong khuôn khổ dự án tài trợ bởi GEF và UNDP
VIE/95/G31&031 “Xây dựng Các Khu bảo tồn nhằm Bảo vệ Tài nguyên Thiên nhiên trên Cơ sở Sinh
thái Cảnh quan (PARC) Báo cáo được viêt bởi Đỗ Thị Ngọc Oanh và Phương Thị Nam
San Tuyết, Dự án PARC VIE/95/G31&031, Chính Phủ Việt Nam (Cục Kiểm Lâm) /UNOPS/UNDP/ Scott Wilson Asia-Pacific Ltd, Hà Nội
(UNDP) và Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn
Cong ty Scott Wilson Asia-Pacific, The Environment and Development Group, và FRR Ltd (Giám đốc hiện trường: L Fernando Potess)
Các quan điểm đưa ra trong báo cáo này là quan điểm của cá nhân tác giả chứ không nhất thiết là quan điểm của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc, Cục Kiểm lâm hay cơ quan chủ quản của tác giả
Đây là báo cáo nội bộ của dự án PARC, được xây dựng để phục vụ các mục tiêu của dự án Báo cáo
được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các thành phần của phương pháp tiếp cận hệ sinh thái mà
dự án sử dung Trong quá trình thực hiện dự án, một số nội dung của báo cáo có thể đã được thay đổi
so với thời điểm phiên bản này được xuất bản
ấn phẩm này được phép tái xuất bản cho mục đích giáo dục hoặc các mục đích phi thương mại khác không cần xin phép bản quyền với đIũu kiện phảI đảm bảo trích dẫn nguồn đầy đủ Nghiêm cấm tái xuất bản ấn phẩm này cho các mục đích thương mại khác mà không được sự cho phép bằng văn bản của cơ quan giữ bản quyền
Trang 3M ụ c l ụ c
Mục lục 2
Lời mở đầu 3
Tóm tắt 4
1 Giới thiệu 5
2 Phương pháp nghiên cứu 6
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 6
2.2 Nhóm nghiên cứu và phương pháp sử dụng 6
3 Những phát kiến 7
3.1 Tổng quan về việc sản xuất chè hiện nay ở các làng Phia Chang, Na Con và Na La 7
3.1.1 Chè San Tuyết là một loài bản địa 7
3.1.2 Sản xuất chè tại 3 làng 7
3.2 Mô tả quy hoạch của huyện và tỉnh về phát triển cây chè San Tuyết như một loại cây rừng trong Chương trinh 661 10
3.3 Tính khả thi về mặt kinh tế 11
3.4 Khía cạnh môi trường 12
3.5 Khía cạnh thị trường 13
3.6 Đặc điểm địa-vật lý của vùng mục tiêu và các yêu cầu sinh lý đối với việc trồng chè San Tuyết 14
3.7 Chính sách về quy mô tối đa cho phép trong việc trồng chè 14
3.8 Thông tin sản xuất về sản lượng thu hoạch chè San Tuyết ở địa phương 15
3.9 Những yêu cầu về lâm sinh đối với việc sản xuất chè San Tuyết ở cả hai dạng (Vườn rừng và Rừng chè) 15
3.10 Chuẩn bị hạt và cây giống 17
3.11 Kiến thức về sản xuất chè mà người dân địa phương cần có: 17
3.12 Thiết kế trồng thí điểm 17
3.13 Chiến lược tiếp thị cho sản phẩm chè San Tuyết ở Sơn Phú 18
3.14 Danh sách các yêu cầu đào tạo đặc biệt cho thành công của việc sản xuất chè San Tuyết và thiết bị chế biến và các yêu cầu kỹ thuật 19
4 Kết luận 20
4.1 Các ưu điểm của việc sản xuất chè San Tuyết ở Sơn Phú 20
4.2 Các thách thức 20
Tài liệu tham khảo 21
Phụ lục 1: Chi phí thành lập và quản lý 1.000m2 vườn chè trong 3 năm đầu 22
Phụ lục 2: Đầu tư xen canh đậu tương 1.000 m2 vườn chè 23
Phụ lục 3: Lợi nhuận thuần từ 1.000 m2 vườn chè trong năm 4, 5, 6 và các năm tiếp theo 24
Trang 4Lời mở đầu
Dự án Xây dựng các Khu bảo tồ nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên trên cơ sở ứng dụng quan điểm sinh thái cảnh quan (Dự án PARC) là một nỗ lực chung của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - MARD) và Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) Văn phòng Liên hợp quốc về các Dịch vụ Dự án (UNOPS) thực hiện dự án với sự phối hợp của Cục Kiểm lâm (FPD)/MARD Các hoạt động thực hiện tại hiện trường do nhà thầu phụ - Scott Wilson Châu á Thái Bình Dương, Tập đoàn Môi trường và Phát triển và Công ty Tài nguyên rừng có thể tái tạo (FRR) thực hiện với sự hợp tác của các cán bộ cấp tỉnh, huyện, xã, các cán bộ khu bảo tồn và cộng đồng địa
phương Dự án PARC do Quỹ Môi trường Toàn cầu (GEF) và UNDP/TRAC đồng tài trợ và dự
án nằm trong chiến lược về bảo tồn đa dạng sinh học của GEF
Dự án PARC nhằm xây dựng một mô hình trình diễn có hiệu quả bảo tồn di sản đa dạng sinh học của Việt Nam thông qua việc bảo vệ sinh cảnh Sử dụng cách tiếp cận sinh thái cảnh quan nhằm kết nối các mục đích sử dụng đất khác nhau vào một ma trận bao gồm các khu vực bảo vệ nghiêm ngặt, vùng đệm và vùng phục hồi sinh thái, dự án sẽ giúp làm giảm nguy cơ đe doạ tới đa dạng sinh học thông qua việc lồng ghép các mục tiêu bảo tồn và phát triển Hai địa điểm đã được lựa chọn để thí điểm mô hình của dự án Địa điểm đầu tiên là Vườn Quốc gia Yok Don ở vùng Tây Nguyên Địa điểm thứ hai lad Vườn Quốc gia Ba Bể (tỉnh Bắc Kạn) và Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang (tỉnh Tuyên Quang) ở miền Bắc Việt Nam
Dự án PARC tập trung vào thực hiện các chương trình bảo tồn và phát triển hữu hình thông qua sự tham gia của người dân địa phương và các quan chức nhà nước có liên quan Do vậy, việc thực hiện các hoạt động của chương trình là một công cụ để nâng cao năng lực tại địa phương Nhận thức được nhu cầu củng cố tổ chức của Vườn Quốc gia (VQG) Ba Bể và Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Na Hang, dự án tập trung vào tăng cường năng lực về kỹ thuật, quản lý và tác nghiệp hiện trường cho các cán bộ công tác tại khu bảo tồn Dự án đã chú ý tới công tác lập kế hoạch và thực hiện việc theo dõi sinh thái, công tác bảo tồn và các hoạt
động cộng đồng, bao gồm việc tạo các nguồn thu khác cho người dân Cộng đồng địa
phương đóng vai trò quan trọn trong tất cả các hoạt động của dự án Do đó, tất cả các
chương trình của dự án áp dụng phương pháp tiếp cận có sự tham gia của người dân để khuyến khích người dân địa phương bày tỏ nhu cầu, nguyện vọng và mối quan tâm về các hoạt động của dự án và nhờ thế họ có thể tham gia vào việc lập kế hoạch và xây dựng dự án
Tài liệu này
Báo cáo này là “Nghiên cứu khả thi về chè San Tuyết” đã được xây dựng cho địa điểm của dự
án PARC tại VQG Ba Bể và KBTTN Na Hang Tài liệu này bao gồm báo cáo chuyến công tác và kết quả nghiên cứu khả thi do chuyên gia lâm sản chè San Tuyết của dự án PARC (Đỗ Thị Ngọc Oanh - Đại học Thái Nguyên) và Phương Thị Nam - Xí nghiệp chè Sông Lô tỉnh Tuyên Quang
Các khuyến nghị được trình bày ở đây là các hướng dẫn chung cho việc tiếp thị và phát triển lâm sản phi gỗ có ở khu vực Ba Bể và Na Hang Các chiến lược của dự án PARC sẽ có thể
sử dụng những hướng dẫn và khuyến nghị này Tuy nhiên, một số hướng dẫn có thể thay đổi
về phạm vi, thời gian hay việc thực hiện chiến lược Những điều chỉnh này để phù hợp với các
ưu tiên bảo tồn đa dạng sinh học của dự án PARC, tính bền vững của các hoạt động của dự
án và những thay đổi về điều kiện sinh-lý và kinh tế xã hội do sự tác động của dự án PARC
Giám đốc hiện trường
Dự án PARC tại Ba Bể/Na Hang
Trang 5T ó m t ắ t
Chè San Tuyết là loài bản địa ở vùng rừng của làng Na Con và Phia Chang Dân làng thu nhặt cây chè con từ trong rừng và trồng tại vườn nhà Diện tích chè của các làng rất nhỏ vì việc trồng chè chỉ vì mục đích sử dụng của gia đình Việc sản xuất chè ở các làng rất kém cả
về sản lượng và kỹ thuật Các làng có điều kiện tốt để trồng chè như đất, khí hậu và loài chè San Tuyết bản địa Việc trồng chè tại các làng này hứa hẹn một tương lai tốt đẹp vì tính khả thi về mặt kinh tế và nhu cầu thị trường lớn Chính quyền tỉnh và huyện đã lập kế hoạch nâng cao việc sản xuất chè San Tuyết tại xã Na Hang và Sơn Phú Đây là hai cuộc thử nghiệm trình diễn tại các làng Tuy nhiên, dân làng cần được đào tạo về các kỹ thuật sản xuất chè Việc trồng chè San Tuyết là nhu cầu cần thiết của người dân ở làng Na Con, Phia Chang và
Na La Cây chè San Tuyết bản địa ở các khu rừng lân cận là một bằng chứng cho thấy cây chè có thể phát triển ở những làng này Tuy nhiên, nghiên cứu khả thi cần đảm bảo là việc trồng chè San Tuyết sẽ đáp ứng được các mục tiêu bảo tồn của dự án PARC và tạo nguồn thu nhập cho người dân địa phương cho thời kỳ giáp hạt
Trang 61 Giới thiệu
Chè San Tuyết (Cammellia sinensis var.shan) được coi là tài nguyên giá trị của Việt Nam Đó
là loài bản địa và thường xanh tại các tỉnh miền núi phía Bắc Chè San Tuyết có chất lượng
và sản lượng cao Chè San Tuyết được ưu thích vì là chè sạch an toàn Chè San Tuyết được khuyến khích trồng như là một loại cây rừng để bảo vệ môi trường và cải thiện thu nhập của người dân miền núi
Đánh giá nhanh có sự tham gia của người dân và lập kế hoạch phát triển thôn bản gần đây ở xã Sơn Phú, huyện Na Hang cho thấy có khả năng thương mại cho chè San Tuyết của làng Phia Chang và Na Con Chè San Tuyết là loài bản địa trong rừng xung quanh làng Thị trường có nhu cầu lớn về mặt hàng này nhưng sản lượng chè San Tuyết ở Sơn Phú còn thấp
và kiến thức của người dân địa phương còn kém Việc phát triển chè San Tuyết sẽ giúp đạt
được các mục tiêu bảo tồn của dự án PARC nếu việc sản xuất được tiến hành theo cách bền vững về mặt môi trường Có một số lý do cho việc phát triển này, đó là chè San Tuyết sẽ thay thế ngô và lúa trên vùng đồi núi của làng khi độ phì của đất quá kém để có thể trồng cây lương thực Do đó, người dân địa phương có nhiều sự lựa chọn trong việc cải thiện thu nhập cho kỳ giáp hạt Họ không phải đi vào rừng để thu nhặt lâm sản để tồn tại Chè là một loài cây lâu năm, khi nó được trồng thành bụi trên đồi núi thi chúng có tác dụng rất tốt trong việc bảo vệ đất, chống sói mòn
Các mục tiêu
Nghiên cứu này nhằm:
1 Thu thập đầy đủ thông tin về thị trường, các vấn đề môi trường, các cơ hội phát triển kinh
tế xã hội, chính sách và quy định của nhà nước để giúp dự án PARC quyết định tính khả thi của việc thâm canh sản xuất chè San Tuyết ở làng Phia Chang, Na Con và Na La
2 Đưa ra các khuyến nghị cụ thể về lâm sinh và quản lý cho dự án PARC để tiến hành thí
điểm việc sản xuất chè San Tuyết, nếu tính khả thi về mặt kinh tế là tích cực
Trang 72 Phương pháp nghiên cứu
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian: nghiên cứu được tiến hành từ ngày 13 đến ngày 19/10/2000 và từ ngày 26/10
đến 6/11/2000
Đại điểm: tại 3 làng: Phia Chang, Na Con và Na La của xã Sơn Phú và các phòng chức năng của huyện Na Hang và tỉnh Tuyên Quang
2.2 Nhóm nghiên cứu và phương pháp sử dụng
Phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia của người dân đã được sử dụng để thu thập thông tin cho báo cáo này
Nhóm công tác bao gồm hai chuyên gia về chè:
1 Bà Đỗ Thị Ngọc Oanh - Đại học Nông Lâm Thái Nguyên - Nhóm trưởng
2 Bà Phương Thị Nam - Xí nghiệp chè sông Lô, tỉnh Tuyên Quang
Danh sách các cơ quan đã thảo luận với nhóm công tác:
Chi Cục Kiểm lâm
Phòng Kế hoạch và Đầu tư
Phòng Lâm nghiệp của Sở Nông nghiệp và PTNT
Hạt Kiểm lâm của Khu bảo tồn và Hạt Kiểm lâm huyện
Các nhóm quan tâm tới chè San Tuyết làng
Na Con Người bán hàng ở thị trấn Na Hang và tại các làng
Những người sản xuất chè tại xã Nang Kha,
Na Hang
Cuộc họp với nhóm quan tâm về chè San Tuyết ở làng Na Con
Cuộc họp với các cán bộ cấp huyện
Vào ngày làm việc cuối cùng trên hiện trường, chúng tôi đã họp với các cán bộ huyện, Phó Chủ tịch xã Sơn Phú và các cán bộ dự án để thảo luận về các đề xuất và tính khả thi của việc sản xuất chè tại 3 làng Danh sách những người tham gia ở trong Phụ lục
Trang 83 Những phát kiến
3.1 Tổng quan về việc sản xuất chè hiện nay ở các làng Phia Chang, Na Con và
Na La
3.1.1 Chè San Tuyết là một loài bản địa
Chè San Tuyết là một loài bản địa ở trong rừng gần các làng được điều tra Chè được tìm thấy ở trong các khu rừng Phia Hooc, Phia Khâu và Khuôi Tàu ở Phia Hooc, chúng tôi nhìn thấy các cây chè cao trung bình 5-8m và đường kính 20-30 cm Người dân nói rằng 3-4 năm trước đây rừng ở Phia Hooc đã có các cây chè có chu vi thân khoảng 150cm Trong thời gian khoảng 40 phút ở trong rừng Khuôi Tàu, chúng tôi đã tìm thấy 3 cây chè lớn Chi vi của cây chè lớn nhất khoảng 270 cm Cây đó cao khoảng 11 m Cây có bốn nhánh chính Chu vi của nhánh tính tại điểm cách mặt đất 1,3 m là 100 cm, 110 cm, 90 cm và 65 cm Cây đã cho nhiều búp và lá chè đến vụ thu hái Người hướng dẫn viên của chúng tôi, ông Triệu Phúc Vương (làng Na Con) nói khoảng 20 năm trước đây, 12 người đã trèo lên cây chè này cùng một lúc để hái lá và búp chè Mỗi người hái được khoảng 5 kg búp chè Chu vi thân của hai cây chè khác là 160 cm (40 cm so với mặt đất) và 180 cm (1m so với mặt đất) Cả hai cây
đều cao khoảng 10m - 11 m
Hai mươi năm trước khi dân làng không trồng chè trong làng, họ đi hái lá chè trong rừng về dùng
3.1.2 Sản xuất chè tại 3 làng
Khu vực chè rất nhỏ
Để tránh phải đi xa vào trong rừng hái chè, người dân đã trồng chè và giữ gìn những cây chè trên cánh đồng khi mở rừng lấy đất canh tác Do đó, tại các làng ta có thể thấy cây chè trong vườn nhà, trên đồi núi và cánh đồng bỏ hoang Khu trồng chè rất nhỏ vì chỉ dùng cho nhu cầu gia đình chứ không để bán Nhu cầu về chè thấp nên dân làng không chú ý tới sản xuất chè
Khoảng 20% - 30% số hộ gia đình trong các làng này trồng chè trong vườn Mỗi hộ có từ 7
đến 15 cây chè được trồng từ cây giống tự nhiên Các cây chè được trồng từ 15 - 20 năm trước Người dân không chú ý đến việc chăm sóc cây chè Nguồn cây giống ở 3 làng cũng khác nhau Phia Chang và Na Con, người dân lấy cây giống từ rừng Khuôi Tàu và Phia Hooc, vùng giáp ranh giữa tỉnh Tuyên Quang và tỉnh Bắc Kạn Người Na La lấy cây con từ Sinh Long (làng cũ của họ) Điều đó có nghĩa là tính đa dạng gen cao
ở vùng đồi núi và cánh đồng hoang, cây chè bản địa tự sống mà không được chăm sóc Các cây chè cao từ 5-6m và đường kính thân khoảng 10-15 cm
Chỉ trồng chè vì mục đích sử dụng gia đình
Dân làng chỉ trồng chè để sử dụng trong gia đình Đó là lí do tại sao diện tích chè lại nhỏ Ngoài ra, chất lượng chè cũng quá kém để bán Nhà sản xuất chè “lớn nhất” trong làng Na La
là ông Trực Y Thong Ông có 15 cây chè Năm 1999, ông đã bán khoảng 10 kg chè khô với giá khoảng 20.000 đồng/cân Ông nói việc bán chè rất khó vì chất lượng kém Trước tháng 8/2000 (khi Phia Chang và Na Con nhận được máy chế biến chè khô mới từ dự án PARC), không có ai trong hai làng này có chè để bán
Trang 9Lí do chất lượng chè kém là do kỹ thuật chế biến tồi Bây giờ chất lượng chè được cải thiện là nhờ sử dụng máy làm khô chè mới và kỹ thuật chế biến mới Dân làng rất vui mừng mới sự cải thiện này
Dân làng uồng chè theo ba loại:
1 Chè tươi: đun sôi lá chè tươi và lá bánh tẻ
2 Chè khô: sao, làm cuộn và sấy khô
3 Nụ hoa chè khô: sao và sấy khô
Lượng củi sử dụng không là một vấn để ở các làng Hay nói cách khác, lượng củi tiêu thụ để chế biến chè là nhỏ so với lượng củi dùng để sưởi ấm Người dân chế biến chè 2 lần trong năm với số lượng nhỏ trong các gia đình Một trong những người “nghiền” chè ở Phia Chang nói gia đình anh dùng 2 cân chè khô 1 năm Điều đó có nghĩa là khoảng 6 cân củi đã được dùng để chế biến Hiện nay, ước tính tổng số sản lượng chè của 3 làng là khoảng 150 kg chè tươi hay 30 kg chè khô Nếu lượng củi hiện nay đang dùng gấp đôi lượng củi cần thiết cho một máy sấy khô mới thì số lượng củi cần để chế biến 30kg chè khô là 90 kg củi/năm (xem thêm chi tiết ở
Bảng 4)
Chè phát triển tốt mặc dù không được chăm sóc
Hầu hết cây chè sống khỏe, thậm chí cả khi không được chăm sóc Cây chè có màu xanh lá cây thẫm và các nhánh đầy sinh lực Loại cây chè thông thường là cây một thân Cây có các cành cao khoảng 1,5 - 2 m Đường kính chung bình là 10-15 cm
• Có 3 loài chè San Tuyết chính
Cây chè ở các làng này có thể được phân loại là cây chè San Tuyết vì chúng có lá răng cưa
và dài, búp dài, trắng và có lông Ba loài chè đó là:
1 Lá xanh thẫm, răng cưa sâu và lá dày, búp dài và số lượng búp dày
Chè được thu hoạch 2 lần trong năm vào tháng 4 và tháng 9 Vì chè không được cắt xén thường xuyên nên người dân phải trèo lên cây để hái Có hai cách: (1) nếu cây chè không
được cắt xén hay có thân dài, người dân cắt bớt thân và sau đó hái búp; (2) nếu cây chè
được cắt xén, họ đứng lên thân cây và hái búp Phần được hái bao gồm 2-4 lá non và một cái búp dài khoảng 20-25cm Sản lượng chè là 2-3kg chè tươi/cây/lần hái Một cây lớn có thể cho 5-6 kg/lần Đây là một sản lượng đầy tiềm năng
Chế biến chè là một vấn đề đối với các làng
Chất lượng chè ở các làng rất thấp vì kỹ thuật chế biến kém Phương pháp chế biến chè thông thường ở các làng như sau:
1 Chè đã hái được cắt thành 2-3 phần
Trang 102 Sao
3 Dùng tay làm cuộn lá chè
4 Sấy khô một phần trên chảo hoặc sấy khô hoàn chỉnh
5 Với chè sấy khô một phần: làm khô bằng cách để vàonia để trên nơi nấu nướng Năm 1999, ông Triệu Phúc Tiên ở Na Con đã thử bán chè ở thị trấn Na Hang nhưng không ai mua Dân làng biết rằng họ không thể bán được chè vì chất lượng kém
Tháng 8/2000, Dự án PARC đã cung cấp một máy chế biến làm khô chè mới và đào tạo về chế biến chè Hiện nay, nhờ có những nỗ lực này mà làng Phia Chang và Na Con đã sản xuất được chè ngon hơn trước kia Dân làng, cán bộ huyện Na Hang và người uống chè đã nhận thấy được sự thay đổi này Sau đó, một số cán bộ ở thị trấn Na Hang đặt mua chè nhưng dân làng từ chối bán vì số lượng chè quá ít nên họ muốn giữ để dùng dần Chúng tôi cũng đã rất vất vả để có thể tìm mua một cân chè với giá 30.000 đồng (cao hơn giá ở thị trấn
Na Hang) ở Na Con nơi có máy sấy chè mới
Khả năng nhân rộng
Vùng trồng chè có thể được mở rộng từ nguồn hạt và cây giống địa phương Số lượng cây chè trồng ở vườn nhà tại Phia Chang và Na Con khoảng 200 cây Ông Đặng Văn Quý ở Na Con đã thu nhặt được 10 kg hạt từ một cây Mỗi cây cho 10 kg hạt giống có nghia là tổng số hạt giống là 2.000 kg Nhưng cần lưu ý rằng nếu cây có nhiều hạt có nghĩa là lượng búp và lá tiềm năng sẽ thấp Do đó, cây có ít hạt và cành nhánh khỏe mạnh là cây tốt để lấy hạt nhân giống
Việc nhân giống có thể vượt qua hạn chế về hạt giống nhưng đòi hỏi phải có kỹ thuật được
đào tạo Khả năng nhân giống dạng hom cao hơn 10 lần so với cách nhân bằng hạt Cây chè
có ít hạt và khỏe mạnh rất tốt để lấy chồi
Thay đổi thái độ của địa phương về sản xuất chè
Dân làng vui mừng khi thấy chất lượng chè được cải thiện sau khi sử dụng máy sấy chè mới
và kỹ thuật chế biến Bằng cách đó, họ đã thay đổi thái độ về sản xuất chè Chúng tôi đã gặp dân làng những người muốn đầu tư vào sản xuất chè Chúng tôi thấy khoảng 10 hộ ở Phia Chang và Na Con thu thập hạt chè để mở rộng diện tích trồng chè Sẽ rất tốt nếu chúng ta lựa chọn các hộ này để làm thí điểm Một chủ cửa hàng ở Phia Chang muốn mua một máy sấy chè riêng để cho thuê Ông Triệu Phúc Minh ở Na Con muốn vay 1 triệu đồng từ dự án PARC để mua chè tươi về chế biến Một số người làm cỏ cho các cây chè bị bỏ hoang trên cánh đồng ngô như ông Đặng Tiến Thông ở Na Con ý tưởng cung cấp kỹ thuật chế biến mới cùng với máy sấy khô chè mới là một ý tưởng hay để khuyến khích người dân trồng thêm chè
Nếu dự án đáp ứng được lòng mong mỏi của ông Triệu Phúc Minh thì rất tốt vì hành động này sẽ khuyến khích dân làng quan tâm hơn tới việc sản xuất chè và hiểu biết thêm về tiềm năng của việc sản xuất chè và họ có thể thay thế cây lương thực trên đất dốc bằng các cây lâu năm như chè Đây là những dấu hiệu tích cực khi mọi người nhận thấy tương lai đầy hứa hẹn cho việc sản xuất chè
Chúng tôi đã gặp với nhóm quan tâm đến chè ở Na Con Những phát kiến trong cuộc họp đó là:
Dân làng muốn trồng chè để dần dần thay thế lúa và ngô trên đất bạc màu Bời vì trong vài năm tới nếu họ không tìm được cây để trồng trên cánh đồng lúa và ngô, dân làng sẽ
bị đói hơn
Trang 11 Một số người đã chuẩn bị hạt giống để trồng chè vào cuối năm 2000 hay đầu năm 2001 nhưng họ không biết trồng như thế nào thì đúng
Họ băn khoăn là Chi cục Kiểm lâm có cho phép họ trồng trên đất dốc hay không (Đất rừng không được giao cho các làng này)
3.1.3 Những hạn chế về sản xuất chè ở các làng
Thiếu kỹ thuật về sản xuất chè từ việc trồng trọt cho đến chế biến và bảo quản
Kiến thức thấp về trồng trọt như làm và sử dụng phân bón, bảo vệ đất chống bạc màu
Chè San Tuyết được coi là một loài cây rừng trong chương trình trồng rừng cấp quốc gia và
địa phương Các cơ quan hữu quan cấp tỉnh, huyện và xã đã có chính sách về trồng cây chè San Tuyết trong Chương trình 661
Tuyên bố của Tỉnh uỷ tháng 3/2000 đã viết: Chè có thể được trồng như một loại cây rừng
ở Sinh Long, Hồng Thái ở huyện Na Hang
Tháng 10/2000, UBND tỉnh đã phê duyệt đề xuất của Lâm trường Na Hang Đề xuất này
đưa việc trồng rừng bằng cây chè San Tuyết ở xã Sinh Long Chè San Tuyết sẽ được trồng ở:
Rừng phòng hộ: trên đồi trọc có độ nghiêng từ 25 - 400
Đó có thể là rừng thuần chè San Tuyết cùng với các loài cây tạo bóng râm của rừng
Khu phục hồi sinh thái: mật độ của chè San Tuyết là 1.100 cây/ha và giãn cách cây là
3 x 3 m
Nghị quyết của Huyện uỷ vào tháng 11/2000 chỉ rõ: từ năm 2001 đến 2005 Na Hang sẽ trồng 1.500 ha rừng chè San Tuyết
Trang 123.3 Tính khả thi về mặt kinh tế
3.3.1 Trồng chè tạo nhiều thu nhập hơn trồng ngô, sắn và lúa
Trong các làng này chè có thể được trồng thành 3 dạng: vườn chè nông lâm nghiệp (dạng bụi cây), rừng chè (dạng cây đơn) và luống chè (hàng rào chống sói mòn) Sự khác nhau giữa các dạng như sau:
Chè ở dạng bụi cây
Vườn chè
Chè dạng cây đơn Rừng chè
Chè dạng luống Hàng rào chè
- luống bậc thang trên đồi núi
- dạng bụi cây
- thu nhập thêm
(Xem thêm chi tiết về kỹ thuật trồng trọt trang 17)
Vườn chè nông lâm nghiệp (Vườn chè): chè trồng thành bụi và xen lẫn với các loài bản
địa Mục tiêu của vườn chè nông lâm nghiệp là tạo thu nhập vì thế cần phải bón phân; cắt tỉa hàng năm và thu hoạch hàng tháng Mật độ cây chè là 1.7000 cây/ha trong khi mật độ của cây bản địa là 200 cây/ha Vườn chè nông lâm nghiệp sẽ được trồng 1/3 đồi phần dưới chân, các loài cây bản địa được trồng 2/3 đồi phần trên đỉnh Sản lượng ước tính là
Luống chè: hai luống chè gồm các bụi cây chè tạo thành một hàng rào sống Khoảng cách là 0,3 x 0,5 Mục tiêu của hàng rào chè là chống sói mòn đất Hình thức này có thể mang lại sản lượng là 150 kg chè tươi/1.000 m2
Năng suất chè tươi/năm được tính cho năm thu hoạch đầu (sau 3 năm trồng) Có thể là từ
7 tới 10 mùa/năm Năng suất chè sẽ tăng vào các năm tiếp theo
Năng suất ngô, sắn và lúa lấy từ báo cáo PRA (3/2000)
Giá: lấy giá hiện tại của thị xã Tuyên Quang và thị trấn Na Hang
Thu nhập từ chè trên 1.000 m2
có thể mua 400 kg thóc (cần 3.000 m2
nếu trồng lúa), đủ cho một người tiêu dùng trong một năm Mặt khác, với phương thức canh tác hiện nay (không phân bán và không bảo vệ chống sói mòn), trong vòng 2-3 năm tới dân làng không thể trồng
Trang 13lúa được nữa (vì đất bị bạc màu và không cho thu hoạch) Dân làng nhận thức được vấn đề này và họ mong muốn tìm loại cây trồng khác thay thế lúa nương Ông Quý ở Na Con nói nếu họ không thể tìm được cây thay thế lúa nương, họ sẽ phải đối mặt với nạn đói trong tương lai gần
3.3.2 Lợi ích của việc trồng vườn chè nông lâm nghiệp (Vườn chè)
Mục tiêu của trồng vườn chè nông lâm nghiệp là tạo thu nhập, trong khi mục tiêu trồng chè
theo hình thức cây đơn lẻ là để bảo tồn, do đó chúng ta phân tích tính lợi ích chi phí của 5 năm đầu trồng chè dạng bụi cây
Trong 3 năm đầu, cây chè còn nhỏ nên không thể bao phủ toàn bộ bề mặt đất Để tạo thu nhập, giảm cỏ và sói mòn đất và tăng độ phì của đất, cây đậu tương sẽ được trồng giữa các luống chè (diện tích đậu tương là 1/3 diện tích chè = 300 m2
) Hai luống dậu tương sẽ được trồng giữa hai luống chè
Bảng 2: Phân tích lợi ích chi phí cho 1.000 m2 chè dạng bụi cây trồng xen với đậu tương (năm 1-6)
Trồng 595,0 595,0 0,0 0,0 -595,0 Năm 1 246,6 150,0 396,6 0,0 375,0 375,0 -21,6 Năm 2 266,6 150,0 416,6 0,0 375,0 375,0 -41,6 Năm 3 276,6 150,0 426,6 0,0 375,0 375,0 -51,6 Năm 4 468,6 0,0 468,6 1500,0 0,0 1500,0 1031,4 Năm 5 497,3 0,0 497,3 1752,6 0,0 1752,6 1255,3 Năm 6 506,5 0,0 506,5 3000,0 0,0 3000,0 2493,5
Tổng số 2.857,2 450,0 3.307,2 6.252,6 1.125,0 7.377,6 4.070,4
Chú ý: Rừng chè sẽ được thu hoạch ở năm thứ 6 sau khi trồng
3.4 Khía cạnh môi trường
Kiểm soát xói mòn
Giữ rừng Không có đe doạ đối với rừng vì trồng chè bằng cách sử dụng các thiết bị chế biến mới nên không cần củi Củi cho hoạt động chế biến sẽ không là vấn đề vì với máy sấy chè mới, có thể dùng cỏ thay thế củi Mặt khác, sản lượng chè sẽ không lớn Khi người dân thu nhặt lau lách từ rừng, cây cối sẽ mọc tốt hơn vì không phải cạnh tranh với
cỏ
Người dân ở xã Tân Cương - tỉnh Thái Nguyên sử dụng cỏ thay củi để chế biến chè Cỏ ở
đây là lau (Sacchrum spontaneum) và lách (Miscanthus chinensis) Nhu cầu củi để chế
biến 10kg chè khô từ chè tươi ở Tân Cương như sau:
30 kg lau (Sacchrum spontaneum) và lách (Miscanthus chinensis)
hay 15 kg củi (cành có đường kính 3 cm)
Trang 14Bảng 3: Ước tính lượng củi tiêu thụ để sấy khô chè của 1.000 m2 (trong vườn chè nông lâm nghiệp)
để sấy khô chè theo máy mới như sau:
Bảng 4: Ước tính lượng củi để chế biến chè trong năm thứ 6 ở 3 làng
Năm 1999, một cửa hàng ở thị xã Tuyên Quang đã bán 600 kg San Tuyết/tháng với giá trung bình là 25.000 đồng/kg Người chủ cửa hàng nói bán chè San Tuyết rất dễ vì chè Trung Du bị mang tiếng là còn có thuốc trừ sâu ở thị trấn Chiêm Hóa, một cửa hàng cũng đã bán được
600 kg chè/tháng