1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Nghiên cứu khả năng sinh sản của lợn nái nuôi tại trại lợn nguyễn xuân dũng xã khánh thượng huyện ba vì thành phố hà nội

62 783 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 717,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi - Thú y trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, của thầy giáo hướng dẫn cũng như được sự tiếp nhận của cơ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, rèn luyện tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, tôi đã nhận được sự dạy bảo tận tình của các thầy giáo, cô giáo Nhờ vậy, tôi đã được các thầy, cô trang bị những kiến thức khoa học kỹ thuật cũng như đạo đức tư cách người cán bộ tương lai Thầy, cô đã trang

bị cho tôi đầy đủ hành trang và một lòng tin vững bước vào đời, vào cuộc sống và sự nghiệp sau này

Để có thể hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng của bản thân Tôi đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của thầy giáo, cô giáo

trong khoa Chăn nuôi Thú y, sự giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn TS Phùng Đức Hoàn, cùng với sự giúp đỡ của các kỹ sư, công nhân viên tại Trang trại

lợn Nguyễn Xuân Dũng xã Khánh Thượng - huyện Ba Vì - thành phố Hà Nội

đã giúp tôi hoàn thành khóa luận này

Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, các thầy cô giáo đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập tại trường

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc, sự quan tâm giúp đỡ của

thầy giáo hướng dẫn TS Phùng Đức Hoàn đã trực tiếp hướng dẫn để tôi

hoàn thành khóa luận này

Do trình độ bản thân có hạn nên bản khóa luận của tôi không tránh khỏi những thiếu sót Tôi kính mong các thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp đóng góp ý kiến để bản khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày… tháng… năm 2016

Sinh viên

Nguyễn Thị Bích

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Để hoàn thành chương trình học trong Nhà trường, thực hiện phương châm “Học đi đôi với hành”, “Lý thuyết gắn liền với thực tiễn” Giai đoạn thực tập chuyên đề rất quan trọng đối với mỗi sinh viên củng cố và hệ thống lại toàn bộ những kiến thức đã học, củng cố tay nghề Đồng thời, tạo cho mình sự tự lập, lòng yêu nghề, có phong cách làm việc đúng đắn, năng lực làm việc đáp ứng nhu cầu của thực tiễn sản xuất Nắm được phương pháp tổ chức và tiến hành nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, sáng tạo khi ra trường trở thành một người cán bộ khoa học có chuyên môn, đáp ứng nhu cầu thực tiễn, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp phát triển đất nước

Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi - Thú y trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, của thầy giáo hướng dẫn cũng như được sự tiếp nhận của cơ sở, tôi tiến hành

nghiên cứu chuyên đề: “Nghiên cứu khả năng sinh sản của lợn nái nuôi tại trại lợn Nguyễn Xuân Dũng xã Khánh Thượng - huyện Ba Vì - thành phố

Hà Nội ”

Trong thời gian thực tập tại trang trại, được sự giúp đỡ tận tình của kỹ

sư trại, anh, chị công nhân trong trại, cùng sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi

đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Năng suất sinh sản của lợn Landrace 19

Bảng 2.2 Các tham số thống kê năng suất sinh sản của đàn lợn nái Landrace nuôi tại Việt Nam 20

Bảng 4.1 Lịch phòng bệnh của trại lợn 32

Bảng 4.2 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 35

Bảng 4.3 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn nái thí nghiệm 36

Bảng 4.4 Chỉ tiêu số lượng lợn con đẻ ra 37

Bảng 4.5 Khối lượng lợn con qua các kỳ cân (Kg) 38

Bảng 4.6 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn con thí nghiệm 40

Bảng 4.7 Sinh trưởng tương đối của lợn con qua các kỳ cân (%) 41

Bảng 4.8 Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con lúc 35 ngày tuổi 43

Bảng 4.9 Chi phí thức ăn/kg lợn con lúc 35 ngày tuổi 44

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 4.1 Khối lượng lợn con qua các kỳ cân 39Hình 4.2 Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của lợn con thí nghiệm 41Hình 4.3 Biểu đồ sinh trưởng tương đối của lợn con thí nghiệm 42

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Nxb : Nhà xuất bản STT : Số thứ tự

Trang 8

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI NÓI ĐẦU ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iii

DANH MỤC CÁC HÌNH iv

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

MỤC LỤC vi

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu của đề tài 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 2

1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Cơ sở khoa học 3

2.1.1 Đặc điểm giống lợn nuôi tại trang trại 3

2.1.2 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái 5

2.1.2.1 Sự thành thục về tính và thể vóc 5

2.1.2.2 Chu kỳ động dục 8

2.1.2.3 Quá trình sinh trưởng và phát triển của bào thai 11

2.1.3 Các tính trạng năng suất sinh sản của lợn nái 13

2.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá sức sinh sản của lợn nái 14

2.1.5 Đặc điểm sinh trưởng của lợn con theo mẹ 15

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 19

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 19

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 21

Trang 9

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 22

3.1 Đối tượng nghiên cứu 22

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 22

3.3 Nội dung nghiên cứu 22

3.3.1 Công tác phục vụ sản xuất 22

3.3.2 Chuyên đề nghiên cứu 22

3.4 Phương pháp nghiên cứu 22

3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 23

3.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi 23

3.4.3 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 23

3.4.3.1 Các chỉ tiêu về sinh lí sinh dục 23

3.4.3.2 Các chỉ tiêu về số lượng 24

3.4.4 Phương pháp xử lý 25

Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28

4.1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 28

4.1.1 Nội dung công tác phục vụ sản xuất 28

4.1.1.1 Công tác chăn nuôi 28

4.1.1.2 Công tác thú y 28

4.1.2 Biện pháp thực hiện 28

4.1.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 29

4.1.3.1 Công tác chăn nuôi 29

4.1.3.2 Công tác vệ sinh 31

4.1.3.3 Công tác phòng bệnh 32

4.1.3.4 Công tác khác 34

4.2 Kết quả nghiên cứu chuyên đề khoa học 35

4.2.1 Kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái Landrace 36

Trang 10

4.2.2 Kết quả nghiên cứu năng suất sinh sản của lợn nái Landrace 37

4.2.3 Kết quả theo dõi về sinh trưởng tích lũy của lợn con thí nghiệm 38

4.2.4 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn con thí nghiệm 40

4.2.5 Sinh trưởng tương đối của lợn con thí nghiệm 41

4.2.6 Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con giống (lúc 35 ngày tuổi) 42

4.2.7 Chi phí thức ăn/kg lợn con giống 43

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 45

5.1 Kết luận 45

5.2 Đề nghị 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO

I Tài liệu tiếng Việt

II Tài liệu nước ngoài

Trang 11

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật thì nền nông nghiệp nước

ta đã và đang phát triển không ngừng Bên cạnh ngành trồng trọt thì ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng cũng chiếm một vị trí quan trọng trong sự phát triển kinh tế đất nước

Ngày nay, cùng với sự phát triển của đất nước, đời sống của người dân ngày càng được cải thiện, nhu cầu về thịt lợn của người tiêu dùng ngày một nâng cao không chỉ về mặt số lượng mà cả về mặt chất lượng Vì vậy, để có đàn lợn giống và lợn thịt tốt, thích nghi rộng rãi, đạt chất lượng thịt xẻ cao, được thị trường chấp nhận thì việc nhập các giống lợn ngoại, góp phần nâng cao chất lượng đàn là một việc làm cấp bách của ngành chăn nuôi

Để giải quyết vấn đề này, nước ta đang nhập một số giống lợn ngoại năng suất cao như: Yorkshine, Landrace, Duroc… phong trào chăn nuôi lợn ngoại đang phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội về nguồn thực phẩm

có tỷ lệ nạc cao Ngoài việc chăn nuôi lợn tại các hộ gia đình, đã hình thành nhiều trang trại chăn nuôi lợn có quy mô lớn, vừa và nhỏ Các dòng và giống lợn lai cao sản đã được áp dụng vào thực tiễn sản xuất nhằm nâng cao năng suất và tỷ lệ thịt nạc

Như vậy, có thể thấy rằng việc nghiên cứu sử dụng giống lợn ngoại để sản xuất thịt lợn với khía cạnh sản xuất an toàn, sạch bệnh, có tỷ lệ nạc cao phù hợp với nhu cầu thực tiễn của người tiêu dùng đặt ra hiện nay Được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên cùng với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn và cơ sở nơi

thực tập, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh sản của giống lợn nuôi tại trang trại lợn Nguyễn Xuân Dũng xã Khánh Thượng - huyện Ba Vì - thành phố Hà Nội”

Trang 12

1.2 Mục tiêu của đề tài

Đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái được nuôi tại trang trại lợn

Nguyễn Xuân Dũng xã Khánh Thượng - huyện Ba Vì - thành phố Hà Nội 1.3 Ý nghĩa của đề tài

Trang 13

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học

2.1.1 Đặc điểm giống lợn nuôi tại trang trại

- Giống lợn Landrace

* Nguồn gốc và sự phân bố:

Theo Trần Văn Phùng và cộng sự (2004)[15], giống lợn nổi tiếng Landrace được tạo ra ở Đan Mạch Việc tạo giống lợn Landrace được bắt đầu năm 1895, khi mà một số lợn đực giống Yorkshire được nhập vào Đan Mạch

từ nước Anh và cho giao phối với lợn địa phương của Đan Mạch Giống lợn địa phương của Đan Mạch tầm vóc khá to, thô, trường mình, thể chất hơi yếu, mông xuôi chân thẳng, tai cụp xuống, tính chịu đựng kham khổ và khả năng sinh sản cao Nhờ chọn lọc khắt khe từ năm 1900 đến 1925 người ta đã củng

cố được giống lợn Landrace và chính thức công nhận vào năm 1925 Nhờ có giống lợn Landrace đã tạo cho Đan Mạch trở thành nước sản xuất thịt lợn lớn nhất thế giới

Về sau công tác chọn lọc giống lợn Landrace ngày càng được tiến hành chặt chẽ và đã tạo cho giống lợn Landrace ngày càng có nhiều đặc điểm quý phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng

Vào năm 1934, Bộ nông nghiệp Mỹ đã nhập 30 con lợn giống Landrace của Đan Mạch về phục vụ công tác nghiên cứu giống lợn Việc nhập giống lợn này của chính phủ Mỹ đã là tiền đề cho việc tạo ra các giống lợn mới sau này Việc tạo ra giống lợn Landrace của Mỹ tiến hành với sự pha trộn thêm 1/16 đến 1/64 máu của giống lợn Poand China Đến năm 1954, một đợt tiếp theo nhập 38 lợn đực và cái giống lợn Landrace của Na Uy, Đan Mạch vào Thụy Điển để làm tươi máu cho giống lợn Landrace Mỹ Từ việc chọn lọc và nhân giống này giống lợn Landrace Mỹ được cải tiến tốt hơn rất nhiều

Trang 14

Mỗi một nước khi nhập giống lợn Landrace để phối tạo ra các dạng giống lợn Landrace phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng nước mình như lợn Landrace của Bỉ có phần mông rất phát triển, lợn Landrace của Nhật thì dài mình Việt Nam nhập lợn Landrace từ Cu Ba vào năm 1970 Trong các năm

1975 đến 1986 nhập Landrace từ Bỉ và Nhật (Trần Đình Miên, 1975) [14]

* Đặc điểm ngoại hình:

Lợn Landrace có dạng hình nêm (còn gọi là hình tên lửa) màu lông trắng tuyền, mình dài, có từ 16 - 17 đôi xương sườn, đầu dài hơi hẹp, tai to, dài rủ xuống che cả mắt, bốn chân hơi yếu Lưng vồng lên, mặt lưng bằng phẳng, mông phát triển, tròn Lợn Landrace có từ 12 - 14 vú Lợn Landrace là giống lợn hướng nạc (Đặng Vũ Bình, 2000) [4]

* Đặc điểm sinh trưởng:

Lợn Landrace là giống lợn có năng suất cao Tốc độ sinh trưởng nhanh, tiêu tốn thức ăn/1 kg tăng khối lượng thấp từ 2,70 - 3,01 kg; tăng khối lượng bình quân/ngày từ 700 - 800 gam, tỷ lệ thịt nạc/thịt xẻ từ 58 - 60% (một số trạm kiểm tra năng suất thông báo tỷ lệ nạc của Landrace đạt từ 59,65 - 63,10%) Khối lượng cơ thể lợn đực từ 280 - 320 kg, lợn nái từ 220 - 250 kg

Trang 15

Ở Việt Nam, lợn Landrace được dùng để lai kinh tế và nuôi thuần dùng trong chương trình nạc hóa đàn lợn

Công thức lai chủ yếu hiện đang dùng là: Lợn đực Landrace x Lợn nái Móng Cái (hoặc lợn địa phương) để lấy con lai F1 nuôi thịt

Lợn đực Landrace x lợn F1 (Y x MC) lấy con lai F2 ¾ máu ngoại (50%

L, 25% Y, 25% MC) nuôi thịt cho khối lượng lúc 6 tháng tuổi đạt 100 kg, tỷ

lệ nạc đạt 46 - 48%

Sử dụng lợn Landrace trong các công thức lai kinh tế 2 giống hoặc 3 giống giữa các giống lợn ngoại để tăng tỷ lệ nạc từ 52 - 60% (Nguyễn Đức Hùng và cộng sự, 2003) [10])

2.1.2 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái

2.1.2.1 Sự thành thục về tính và thể vóc

* Sự thành thục về tính:

Tuổi thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ tính dục

và có khả năng sinh sản Khi gia súc đã thành thục về tính, bộ máy sinh dục

đã phát triển hoàn thiện, con vật bắt đầu xuất hiện các phản xạ về sinh dục Con cái có hiện tượng động dục, con đực có phản xạ giao phối

Khi đó ở con cái các noãn bao chín và rụng trứng (lần đầu), con đực có phản xạ sinh tinh Đối với các giống gia súc khác nhau thì thời gian thành thục về tính khác nhau, ở lợn nội thường từ 4 - 5 tháng tuổi (120 - 150 ngày),

Trang 16

tháng tuổi, khi lợn có khối lượng 65 - 68 kg Còn đối với lợn nội tuổi thành thục về tính từ 4 - 5 tháng tuổi Cụ thể lợn Landrace nhập vào nuôi ở Việt Nam có tuổi động dục lần đầu là 208 - 209 ngày (Nguyễn Thiện và cộng sự, 1995) [18]

- Chế độ dinh dưỡng: Theo John Nichl (1992)[12],chỉ rõ Chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn cái Thường những lợn được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt thì tuổi thành thục về tính sớm hơn những lợn được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng kém, lợn nái được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng tốt sẽ thành thục ở độ tuổi trung bình 188, 5 ngày (6 tháng tuổi) với khối lượng cơ thể là 80 kg và nếu hạn chế thức ăn thì sự thành thục về tính sẽ xuất hiện lúc 234, 8 ngày (trên 7 tháng tuổi) và khối lượng cơ thể là 48,4 kg

Dinh dưỡng thiếu làm chậm sự thành thục về tính là do sự tác động xấu lên tuyến yên và sự tiết kích tố hướng dục, nếu thừa dinh dưỡng cũng ảnh hưởng không tốt tới sự thành thục là do sự tích luỹ mỡ xung quanh buồng trứng và cơ quan sinh dục làm giảm chức năng bình thường của chúng, mặt khác do béo quá ảnh hưởng tới các hocmon oestrogen và progesterone trong máu làm cho hàm lượng của trong trong cơ thể không đạt mức cần thiết để thúc đẩy sự thành thục

- Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng: Là yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới tuổi động dục Mùa hè lợn nái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa thu - đông, điều đó có thể do ảnh hưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền với mức tăng trọng thấp trong các tháng nóng bức Những con được chăn thả tự do thì xuất hiện thành thục sớm hơn những con nuôi nhốt trong chuồng 14 ngày (mùa xuân) và 17 ngày (mùa thu) Mùa đông, thời gian chiếu sáng trong ngày thấp hơn so với các mùa khác trong năm, bóng tối còn làm chậm tuổi thành thục về tính so với những biến động ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo

12 giờ mỗi ngày (Dwane và cộng sự, 1992) [8]

Trang 17

- Mật độ nuôi nhốt: Mật độ nuôi nhốt đông trên 1 đơn vị diện tích trong suốt thời gian phát triển sẽ làm chậm tuổi động dục Nhưng cần tránh nuôi nái hậu bị tách biệt đàn trong thời kỳ phát triển Kết quả nghiên cứu cho thấy việc nuôi nhốt lợn cái hậu bị riêng từng cá thể sẽ làm chậm lại thành thục tính so với lợn nái được nuôi nhốt theo nhóm Bên cạnh những yếu tố trên thì đực giống cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến tuổi động dục của lợn cái hậu bị Nếu cái hậu bị thường xuyên tiếp xúc với đực giống sẽ nhanh động dục hơn cái hậu bị không tiếp xúc với lợn đực giống Theo Hughes và Jemes (1996)[24], lợn cái hậu bị ngoài 90kg thể trọng ở 165 ngày tuổi cho tiếp xúc 2 lần/ngày với lợn đực, mỗi lần tiếp xúc 15 - 20 phút thì tới 83% lợn cái hậu bị động dục lần đầu

* Sự thành thục về thể vóc:

Tuổi thành thục về thể vóc là tuổi có sự phát triển về ngoại hình và thể chất đạt mức độ hoàn chỉnh, tầm vóc ổn định Tuổi thành thục về thể vóc thường chậm hơn so với tuổi thành thục về tính Thành thục về tính được đánh dấu bằng hiện tượng động dục lần đầu tiên

Lúc này sự sinh trưởng và phát dục của cơ thể vẫn còn tiếp tục, trong giai đoạn lợn thành thục về tính mà ta cho giao phối ngay sẽ không tốt Vì lợn

mẹ có thể thụ thai nhưng cơ thể mẹ chưa đảm bảo cho bào thai phát triển tốt, nên chất lượng đời con kém Đồng thời cơ quan sinh dục, đặc biệt là xương chậu vẫn còn hẹp dễ gây hiện tượng khó đẻ Điều này ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái sau này Do đó không nên cho phối giống quá sớm Đối với lợn cái nội khi được 7 - 8 tháng tuổi khối lượng đạt 40 - 50 kg nên cho phối, đối với lợn ngoại khi được 8 - 9 tháng tuổi, khối lượng đạt 100 - 110kg mới nên cho phối (Nguyễn Đức Hùng và cộng sự, 2003) [10]

Trang 18

2.1.2.2 Chu kỳ động dục

Chu kỳ động dục là một quá trình sinh lý phức tạp sau khi toàn bộ cơ thể đã phát triển hoàn hảo, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiện tượng bệnh lý thì bên trong buồng trứng có quá trình phát triển của noãn bao, noãn bao thành thục, trứng chín và thải trứng

Song song với quá trình thải trứng thì toàn bộ cơ thể nói chung đặc biệt

là cơ quan sinh dục có hàng loạt các biến đổi về hình thái cấu tạo và chức năng sinh lý Tất cả các biến đổi đó được lặp đi, lặp lại có tính chất chu kỳ nên gọi là chu kỳ tính Chu kỳ tính được bắt đầu từ khi cơ thể đã thành thục

về tính, nó xuất hiện liên tục và chấm dứt khi cơ thể cái già yếu (Nguyễn Tấn Anh, 1995) [1]

* Tiền động dục (kéo dài 2 - 3 ngày):

Đây là giai đoạn đầu của chu kỳ sinh dục Ở giai đoạn này các noãn bao phát triển thành thục và nổi rõ lên bề mặt buồng trứng Buồng trứng to hơn bình thường các tế bào ống dẫn trứng tăng cường sinh trưởng, số lượng lông nhung tăng lên, đường sinh dục tăng tiết dịch nhày và xung huyết nhẹ, hệ thống tuyến ở cổ tử cung tiết dịch nhày, các noãn bao chín và tế bào trứng tách ra ngoài, tử cung co bóp mạnh, niêm dịch đường sinh dục chảy nhiều, con vật bắt đầu xuất hiện tính dục Các biến đổi trên tạo điều kiện cho tinh trùng tiến lên trong đường sinh dục cái gặp tế bào trứng và tiến hành thụ tinh

Biểu hiện bên ngoài: Âm đạo không nhìn thấy, đỏ hồng, không có hoặc

có ít nước nhờn không cho đực nhảy hoặc bỏ chạy khi ta ấn tay vào hông Ở giai đoạn này lợn thường bỏ ăn hoặc ít ăn, hay kêu rít

* Động dục (kéo dài 2 - 3 ngày):

Thời gian của giai đoạn này được tính từ khi tế bào trứng tách khỏi noãn bao các biến đổi của cơ quan sinh dục lúc này rõ rệt nhất, niêm mạc âm

hộ xung huyết, phù thũng rõ rệt, niêm dịch trong suốt chảy ra ngoài nhiều,

Trang 19

con vật biểu hiện tính hưng phấn cao độ: Con cái đứng nằm không yên, phá chuồng, ăn uống giảm hẳn, kêu rít, đứng trong trạng thái ngẩn ngơ, ngơ ngác, đái rắt, luôn nhảy lên lưng con khác hoặc để con khác nhảy lên lưng mình, thích gần đực, khi gần đực thì luôn đứng ở tư thế sẵn sàng chịu đực như: đuôi cong lên và lệch sang một bên, hai chân sau dạng ra và khụy xuống sẵn sàng chịu đực

Nếu ở giai đoạn này trứng gặp được tinh trùng, hợp tử được hình thành thì chu kỳ tính ngừng lại, gia súc cái ở vào giai đoạn có thai và cho đến khi đẻ xong một thời gian nhất định thì chu kỳ tính mới xuất hiện trở lại Trường hợp gia súc không có thai thì chuyển sang giai đoạn tiếp

* Giai đoạn sau động dục (kéo dài 1 ngày):

Ở giai đoạn này toàn bộ cơ thể nói chung và cơ quan sinh dục nói riêng dần dần trở lại trạng thái hoạt đông sinh lý bình thường Các phản xạ về hưng phấn, về sinh dục dần mất hẳn, con vật chuyển sang thời kỳ yên tĩnh, chịu khó

ăn uống Trên buồng trứng thể vàng xuất hiện và bắt đầu tiết progesteron Progesteron tác động lên trung khu thần kinh làm thay đổi tính hưng phấn, làm kết thúc giai đoạn động dục, niêm mạc của toàn bộ đường sinh dục ngừng tăng sinh, các tuyến ở cơ quan sinh dục ngừng tiết dịch, cổ tử cung đóng lại

* Giai đoạn nghỉ ngơi:

Đây là giai đoạn dài nhất của chu kỳ sinh dục Thời kỳ này con vật hoàn toàn yên tĩnh, cơ quan sinh dục dần dần trở lại trạng thái yên tĩnh sinh lý bình thường Trong buồng trứng thể vàng bắt đầu teo đi, noãn bào bắt đầu phát dục nhưng chưa nổi rõ lên bề mặt của buồng trứng toàn bộ cơ quan sinh dục dần dần xuất hiện nhưng biến đổi chuẩn bị cho chu kỳ tiếp theo

Nếu lợn không có chửa, tử cung sinh sản ra hormone Prostaglandin làm cho tan rã thể vàng, Progesteron không sản sinh ra nữa Tuyến yên lại được giải phóng và lại sinh sản ra FSH, bắt đầu một chu kỳ mới

Trang 20

Chu kỳ động dục của lợn nái thường từ 18 - 22 ngày, thời gian động dục kéo dài 5 - 7 ngày, nhưng thời gian chịu đực thường 2,5 ngày, phối giống trong thời gian này đạt hiệu quả cao nhất

Đối với lợn Landrace thời điểm phối thích hợp vào cuối ngày thứ 3 đầu ngày thứ 4 tính từ lợn ngày lợn bắt đầu động dục

- Đối với lợn hậu bị nên cho phối giống sớm hơn lợn nái từ 6 - 8 giờ Sau khi phối giống 21 ngày không có hiện tượng động dục trở lại là lợn

đã có chửa Có thể phân biệt lợn có chửa hay không qua một số biểu hiện bên ngoài Lợn có chửa biểu hiện mệt nhọc, ngủ nhiều ăn tốt hơn, dáng đi ngày càng nặng nề Lợn tuy đã có chửa nhưng có thể có hiện tượng “động dục giả” Biểu hiện như sau: âm hộ đỏ, không có nước nhờn, thời gian động dục ngắn, nói chung biểu hiện không rõ ràng

Có thể phân biệt động dục giả và động dục thật ở lợn: lợn động dục giả vẫn ăn uống bình thường, ăn xong vẫn nằm ngủ, khi thấy đực qua chuồng tai

rủ xuống và lảng tránh Điều này trái với lợn động dục, khi thấy đực qua chuồng luôn ve vẩy và đến gần đực

Chẩn đoán phân biệt lợn nái có chửa có một ý nghĩa rất to lớn, chẩn đoán lợn nái có chửa chính xác giúp cho người chăn nuôi nâng cao được tỷ lệ sinh sản của lợn nái, định ra được các thời kỳ chửa của lợn nái, từ đó định ra được cách nuôi dưỡng chăm sóc phù hợp

Thời gian mang thai của lợn trung bình là 114 ngày, dao động từ 112 -

116 ngày, cá biệt có những lợn nái ngoại mang thai tới 117 - 118 ngày, thời gian mang thai dài quá hoặc ngắn quá đều ảnh hưởng không tốt Nếu thời gian mang thai ngắn con đẻ ra yếu sức chống chịu với ngoại cảnh kém, khả năng sống sót thấp Nếu thời gian mang thai dài đẻ ra nhiều con chết, lợn mẹ thường đẻ khó khăn (Nguyễn Thiện và cộng sự, 2005) [21]

Trang 21

2.1.2.3 Quá trình sinh trưởng và phát triển của bào thai

Hiểu rõ vấn đề này có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác chăm sóc

và nuôi dưỡng nái mẹ trong thời kỳ mang thai Đây là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới tỷ lệ sảy thai, chết thai và số lượng cũng như khối lượng sơ sinh trên ổ

và trên con Theo Trần Văn Phùng và cộng sự (2004)[15], quá trình phát triển của bào thai ở lợn được chia làm ba giai đoạn:

* Giai đoạn phôi thai (1 - 22 ngày)

Giai đoạn này được tính từ ngày thứ nhất đến ngày thứ 22 sau khi thụ tinh Sau khi thụ tinh được 20 giờ thì sự phân chia tế bào bắt đầu diễn ra Phôi thai được hình thành sau thụ tinh là thời điểm cho quá trình phát triển của cơ thể mới

Từ một tế bào, phôi tăng cường trao đổi chất thành túi phôi Tiếp theo tới phôi thực hiện quá trình phân cắt, phôi thai phát triển thành hợp tử Trong giai đoạn này hợp tử sử dụng chất dinh dưỡng của tế bào trứng và tinh trùng

Sau khi thụ tinh được 5 - 6 ngày thì mầm thai và túi phôi được hình thành Lúc đầu mầm thai lấy chất dinh dưỡng từ tế bào trứng, chất tiết từ các tuyến nội mạc tử cung Sau khi các màng thai được hình thành, mầm thai lấy chất dinh dưỡng từ cơ thể mẹ bằng con đường thẩm thấu qua các màng Sau 7

- 8 ngày, màng ối được hình thành, màng ối chứa dịch lỏng vừa có tác dụng bảo vệ phôi vừa cung cấp chất dinh dưỡng cho phôi Màng niệu được hình thành sau 12 ngày, là nơi chứa chất cặn bã do thai thải ra trong quá trình trao đổi chất

Đáng chú ý trong 3 tuần đầu này là sự liên kết giữa cơ thể mẹ và thai chưa chắc chắn, phôi thai mới hình thành nên chưa đảm bảo được an toàn Khối lượng phôi thai trong giai đoạn này rất nhỏ, ở cuối giai đoạn mỗi phôi chỉ nặng 1 - 2 gam Vì vậy, kỹ thuật nuôi dưỡng và chăm sóc trong 3 tuần đầu

là cực kỳ quan trọng Mỗi tác động của ngoại cảnh không tốt đến nái mẹ (như: tiếng ồn, ô nhiễm, quá nóng, hay quá lạnh ) đều ảnh hưởng tới phôi thai, dễ

Trang 22

dẫn đến sảy thai Dinh dưỡng hay chất lượng thức ăn không tốt (như: ôi thiu, lên men, mốc ) cũng gây hậu quả tương tự Cần có sự chăm sóc cẩn thận đối với nái chửa trong 3 tuần đầu sau thụ tinh

* Giai đoạn tiền thai (23 - 39 ngày)

Thời kỳ này nhau thai phát triển đầy đủ hơn, quá trình phát triển diễn ra mạnh mẽ để hoàn chỉnh các cơ quan mới Ở cuối thời kỳ này, hầu hết các cơ quan đã cơ bản hình thành, khối lượng phôi tăng lên 6 - 7 gam

* Giai đoạn bào thai (40 - 114 ngày)

Đây là giai đoạn sinh trưởng mạnh nhất của bào thai Các cơ quan bộ phận được hoàn chỉnh dần Quá trình trao đổi chất của thai diễn ra mãnh liệt Đặc điểm của từng giống đã bắt đầu được thể hiện từ ngày thứ 80 trở đi thai phát triển rất mạnh Cuối thời kỳ này, khối lượng bào thai tăng gấp 100 lần kỳ trước Dựa vào nhu cầu dinh dưỡng ta chia thành hai thời kỳ

- Chửa kỳ I: 1 - 84 ngày

- Chửa kỳ II: 84 - 114 ngày

Nhưng trên thực tế để tiện theo dõi và chăm sóc, giai đoạn chửa kỳ II được phân ra làm hai giai đoạn nhỏ:

- Giai đoạn 1: 84 - 100 ngày

- Giai đoạn 2: 100 - 114 ngày

Mỗi giai đoạn này đòi hỏi kỹ thuật chăm sóc là khác nhau Đặc biệt chú

ý trong 2 tuần cuối (100 - 114 ngày) dinh dưỡng và chăm sóc phải thấy hợp

lý Đây là thời kỳ nái mẹ cần nhiều chất dinh dưỡng nhất cho sự phát triển của bào thai Tuy nhiên thể tích bào thai lớn làm giảm lượng thức ăn thu nhận, vì vậy cần phải cho nái ăn nhiều bữa để đảm bảo chất dinh dưỡng trong thời kỳ mang thai tính thèm ăn của nái bị giảm xuống, để khắc phục điều này cần chế biến và bảo quản thức ăn thật tốt, kích thích tính ngon miệng cho nái thu nhận thức ăn cao Giai đoạn này lợn mẹ cần sự yên tĩnh, những tác động kích thích

Trang 23

từ bên ngoài dễ dẫn đến hiện tượng đẻ non hay xáo trộn sinh lý lợn mẹ, gây khó khăn khi đẻ

Khi thai đã thành thục sẽ được cơ thể mẹ đẩy ra ngoài (trong khoảng

113 - 116 ngày), lợn thường đẻ vào ban đêm, thời gian đẻ trung bình từ 2 - 6 giờ Nếu sức khỏe của lợn mẹ và các thai bình thường thì không cần can thiệp nhiều trong khi đẻ Nhưng nếu có khó khăn trong quá trình lợn đẻ (sức khỏe nái mẹ kém, thai nằm sai ngôi, thai chết khô, chết lưu…) thì can thiệp ngay để đảm bảo cho cả nái mẹ và đàn con

2.1.3 Các tính trạng năng suất sinh sản của lợn nái

Để đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái có nhiều chỉ tiêu song chỉ tiêu số lượng lợn con đẻ ra/lứa, số con nuôi sống đến khi cai sữa là chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái Các chỉ tiêu này

có liên quan mật thiết đến các chỉ tiêu khác như: tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa, khoảng cách lứa đẻ, thời gian chờ phối…

Theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 1280 - 72, TCVN 1282 - 79) thì có

4 chỉ tiêu giám định lợn nái sinh sản như sau:

- Số con đẻ ra còn sống (không tính những con có khối lượng dưới 0,2

kg lợn nội và 0,5 kg đối với lợn ngoại và lợn lai máu ngoại)

- Khối lượng toàn ổ lúc 21 ngày tuổi

- Khối lượng toàn ổ lúc 60 ngày tuổi

- Tuổi đẻ lứa đầu đối với lợn nái đẻ lứa thứ 2 trở đi

Sức sinh sản của lợn nái là một tiêu chuẩn đánh giá chất lượng phẩm giống Khả năng sinh sản được biểu hiện qua những chỉ tiêu như: số con đẻ ra/lứa, số lứa đẻ/năm, tỷ lệ nuôi sống, tỷ lệ còi cọc, dị hình khả năng sinh sản cũng liên quan đến việc thành thục sớm hay muộn, thời gian mang thai Sinh sản là đặc trưng của tính di truyền ở mỗi phẩm giống gia súc (theo Trần Đình Miên, 1975) [14]

Trang 24

Thông thường người ta đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái bằng cách tính số con đẻ ra và số con sống trong một lứa, khối lượng sơ sinh, khối lượng cai sữa, tỷ lệ nuôi sống, độ đồng đều của các con trong lứa Ngoài ra cũng phải đánh giá khả năng tiết sữa của lợn mẹ Do lợn nái không có bể sữa

do đó không thể đo lượng sữa của lợn mẹ bằng cách vắt sữa mà chỉ có thể tính lượng sữa bằng phương pháp gián tiếp thông qua khối lượng đàn con

2.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá sức sinh sản của lợn nái

* Các chỉ tiêu đánh giá sức sinh sản ở lợn nái

Để đánh giá sức sản xuất của lợn nái người ta thường theo dõi các chỉ tiêu sau:

- Số con sơ sinh còn sống là tổng số lợn con còn sống sau 24 giờ tính từ khi lợn mẹ đẻ xong Đây là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quan trọng và nói lên khả năng đẻ nhiều con hay ít con của giống và kỹ thuật nuôi dưỡng chăm sóc lợn nái ở giai đoạn chửa và kỹ thuật thụ tinh

- Số lợn con để nuôi: Là số con để lại nuôi sau khi đã loại thải những con nhỏ hoặc dị dạng Chỉ tiêu này nói lên chất lượng của đàn con

- Khối lượng sơ sinh: Là khối lượng của lợn con được cân ngay sau khi

đẻ ra, đã được cắt rốn, lau khô, bấm nanh và trước khi cho bú lần đầu tiên Chỉ tiêu này nói lên khả năng dưỡng thai của lợn mẹ, kỹ thuật chăm sóc quản

lý của người chăn nuôi

- Khối lượng 21 ngày tuổi: Là khối lượng lợn con được cân lúc 21 ngày tuổi Chỉ tiêu này để đánh giá khả năng tiết sữa của lợn mẹ

- Khối lượng cai sữa: Là khối lượng lợn con được cân lúc cai sữa, tuỳ theo điều kiện và phương thức chăn nuôi mà người ta tiến hành cai sữa lúc 21,

28 hoặc 35 ngày tuổi

- Số lượng lợn con cai sữa/lứa: Là số lợn con còn sống đến cai sữa Đây

là chỉ tiêu quan trọng, góp phần quyết định năng suất chăn nuôi lợn nái

Trang 25

- Khoảng cách lứa đẻ: Là khoảng thời gian từ khi con nái đẻ lứa trước đến khi con nái đẻ lứa sau bao gồm cả thời gian chửa, thời gian nuôi con, thời gian động dục trở lại sau cai sữa, phối giống và có chửa

2.1.5 Đặc điểm sinh trưởng của lợn con theo mẹ

* Sự sinh trưởng và phát dục

Theo Nguyễn Các (1996)[5], lợn con từ lúc sơ sinh đến lúc cai sữa (tách mẹ) có nhiều đặc điểm sinh lý đặc trưng và đòi hỏi phải có sự chăm sóc nuôi dưỡng tốt Nếu khi chăn nuôi, người chăn nuôi không nắm vững các đặc điểm sinh lý của lợn con sẽ không nuôi dưỡng và chăm sóc hợp lý chúng, dẫn đến sinh trưởng chậm, lợn không khỏe và chất lượng con giống kém

Trong giai đoạn này, lợn con có những đặc điểm sinh lý đặc trưng

mà chúng ta cần quan tâm để có chế độ dinh dưỡng và chăm sóc thích hợp cho chúng

- Lợn con có tốc độ sinh trưởng phát triển nhanh:

Trong giai đoạn này lợn con sinh trưởng rất nhanh, tầm vóc và thể trọng tăng dần theo tuổi

Từ lúc sơ sinh đến lúc cai sữa, khối lượng của lợn con tăng từ 10 đến 12 lần So với các gia súc khác thì tốc độ sinh trưởng của lợn con tăng nhanh hơn gấp nhiều lần Các cơ quan trong cơ thể lợn con cũng thay đổi và tăng lên nhanh chóng Hàm lượng nước giảm dần theo tuổi, vật chất khô tăng dần, các thành phần hóa học trong cơ thể của lợn thay đổi nhanh chóng Hàm lượng sắt trong cơ thể lợn con mới sinh ra là 187 g % nhưng đến ngày thứ 20 giảm xuống còn 40,58 g % sau đó tăng dần đến 60 ngày tuổi thì đạt bằng lúc mới đẻ ra Một đặc điểm quan trọng nhất của lợn con theo mẹ là: Sản lượng sữa mẹ tăng dần từ khi mới đẻ ra tới ngày thứ 15 Tại thời điểm này sản lượng sữa cao nhất và ổn định cho tới ngày thứ 20 và sau đó giảm dần cho tới ngày thứ 60 là ở mức thấp nhất Nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng, trong khi đó sữa mẹ sau

Trang 26

3 tuần tuổi giảm đi rõ rệt, dẫn tới lợn con thiếu dinh dưỡng nếu như không có thức ăn bổ sung thêm (Võ Trọng Hốt và cộng sự, 2000) [11]

Khả năng miễn dịch của lợn con trong giai đoạn này cũng có những đặc điểm đặc biệt Lợn con mới đẻ trong máu không có γ globulin nhưng sau khi

bú sữa có chứa hàm lượng γ globulin cao, thì hàm lượng kháng thể trong máu tăng lên một cách nhanh chóng Sau 3 đến 4 tuần tuổi hàm lượng γ globulin giảm xuống, đến 5 tháng tăng lên, đạt 65 mg γ globulin trong 100ml máu

Ngoài ra, hệ vi sinh vật trong đường ruột của lợn con (microflora) cũng là hệ

thống ngăn ngừa các nhân tố gây bệnh xâm nhập vào đường ruột

Khả năng tiêu hóa các chất dinh dưỡng của lợn con: lợn con trong 3 tuần

tuổi đầu chỉ có khả năng tiêu hóa cazein, các đường, lipid của sữa, còn các chất khác từ các thức ăn nhân tạo thì chưa có Khả năng tiêu hóa của lợn con rất hạn chế Theo A V Kavasnhixki, dịch vị của lợn con dưới một tháng tuổi hoàn toàn không có axít HCl ở dạng tự do, vì lượng axít này tiết ra ít và nó nhanh chóng liên kết với các niêm dịch Ngoài sự thiếu HCl tự do còn có sự giảm axít trong dịch vị thức ăn liền với HCl làm cho hàm lượng HCl tự do rất ít hoặc hoàn toàn không có trong dạ dày của lợn con bú sữa Vì thiếu HCl tự do trong

dạ dày nên hệ vi sinh vật dễ lên men gây nên hiện tượng ỉa chảy ở lợn con Khi

có khả năng hoạt động của các men trong dịch tụy, mà điều quyết định là HCI

tự do hoạt hóa men pepsinogen để tiêu hóa protid Để nuôi lợn con thành công trong giai đoạn này là cần thiết phải cho lợn con ăn những thức ăn dễ tiêu hóa

và chia thành nhiều bữa trong ngày (Hoàng Toàn Thắng, 2006) [17]

Bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh nhưng chưa hoàn thiện

về chức năng Trong thời gian bú sữa trọng lượng bộ máy tiêu hóa lợn con tăng lên từ 5-10 lần, chiều dài ruột non tăng lên gấp 5 lần, dung tích bộ máy tiêu hóa tăng lên 40-50 lần, chiều dài ruột già tăng lên 40-50 lần Tuyến tụy ở

30 ngày tuổi tăng lên gấp 4 lần, trọng lượng của gan gấp 3 lần so với khi sơ

Trang 27

sinh Lúc đầu dạ dày chỉ nặng 6-8 gam và chứa được 35-50 gam sữa, nhưng chỉ sau 3 tuần đã tăng gấp 4 lần và 60 ngày tuổi đã nặng 150 gam và chứa được 700-1.000 gam sữa (Nguyễn Các, 1996) [5]

Theo Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn (2006)[17] thì tuyến tụy được phân tiết tăng lên như sau 20-30 ngày tiết 50-350ml, 40 ngày tiết 460ml, sau 3 tháng tuổi tiết > 3,5 lít, 7 tháng tuổi tiết 10 lít Lợn có tỷ lệ nạc cao, trong thân thịt có lượng enzym tiêu hóa protein cao hơn lợn có tỷ lệ nạc thấp Thí nghiệm trên 2 nhóm lợn trắng và đen thì thấy lợn đen có các lipaza và amilaza cao hơn ở lợn trắng, trái lại lợn trắng có men tripxin cao hơn ở lợn đen Trong dịch tụy của lợn lớn có tới 15 men để tiêu hóa các chất, song ở lợn con chỉ có

2 men là kimozin và lipaza và sau một tuần tuổi lợn con có thêm một số men như tripsin và amilase, hoạt tính của các men cũng tăng dần theo tuổi, từ 1-28 ngày men tripsin tăng gấp 20 lần, amilasa gấp 30 lần, các men như kimotipxin, protease, amilase, elastase, carboxipolypeptidase cũng tăng dần theo tuổi của lợn con Hàm lượng vật chất khô ở trong dịch tụy cũng tăng dần

lên theo tuổi của lợn con Dịch ruột do 2 tuyến Bruner và Liberkun tiết ra

chứa đầy đủ các men tiêu hóa nhưng ở lợn con chưa có men lactose, các men tiêu hóa khác có hàm lượng rất thấp không đủ khả năng để tiêu hóa các thức

ăn nhân tạo Dịch mật của lợn con trong các tuần tuổi đầu còn hạn chế, khả năng nhũ tương hóa mỡ của lợn con chưa có

Theo Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn (2006)[17], pH trong dạ dày lợn con thay đổi theo tuổi Ông cũng cho biết khả năng tiêu hóa protein của lợn con tùy thuộc vào lượng axít tự do ở trong dạ dày và sau 3 tuần tuổi thì lợn con mới có khả năng này Tuyến tụy bắt đầu hoạt động trong thời kỳ bào thai

và bào thai càng lớn hoạt động tuyến tụy càng tăng lên, dịch tụy cũng được phân tiết tăng lên theo tuổi

Qua nghiên cứu chúng ta thấy khả năng tiêu hóa của lợn con ngày càng tăng rõ rệt

Trang 28

- Khả năng điều hòa thân nhiệt kém:

Cơ thể lợn con thường sinh ra nhiệt năng, nhiệt năng có thể thải ra môi trường xung quanh, ngược lại sự thay đổi nhiệt độ môi trường lại ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới sự sinh nhiệt và tỏa nhiệt của cơ thể, hiện tượng đó gọi là trao đổi nhiệt giữa cơ thể lợn con với môi trường

Lợn con lúc mới sinh có khả năng điều hòa thân nhiệt kém Thí nghiệm của Newland (1969) (Trích từ Trần Văn Phùng, 2006) [16] đã chứng minh mối quan hệ giữa tuổi và thân nhiệt của lợn con Khi tiến hành nuôi lợn con ở các nhiệt độ khác nhau (110

C, 180Cvà 280C), thì ở nhiệt độ 280C lợn con có khả năng sinh trưởng nhanh nhất và ở nhiệt độ 110C lợn con có khả năng sinh trưởng chậm nhất Nhiệt độ cao hay thấp đều ảnh hưởng tới quá trình điều tiết thân nhiệt của lợn con (Võ Trọng Hốt và cộng sự, 2000) [11]

Nhiệt độ bên ngoài có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tỏa nhiệt và tốc độ sinh trưởng của lợn con Nhiệt độ được coi như là một chỉ tiêu ảnh hưởng lớn đến đặc điểm, chức năng của cơ quan điều tiết nhiệt của lợn con Nếu nhiệt độ thấp lợn con mất nhiều nhiệt và có thể dẫn tới chết Vậy, trong tuần lễ đầu thân nhiệt của lợn con hoàn toàn phụ thuộc vào nhiệt độ của môi trường Nếu

ở hai ngày đầu sau khi sinh, nhiệt độ từ 5-60C, lợn con có thể chết do lạnh và mất nhiệt Sau 3 tuần tuổi, khả năng điều hòa thân nhiệt của lợn con có thể ổn định để đáp ứng với môi trường bình thường bên ngoài Do lợn con có khả năng điều hòa thân nhiệt kém nên cơ thể dễ bị lạnh và phát sinh bệnh tật, nhất

là bệnh ỉa phân trắng

Thân nhiệt của lợn con sau khi đẻ khoảng 380

C, sau 10 ngày tăng lên 39,50C đến 39,70C và giữ ở mức đó Trong thời gian này thân nhiệt lợn con có thể biến động trên dưới 10C Độ ẩm cũng là một yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng điều hòa thân nhiệt của lợn con (Vũ Trọng Hốt và cộng sự, 2000 [11]

Trang 29

Nếu độ ẩm cao thì lợn con dễ bị mất nhiệt và có thể bị cảm lạnh Độ ẩm thích hợp cho lợn con ở nước ta là 65 - 70 % Các kết quả nghiên cứu trong nước và nước ngoài cho thấy rằng khả năng chịu đựng và sự thích nghi của lợn con đối với môi trường bên ngoài còn thấp, làm cho khả năng sinh trưởng phát triển của lợn con bị hạn chế và có thể dễ nhiễm bệnh dẫn đến tỷ lệ nuôi sống thấp Trong chăn nuôi, chúng ta thường sử dụng một số biện pháp kỹ thuật để hạn chế những tác động của các yếu tố nói trên đối với lợn con, nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi cũng như điều hòa nhiệt độ và ẩm độ ở tiểu khí hậu chuồng nuôi sao cho thích hợp với lợn con

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Để không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng của ngành chăn nuôi lợn, từ 60 năm trước nước ta đã nhập giống lợn cao sản Landrace và Yorkshire, nhằm mục đích cải tạo đàn lợn nội Đến nay đã có nhiều tác giả nghiên cứu về khả năng sinh sản của các giống kể trên Kết quả nghiên cứu là tìm ra các biện pháp kỹ thuật tối ưu nhất có thể đem lại hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi

Kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thiện và cộng sự (1998)[19], khả năng sinh sản của lợn Landrace được thể hiện qua bảng sau

Bảng 2.1 Năng suất sinh sản của lợn Landrace

x

m

X

Khối lượng 21 ngày tuổi/ổ (kg) 248 33,32 ± 0,54 Theo kết quả nghiên cứu của Đặng Vũ Bình (1995)[2] về năng suất sinh sản của đàn lợn nái Landrace được thể hiện ở bảng 2.3

Trang 30

Bảng 2.2 Các tham số thống kê năng suất sinh sản của đàn lợn nái

Landrace nuôi tại Việt Nam

Khối lượng sơ sinh toàn ổ (kg) 680 12,96 ± 0,10

Thời gian mang thai (ngày) 370 114,19 ± 0,08

Để nâng cao năng suất và chất lượng trong chăn nuôi lợn nái ngoại sinh sản giai đoạn đẻ và nuôi con thì phải thực hiện tốt quy trình cai sữa sớm cho lợn con Muốn cai sữa sớm cho lợn con đạt kết quả tốt phải thực hiện quy trình tập cho lợn con ăn sớm Vấn đề này đang được nhiều tác giả nghiên cứu

Theo Trần Văn Phùng và cộng sự (2004)[15] lý do mà các nhà chăn nuôi nên cho lợn tập ăn sớm từ 7 - 10 ngày là:

+ Sau 21 ngày tiết sữa lượng sữa mẹ giảm dần

+ Cho lợn tập ăn sớm, thức ăn tập ăn sớm sẽ kích thích hệ tiêu hóa lợn con sớm phát triển Điều đó sẽ giúp lợn con sau khi cai sữa sẽ ăn, tiêu hóa và hấp thụ thức ăn tốt và làm giảm được hao hụt lợn mẹ

+ Tránh được nguy cơ lợn mẹ bị yếu chân, bại liệt và giảm số con đẻ ở những lứa tiếp theo

+ Rút ngắn được thời gian chờ phối của lợn nái, làm giảm thức ăn cho lợn nái trong thời gian này

Trang 31

+ Tăng nhanh lứa đẻ, số lợn con thu được của một nái/năm cao

Vì vậy trong thời gian lợn con theo mẹ cần phải tập ăn sớm cho lợn con trước khi lượng sữa của lợn mẹ cung cấp thiếu bằng cách tập cho lợn con

ăn sớm

Nghiên cứu đánh giá khả năng sinh sản của các giống lợn ngoại và các

tổ hợp lai đã được nhiều tác giả trong nước tiến hành và thông báo kết quả Các kết quả đó cho phép đánh giá hiệu quả kinh tế của chăn nuôi lợn nái ngoại và nái lai qua đó xác định được giống lợn phù hợp và có hiệu quả kinh

tế đối với chăn nuôi trang trại tại các địa phương trên cả nước đặc biệt là của miền Bắc nước ta

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Các giống lợn Yorkshire, Landrace, … được nuôi phổ biến ở tất cả các nước có nghề chăn nuôi lợn hướng nạc phát triển và nhân ra khắp thế giới bởi các ưu điểm của nó là khối lượng cơ thể lớn, tăng trọng nhanh, tỷ lệ nạc cao, năng suất sinh sản khá, khả năng thích nghi tốt Năm 1960, tỷ lệ giống lợn Landrace trong cơ cấu đàn lợn của Cộng hòa dân chủ Đức là 56,5% Chính vì vậy mà cho đến nay có rất nhiều nghiên cứu và thông báo về khả năng sinh sản của giống lợn Landrace

Jose Bento và cộng sự (2012)[23] cho biết năng suất sinh sản của đàn lợn Landrace ở Thụy Điển thu được từ 19 đàn hạt nhân bao gồm 20,27 lứa đẻ và 6,986 nái thuần từ giai đoạn 1994 - 1997 như sau: số con sơ sinh/ổ là 11,61; số con sơ sinh còn sống/ổ: 10; thời gian từ cai sữa đến phối giống: 5,6; tỷ lệ đẻ là 82,8%; tuổi đẻ lứa đầu là 335,6 ngày Theo John (1992)[12] đã nghiên cứu về tuổi phối giống lần đầu thích hợp cho thấy, nên để đến lần động dục lần thứ 3 rồi mới phối giống lần đầu sẽ làm tăng mức độ rụng trứng Việc quyết định phối giống vào chu kỳ đầu tiên hay chu kỳ thứ 3 nên dựa vào nhiều yếu tố như: giá cả thức

ăn, triển vọng xuất chuồng và giá trị của đàn gia súc

Ngày đăng: 05/04/2017, 14:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Tấn Anh, (1995), Sinh lý sinh sản gia súc, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý sinh sản gia súc
Tác giả: Nguyễn Tấn Anh
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 1995
2. Đặng Vũ Bình (1995), Các tham số thông kê di truyền và chỉ số chọn lọc năng suất sinh sản của lợn nái Yorkshire và Landrace, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tham số thông kê di truyền và chỉ số chọn lọc năng suất sinh sản của lợn nái Yorkshire và Landrace
Tác giả: Đặng Vũ Bình
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 1995
3. Đặng Vũ Bình, (1999), Phân tích một số nhân tố ảnh hưởng đến các tính trạng nặng suất sinh sản trong một lứa đẻ của lợn nái ngoại, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích một số nhân tố ảnh hưởng đến các tính trạng nặng suất sinh sản trong một lứa đẻ của lợn nái ngoại
Tác giả: Đặng Vũ Bình
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 1999
4. Đặng Vũ Bình (2000), Giáo trình chọn lọc và nhân giống vật nuôi, Nxb. Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chọn lọc và nhân giống vật nuôi
Tác giả: Đặng Vũ Bình
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 2000
5. Nguyễn Các, (1996), Quản lý lợn từ sơ sinh đến cai sữa, Cẩm nang chăn nuôi lợn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý lợn từ sơ sinh đến cai sữa
Tác giả: Nguyễn Các
Năm: 1996
7. Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ (1997), Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái mắn đẻ sai con, Nxb. Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái mắn đẻ sai con
Tác giả: Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ
Nhà XB: Nxb. Nông Nghiệp
Năm: 1997
9. Văn Lệ Hằng, Trần Văn Bình, Nguyễn Văn Trí (2008), Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái mắn đẻ và phòng trị bệnh thường gặp, Nxb. Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái mắn đẻ và phòng trị bệnh thường gặp
Tác giả: Văn Lệ Hằng, Trần Văn Bình, Nguyễn Văn Trí
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 2008
10. Nguyễn Đức Hùng, Nguyễn Mạnh Hà, Trần Huê Viên, Phan Văn Kiểm (2003), Giáo trình Truyền giống nhân tạo vật nuôi , Nxb.Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Truyền giống nhân tạo vật nuôi
Tác giả: Nguyễn Đức Hùng, Nguyễn Mạnh Hà, Trần Huê Viên, Phan Văn Kiểm
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 2003
11. Võ Trọng Hốt, Trần Đình Miên, Võ Văn Sự, Vũ Đình Tôn, Nguyễn Khắc Tích, Đinh Thị Nông, (2000), Giáo trình Chăn nuôi lợn, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Chăn nuôi lợn
Tác giả: Võ Trọng Hốt, Trần Đình Miên, Võ Văn Sự, Vũ Đình Tôn, Nguyễn Khắc Tích, Đinh Thị Nông
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 2000
13. Phạm Sỹ Lăng, Phan Định Lân, Trương Văn Dung (2003), Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Định Lân, Trương Văn Dung
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 2003
14. Trần Đình Miên (1975), Giáo trình chọn giống và nhân giống gia súc, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chọn giống và nhân giống gia súc
Tác giả: Trần Đình Miên
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 1975
15. Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo (2004), Giáo trình chăn nuôi lợn, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 2004
16. Trần Văn Phùng (2006), Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái sinh sản, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái sinh sản
Tác giả: Trần Văn Phùng
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 2006
17. Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn (2006), Giáo trình sinh lý học vật nuôi, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh lý học vật nuôi
Tác giả: Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 2006
19. Nguyễn Thiện, Võ Trọng Hốt, Nguyễn Khánh Quắc, Nguyễn Duy Hoan (1998), Chăn nuôi lợn, Giáo trình sau đại học, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi lợn
Tác giả: Nguyễn Thiện, Võ Trọng Hốt, Nguyễn Khánh Quắc, Nguyễn Duy Hoan
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 1998
20. Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Duy Hoan, Nguyễn Khánh Quắc (2000), “Phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi”, Giáo trình cho cao học và nghiên cứu sinh, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Duy Hoan, Nguyễn Khánh Quắc
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 2000
21. Nguyễn Thiện, Trần Đình Miên, Võ Trọng Hốt (2005), Con lợn ở Việt Nam, Nxb. Nông nghiê ̣p, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con lợn ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thiện, Trần Đình Miên, Võ Trọng Hốt
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 2005
8. Dwane R.Zimmernan Edepurkhiser (1992), Quản lý lợn nái, lợn hậu bị để có hiệu quả, Nxb. Bản đồ Khác
12. John Nichl, (1992), Quản lý lợn nái và hậu bị để sinh sản có hiệu quả, Hà Nội Khác
22. Phùng Thị Vân, Lê Thị Kim Ngọc, Trần Thị Hồng (2001), “Khảo sát khả năng sinh sản và xác định tuổi loại thải thích hợp đối với lợn nái Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Các tham số thống kê năng suất sinh sản của đàn lợn nái - Nghiên cứu khả năng sinh sản của lợn nái nuôi tại trại lợn nguyễn xuân dũng xã khánh thượng   huyện ba vì   thành phố hà nội
Bảng 2.2. Các tham số thống kê năng suất sinh sản của đàn lợn nái (Trang 30)
Bảng 4.1. Lịch phòng bệnh của trại lợn - Nghiên cứu khả năng sinh sản của lợn nái nuôi tại trại lợn nguyễn xuân dũng xã khánh thượng   huyện ba vì   thành phố hà nội
Bảng 4.1. Lịch phòng bệnh của trại lợn (Trang 42)
Bảng 4.2. Kết quả công tác phục vụ sản xuất - Nghiên cứu khả năng sinh sản của lợn nái nuôi tại trại lợn nguyễn xuân dũng xã khánh thượng   huyện ba vì   thành phố hà nội
Bảng 4.2. Kết quả công tác phục vụ sản xuất (Trang 45)
Bảng 4.3. Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn nái - Nghiên cứu khả năng sinh sản của lợn nái nuôi tại trại lợn nguyễn xuân dũng xã khánh thượng   huyện ba vì   thành phố hà nội
Bảng 4.3. Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn nái (Trang 46)
Bảng 4.4. Chỉ tiêu số lƣợng lợn con đẻ ra - Nghiên cứu khả năng sinh sản của lợn nái nuôi tại trại lợn nguyễn xuân dũng xã khánh thượng   huyện ba vì   thành phố hà nội
Bảng 4.4. Chỉ tiêu số lƣợng lợn con đẻ ra (Trang 47)
Bảng 4.5. Khối lƣợng lợn con qua các kỳ cân (Kg) - Nghiên cứu khả năng sinh sản của lợn nái nuôi tại trại lợn nguyễn xuân dũng xã khánh thượng   huyện ba vì   thành phố hà nội
Bảng 4.5. Khối lƣợng lợn con qua các kỳ cân (Kg) (Trang 48)
Hình 4.1. Khối lượng lợn con qua các kỳ cân - Nghiên cứu khả năng sinh sản của lợn nái nuôi tại trại lợn nguyễn xuân dũng xã khánh thượng   huyện ba vì   thành phố hà nội
Hình 4.1. Khối lượng lợn con qua các kỳ cân (Trang 49)
Bảng 4.6. Sinh trưởng tuyệt đối của lợn con - Nghiên cứu khả năng sinh sản của lợn nái nuôi tại trại lợn nguyễn xuân dũng xã khánh thượng   huyện ba vì   thành phố hà nội
Bảng 4.6. Sinh trưởng tuyệt đối của lợn con (Trang 50)
Hình 4.2. Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của lợn con thí nghiệm - Nghiên cứu khả năng sinh sản của lợn nái nuôi tại trại lợn nguyễn xuân dũng xã khánh thượng   huyện ba vì   thành phố hà nội
Hình 4.2. Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của lợn con thí nghiệm (Trang 51)
Hình 4.3. Biểu đồ sinh trưởng tương đối của lợn con thí nghiệm - Nghiên cứu khả năng sinh sản của lợn nái nuôi tại trại lợn nguyễn xuân dũng xã khánh thượng   huyện ba vì   thành phố hà nội
Hình 4.3. Biểu đồ sinh trưởng tương đối của lợn con thí nghiệm (Trang 52)
Bảng 4.8. Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con lúc 35 ngày tuổi - Nghiên cứu khả năng sinh sản của lợn nái nuôi tại trại lợn nguyễn xuân dũng xã khánh thượng   huyện ba vì   thành phố hà nội
Bảng 4.8. Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con lúc 35 ngày tuổi (Trang 53)
Bảng 4.9. Chi phí thức ăn/kg lợn con lúc 35 ngày tuổi - Nghiên cứu khả năng sinh sản của lợn nái nuôi tại trại lợn nguyễn xuân dũng xã khánh thượng   huyện ba vì   thành phố hà nội
Bảng 4.9. Chi phí thức ăn/kg lợn con lúc 35 ngày tuổi (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w