1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Nghiên cứu khả năng sinh sản của gà lai ZL và khả năng sản xuất thịt của tổ hợp lai giữa gà trống mía với mái ZL (Luận văn thạc sĩ)

75 238 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu khả năng sinh sản của gà lai ZL và khả năng sản xuất thịt của tổ hợp lai giữa gà trống mía với mái ZL (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu khả năng sinh sản của gà lai ZL và khả năng sản xuất thịt của tổ hợp lai giữa gà trống mía với mái ZL (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu khả năng sinh sản của gà lai ZL và khả năng sản xuất thịt của tổ hợp lai giữa gà trống mía với mái ZL (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu khả năng sinh sản của gà lai ZL và khả năng sản xuất thịt của tổ hợp lai giữa gà trống mía với mái ZL (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu khả năng sinh sản của gà lai ZL và khả năng sản xuất thịt của tổ hợp lai giữa gà trống mía với mái ZL (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu khả năng sinh sản của gà lai ZL và khả năng sản xuất thịt của tổ hợp lai giữa gà trống mía với mái ZL (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu khả năng sinh sản của gà lai ZL và khả năng sản xuất thịt của tổ hợp lai giữa gà trống mía với mái ZL (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu khả năng sinh sản của gà lai ZL và khả năng sản xuất thịt của tổ hợp lai giữa gà trống mía với mái ZL (Luận văn thạc sĩ)

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -

ĐINH THỊ THẢO

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA GÀ LAI ZL VÀ KHẢ NĂNG SẢN SUẤT THỊT CỦA TỔ HỢP LAI GIỮA GÀ TRỐNG MÍA VỚI MÁI ZL

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -

ĐINH THỊ THẢO

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA GÀ LAI ZL VÀ KHẢ NĂNG SẢN SUẤT THỊT CỦA TỔ HỢP LAI GIỮA GÀ TRỐNG MÍA VỚI MÁI ZL

Chuyên ngành: Chăn nuôi

Mã số: 60 62 01 05 LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Trần Thanh Vân

Đại học Thái Nguyên

2 TS Hồ Lam Sơn

Viện Chăn nuôi Quốc gia

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn

này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin đảm bảo rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã

được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi rõ

nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày tháng 9 năm 2017

Tác giả luận văn

Đinh Thị Thảo

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Nhân dịp hoàn thành bản luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban Giám Hiệu, Phòng Đào tạo, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi - Thú y Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên nơi tôi được đào tạo để trưởng thành cũng như tạo điều kiện thuận lợi tốt nhất cho tôi hoàn thành nhiệm vụ của mình Tôi xin cảm ơn các đơn vị sau đây đã giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này

Ban Giám Đốc Viện Chăn nuôi, các đơn vị trong Viện Chăn nuôi (Bộ môn Di truyền Giống, phòng Khoa học và HTQT, phòng Đào tạo và thông tin, Trung tâm thực nghiệm và bảo tồn vật nuôi…) nơi tôi công tác đã tạo mọi điều kiện về thời gian và đề tài cho tôi trong quá trình học tập, cũng như trong giai đoạn thực hiện đề tài

Để hoàn thành bản luận văn này tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc

tới PGS.TS Trần Thanh Vân, TS Hồ Lam Sơn là người thầy hướng dẫn về

khoa học, đã giúp đỡ tôi tận tình và có trách nhiệm trong quá trình nghiên cứu cũng như hoàn thiện bản luận văn

Xin chân thành cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong quá trình xây dựng đề cương và hoàn thành bản luận văn này Nhân dịp này, cho phép tôi được bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới gia đình đã tận tình giúp đỡ, động viên khích lệ để tôi vượt qua mọi khó khăn hoàn thành luận văn

Thái Nguyên, ngày tháng 12 năm 2017

Tác giả luận văn

Đinh Thị Thảo

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC BIỂU ĐỒ vii

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục đích đề tài 3

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 4

1.1.1 Cơ sở lý luận về đặc điểm ngoại hình 4

1.1.2 Bản chất di truyền của các tính trạng sản xuất 4

1.1.3 Cơ sở khoa học của công tác lai tạo 14

1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 19

1.2.1 Tình hình nghiên cứu và phát triển chăn nuôi gia cầm lai thế giới 19

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 21

1.3 Giới thiệu về gà thí nghiệm 23

CHƯƠNG2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

2.1 Đối tượng nghiên cứu 26

2.2 Địa điểm nghiên cứu 26

2.3 Thời gian nghiên cứu 26

2.4 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 26

2.4.1 Nội dung nghiên cứu 26

2.4.1.1 Nghiên cứu khả năng sản xuất của gà mái nền ZL 26

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu 27

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33

3.1 Kết quả nghiên cứu trên đàn gà mái nền ZL 33

Trang 6

3.1.1 Đặc điểm ngoại hình 33

3.1.2 Tỷ lệ nuôi sống 35

3.1.3 Khối lượng cơ thể gà nuôi thí nghiệm 37

3.1.4 Tuổi thành thục sinh dục 39

3.1.5 Tỷ lệ đẻ trứng qua các giai đoạn 41

3.1.6 Tiêu tốn thức ăn/1 gà chuyển lên đẻ 43

3.1.7 Tiêu tốn thức ăn/10 trứng 44

3.1.8 Tỷ lệ ấp nở 45

3.2 Kết quả nghiên cứu trên đàn gà thí nghiệm nuôi thịt MZL 46

3.2.1 Đặc điểm ngoại hình 46

3.2.2 Tỷ lệ nuôi sống 47

3.2.3 Khối lượng cơ thể gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 49

3.2.4 Sinh trưởng tuyệt đối 51

3.2.5 Sinh trưởng tương đối 53

3.2.6 Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng 54

3.2.7 Một số chỉ tiêu giết mổ của gà thí nghiệm 56

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 58

TÀI LIỆU THAM KHẢO 59

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Sơ đồ thí nghiệm 2.1 Bố trí thí nghiệm công thức lai 2 máu (mái nền) 27

Bảng 2.2 Chế độ chăm sóc và nuôi dưỡng gà đẻ 28

Bảng 2.3 Chế độ dinh dưỡng gà đẻ 28

Sơ đồ thí nghiệm 2.4 Phương thức nuôi gà lai 3 máu (gà thương phẩm) 30

Bảng 2.5 Chế độ chăm sóc và nuôi dưỡng gà thịt 30

Bảng 2.6 Chế độ dinh dưỡng gà thịt 31

Bảng 3.1 Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm giai đoạn 0 - 20 tuần (%) 35

Bảng 3.2 Khối lượng cơ thể của gà thí nghiệm (0-20 tuần tuổi) (g) 37

Bảng 3.3 Một số chỉ tiêu về thành thục sinh dục của gà thí nghiệm 40

Bảng 3.4 Tỷ lệ đẻ của đàn gà thí nghiệm (%) 41

Bảng 3.5 Tiêu tốn thức ăn/1 gà chuyển đẻ (kg) 43

Bảng 3.6 Tiêu tốn thức ăn/10 trứng (kg) 45

Bảng 3.7 Một số chỉ tiêu ấp nở của gà thí nghiệm 46

Bảng 3.8 Tỷ lệ nuôi sống (%) 48

Bảng 3.9 Khối lượng cơ thể (g) 50

Bảng 3.10 Sinh trưởng tuyệt đối của gà thịt (g/con/ngày) 51

Bảng 3.11 Sinh trưởng tương đối của gà thịt (%) 53

Bảng 3.12 Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng (kg) 55

Bảng 3.13 Khảo sát một số chỉ tiêu thành phần và tỷ lệ thân thịt của gà thí nghiệm 57

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Hình 3.1 Ảnh gà ZL 1 ngày tuối 33

Hình 3.2 Ảnh gà ZL 84 ngày tuồi 34

Hình 3.3 Đồ thị tỷ lệ đẻ của gà thí nghiệm 42

Hình 3.4 Ảnh gà thịt MZL lúc 15 tuần tuổi 47

Hình 3.5 Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của gà thịt thí nghiệm 52

Hình 3.6 Đồ thị sinh trưởng tương đối của gà thịt 54

Hình 3.7 Biểu đồ tiêu tốn thức ăn cộng dồn/kg tăng khối lượng 56

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Chăn nuôi gà nói riêng và chăn nuôi gia cầm nói chung là nghề sản xuất truyền thống lâu đời và chiếm vị trí quan trọng trong tổng giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi nước ta Trong đó chăn nuôi gà lấy thịt có nhiều lợi thế hơn

so với chăn nuôi các gia súc khác như: Sinh trưởng nhanh hơn, số lượng đầu con nhiều, có thời gian nuôi ngắn và quay vòng vốn nhanh Hàng năm, chăn nuôi gia cầm cung cấp 18- 20 % tổng khối lượng thịt các loại, đứng thứ hai sau thịt lợn (thịt lợn chiếm vị trí số 1 với 75- 76 %) Bên cạnh đó chăn nuôi gia cầm cũng cung cấp nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng khá hoàn chỉnh đó là trứng gia cầm

Ngày 16 tháng 1 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số

10/2008/QĐ-TTg về việc “Phê duyệt chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm

2020”, theo đó, mục tiêu của chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020:

Tổng đàn gà tăng bình quân từ 2008 đến 2020 là 5 %/năm, đến năm 2020 tổng đàn gà đạt 300 triệu con; sản lượng thịt gà đạt 1.760 tấn, chiếm 32 % tổng sản lượng thịt xẻ các loại; sản lượng trứng đạt 14 tỷ quả, sản lượng thịt xẻ thuỷ cầm 293.000 tấn, cho người/năm đạt 3,0 kg Để đạt được mục tiêu trên, chăn nuôi

gà thịt ngày càng được đẩy mạnh và phát triển rộng khắp trong phạm vi cả nước từ thành phố, tỉnh, huyện, đến các hộ nông dân Trong xu thế phát triển kinh tế như hiện nay, đời sống của người dân được nâng lên thì nhu cầu sản phẩm gia cầm chất lượng cao nói chung và gà nói riêng ngày càng lớn.Trong thực tế, các giống gà quý hiếm chất lượng cao thường có năng suất thấp, vì vậy khó phát triển thành hàng hóa Do đó việc tạo ra các sản phẩm gia cầm lai vừa dễ nuôi, có chất lượng cao vừa nâng cao năng suất, đem lại hiệu quả kinh

tế cho người chăn nuôi, đáp ứng nhu cầu thị hiếu cho người tiêu dùng là cần thiết Mặt khác các giống gà thịt đó phải phát huy tốt tiềm năng về chăn nuôi trong điều kiện chăn thả và bán chăn thả với quy mô vừa và nhỏ ở nông hộ Việt Nam, thì chúng ta phải đặc biệt chú trọng tới công tác giống

Trang 11

Để giải quyết điều trên, cách nhanh nhất là áp dụng phương pháp lai tạo giữa các dòng thuần đã được chọn lọc để tận dụng triệt để ưu thế lai và những đặc điểm tốt của mỗi dòng bố mẹ

LV là giống kiêm dụng thịt trứng, gà có màu sắc lông đa dạng (vàng tuyền, vàng đốm đen, hoặc vàng nâu đốm hoa), sức đề kháng cao, khối lượng

gà thương phẩm (84 ngày tuổi) đạt 1,8-1,9 kg, chất lượng thịt thơm và mềm Tuy nhiên còn hạn chế về khả năng sinh sản, năng suất trứng/mái/72 tuần tuổi (160-165 quả), tiêu tốn thức ăn/10 trứng cao (2,6-2,8 kg), (Nguyễn Huy Đạt

và cs, 2000) [5]

Gà VCN-Z15 là giống gà kiêm dụng trứng thịt, được nhập vào nước ta

từ tháng 8 năm 2007 (từ dự án DA 15-99) Đây là giống gà có tầm vóc trung bình, sức sống cao, tỷ lệ nuôi sống giai đoạn (0 - 19 TT) đạt 97,5 - 98,0 %,

có năng suất trứng khá cao 180-185 quả/mái/72 tuần tuổi Tiêu tốn thức ăn/10 trứng thấp (2,1-2,25 kg), khối lượng trứng đạt từ 53,0-53,7 g, tỷ lệ lòng đỏ đạt 29,5 % Nghiên cứu qua 2 thế hệ cho thấy gà VCN-Z15 có ngoại hình đồng nhất ở con trống và con mái, gà trống đều có màu lông nâu đỏ, cườm cổ vàng, lông bụng đen, lông đuôi xanh đen, con mái đều có lông màu nâu đất, cườm cổ vàng đốm đen, cả gà trống và gà mái có chân màu vàng, mào đơn (Vũ Ngọc Sơn, Phạm Công Thiếu, 2010 [33]) Đây là giống gà lông màu có ngoại hình đẹp, chất lượng thịt, trứng thơm ngon Nhược điểm

là tốc độ sinh trưởng chậm

Gà Mía trống có thân hình to, dài hình chữ nhật, lông chủ yếu màu mận chín, còn lại màu đen, chân hơi cao, da chân màu vàng có vảy đỏ chạy dọc hai bên, mào đơn, tích tai chảy, khối lượng lúc 15 tuần tuổi đạt 2175 g/con Gà mái thân hình to, lông có màu lá chuối khô xám, da chân màu vàng nhạt khối lượng cơ thể lúc 15 tuần tuổi đạt 1840 g/con, sản lượng trứng đẻ trong 12 tháng đạt 80 quả/mái

Trên nguồn nguyên liệu đó, phân tích tính năng của mỗi giống và dựa trên nguyên lý cơ bản của lai tạo giống, Viện Chăn nuôi quyết định cho

Trang 12

phép thực hiện đề tài Nghiên cứu sử dụng nguồn gen gà LV và gà VCN-Z15,

gà Mía tạo gà thịt thương phẩm lai 3 máu có năng suất và chất lượng cao

(1/2016-12/2018) Để có các số liệu khoa học phục vụ cho đề tài, phục vụ công tác bảo tồn, khai thác nguồn gen nguyên liệu cũng như hoạch định các chính sách phát triển chăn nuôi địa phương, việc nghiên cứu các tổ hợp lai trên là cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao là nhằm phát huy ưu điểm và khắc phục nhược điểm của 3 giống gà trên để mang lại hiệu quả thiết thực Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tham gia tiến hành đề tài:

“Nghiên cứu khả năng sinh sản của gà lai ZL và khả năng sản xuất thịt của tổ hợp lai giữa gà trống Mía với gà mái ZL”

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa khoa học: Đề tài cung cấp các số liệu, thông tin khoa học về đặc

điểm ngoại hình, khả năng sản xuất của con gà mái nền 2 máu ZL và khả năng cho thịt của gà thương phẩm 3 máu MZL

Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả đề góp phần thúc đẩy sản xuất chăn nuôi quy

mô nông hộ tại các địa phương trong cả nước

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở lý luận của đề tài

1.1.1 Cơ sở lý luận về đặc điểm ngoại hình

Hình dáng, kích thước cơ thể: Tuỳ mục đích sử dụng, các dòng gà được

chia thành 3 loại hình: hướng trứng, hướng thịt và hướng kiêm dụng Gà hướng trứng có thân hình thon nhỏ, cổ dài, nhẹ cân, dáng nhanh nhẹn Gà hướng thịt có thân hình to thô, cổ dài trung bình, ngực nở, dáng đi nặng nề, khối lượng lớn Gà kiêm dụng có hình dáng trung gian, cơ thể có hướng kiêm dụng trứng thịt hoặc thịt trứng

Đầu: cấu tạo xương đầu được coi như có độ tin cậy cao nhất trong việc

đánh giá đầu gia cầm Da mặt và các phần phụ của đầu cho phép rút ra kết luận về sự phát triển của mô đỡ và mô liên kết

Mào: Gà đa dạng về hình dạng, kích thước và màu sắc đặc trưng cho

từng giống gà Mào và mào dưới thuộc về các đặc điểm sinh dục phụ, khi buồng trứng hoạt động bình thường thì mào lớn chứa nhiều máu Khi thay lông hoạc bị bệnh thuộc tuyến sinh dục sẽ tạm thời ngừng trệ sự cung cấp máu Như vậy, kích thước da đầu bị giảm và màu sắc bị kém đi

Mỏ: Mỏ chắc chắn và ngắn Gà có mỏ dài và mảnh không có khả năng

sản xuất cao

Lông: Lông là một dẫn xuất của da, thể hiện đặc điểm di truyền của giống

và có ý nghĩa quan trọng trong việc phân loại Tốc độ mọc lông là sự biểu hiện khả năng mọc lông sớm hay muộn, có thể có quan hệ mật thiết với cường độ sinh trưởng của gia cầm

Chân: Những gà giống tốt phải có chân chắc chắn, nhưng không thô

Đặc điểm chân cao có liên quan tới khả năng cho thịt thấp và phát dục chậm (Brandsch và Biilchel, 1978 [3])

1.1.2 Bản chất di truyền của các tính trạng sản xuất

Khi nghiên cứu các tính trạng về tính năng sản xuất của gia cầm được nuôi dưỡng trong điều kiện cụ thể, thực chất là nghiên cứu các đặc điểm di truyền số lượng và ảnh hưởng của những tác động môi trường lên các tính

Trang 14

trạng đó Hầu hết các tính trạng về năng suất của vật nuôi như sinh trưởng, sinh sản, tốc độ mọc lông đều là các tính trạng số lượng Cơ sở di truyền của tính trạng số lượng đều do các gen nằm trên nhiễm sắc thể quy định Nguyễn Ân và cs (1983) [1] cho rằng các tính trạng sản xuất là các tính trạng số lượng, thường là các tính trạng đo lường được như khối lượng cơ thể, kích thước các chiều đo, sản lượng trứng, khối lượng trứng

Các tính trạng số lượng thường bị chi phối bởi nhiều gen, các gen này hoạt động theo 3 phương thức

- Cộng gộp (A) hiệu ứng tích lũy của từng gen;

- Trội (D) hiệu ứng tương tác giữa các gen trong cùng một lô cut;

- Át gen (I) hiệu ứng do tương tác giữa các gen không cùng một lo cut; Hiệu ứng cộng gộp A là các giá trị thông thường có thể tính toán được,

có ý nghĩa trong chọn lọc nhân thuần

Hiệu ứng trội D và át gen I là những hiệu ứng không cộng tính và là giá trị giống đặc biệt (special breeding value) có y nghĩa đặc biệt trong các tổ hợp lai Ở các tính trạng số lượng giá trị kiểu hình cũng do giá trị kiểu gen (kiểu di truyền) và tác động của môi trường quy định, nhưng giá trị kiểu gen của tính trạng số lượng do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ (minor gen) cấu tạo thành Đó là các gen mà hiệu ứng riêng biệt của từng gen thì rất nhỏ nhưng tập hợp lại sẽ ảnh hưởng rất rõ rệt tới tính trạng nghiên cứu, đặc biệt là tính trạng sinh sản (Nguyễn Văn Thiện, 1995 [34])

Khác với các tính trạng chất lượng, tính trạng số lượng chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các yếu tố của ngoại cảnh Tuy các điều kiện bên ngoài không thể làm thay đổi cấu trúc di truyền, nhưng nó có tác động làm phát huy hoặc kìm hãm việc biểu hiện các hoạt động của các gen Các tính trạng số lượng được quy định bởi kiểu gen và chịu ảnh hưởng nhiều của điều kiện ngoại cảnh, mối tương quan đó được biểu thị như sau: P = G + E

Trong đó:

P : là giá trị kiểu hình (phenolypic value),

G : là giá trị kiểu gen (genotypic value),

E : là sai lệch môi trường (environmental deviation)

Trang 15

Giá trị kiểu gen (G) hoạt động theo 3 phương thức : cộng gộp, trội và

át gen Người ta đã biểu thị kiểu di truyền (G) bằng công thức sau : G = A+

D + I ;

Trong đó :

G: là giá trị kiểu gen (genotypic value),

A: là giá trị cộng gộp (additive value),

D: là giá trị sai lệch trội (dominance deviation value),

I: là giá trị sai lệch tương tác (Interaction deviation value)

Ngoài ra các tính trạng số lượng còn chịu ảnh hưởng nhiều của môi trường, có 2 loại môi trường chính:

- Sai lệch môi trường chung (Eg) : Là sai lệch do các yếu tố môi trường tác động lên toàn bộ các cá thể trong nhóm vật nuôi, loại yếu tố này có tính chất thường xuyên như : thức ăn, khí hậu

- Sai lệch môi trường riêng (Es) : Là sai lệch do các yếu tố môi trường tác động riêng rẽ lên từng cá thể trong nhóm vật nuôi, hoặc ở giai đoạn nhất định trong cuộc đời con vật Loại này có tính chất không thường xuyên Nếu

bỏ qua mối tương tác giữa di truyền và ngoại cảnh thì quan hệ của kiểu hình (P), kiểu gen (G) và môi trường (E) của một cá thể được xác định bởi kiểu gen có từ hai locut trở lên có giá trị là :

P = G + E Trong đó: G = A + D + I ; E = Eg + Es;

P = A + D + I + Eg + Es

Trên cơ sở đó cho thấy các giống gia cầm cũng như các sinh vật khác, con cái đều nhận được từ bố mẹ một số gen quy định tính trạng số lượng nào đó Tính trạng đó được xem như nhận từ bố mẹ một khả năng di truyền song khả năng đó có phát huy được hay không còn phụ thuộc và môi trường sống như chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý́ Tương tác giữa kiểu di truyền và môi trường là rất quan trọng đối với ngành chăn nuôi gia cầm Do đó việc chọn lọc nâng cao năng suất một tính trạng nào đó hoặc lai tạo ra một giống mới, việc nghiên cứu di truyền các tính trạng số lượng

là vấn đề hết sức cần thiết

Trang 16

1.1.2.1 Tính trạng sinh sản

a Cơ sở khoa học của năng suất trứng

Các nhà phôi thai học cho rằng trứng gia cầm nói chung và trứng gà nói riêng là một tế bào sinh sản khổng lồ gồm lòng đỏ, lòng trắng, màng vỏ và vỏ Buồng trứng có chức năng tạo thành lòng đỏ, còn các thành phần khác như lòng trắng, màng vỏ và vỏ do ống trứng tạo nên Nhiều công trình nghiên cứu

đã khẳng định ở gà mái, trong quá trình phát triển phôi 2 bên phải, trái của gà mái đều có buồng trứng, nhưng sau khi nở thì buồng trứng bên phải tiêu biến, chỉ còn lại buồng trứng bên trái (Vương Đống, 1968 [12])

Số lượng tế bào trứng theo một số tác giả có khác nhau Pearl và Schoppe (1921) đếm được 1906 trứng bằng mắt thường và 12000 trứng bằng kính hiển vi Theo Jull (1939 - 1948) thì cho rằng ở gà mái thời kỳ đẻ trứng có thể đếm được 3600 trứng, trong khi đó Hutt (1978) [16] đã đếm và cho biết số lượng tế bào trứng của gà mái có thể lên tới hàng triệu tế bào, còn Frege (1978) cho rằng tế bào trứng lúc bắt đầu đẻ là 900 - 3500 ở gà mái, 1500 ở vịt mái, nhưng chỉ có một số lượng rất hạn chế được chín và rụng (dẫn theo Lê Thị Nga, 2005) [27]

Trong thời gian phát triển, lúc đầu các tế bào trứng được bao bọc bởi một tầng tế bào, không có liên kết gì với biểu bì phát sinh Tầng tế bào này phát triển trở thành nhiều tầng, sự tạo thêm sẽ tiến tới bề mặt buồng trứng, cấu tạo này gọi là follicun, bên trong follicun có một khoang hở chứa đầy một chất dịch Bề ngoài follicun trông giống như một cái túi

Trong thời kì đẻ trứng nhiều, follicun trở nên chín dần làm thay đổi hình dạng buồng trứng trông giống như một “chùm nho” Sau thời kì đẻ trứng, buồng trứng trở lại hình dạng ban đầu, các follicun chín vỡ ra, tế bào trứng chín ra ngoài cùng với dịch follicun và rơi vào phễu ống dẫn trứng, sự rụng trứng đầu tiên báo hiệu sự thành thục sinh dục

Theo Melekhin và Niagridin (1989) dẫn theo Ngô Giản Luyện, 1994 [22] cho rằng, hầu hết vật chất lòng đỏ trứng gà được tạo thành trước khi đẻ trứng 9 -10 ngày Tốc độ sinh trưởng của lòng đỏ từ 1 - 3 ngày đầu rất chậm, khi đường kính của lòng đỏ đạt tới 6mm, bắt đầu thời kì sinh trưởng cực nhanh, đường kính có thể tăng 4 mm trong 24 giờ, cho tới khi đạt đường kính tối đa là 40 mm Tốc độ sinh trưởng của lòng đỏ không tương quan với cường

Trang 17

độ đẻ trứng Quá trình hình thành trứng và rụng trứng là một quá trình sinh lý phức tạp, do sự điều khiển của hoocmon Thời kỳ từ lúc đẻ quả trứng đến khi rụng trứng tiếp theo kéo dài 15 - 75 phút, sự rụng trứng ở gà xảy ra 1 lần trong ngày, thường là 30 phút sau khi đẻ trứng Trường hợp nếu trứng đẻ sau

16 giờ thì sự rụng trứng sẽ chuyển đến đầu ngày hôm sau Trứng bị giữ lại trong ống dẫn trứng làm ngừng sự rụng trứng tiếp theo Nếu lấy trứng ra khỏi

tử cung thì cũng không làm tăng nhanh sự rụng trứng được

Khi tế bào trứng chín, rụng, trứng rơi vào phễu và được đẩy xuống ống dẫn trứng, đây là một ống dài có nhiều khúc cuộn, bên trong có tầng cơ, trên thành ống có lớp màng nhầy lót bên trong, trên bề mặt lớp màng nhầy có tiêm mao rung động Ống dẫn trứng có nhiều phần khác nhau: Phễu, phần tạo lòng trắng, phần eo, tử cung và âm đạo Chúng có chức năng tiết ra lòng trắng đặc, loãng, màng vỏ, vỏ trứng và lớp keo mỡ bao bọc bên ngoài quả trứng Thời gian trứng lưu lại trong ống dẫn trứng từ 20 - 24 giờ Khi trứng rụng và qua các phần của ống dẫn trứng tới tử cung, đầu nhọn quả trứng bao giờ cũng đi trước nhưng khi nằm trong tử cung quả trứng được xoay một góc 1800, do vậy trong điều kiện bình thường gà đẻ đầu tù của quả trứng ra trước

b Tuổi đẻ quả trứng đầu

Nhiều tác giả khi nghiên cứu về tuổi đẻ quả trứng đầu cho rằng, đây là chỉ tiêu đánh giá sự thành thục sinh dục, cũng được coi là một yếu tố cấu thành năng suất trứng Đối với từng cá thể, tuổi đẻ quả trứng đầu tiên là số ngày tuổi kể từ khi nở ra đến khi đẻ quả trứng đầu Trong thực tế sản xuất tuổi

đẻ quả trứng đầu của một đàn (quần thể) được xác định khi có 5 % số cá thể trong đàn đã đẻ (Pingel và Jeroch, 1980 [66]) Guideil, Lerner và một số tác giả khác cho rằng có các gen trên nhiễm sắc thể tính biệt cùng tham gia hình thành tính trạng này (dẫn theo Khavecman, 1972 [17]) Theo Trần Đình Miên

và Nguyễn Kim Đường (1992) [25] thì có ít nhất hai cặp gen cùng quy định tuổi đẻ quả trứng đầu, cặp thứ nhất gen E và e liên kết với tính biệt, cặp thứ hai là E’ và e’ Tuổi đẻ và năng suất trứng có mối tương quan nghịch, giữa tuổi đẻ và khối lượng trứng lại có tương quan thuận Tuổi đẻ quả trứng đầu phụ thuộc vào bản chất di truyền, chế độ nuôi dưỡng, các yếu tố môi trường Đặc biệt là thời gian chiếu sáng sẽ thúc đẩy gia cầm thành thục sinh dục, thời gian chiếu sáng dài sẽ thúc đẩy gia cầm đẻ sớm (Khavecman, 1972 [17])

Trang 18

Dickerson (1952) [55] đã tính toán hệ số tương quan di truyền giữa khối lượng cơ thể gà chưa trưởng thành với sản lượng trứng thường có giá trị âm (-0,21 đến -0,16) Còn Nicola và cs tính hệ số tương quan di truyền giữa tuổi thành thục với sản lượng trứng là 0.11 (dẫn theo Trần Long, 1994 [21])

c Năng suất trứng và tỷ lệ đẻ

Năng suất trứng là số lượng trứng đẻ ra của một gia cầm mái trong một đơn vị thời gian Đối với gia cầm đẻ trứng thì đây là chỉ tiêu năng suất quan trọng nhất, nó phản ánh trạng thái sinh lý và khả năng hoạt động của hệ sinh dục Năng suất trứng là một tính trạng số lượng nên nó phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh và cũng phụ thuộc nhiều vào loài, giống, hướng sản xuất, mùa vụ, điều kiện dinh dưỡng, chăm sóc và đặc điểm của cá thể

Hutt (1978) [16] đã đề nghị tính sản lượng trứng từ khi gia cầm đẻ quả trứng đầu tiên, còn theo Brandsch và Buelchel (1978) [3] cho rằng sản lượng trứng được tính đến 500 ngày tuổi, cũng theo tác giả trên thì sản lượng trứng còn được tính theo năm sinh học 365 ngày, kể từ khi đẻ quả trứng đầu tiên Trong thời gian gần đây, sản lượng trứng được tính theo tuần tuổi Các hãng gia cẩm nổi tiếng trên thế giới như Shaver (Canada), Lohmann (Đức) , sản lượng trứng được tính phổ biến nhất đến 70 và 80 tuần tuổi

Năng suất trứng là một tính trạng số lượng có mối tương quan nghịch chặt chẽ với tốc độ sinh trưởng sớm, do đó trong chăn nuôi gà sinh sản người

ta thường quan tâm đến việc cho gà ăn hạn chế trong các giai đoạn cuối gà con, giai đoạn gà dò - hậu bị để đảm bảo cho năng suất trứng cao trong giai đoạn đẻ trứng Theo Bùi Thị Oanh (1996) [29] thì năng suất trứng còn phụ thuộc nhiều vào số lượng và chất lượng thức ăn, đặc biệt là mức năng lượng trao đổi, hàm lượng protein và các acid amin thiết yếu trong khẩu phần ăn của gia cầm sinh sản Năng suất trứng có hệ số di truyền không cao, nhưng lại dao động lớn Theo Nguyễn Văn Thiện (1995) [34] cho biết hệ số di truyền năng suất trứng của gà là 0,12 - 0,3 Đối với tính trạng năng suất trứng, để cải thiện năng suất cần áp dụng phương pháp lai, kết hợp với chọn lọc cá thể, nếu chỉ

áp dụng chọn lọc thì việc nâng cao năng suất trứng ít có hiệu quả

Tỷ lệ đẻ và năng suất trứng có liên quan chặt chẽ với nhau, tỷ lệ đẻ trứng được tính theo tuần, tháng, năm, đó cũng thể hiện cường độ đẻ trứng là sức đẻ trứng trong một thời gian Cường độ đẻ trứng phụ thuộc và độ dài của chu kỳ

Trang 19

đẻ trứng, chu kỳ đẻ trứng chính là thời gian gia cầm đẻ liên tục không bỏ ngắt quãng còn được gọi là trật đẻ, Pingel và Jeroch, 1980 [66])

Cường độ đẻ trứng có tương quan dương và chặt chẽ với sản lượng trứng, đây chính là tính trạng có hệ số di truyền cao, thường đượng sử dụng

để chọn lọc nâng cao năng suất trứng Wegner (1980) cho biết hệ số di truyền

về cường độ đẻ trứng của gà vào loại cao h2 = 0,66 (dẫn theo )

Cường độ đẻ trứng có tương quan rất chặt chẽ với năng suất trứng của cả năm, thường người ta dựa theo các số liệu của trật đẻ trứng những tháng đầu tiên và thường theo dõi sản lượng trứng từ lúc bắt đầu đẻ đến

36 hoặc 38 tuần tuổi đẻ đánh giá sức đẻ trứng của cả năm Hutt (1978) [16] đã áp dụng ổ đẻ có cửa sập tự động để kiểm tra sản lượng trứng cả năm có tương quan di truyền chặt chẽ, với hệ số di truyền của tính trạng này từ 0,7 đến 0,9

Những yếu tố ảnh hưởng đến sức sản xuất trứng

Theo Đặng Hữu Lanh và cs (1999) [20], Nguyễn Trọng Thiện (2008) [36], sức sản xuất trứng chịu sự chi phối của các tập hợp gen khác nhau; các gen quy định tính trạng này nằm trên nhiễm sắc thể thường và bị hạn chế bởi tính biệt Sản lượng trứng được truyền lại cho đời sau từ bố mẹ, Hayer và cs (1994) cho rằng sức đẻ trứng của gà mái chịu sự ảnh hưởng của 5 yếu tố di truyền cá thể là: Thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng sinh học, cường độ đẻ, tính nghỉ đẻ mùa đông, tính ấp bóng và tuổi thành thục sinh dục

1.1.2.2 Tính trạng sinh trưởng

a Khả năng sinh trưởng

Trong chăn nuôi động vật , sự sinh trưởng được xác định bằng sự tăng lên về khối lượng , kích thước cơ thể qua những giai đoạn nhất định, thực chất của sự phát triển đó là sự tăng lên về số lượng protein và khoáng chất (dẫn theo Trần Thị Mai Phương, 2004 [30])

Sinh trưởng là quá trình sinh học rất sinh động, việc xác định toàn bộ quá trình sinh trưởng không phải là việc dễ dàng, các nhà chọn giống thường

sử dụng các phương pháp đơn giản và thực tế đó là xác định khối lượng cơ thể, tốc độ lớn và cấu tạo cơ thể

Trang 20

Đánh giá khả năng sinh trưởng, người ta còn sử dụng khái niệm sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối

- Sinh trưởng tuyệt đối là sự tăng lên về khối lượng, kích thước và thể tích cơ thể trong khoảng thời gian giữa 2 lần khảo sát (TCVN.2.39, 1977) Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng Parabon Sinh trưởng tuyệt đối thường được tính bằng gam/ con/ ngày hoặc gam/ con/ tuần

- Sinh trưởng tương đối là tỷ lệ phần trăm (%) tăng lên của khối lượng, kích thước và thể tích lúc kết thúc khảo sát so với lúc đầu khảo sát (TCVN.2.40,1977) Sinh trưởng tương đối giảm dần qua các tuần tuổi, Đơn vị tính là %, đồ thị có dạng Hyperbon

b Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của gia cầm

+ Ảnh hưởng của giống:

Theo Godfrey và Joap (1952) [57] sự di truyền về khối lượng cơ thể do

15 cặp gen tham gia trong đó có ít nhất một gen sinh trưởng liên kết với tính biệt (nằm trên nhiễm sắc thể X) vì vậy có sự khác nhau về khối lượng cơ thể giữa con mái và con trống trong cùng một giống, gà trống nặng hơn gà mái từ 24-32 % Ở gà, các giống gà hướng trứng nhẹ hơn các giống gà hướng thịt 2 lần và giống gà kiêm dụng 1,3-1,7 lần

Boshhlebao và cộng tác viên (1972), (dẫn theo Đào Văn Khanh 2001 [18]) thì cho rằng sự tồn tại của các gen hoặc các nhóm gen trong các dòng, giống gia súc, gia cầm rất khác nhau nên dòng, giống khác nhau có tốc độ sinh trưởng không giống nhau Lenner và Asmundson (1938) [63] đã so sánh tốc độ sinh trưởng của các giống gà Leghorn trắng và Plymouth Rock tới 24 tuần tuổi cho rằng gà Plymouth rock sinh trưởng nhanh hơn gà Leghorn từ 3-

6 tuần tuổi và sau đó không có sự khác nhau Nguyễn Mạnh Hùng và cs (1994) [14] cho biết sự khác nhau về khối lượng giữa các giống gia cầm rất lớn, giống gà kiêm dụng nặng hơn gà hướng trứng khoảng 500- 700 g (13-30

%) Chọn lọc tính trạng sinh trưởng là do di truyền Jaap và Moris (1973) [58]

đã phát hiện những sai khác trong cùng một giống và cường độ sinh trưởng trước 8 tuần ở gà con của các bố mẹ có sự khác nhau Kết quả nghiên cứu Nguyễn Đức Hưng và Nguyễn Đăng Vang (1997) [15] cũng khẳng định các giống gia cầm khác nhau có năng suất khác nhau

Trang 21

Qua đó ta thấy khối lượng cơ thể, tốc độ sinh trưởng của các dòng, giống gia cầm chịu ảnh hưởng lớn của các yếu tố di truyền Trong thực tế sản xuất cũng như trong nghiên cứu, để xác định mức độ ảnh hưởng của phần di truyền tới năng suất của gia súc, gia cầm người ta xác định hệ số di truyền của tính trạng đối với quần thể gia cầm cụ thể để xây dựng chương trình công tác giống phù hợp Theo Nguyễn Ân và cs (1983) [1] thì hệ số di truyền khối lượng cơ thể 3 tháng tuổi là 0,26 -0,5, Cook và cs (1956) [54] xác định hệ số

di truyền khối lượng cơ thể gà lúc 6 tuần tuổi là 0,5 Dẫn theo tài liệu của Chambers (1990) [53] thì Sigel và Kiney đã tổng kết tương đối hoàn chỉnh hệ

số di truyền tốc độ sinh trưởng là 0,4 - 0,5; Kushner (1978) [19] xác định hệ

số di truyền khối lượng cơ thể gà 1 tháng tuổi là 0,33, gà 2 tháng tuổi là 0,55

và gà trưởng thành là 0,43 Tác giả Trần Long (1994) [21] nghiên cứu trên 3 dòng gà V1, V3, V5 thuộc giống HB85 đã công bố: Dòng V1 gà trống hD2 = 0,321 gà mái hD2 = 0.394 ; V3 gà trống hS+D2 = 0,275, gà mái hS+D2 = 0,26; V5

gà trống hS+D2 = 0,309 và gà mái hS+D2 = 0,363

Tóm lại ở các lứa tuổi khác nhau,các dòng gà khác nhau có hệ số di truyền khác nhau và biến động trong khoảng 0.26 - 0.60 Ở các quần thể càng được chọn lọc nhiều thì hệ số di truyền thấp và ngược lại

+ Ảnh hưởng của tính biệt đến sinh trưởng

Các loại gia cầm khác nhau về tính biệt thì có tốc độ sinh trưởng khác nhau, con trống lớn nhanh hơn con mái Theo Phùng Đức Tiến (1996) [39] thì Jull cho rằng gà trống có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn gà mái 24 - 32 % Tác giả cũng cho biết sự sai khác này do gen liên kết với tính biệt, những gen ở gà trống (2 nhiễm sắc thể tính biệt) hoạt động mạnh hơn ở gà mái (1 nhiễm sắc thể tính biệt)

Nort và Bell (1990) [65] cho biết khối lượng gà con 01 ngày tuổi tương quan tương đương với khối lượng trứng giống đưa vào ấp, song không ảnh hưởng đến khối lượng cơ thể gà lúc trưởng thành và cường độ sinh trưởng ở 4 tuần tuổi Lúc mới nở gà trống tăng hơn gà mái 1 %, tuổi càng tăng thì sự khác nhau càng lớn , ở 2 tuần tuổi hơn 5 %, 3 tuần tuổi hơn 11 %,8 tuần tuổi hơn 27 %

Trang 22

+ Ảnh hưởng của tốc độ mọc lông

Những kết quả nhiên cứu của nhiều nhà khoa học xác định trong cùng một gióng, cùng tính biệt ở gà có tốc độ mọc lông nhanh cũng có tốc độ sinh trưởng ,phát tiển tốt hơn Kushner (1978) [19] cho rằng tốc độ mọc lông có quan hệ chặt chẽ với tốc độ sinh trưởng,thường gà lớn nhanh thì có tốc độ mọc lông nhanh Hayer và cs (1970) đã xác định trong cùng một giống thì gà mái mọc lông đều hơn gà trống và tác giả cho rằng ảnh hưởng của hoocmon

có tác dụng ngược chiều với gen liên kết tính biệt quy định tốc độ mọc lông Dunington (1987) [56] cho rằng alen quy định mọc lông nhanh phù hợp với tăng khối lượng cao

+ Ảnh hưởng của giá trị dinh dưỡng trong thức ăn đến tốc độ sinh trưởng Gia cầm sử dụng thức ăn nhằm đảm bảo các hoạt động duy trì cơ thể và sản xuất (sinh trưởng, sản xuất trứng) Năng lượng và protein là hai yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất trong khẩu phần thức ăn của gà Ngoài ra trong dinh dưỡng gia cầm các thành phần như acid béo, khoáng, vitamin và nước cũng không thể thiếu được Khoáng vô cơ là một thành phần trong khẩu phần

ăn dưới dạng canxi (Ca), photpho (P), natri (Na), kali (K), mang gan (Mn)và clo (CL), những nguyên tố này có chức năng khác nhau, đặc biệt là ba nguyên

tố Ca, P và Na có vai trò trong việc hình thành xương , vỏ trứng, điều khiển chức năng thẩm thấu của cơ thể và hoạt động như những chất bổ trợ của Enzyme Đồng (Cu), Iod (I), sắt (Fe), Mangan (Mn), Selen (Se) là những yếu

tố vi lượng Vitamin là hợp chất hữu cơ được chia thành hai nhóm; nhóm hòa tan trong nước và nhóm hòa tan trong dầu mà gia cầm chỉ cần một lượng nhỏ trong khẩu phần

Trang 23

+ Năng suất thịt

Năng suất thịt hay tỷ lệ thịt xẻ chính là tỷ lệ phần trăm của khối lượng thân thịt so với khối lượng sống của gia cầm Ở gà thịt thường tính tỷ lệ thịt đùi, thịt ngực và mỡ bụng Mối tương quan giữa khối lượng sống và khối lượng thịt xẻ là khá cao (0,9), còn giữa khối lượng sống và mỡ bụng thấp hơn (0,2 -0,5) (Nguyễn Thị Thúy Mỵ, 1997 [26])

Năng suất thịt phụ thuộc vào dòng, giống, tính biệt, chế độ dinh dưỡng, chăm sóc nuôi dưỡng và quy trình vệ sinh thú y

Chất lượng thịt còn được đánh giá thông qua độ tuổi, tính biệt, chế độ nuôi dưỡng và điều khiện nuôi dưỡng (Sonaiya và cs, 1990 [67])

Các tác giả Touraille và cs (1981) [69], Yamashita và cs (1976) [70] cho rằng giảm tuổi giết mổ rõ ràng sẽ làm thay đổi đặc điểm cảm quan của thịt Tuy nhiên người tiêu dùng đòi hỏi và thích những sản phẩm gia cầm phù hợp với vùng địa lý và tập quán của họ, đó là điều kiện chú ý, tuy nhiên cần thiết phải tính toán giữa chất lượng và giá thành sản phẩm

1.1.3 Cơ sở khoa học của công tác lai tạo

1.1.3.1 Khái niệm về lai tạo giống

Lai giữa hai dòng cùng giống hoặc hai giống với nhau tạo ra con lai thương phẩm, khai thác sản phẩm lai có năng suất cao là nhờ ưu thế lai (ƯTL) Con lai có thể mang những đặc tính trội của giống bố, mẹ hoặc cũng

có thể phối hợp được những đặc tính của hai giống đó

Muốn nâng cao một tính trạng, chọn lọc là phương pháp tốt nhất vì dị hợp

tử giảm, đồng hợp tử sẽ tăng lên (Nguyễn Ân và cs, 1983 [1]) Song, sau một quá trình chọn lọc, tiến bộ di truyền sẽ giảm, tiến sát tiệm cận dẫn đến năng suất không được cải tiến Trong trường hợp đó, lai tạo là biện pháp duy nhất để nâng cao năng suất Song, phải chọn các dòng/giống có khả năng kết hợp tốt nhất với

Trang 24

nhau để khai thác ƯTL trong các cá thể lai Giangmisengu (1983) cho rằng, người ta có thể dùng phép lai giữa các loài, hay tạo ra những dòng đồng huyết và cho chúng lai với nhau Các tổ hợp lai không những chỉ tổng hợp được các ưu điểm của những dòng thuần mà còn đạt được hiệu quả cao vì có ƯTL, làm tăng năng suất 5 - 20 % so với trung bình bố mẹ chúng Rõ ràng, đây là sự ưu đãi của sinh học mà con người có thể nắm được qui luật của phương pháp lai này và biết cách tổ chức sản xuất, sử dụng các tổ hợp gia cầm lai tạo thành giữa các dòng/giống thuần là một thành công to lớn trong chăn nuôi

Hiện nay, nghiên cứu và sử dụng ưu thế lai trong sản xuất thực sự là đòn bẩy để nâng cao năng suất Sự biểu hiện ưu thế lai rất đa dạng, phụ thuộc vào bản chất di truyền từng cặp lai và điều kiện môi trường Muốn khai thác tốt

ưu thế lai cần phải có những hiểu biết cơ bản, những thử nghiệm nghiêm túc trong điều kiện cụ thể, đối với từng cặp lai cụ thể

+ Lai cải tiến

Phương pháp này thường dùng trong trường hợp mà một dòng, một giống tuy đã đạt được các tiêu chuẩn cần thiết nhưng vẫn còn thiếu một số đặc tính theo yêu cầu, nếu tiến hành chọn lọc để nâng cao năng suất rất lâu, khi dùng giống khác có ưu điểm hơn cho phối với giống hiện có để cải thiện tiềm năng di truyền Lai cải tiến còn gọi là lai pha máu đây là phương pháp lai trong đó dùng con đực của giống đi cải tiến cho giao phối với con cái của giống cần được cải tiến, sau đó dùng đực tốt nhất của đời lai thứ nhất phối với con cái của giống được cải tiến hoặc đực tốt của giống được cải tiến lai với cái của đời lai thứ nhất Tiếp đó các con lai cho tự giao (mang ¼ máu của giống cải tiến) hoặc cho giao phối thêm một nữa rồi mới chuyển sang tự giao (mang 1/8 máu của giống cải tiến)

+ Lai cải tạo

Phương pháp này được áp dụng khi cần cải tạo một số giống nào đó không đáp ứng được hiệu quả về kinh tế Trong phương pháp này thường dùng một số giống cao sản để tạo giống địa phương Khác với lai cải tiến phương pháp lai cải tạo dùng con đực liên tục cho đến khi đạt được mục tiêu mới dừng lại Thông thường quá trình lai tạo sẽ dừng ở đời III - V, đây cũng là phương pháp thường được sử dụng để tạo giống trong chăn nuôi gia cầm Tuy nhiên khi áp dụng phương pháp lai này cần chú ý tới điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng vì qua các đời lai năng suất của giống được cải thiện thì các nhu cầu khác cũng tăng lên

Trang 25

+ Lai kinh tế

Lai kinh tế là lai giữa hai cơ thể thuộc hai dòng khác nhau cùng giống, khác giống hoặc hai giống khác loài để sử dụng con lai F1 làm thương phẩm Không dùng con lai nuôi sinh sản hoặc làm giống, tuy nhiên khi cần thiết có thể dành lại một số con lai ưu tú để làm vật liệu lai tiếp Căn cứ vào số bố mẹ tham gia vào ghép lai và phương pháp sử dụng người ta chia thành lai kinh tế đơn giản và lai kinh tế phức tạp

Lai kinh tế đơn giản là phép lai chỉ sử dụng hai giống tham gia Ở ngay đời lai thứ nhất F1, tất cả đực, cái đều được sử dụng vào mục đích kinh tế (Nguyễn Hải Quân và cs, 1995 [31]) Phép lai này có ưu điểm là tiến hành đơn giản, chỉ cần hai giống tham gia và sử dụng ngay F1 làm thương phẩm nên được sử dụng khá rộng rãi trong chăn nuôi, làm tăng khả năng cho sản phẩm của vật nuôi Ở nước ta, lai kinh tế đơn giản được coi là biện pháp tích cực làm tăng khả năng cho thịt, trứng, nhằm tận dụng khả năng dễ nuôi, sức chống chịu cao của gà địa phương và khả năng lớn nhanh, sức đẻ cao, ấp nở tốt khối lượng trứng cao của gà nhập nội (Tạ An Bình, 1973) [2] Bùi Quang Tiến, Nguyễn Hoài Tao (1985) [37] đã sử dụng gà Rhode Island Red, gà Leghorn lai với gà Ri kết quả tạo ra gà lai có khối lượng cơ thể, sản lượng trứng, khối lượng trứng cao hơn gà Ri

Lai kinh tế phức tạp là phương pháp lai có từ 3 giống trở lên, ở phương pháp này người ta cho giao phối giữa đực và cái của hai giống khác nhau để tạo

ra F1 sau đó dùng cái lai F1 phối với con đực thuần chủng của giống thứ 3 để sản xuất ra con lai dùng vào các mục đích kinh tế khác nhau Lai kinh tế 3 giống lợi dụng triệt tiêu ưu thế ở cái F1 và ưu thế lai giữa 3 giống Ưu thế lai trong trường hợp lai kinh tế giữa 3 giống biểu hiện rõ đối với các tính trạng có hệ số di truyền thấp, xét tất cả các chỉ tiêu thì lai kinh tế 3 giống làm tăng thành tích của con lai lên 10 % (Nguyễn Hải Quân và cs, 1995 [31]) Lai kinh tế phức tạp còn là phép lai giữa 3 - 4 dòng trong cùng một giống thường sử dụng dòng ông nội x bà nội tạo dòng bố và dòng ông ngoại x bà ngoại tạo dòng mẹ , sau đó cho dòng bố lai với dòng mẹ tạo con lai thương phẩm Phép lai này được thể hiện ở các giống nhập nội hướng trứng như Goldline 54, ISA Brown, Hyline…, gà hướng thịt có BE88, AA, Cobb 500, Ross 308 , con lai được tạo ra có năng suất cao thường vượt hẳn các dòng thuần

Trang 26

1.1.3.2 Cơ sở khoa học của chọn lựa đối tượng đưa vào lai tạo

Thực chất của công tác lai, chọn tạo giống mới là khai thác các đặc điểm tốt từ các giống, các dòng để tạo ra các con lai, các giống mới có thể năng suất, chất lượng mà người sản xuất mong muốn Điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng phối hợp giữa các giống để có hiệu quả ưu thế lai Hiệu quả của các ưu thế lai phụ thuộc vào các yếu tố:

Nguồn gốc di truyền của bố mẹ: Bố mẹ càng xa nhau thì ưu thế lai càng cao và ngược lại Phan Cự Nhân và cs (1976) [28] cho rằng trong trường hợp nguồn gốc di truyền càng xa thì các cá thể (tức giao tử tạo nên phôi tử) rất khác nhau về phẩm chất Trường hợp này tạo nên các đặc tính di truyền phong phú thêm, nhân lên gấp bội, khả năng phát truyền của tính trạng theo hướng rõ rệt, tính dị hợp tử của các cặp gen tăng lên, các gen lặn bị nhiều gen trội phủ lấp, các gen trội là điều kiện để tế bào mang sẵn các yếu tố di truyền

đa dạng phát triển thuận lợi

Các tính trạng có hệ số di truyền thấp thì khi lai sẽ có nhiều ưu thế lai cao và ngược lại (Đặng Hữu Lanh và cs, 1999 [20]) Điều này được lý giải khi các gen không cộng gộp tham gia xác định tính trạng với tính trạng có hệ

số di truyền thấp khả năng đời sau lặp lại đặc điểm của bố mẹ ít, đồng nghĩa với đặc điểm đời con khác với bố mẹ càng rõ hay con lai có ưu thế lai cao Đặng Hữu Lanh (1999) [20] dẫn theo Cushner (1967) cho biết ở gia cầm khi lai tương hỗ thì ảnh hưởng của mẹ đối với tỷ lệ nở, tỉ lệ nuôi sống

và một số tính trạng khác ở gà con là mạnh mẽ Trần Đinh Miên và cs (1992) [25] dẫn tài liệu của Spramge và Tatum (1942), Turbin (1961) cho biết thực chất của khả năng phối hợp là sự tổ hợp gen mới, trong đó các gen trội, siêu trội, lấn át… và ảnh hưởng của môi trường sống cùng hoạt động tương tác để tạo nên hiệu quả Khả năng phối hợp phụ thuộc vào phương pháp chọn giống và công nghệ phối

Hiêu ứng cộng gộp của các gen:

Xpp =

Hiệu ứng không cộng gộp của các kiểu gen đó là ưu thế lai và trung bình giá trị kiểu hình của quần thể lai: XF1: XF1 = Xpp +H

Trang 27

Điều kiện nuôi dưỡng: Nếu nuôi dưỡng kém thì ưu thế lai thấp và ngược lại theo Nguyễn Văn Thiện (1995) [34] thì Hull và Cole (1973) [16] cho rằng mức độ biểu hiện của ưu thế lai bị ảnh hưởng bởi môi trường sống như địa điểm nuôi, chế độ dinh dưỡng, vị trí địa lí Theo Blyth và Sany (1960) [53], Aggar Wal và cs (1979) [49], Horn và cs (1980) [61] ưu thế lai không những

bị ảnh hưởng của chế độ chăm sóc, chuồng trại mà còn ảnh hưởng của mùa vụ

ấp nở trong năm và nhiệt độ của môi trường

1.1.3.3 Cơ sở khoa học của ưu thế lai

Khái niệm về ưu thế lai

Ưu thế lai (ƯTL) là một hiện tượng sinh học, biểu hiện sự phát triển mạnh mẽ của cơ thể con lai được tạo thành khi lai giữa các giống/dòng Bản chất di truyền của ƯTL là trạng thái dị hợp tử ở con lai Mặt khác, ƯTL biểu thị theo từng tính trạng, có khi chỉ một vài tính trạng phát triển mạnh, còn các tính trạng khác vẫn giữ nguyên hoặc giảm đi Cũng có thể hiểu ƯTL là hiện tượng giá trị trung bình của mỗi tính trạng ở đời con tốt hơn so với trung bình

bố mẹ về chỉ tiêu sản xuất mà ta mong muốn

Cơ sở di truyền của ưu thế lai

Cơ sở di truyền của ƯTL là nguồn gen dị hợp tử ở con lai Lai tạo là một phương pháp làm giảm tần số kiểu gen đồng hợp tử ở thế hệ lai, có nghĩa là làm tăng tần số kiểu gen dị hợp tử Trong chăn nuôi, người ta thường cho giao phối giữa 2 dòng trong cùng giống hay hai giống khác nhau Khi lai tạo giữa các cá thể thuộc 2 quần thể sẽ gây ra các hiệu ứng:

Hiệu ứng cộng gộp của các gen là giá trị trung bình X P 1P2 của trung bình giá trị kiểu hình của quần thể thứ nhất X P1 và giá trị trung bình kiểu hình của quần thể thứ hai X P2

XP1P2 =

XP1 + XP2

2 Hiệu ứng cộng gộp của các nguồn gen khác dòng hoặc khác giống trên 1

cá thể lai thể hiện ƯTL Như vậy, ƯTL là do trạng thái dị hợp tử ở đời con của bố mẹ khác giống/dòng gây ra và được tính theo công thức sau:

Trang 28

Trong đó: -X P1 là bình quân giá trị kiểu hình ở tính trạng đời con

-X b.m là bình quân giá trị kiểu hình ở tính trạng đời bố mẹ

Do đó, trái với hiệu quả của việc nhân giống cận thân, tạp giao sẽ tạo ra đời con lai có sức sống cao hơn, khả năng thích ứng và chống đỡ bệnh tật cao hơn, đồng thời làm tăng được khả năng sinh sản, sinh trưởng

1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.2.1 Tình hình nghiên cứu và phát triển chăn nuôi gia cầm lai thế giới

Bằng phương pháp lai giữa các giống gà khác nhau tạo ra con lai cho ưu thế

về khả năng sinh sản, khả năng sinh trưởng và chất lượng thịt, trứng khác nhau: Sola-Ojo và cs (2011) [68] đã đánh giá hiệu suất sinh sản và tính trạng chất lượng trứng của dòng gà Dominant Black (DB) lai với gà Fulani Ecotype (FE) Kết quả cho thấy hiệu quả đáng kể (P<0,05) của kiểu gen về khả năng sinh sản và tỷ lệ nở của trứng Tỷ lệ đẻ trên các kiểu gen là 73,00, 76,24, 59,88 và 54,12 %, trong khi tỷ lệ nở là 73,90, 78,30, 70,45 và 70,10 %, lần lượt đối với các công thức lai DB x DB, DB x FE, FE x DB và FE x FE; sự khác biệt về khối lượng của gà con không có ý nghĩa thống kê (P>0,05) Công thức lai (DB x FE và FE x DB) có khối lượng trứng (51,45 g và 51,35 g so với 47,19 g), Năng suất trứngtrong 100 ngày (51 và 53 so với 40 quả) và (50,87; 52,47 so với 46,05) cao hơn giống gà thuần Fulani Ecotype Gà lai FE

x DB (1408 g) có khối lượng cơ thể ở tuổi đẻ trứng đầu tiên cao hơn đáng kể

so với gà DB x FE (1388 g)

Miguel J.A và cs (2008) [64] phân tích các đặc tính của thịt ngực và thịt đùi giữa gà Castellana Negra (CN) và con lai giữa gà Castellana Negra với gà Penedesenca Negra (CNPN) ở 18 tuần tuổi cho thấy rằng tỷ lệ protein của thịt đùi gà CN là 20,77 % và gà CNPN là 21,03 %, tỷ lệ mỡ có sự sai khác (p ≤ 0,05) (2,6 % và 4,38 %), đối với thịt ngực tỷ lệ protein là 23,91 % và 23,86 % (không có sự sai khác) và tỷ lệ mỡ có sự sai khác (p <0,05) (giữa 0,46 % và 0,72 %), vật chất khô ở thịt đùi đối với gà CN là 24,82 %, thịt ngực là 25,66

%, đối với gà CNPN vật chất khô là 26,72 % và 25,72 % lần lượt đùi và ngực Tabinda Khawaja và cs, (2012) so sánh sự sinh trưởng, chất lượng thịt

và các thông số máu của gà Fayoumi và Rhode Island Red và con lai giữa chúng cho thấy khối lượng gà 1 ngày tuổi là 31 g; 20,90 g; 25,24 g; 30,00 g lần lượt của gà Rhode Island Red; Fayoumi; con lai giữa trống Rhode Island

Trang 29

Red với mái Fayoumi (RIFI); con lai giữa trống Fayoumi với mái Rhode Island Red (FIRI), khối lượng ở 20 tuần tuổi lần lượt là 1640 g; 1166,66 g;

1213 g và 1260 g, thức ăn thu nhận ở 20 tuần tuổi là 7620 g; 6720 g; 5080,94 g; 5596,50 g Chất lượng thịt ở 20 tuần tuổi như sau: thịt đùi có tỷ lệ vật chất khô lần lượt là 27,30 %; 26,83 %; 27,35 %; 26,75 %, tỷ lệ protein thô thịt đùi

là 83,60 %; 84,10 %; 83,65 %; 84,25 %, tỷ lệ mỡ là 6,75 %; 6,55 %; 6,48 %; 6,59 % Nghiên cứu cũng cho rằng gà lai giữa Rhode Island Red với Fayoumi

có sức sinh trưởng tốt hơn trong điều kiện nuôi ở nông thôn của Bangladesh khi so sánh với gà Fayoumi

Alewi và cs (2012) [50] nghiên cứu tác động của lai tạo trên một số tính trạng chất lượng trứng của giống gà địa phương (gà Kei - một loại gà lông màu đỏ) và con lai F1 của gà Ai Cập (Fayoumi) và giống gà Rhode Island Red (RIR) trong điều kiện quản lý của nông dân Kết quả Năng suất trứngcon lai F1 cao hơn gà Kei địa phương (P < 0,05) Trong đó, gà Ai Cập lai có có tiềm năng sản xuất trứng tốt hơn so với gà RIR lai (P < 0,05); Gà

Ai Cập lai có độ dày vỏ hơn gà RIR lai nhưng vẫn mỏng hơn gà Kei Tuy nhiên khối lượng trứng của gà RIR lai nặng hơn gà Ai Cập lai và gà Kei địa phương (P < 0,05)

Khalil và cs (2013) [59] đã tiến hành nghiên cứu lai tạo giữa gà Ai cập vàng Montazah (M) và gà Leghorn trắng (L) Kết quả cho thấy đặc điểm chất lượng trứng của con lai nhìn chung tốt hơn so với giống thuần Trứng của gà Leghorn tốt hơn đáng kể so với gà Montazah trong hầu hết các tính trạng (P

< 0,05), trong khi đơn vị Haugh, chỉ số hình dạng trứng và độ dày vỏ của trứng gà Montazah lại tốt hơn so với trứng của gà Leghorn Trứng gà lai F2 (1/4M1/4L) có khối lượng trứng, khối lượng lòng trắng, khối lượng lòng đỏ

và khối lượng vỏ cao hơn so với cả trứng gà F1 (1/2M1/2L) và gà F3 (1/8M1/8L) (P < 0,05), trong khi trứng gà thế hệ F3 lại có đơn vị Haugh cao hơn cả Theo Tabinda Khawaja và cs, (2013) nghiên cứu về khả năng sản xuất chất lượng trứng và các chỉ số hóa sinh của khi cho lai giữa các gà Rhode Island Red, White Leghorn và Fayomi cho biết gà RIFI (Rhode Island Red x Fayoumi) có tuổi để trứng đầu là 146 ngày, khối lượng trứng là 47g, sản lượng trứng/72 tuần tuổi là 178 quả, lòng đỏ là 15,82 g, lòng trắng trứng là 23,65 g, độ dày vỏ là 0,27 mm; con lai FIRI (Fayoumi x Rhode Island Red)

có tuổi đẻ trứng đầu là 149 ngày, năng suất trứng đạt 198 quả, khối lượng

Trang 30

trứng là 47,5 g, khối lượng lòng đỏ là 16 g, khối lượng lòng trắng là 24,20 g,

độ dày vỏ là 0,28 mm

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Từ những nguyên liệu gà lông màu hướng thịt và gà nội, nhiều công trình nghiên cứu về các tổ hợp lai giữa các dòng, giống gà đã tạo được nhưng con lai có năng suất chất lượng cao đáp ứng nhu cầu chăn nuôi các vùng sinh thái trong cả nước Trần Công Xuân và cs (2000) [44] Gà Kabir lai Lương Phượng (K-LP) và Lương Phượng lai Kabir (LP-K) có khối lượng đạt lần lượt

là 2350,25 g/con và 2380,46 g/con, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng là 2,44 kg và 3,14 kg Tỷ lệ thân thịt lần lượt là 72,40 % và 72,32 % Phùng Đức Tiến và cs (2003) [40] cho biết tổ hợp lai 3/4 Lương Phượng và 1/4 Sasso X44 nuôi thịt đến 70 ngày có tỷ lệ nuôi sống 96 %, khối lượng cao hơn gà Lương Phượng 11,67 %, tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng lượng thấp hơn gà Lương Phượng nuôi thịt 0,19 kg, các chỉ tiêu tỷ lệ thân thịt, thịt đùi, thịt ngực đều cao hơn gà Lương Phượng Nguyễn Huy Đạt và cs (2004) [7] nghiên cứu trên gà lai giữa Lương Phượng và gà Ri cho thấy ở 18 tuần tuổi gà R1A1/2 có khối lượng là 1591,4 g, gà R1B 1/1 là 1564,2 g, gà R1B 3/4 là 1645,6 g, gà R1B3/4 là 1664,6 g Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng gà R1A 3/4, R1B 3/4 là 2,87 và 2,78 kg nuôi chăn thả Kết quả theo dõi trên đàn gà R1A1/2 R1B1/2 nuôi nhốt là 3,4 và 3,36 kg Nguyễn Huy Đạt và cs (2004) [7] cho biết con lai giữa gà Lương Phượng và gà Ri có năng suất trứng là 159,2 quả/mái - 161,17 quả/mái/68 tuần tuổi, tiêu tốn thức ăn/10 trứng là 3,21

kg - 3,55 kg Trần Công Xuân và cs (2004) [45] cho lai giữa trống Sasso X44 với mái Lương Phượng đã cho con lai có chất lượng tốt: năng suất trứng đạt 173,8 quả - 175,7quả/mái; TTTA/10 trứng là 2,99 kg - 3,0 kg; tỷ lệ phôi 93,0

% - 93,5 %; gà lai nuôi thịt 63 ngày tuổi khối lượng đạt 2369,5 g - 2377,39 g/con cao hơn gà Lương Phượng 30,61 - 31,05 %; tỷ lệ nuôi sống 95,94 % - 96,66 %; TTTA/kg tăng khối lượng là 2,46 kg - 2,67 kg Phùng Đức Tiến và

cs (2005) [41], cho biết con lai giữa gà Kabir lai với gà LV cho năng suất trứng đạt 166,22 quả/mái, tiêu tốn thức ăn /10 trứng 2,57 kg Gà nuôi thịt 10 tuần tuổi có khối lương đạt 1891,64 g/con, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng 2,64 kg, tỷ lệ thân thịt đạt 72,55 %, tỷ lệ thịt ngực cao hơn thịt đùi, tỷ lệ

mỡ bụng 1,68 % Phùng Đức Tiến và cs (2007) [42], cho thấy tỷ lệ đẻ của đàn

gà lai (trống LV2 x mái SA31L) nuôi đến 68 tuần tuổi trung bình đạt 56,81

%; năng suất trứng đạt 178,81 quả/mái; tiêu tốn thức ăn để sản xuất 10 trứng

Trang 31

là 2,56 kg; tỷ lệ trứng có phôi 97,27 %; gà lai nuôi thịt lúc 70 tuần tuổi khối lượng cơ thể đạt 2532,45 g/con; tỷ lệ nuôi sống đạt 98 %; tiêu tốn thức ăn cho

1 kg tăng khối lượng cơ thể là 2,49 kg Hồ Xuân Tùng và cs (2009) [48], con lai giữa gà VP2 và gà Ri cải tiến có tỷ lệ mào nụ chiếm 57,50 %, mào đơn chiếm 42,50 % Gà có lông màu đa dạng, nâu, đốm đen, vàng đốm, vàng và màu lá chuối khô Tỷ lệ nuôi sống/12 tuần tuổi đạt 95 % Khối lượng đạt trung bình trống mái đạt 1732,50 g/con/12 tuần tuổi, ưu thế lai 5,32 % Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng 3,02 kg, gà có tỷ lệ thân thịt đạt 73,64 %, tỷ lệ

mỡ bụng 1,69 % Hồ Xuân Tùng và cs (2009) [48] nghiên cứu tổ hợp lai giữa

gà móng, mía với gà Lương Phượng Nuôi 12 tuần tuổi, khối lượng cơ thể của con lai Móng x Lương Phượng (MLP) đạt 1581,6 g/con, con lai giữa Mía x Lương Phượng (MILP) đạt 1598,6 g/con Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng của gà MLP là 3,17 kg, gà MILP là 3,14 kg, tỷ lệ thân thịt lần lượt là 75,30 và 74,86 % ở con trống và 76,69 và 73,94 % ở con mái Bùi Hữu Đoàn và Hoàng Thanh (2011) [11] nghiên cứu trên gà lai kinh tế 3 giống (Mía - Hồ - Lương Phượng) cho thấy rằng tỷ lệ nuôi sống đạt 91,7 % Khối lượng cơ thể ở

12 tuần tuổi là 1915,49 g, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng là 1,83 kg ở 12 tuần tuổi Tỷ lệ thịt đùi gà mái cao hơn gà trống, tỷ lệ thân thịt là 69,38 % Tỷ lệ thịt ngực là 22,86 %, thịt đùi là 22,16 %, giá trị pH đùi tại thời điểm 15 phút và

24 giờ sau bảo quản là 6,04 và 5,87 Tỷ lệ mất nước chế biến ở thịt đùi lúc 24 giờ là 17,45 %, thịt ngực là 19,56 %

Nhằm đáp ứng nhu cầu chăn nuôi, thị hiếu của người tiêu dùng về gà hướng trứng năng suất chất lượng trứng cao Nhiều công trình nghiên cứu lai tạo giữa gà nhập nội và gà được chọn tạo được thực hiện: Phùng Đức Tiến và

cs (2003) [40] cho biết tổ hợp lai hướng trứng (trống Goldline với mái Ai Cập) năng suất trứng/mái/65 tuần tuổi đạt 209,79 quả; tiêu thụ thức ăn/10 trứng là 1,71 kg Diêm Công Tuyên và cs (2009) [38] kết quả nghiên cứu tổ hợp lai gà AVGA (được tạo từ tổ hợp lai giữa ♂Ai cập x ♀VGA) và AAVG (được tạo từ tổ hợp lai giữa ♂Ai cập x ♀ AVG): tỷ lệ đẻ, năng suất trứng, tiêu thụ thức ăn/10 trứng, tỷ lệ trứng có phôi, tỷ lệ ấp nở của gà mái AVGA và AAVG cao hơn so với gà Ai cập thuần Năng suất trứng/mái/72 tuần tuổi đạt 228,6 quả (gà AVGA) và 222,7 quả (gà AAVG) với mức tiêu tốn thức ăn/10 trứng tương ứng là 1,72-1,75 kg Trứng gà F2 (3/4 máu Ai Cập) có màu trắng hồng gần giống trứng gà Ai Cập, chất lượng trứng tương đương với chất lượng trứng gà Ai Cập, tỷ lệ lòng đỏ đạt trên 30 % Bùi Hữu Đoàn (2010)

Trang 32

[10], gà F1 (♂ Leghorn x ♀ Ai Cập) công bố tỷ lệ đẻ đến 48 tuần tuổi đạt 67,63 % cao hơn gà Ai Cập 11,31 %; năng suất trứng/mái/48 tuần tuổi đạt 132,55 quả cao hơn gà Ai Cập 22,03 quả; tiêu thụ thức ăn/10 quả trứng là 1,63 kg Trần Kim Nhàn và cs (2010) theo dõi khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa gà VCN-G15 với gà Ai Cập cho biết: tỷ lệ đẻ, năng suất trứng và tiêu thụ thức ăn/10 trứng tỷ lệ trứng có phôi, tỷ lệ ấp nở ở của con lai giữa gà VCN - G15 với gà Ai Cập (gà mái VGA và AVG) cao hơn so với gà VCN-G15 và gà Ai Cập thuần Năng suất trứng đạt 231,9 quả (gà AVG) và 239,82 (gà VGA) quả/mái/72 tuần tuổi với mức tiêu thụ thức ăn/10 trứng tương ứng

là 1,88 -1,82 kg Ưu thế lai về năng suất trứng /72 tuần tuổi là 4,26 và 0,81 %;

ưu thế lai về TTTA/10 trứng đạt giá trị -5,94 và -2,84 %

1.3 Giới thiệu về gà thí nghiệm

* Gà LV (Lương Phượng)

Gà Lương phượng được đưa vào nuôi tại Việt Nam từ năm 1997, gà có màu sắc lông đa dạng Tuổi trưởng thành, gà mái có màu lông vàng đốm hoa hoặc đen đốm hoa, gà trống lông đỏ, có cườm cổ vàng ánh kim, lông đuôi dài xanh đen gà có da vàng, chân vàng, mào đơn Gà Lương phượng có đặc điểm ngoại hình khá hấp dẫn Về khả năng sinh trưởng, gà nuôi lấy thịt đến 12 tuần tuổi đạt khối lượng cơ thể 1850 - 1900 g/con(gà mái) và 2300 - 2450 g/con (gà trống) với mức tiêu tốn thức ăn từ 2,8 - 2,9 kg (Vũ Ngọc Sơn, Nguyễn Huy Đạt, 1999 [33], Nguyễn Huy Đạt, Nguyễn Thành Đồng, 2001 [6]) Gà đạt tỷ lệ nuôi sống cao từ 96,6 % (Vũ Ngọc Sơn, Nguyễn Huy Đạt, 1999 [33]) hoặc 97,5 - 98,6 % (Đào Văn Khanh, 2002 [18]) Khả năng sinh sản, gà có tuổi đẻ trứng bói lúc 143 - 147 ngày và đẻ đạt tỷ lệ 5 % lúc 152 ngày, năng suất trứng/mái/năm đạt 162,5 quả đến 166,5 quả (Vũ Ngọc Sơn, Nguyễn Huy Đạt, 1999 [33], Nguyễn Huy Đạt, Nguyễn Thành Đồng, 2001 [6]) Gà Lương phượng hiện nay là đàn giống gốc của Viện Chăn nuôi và chúng đã được tách thành 3 dòng thuần là dòng LV1 (dòng trống) và 2 dòng mái là dòng LV2 và dòng LV3 (Trần Công Xuân, Phùng Đức Tiến, Nguyễn Huy Đạt, 2007 [46])

Ưu điểm: Giống kiêm dụng thịt trứng, có đặc điểm ngoại hình màu lông gần giống gà nội Gà có da thịt vàng, da chân vàng Gà có tốc độ mọc lông nhanh, có khả năng sinh trưởng nhanh, khả năng sinh sản khá

Nhược điểm: Gà thích hợp với phương thức nuôi nhốt, có tính chịu nóng kém và tỷ lệ mỡ dưới da còn cao, đạt ở mức 1,98 - 2,3 % (Đào Văn Khanh 2002) [18]), (Vũ Ngọc Sơn, Nguyễn Huy Đạt, Trần Long, 1999 [33]),

Trang 33

* Gà VCN-Z15 (tên gọi cũ gà Zolo):

Gà VCN-Z15 là giống gà kiêm dụng trứng thịt được Viện Chăn nuôi nhập năm 2007 Theo kết quả nghiên cứu của Vũ Ngọc Sơn, Phạm Công Thiếu (2010) [33], gà có đặc điểm ngoại hình đồng nhất ở tuổi trưởng thành với gà mái có lông màu nâu đất, gà trống toàn thân lông đỏ, hai bên sườn có lông xanh đen, cườm cổ vàng, lông đuôi dài màu đen Gà trống và mái có da chân màu vàng, da thịt cũng có màu vàng, mào đơn và dai tai trắng có màu ánh bạc Gà có tính kháng bệnh cao và đạt tỷ lệ nuôi sống cao ở các giai đoạn nuôi: Giai đoạn gà con (0 - 9 TT) đạt 96,42 - 97,80 %, giai đoạn gà dò, hậu bị (10 - 19 TT) đạt 97,73 - 98,73 % và giai đoạn sinh sản từ 20 tuần tuổi trở lên đạt 97,75 - 98,00 % Khối lượng cơ thể đến 19 tuần tuổi gà trống đạt 1685,0 g/con và gà mái đạt 1379,4 g/con Năng suất trứng/mái/72 tuần tuổi đạt ổn định ở mức từ 181,7- 182,6 quả và mức TTTA/10 trứng từ 2,19kg đến 2,2kg Khối lượng trứng 51g, tỷ lệ lòng đỏ 29 % và vỏ trứng màu trắng bóng phớt hồng Năm 2014 gà VCN-Z15 đã được đưa vào Danh mục giống vật nuôi được sản xuất và kinh doanh tại Thông tư số 18/TT/BNN-CN ngày 31/01/2014 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Ưu điểm: Giống kiêm dụng trứng thịt, có đặc điểm ngoại hình màu lông tương tự gà nội Gà có da thịt vàng, da chân vàng Gà có tốc độ mọc lông nhanh, khả năng sinh sản cao, chất lượng trứng tốt và chất lượng thịt ngon, thơm Gà có tính chịu nóng tốt

Nhược điểm: Gà có tầm vóc nhỏ

* Gà Mía:

Gà có nguồn gốc tại xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội

Gà trống có thân hình to, dài hình chữ nhật, lông chủ yếu màu mận chin, còn lại màu đen, chân hơi cao, da chân màu vàng có vảy đỏ chạy dọc hai bên, mào đơn, tích tai chảy Gà mái thân hình to, lông có màu lá chuối khô xám, da chân màu vàng nhạt Gà Mía mọc lông chậm, ở 13 tuần tuổi vẫn chưa mọc đủ lông (Lê Viết Ly, 2001 [23]), theo Nguyễn Văn Thiện, Hoàng Phanh (1999) [35] gà mái 12 tuần tuổi và gà trống 15 tuần tuổi lông mới mọc gần kín Gà Mía đẻ bói ở 165 - 174 ngày tuổi (Lê Viết Ly, 2001 [23], Nguyễn Văn Thiện, Hoàng Phanh, 1999 [35]), sản lượng trứng đẻ trong 10 tháng đạt từ 55 - 69 quả (Lê Viết Ly, 2001 [23]), nếu tính 12 tháng đạt 80 quả/mái/năm (Nguyễn Văn Thiện, Hoàng Phanh, 1999 [35]) Gà Mía lúc 15 tuần tuổi: Con mái đạt

Trang 34

1840 g/con và trống đạt 2175 g/con Tuổi trưởng thành gà mái đạt 2778 g/con

và gà trống đạt 3675 g/con, gà có tỷ lệ nuôi sống cao, tính bình quân đến 12 tuần tuổi, nuôi sống đạt 90 % và từ 12 - 20 tuần tuổi đạt nuôi sống trung bình

95 % (Lê Viết Ly, 2001 [23], Nguyễn Văn Thiện, Hoàng Phanh, 1999 [35]) Nghiên cứu trên gà Mía gần đây nhất đã có kết luận như sau: Theo Ngô Thị Kim Cúc và Cs (2013) [4] thì gà Mía là giống gà có độ thuần khá cao và

có màu lông rất đồng nhất, lúc 01 ngày tuổi quàn thể gà có màu lông trắng ngà vàng Đến tuổi trưởng thành gà mái có màu lông nâu nhạt (màu lá chuối khô) và có lườn chảy xuống giống yếm bò khi gà đạt từ 9-10 tháng tuổi Gà trống có màu lông đỏ mận, má ngoài da chân của gà Mía có vệt màu đỏ chạy

từ khuỷu đến bàn Tại 20 tuần tuổi gà trống đạt khối lượng từ 1758 - 1865 g/con và gà mái đạt 1421 - 1506 g/con và khi trưởng thành gà trống đạt khối lượng 3000 g/con, gà mái đạt 2300 g/con Năng suất trứng/mái/68 tuần đạt 71 quả, tỷ lệ trứng có phôi 78,6 % và tỷ lệ nở /trứng ấp 67 % Gà Mía cũng đã được công nhận là giống gốc Quốc gia và đang tham gia trong hệ thống sản xuất giống gia cầm do Bộ Nông nghiêp và PTNT quản lý

Ưu điểm: Giống gà bản địa hướng thịt, có đặc điểm ngoại hình màu lông

gà nội được ưu chuộng Gà có da thịt vàng, thích nghi với chăn thả ở mức đầu tư trung bình Gà có chất lượng thịt ngon

Nhược điểm: Mọc lông chậm, nuôi trong mùa rét tỷ lệ nuôi sống thấp, năng suất trứng thấp, tỷ lệ trứng có phôi và tỷ lệ nở thấp

Trang 35

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài được tiến hành trên gà VCN-Z15, gà LV và ZL nuôi sinh sản Gà Mía, gà ZL và gà MZL nuôi lấy thịt

2.2 Địa điểm nghiên cứu

- Bộ môn động vật quý hiếm và đa dạng sinh học - Viện chăn nuôi

- Trung tâm bảo tồn vật nuôi - Viện chăn nuôi

2.3 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 5 năm 2016 đến tháng 6 năm 2017

2.4 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Nội dung nghiên cứu

2.4.1.1 Nghiên cứu khả năng sản xuất của gà mái nền ZL

- Tỷ lệ nuôi sống qua các tuần tuổi

- Khối lượng cơ thể và tỷ lệ đồng đều của gà TN lúc 2, 4, 6, 9, 17 và 20 tuần tuổi

- Một số chỉ tiêu về thành thục sinh dục (thời gian đẻ và khối lượng cơ thể tại thời điểm đẻ 5 %, 30 % và 50 %)

- Tỷ lệ đẻ tại các tuần tuổi

- Tiêu tốn thức ăn cho 1 gà chuyển lên đẻ và tiêu tốn thức ăn cho 10

trứng giống

- Một số chỉ tiêu về ấp nở

2.4.1.2 Đánh giá khả năng sản xuất và cho thịt của tổ hợp lai MZL

- Tỷ lệ nuôi sống

- Khối lượng cơ thể qua các tuần tuổi

- Sinh trưởng tuyệt đối, sinh trưởng tương đối

- Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể

- Chỉ số sản xuất và chỉ số kinh tế

- Mổ khảo sát đánh giá năng suất thịt

Trang 36

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu

Đàn gà thí nghiệm được bố trí theo phương pháp phân lô so sánh, giữa các lô có sự đồng đều về vị trí, chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, quy trình thú y phòng bệnh… Chỉ khác nhau về yếu tố thí nghiệm (công thức lai)

Sơ đồ thí nghiệm 2.1 Bố trí thí nghiệm công thức lai 2 máu (mái nền)

110 (10 trống+ 100 mái) Phương thức nuôi Bán chăn thả Bán chăn thả Bán chăn thả Thời gian thí nghiệm

Trang 37

Bảng 2.2 Chế độ chăm sóc và nuôi dưỡng gà đẻ

Giai đoạn

nuôi

Mật độ nuôi (con/m2)

Tỷ lệ trống/má

i

Chế độ cho ăn

Chiếu sáng

0 - 3 tuần tuổi 17 - 20 Nuôi

chung Ăn tự do 23/24 giờ

9 - 20 tuần tuổi 6-8 Tách

riêng

Ăn hạn chế Chiếu sáng tự nhiên

Từ 20 tuần trở đi 5 - 6 1/10 Ăn theo

- Khối lượng cơ thể từ 1 - 105 ngày tuổi

Cân khối lượng từng con ở 01 ngày tuổi Hàng tuần cân tất cả các gà/lô vào một ngày, giờ nhất định trước khi cho ăn

Ngày đăng: 14/03/2018, 13:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ân, Hoàng Gián, Lê Viết Ly, Nguyễn Văn Thiện, Trần Xuân Thọ (1983), Di truyền học động vật, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 86, 88, 185, 196 - 200 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di truyền học động vật
Tác giả: Nguyễn Ân, Hoàng Gián, Lê Viết Ly, Nguyễn Văn Thiện, Trần Xuân Thọ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1983
2. Tạ An Bình (1973), "Những kết quả bước đầu về lai kinh tế gà", Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Nông nghiêp I, tr. 598 - 603 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những kết quả bước đầu về lai kinh tế gà
Tác giả: Tạ An Bình
Năm: 1973
3. Brandsch H., Biilchel H. (1978), Cơ sở sinh học của nhân giống và nuôi dưỡng gia cầm (Nguyễn Chí Bảo dịch), Nxb Khoa học Kỹ thuật - Hà Nội, tr. 7,129-158 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh học của nhân giống và nuôi dưỡng gia cầm
Tác giả: Brandsch H., Biilchel H
Nhà XB: Nxb Khoa học Kỹ thuật - Hà Nội
Năm: 1978
4. Ngô Thị Kim Cúc, Nguyễn Công Định (2013), "Bảo tồn và khai thác nguồn gen gà Mía", Chuyên khảo bảo tồn và khai thác nguồn gen vật nuôi Việt Nam, Nxb khoa học tự nhiên và công nghệ, Hà Nội, tr.162 - 165 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn và khai thác nguồn gen gà Mía
Tác giả: Ngô Thị Kim Cúc, Nguyễn Công Định
Nhà XB: Nxb khoa học tự nhiên và công nghệ
Năm: 2013
5. Nguyễn Huy Đạt, Nguyễn Thành Đồng, Lê Thanh Ân, Hồ Xuân Tùng, Phạm Bích Hường (2000), "Nghiên cứu đặc điểm sinh học và tính năng sản xuất của giống gà Lương Phượng nuôi tại nuôi tại Trại Thực nghiệm Liên Ninh", Báo cáo Khoa học chăn nuôi thú y 1999-2000, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2001, tr. 62- 70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm sinh học và tính năng sản xuất của giống gà Lương Phượng nuôi tại nuôi tại Trại Thực nghiệm Liên Ninh
Tác giả: Nguyễn Huy Đạt, Nguyễn Thành Đồng, Lê Thanh Ân, Hồ Xuân Tùng, Phạm Bích Hường
Năm: 2000
6. Nguyễn Huy Đạt, Nguyễn Thành Đồng (2001), "Nghiên cứu chọn lọc, nhân giống gà Lương phượng hoa tại trại Liên Ninh", Báo cáo kết quả nghiên cứu KHCN năm 2002, Trung tâm nghiên cứu và huấn luyện chăn nuôi, tr. 75 - 92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chọn lọc, nhân giống gà Lương phượng hoa tại trại Liên Ninh
Tác giả: Nguyễn Huy Đạt, Nguyễn Thành Đồng
Năm: 2001
7. Nguyễn Huy Đạt, Nguyễn Văn Đồng, Lê Thị Thanh Ân, Phạm Thị Hường (2004), “Kết quả nghiên cứu khả năng sản xuất của gà ông bà Sasso nuôi tại Trại thực nghiệm Liên Ninh”, Báo cáo khoa học Chăn nuôi thú y, phần chăn nuôi gia cầm, Nxb Nông nghiệp, tr. 24 - 29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu khả năng sản xuất của gà ông bà Sasso nuôi tại Trại thực nghiệm Liên Ninh”, "Báo cáo khoa học Chăn nuôi thú y
Tác giả: Nguyễn Huy Đạt, Nguyễn Văn Đồng, Lê Thị Thanh Ân, Phạm Thị Hường
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
8. Nguyễn Huy Đạt, Hồ Xuân Tùng, Vũ Thị Hương, Nguyễn Văn Đồng, Nguyễn Như Liên, Vũ Chí Thiện, Trần Thị Hiền (2007), "Nghiên cứu tạo dòng gà hướng trứng (RA) có năng suất chất lượng cao", Báo cáo Khoa học năm 2006, Phần Di truyền - Giống vật nuôi; Viện chăn nuôi , Hà Nội ngày 01- 02/8/2007, tr. 80 - 89 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tạo dòng gà hướng trứng (RA) có năng suất chất lượng cao
Tác giả: Nguyễn Huy Đạt, Hồ Xuân Tùng, Vũ Thị Hương, Nguyễn Văn Đồng, Nguyễn Như Liên, Vũ Chí Thiện, Trần Thị Hiền
Năm: 2007
9. Nguyễn Huy Đạt, Hồ Xuân Tùng (2005), "Nghiên cứu tổ hợp lai giữa gà Đông Tảo với gà Ri cải tiến nuôi trong nông hộ" Tóm tắt Báo cáo Khoa học năm 2004, Viện Chăn nuôi, tr. 4 - 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tổ hợp lai giữa gà Đông Tảo với gà Ri cải tiến nuôi trong nông hộ
Tác giả: Nguyễn Huy Đạt, Hồ Xuân Tùng
Năm: 2005
10. Bùi Hữu Đoàn (2010), "Đánh giá khả năng sản xuất của trứng gà F1, Leghorn x Ai Cập", Tạp chí khoa học kỹ thuật Chăn nuôi số 6, tr. 21 - 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá khả năng sản xuất của trứng gà F1, Leghorn x Ai Cập
Tác giả: Bùi Hữu Đoàn
Năm: 2010
11. Bùi Hữu Đoàn, Nguyễn Thị Mai, Nguyễn Thanh Sơn, Nguyễn Huy Đạt (2011). Các chỉ tiêu dùng trong nghiên cứu chăn nuôi gia cầm, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các chỉ tiêu dùng trong nghiên cứu chăn nuôi gia cầm
Tác giả: Bùi Hữu Đoàn, Nguyễn Thị Mai, Nguyễn Thanh Sơn, Nguyễn Huy Đạt
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2011
12. Vương Đống (1968), Dinh dưỡng động vật, tập 2 (người dịch Vương Văn Khể), Nxb Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội, tr. 14- 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dinh dưỡng động vật, tập 2
Tác giả: Vương Đống
Nhà XB: Nxb Khoa học Kỹ thuật
Năm: 1968
13. Frege H. A, (1978), Cơ sở sinh học của nhân giống và nuôi dưỡng gia cầm (Nguyễn Chí Bảo dịch, Nxb Khoa học Kỹ thuật - Hà Nội. tr. 30- 83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh học của nhân giống và nuôi dưỡng gia cầm
Tác giả: Frege H. A
Nhà XB: Nxb Khoa học Kỹ thuật - Hà Nội. tr. 30- 83
Năm: 1978
14. Nguyễn Mạnh Hùng, Hoàng Thanh, Nguyễn Thị Mai, Bùi Hữu Đoàn (1994). Chăn nuôi gia cầm, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 11-12, 15 - 17, 24 -25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi gia cầm
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hùng, Hoàng Thanh, Nguyễn Thị Mai, Bùi Hữu Đoàn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1994
15. Nguyễn Đức Hưng, Nguyễn Đăng Vang (1997), "Khả năng cho thịt của một số giống gà địa phương nuôi tại Thừa Thiên Huế", Báo cáo chăn nuôi thú y, tr. 177 - 180 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng cho thịt của một số giống gà địa phương nuôi tại Thừa Thiên Huế
Tác giả: Nguyễn Đức Hưng, Nguyễn Đăng Vang
Năm: 1997
16. Hutt F. B. (1978), Di truyền học động vật (Phan Cự Nhân dịch), Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, tr. 349 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di truyền học động vật
Tác giả: Hutt F. B
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1978
17. Khevecman (1972), Sự di truyền năng suất ở gia cầm, Cơ sở di truyền năng suất và chọn giống động vật, Tập 2, Johanson chủ biên, Phan Cự Nhân, Trần Đình Miên, Trần Đình Trọng dịch, Nxb Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội, tr. 31, 34- 37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự di truyền năng suất ở gia cầm, Cơ sở di truyền năng suất và chọn giống động vật
Tác giả: Khevecman
Nhà XB: Nxb Khoa học Kỹ thuật
Năm: 1972
18. Đào Văn Khanh (2001), Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, năng suất chất lượng thịt của đàn gà thịt lông mầu Kabir, Lương Phượng, Tam Hoàng nuôi bán chăn thả ở 4 mùa vụ khác nhau tại Thái Nguyên, Luận án tiến sĩ Nông nghiệp, trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, năng suất chất lượng thịt của đàn gà thịt lông mầu Kabir, Lương Phượng, Tam Hoàng nuôi bán chăn thả ở 4 mùa vụ khác nhau tại Thái Nguyên
Tác giả: Đào Văn Khanh
Năm: 2001
20. Đặng Hữu Lanh, Trần Đình Miên, Trần Đình Trọng (1999), Cơ sở di truyền và chọn giống động vật, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr. 225, 257 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở di truyền và chọn giống động vật
Tác giả: Đặng Hữu Lanh, Trần Đình Miên, Trần Đình Trọng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
21. Trần Long (1994), Xác định đặc điểm di truyền một số tình trạng sản xuất và lựa chọn phương pháp chọn giống thích thợp đối với các dòng gà thịt Hybro HV85, Luận án Phó tiến sĩ Khoa học Nông nghiệp, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, tr. 36, 90-114 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định đặc điểm di truyền một số tình trạng sản xuất và lựa chọn phương pháp chọn giống thích thợp đối với các dòng gà thịt Hybro HV85
Tác giả: Trần Long
Năm: 1994

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w