Sản phẩm của ngành nông nghiệp gồm rất nhiều mặt hàng đa dạng và phong phú như: trồng trọt, chăn nuôi gia xúc, thủy hản sản,… 200 nhà xuất khẩu gạo 57% trong số này xuất khẩu đến 90% tổn
Trang 1để bảo vệ hàng hóa nội địa Hiện tượng gần như đã trở thành điều bình thường
đã diễn ra rất nhiều năm đối với các mặt hàng nông sản Việt Nam là “Được mùa thì mất giá” vẫn chưa được giải quyết hiệu quả Chính vì thế đời sống của
hàng triệu nông dân vẫn còn đói khổ mặc dù sức lao động họ bỏ ra là rất lớn Xuất khẩu nông sản Việt Nam còn tồn tại nhiều điểm yếu cần khắc phục Cần
có những chính sách, tầm nhìn chiến lược lâu dài để giải quyết những vấn đề đang đặt ra đó
Xuất phát từ thực trạng và những vấn đề cần giải quyết như vậy tác giả
đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu nông sản
Việt Nam”
Mục tiêu của đề tài:
Đưa ra thực trạng xuất khẩu nông sản của Việt Nam trong thời gian gần đây Tìm ra những hạn chế, khó khăn và thách thức đối với nông sản Việt Nam trong thời điểm hiện tại và những điều cần chú ý khi thời hạn cam kết với tổ chức WTO không còn nhiều thời gian
Từ những nghiên cứu trên mục tiêu cao nhất mà đề tài hướng tới là đưa
ra những giải pháp cơ bản, hiệu quả để xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sẽ
Trang 2là một trong những thế mạnh góp phần phát triển kinh tế Việt Nam đồng thời cải thiện cuộc sống của nông dân lao động
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU NÔNG SẢN VIỆT NAM
“Nông sản” là thuật ngữ không còn xa lạ với mỗi người dân Việt Nam
Có thể hiểu đơn giản nông sản là sản phẩm của ngành nông nghiệp Sản phẩm của ngành nông nghiệp gồm rất nhiều mặt hàng đa dạng và phong phú như: trồng trọt, chăn nuôi gia xúc, thủy hản sản,…
200 nhà xuất khẩu gạo 57% trong số này xuất khẩu đến 90% tổng lượng gạo xuất khẩu Mặt hàng gạo của Việt Nam đã có mặt ở nhiều nước trên thế giới đặc biệt là trên thị trường châu Á và châu Âu
Sản lượng lúa cả năm 2010 ước tính đạt gần 40 triệu tấn, tăng 1,04 triệu tấn so với năm 2009 do cả diện tích và năng suất đều tăng, trong đó diện tích gieo trồng ước tính đạt 7513,7 nghìn ha, tăng 76,5 nghìn ha so với năm trước; năng suất đạt 53,2 tạ/ha, tăng 0,8 tạ/ha Riêng mặt hàng gạo đã tạo được thị trường có lợi cho người bán, không bị khách hàng ép giá Hiệp hội Lương thực Việt Nam cũng cho biết, năm 2010, cả nước xuất khẩu 6,7 đến 6,8 triệu tấn gạo, kim ngạch đạt 3,2 tỷ USD Ngoài gạo, một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực khác cũng đạt khá như thủy sản đạt khoảng 5 tỷ USD, cao-su đạt 2,38 tỷ USD
Trang 4Sản lượng lúa đông xuân năm 2010 ước tính đạt 19,2 triệu tấn, tăng 522,3 nghìn tấn so với vụ đông xuân năm 2009 do diện tích tăng 25,2 nghìn ha và năng suất tăng 1,2 tạ/ha Lúa hè thu đạt 11,6 triệu tấn, tăng 383,5 nghìn tấn do diện tích tăng 77,6 nghìn ha và năng suất tăng nhẹ 0,1 tạ/ha Lúa mùa đạt 9,2 triệu tấn, tăng 132,9 nghìn tấn, chủ yếu do năng suất lúa mùa của các địa phương phía Nam tăng mạnh, ước tính đạt 42,2 tạ/ha, tăng 2,5 tạ/ha so với vụ mùa 2009 Nếu tính cả sản lượng ngô với 4,6 triệu tấn thì tổng sản lượng lương thực có hạt năm
2010 ước tính đạt 44,6 triệu tấn, tăng 1,27 triệu tấn so với năm 2009
là Vinacafe, Intimex và Thái Hòa Group Hiệp hội Cà phê Ca cao Việt Nam cho rằng năng suất cà phê hằng năm sẽ ổn định ở mức 1 triệu tấn/500.000 hécta Như vậy trong thời gian tới mặt hàng cà phê vẫn là một trong những mặt hàng chủ lực đối với xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam Sản lượng
cà phê ước tính 1105,7 nghìn tấn, tăng 4,6% so với năm 2009 (Diện tích cho sản phẩm tăng 1,4%; năng suất tăng 3,1%)
Trang 5nhiều nước EU và thị trường châu Phi cũng đang được mở rộng theo từng năm Bên cạnh những mặt hàng xuất khẩu truyền thống mà chúng ta cần phát huy cũng cần chú ý phát triển những mặt hàng tiềm năng như hoa quả, rau xanh,… Những mặt hàng tiềm năng này nếu biết cách khai thác phù hợp với nhu cầu của thị trường cùng với sự đầu tư hiệu quả sẽ mạng lại nguồn thu nhập lớn cho nông dân Cao su ước tính đạt 754,5 nghìn tấn, tăng 6,1% (Diện tích cho sản phẩm tăng 4,7%; năng suất tăng 1,3%) Hồ tiêu 111,2 nghìn tấn, tăng 3% Dừa 1,2 triệu tấn, tăng 3,1% Diện tích chè cả năm ước tính đạt 129,4 nghìn ha, tăng 2,3 nghìn ha so với năm trước; cà phê 548,2 nghìn ha, tăng 9,7 nghìn ha; cao su 740 nghìn ha, tăng 22,3 nghìn ha; hồ tiêu 51,3 nghìn ha, tăng 0,7 nghìn ha Sản lượng chè búp cả năm 2010 ước tính đạt 823,7 nghìn tấn, tăng 6,8% so với năm
Thủy sản
Các mặt hàng thủy sản cũng đóng góp một phần không nhỏ vào doanh thu xuất khẩu trong những năm qua đó là những mặt hàng như các tra, cá basa, tôm,… Những mặt hàng này chủ yếu xuất khẩu sang thị trường châu Âu
và mang lại doanh thu lớn cho người nông dân
Theo dữ liệu thống kê chính thức từ Tổng cục Hải quan, năm 2010, ngành thủy sản của Việt Nam xuất khẩu 1,353 triệu tấn, trị giá gần 5,034 tỷ USD, tăng 11,3% về khối lượng và 18,4% về giá trị so với năm 2009 Có 969
doanh nghiệp thủy sản xuất khẩu sang 162 thị trường trên thế giới Xuất khẩu tôm lần đầu tiên đạt trên 2 tỷ USD Theo Vasep, các mặt hàng thuỷ sản xuất
khẩu chính gồm: tôm (2,106 tỷ USD, 42%), cá tra (1,44 tỷ USD, 28,4%), nhuyễn thể (488,8 triệu USD, 9,7%), cá ngừ (293 triệu USD, 5,8%)…Tôm là mặt hàng chủ lực đem lại con số 5 tỷ USD của thủy sản
Việt Nam năm 2010 Đây là lần đầu tiên xuất khẩu tôm của Việt Nam vượt con số 2 tỷ USD, với 241.000 tấn, tăng 13,4% về khối lượng và 24,4%
về giá trị so với 209.567 tấn và 1,675 tỷ USD của năm 2009 Yếu tố quan trọng nhất góp phần gia tăng kim ngạch xuất khẩu tôm so với năm 2009 là giá
Trang 6tôm liên tục tăng cao do sự cố tràn dầu tại vịnh Mêhicô đã khiến cho nguồn cung tôm sụt giảm, đẩy giá tôm tăng cao Nhưng bên cạnh đó mặt hàng cá tra không đạt được mục tiêu đề ra là 1.5 tỷ USD Lý do chính là bởi tình trạng cung vượt cầu, khiến giá cá tra liên tục tục giảm trong một thời gian dài Tình trạng cung vượt cầu cũng là nguyên nhân chính dẫn tới việc cạnh tranh gay gắt của các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu dẫn tới tình trạng chất lượng sản phẩm không đồng đều, thiếu sự ổn định
Nhìn chung trong những năm gần đây doanh thu từ xuất khẩu nông sản
đã đóng góp không nhỏ vào tổng GDP của từng năm Nhìn chung doanh thu
từ xuất khẩu nông sản đều tăng trong nhiều năm trở lại đây mặc dù trong năm
2009 do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, xuất khẩu mặt hàng nông sản có phần giảm sút song nó đang phục hồi nhanh chóng Có thể thông
kê sơ bộ sản lượng xuất khẩu từ năm 2005-2010 trong bảng sau:
Kim ngạch suất khẩu một số mặt hàng nông, lâm – thủy sản chủ yếu
(triệu USD) từ năm 2005-2010 Năm
Trong quá trình đổi mới, hội nhập kinh tế, hàng nông sản Việt Nam đã
có mặt trên nhiều nước và đã góp phần thu ngoại tệ để phát triển đất nước Trong bối cảnh mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động xuất nhập khẩu
Trang 7của các nước là thước đo đánh giá kết quả của quá trình hội nhập quốc tế và phát triển trong mối quan hệ tùy thuộc vào nhau giữa các quốc gia Sự độc lập phát triển của mỗi quốc gia là sự phụ thuộc của quốc gia đó vào thế giới phải cân bằng với sự phụ thuộc của thế giới vào quốc gia đó
Thực tế cho thấy từ những năm 1990 đến nay khi đất nước trải qua nhiều giai đoạn khó khăn thì nông nghiệp luôn là một trong những ngành đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội Trong nền kinh tế ngày càng hội nhập sâu với thế giới thì xuất khẩu nông sản đóng góp không nhỏ vào tăng trưởng kinh tế của đất nước đem lại nguồn thu nhập lớn cho người nông dân Hiện tại, nông sản của Việt Nam đã có mặt trên thị trường của 150 quốc gia và vùng lãnh thổ, nhiều mặt hàng đã vượt qua kim ngạch xuất khẩu 1 tỷ USD như gạo, cà phê… Có thể thấy rõ tầm quan trọng của xuất khẩu nông sản đối với nền kinh tế và thu nhập của người lao động:
Là nguồn thu ngoại tệ lớn cho đất nước Tổng kim ngạch xuất khẩu các
mặt hàng nông lâm thủy sản năm 2010 đã thiết lập kỷ lục với 19,2 tỷ USD
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang kỳ vọng, tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành năm 2011 có thể đạt 23 tỷ USD, tăng 20% so với năm
2010 Các nước đang phát triển đều có nhu cầu rất lớn về ngoại tệ để nhập khẩu máy móc, vật tư, thiết bị, nguyên liệu mà chưa tự sản xuất được trong nước Một phần nhu cầu ngoại tệ đó, có thể đáp ứng được thông qua xuất khẩu nông sản
Đem lại thu nhập cho người sản xuất nông nghiệp – đặt biệt là nông dân Nếu chỉ sản xuất hàng nông sản để tiêu dùng và bán trong nước thì thu
nhập của người nông dân sẽ ở mức rất thấp Thực tế cho thấy khách hàng nội địa sẽ chấp nhận được mức giá thấp vì thu nhập của người Việt Nam ở mức trung bình, thấp hơn rất nhiều so với các nước phát triển Chính vì thế nếu như xuất khẩu được nhiều hàng nông sản sang các thị trường có thu nhập cao
sẽ đem lại cho người nông dân nguồn thu nhập lớn
Trang 8Thúc đẩy phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm Ngành nông nghiệp
cần lực lượng lao động lớn với yêu cầu đòi hỏi trình độ qua đào là không cao Chính vì thế phát triển xuất khẩu nông sản sẽ giải quyết vấn đề việc làm cho lực lượng lao động thất nghiệp trong thời kì nền kinh tế gặp khó khăn do khủng hoảng, suy thoái,… Khi xuất khẩu nông sản giữ được ổn định và tăng trưởng thì sẽ kéo theo cả nền kinh tế có nhiều cơ hội để phát triển
Vai trò quan trọng trong hoạt động xuất khẩu của Việt Nam Cụ thể
theo báo cáo của Bộ Công Thương, kim ngạch xuất khẩu năm 2010 đạt 71,6 đôla Mỹ, tăng 25,5% so với năm 2009 và 17% so với kế hoạch (60 tỷ đôla Mỹ), gấp hơn 3 lần chỉ tiêu Quốc hội đề ra Trong 2 tháng đầu năm 2011, kim ngạch xuất khẩu đạt trên 12,3 tỷ đôla Mỹ, tăng 40,3% so với cùng kỳ năm trước, gấp hơn 4 lần chỉ tiêu kế hoạch đã được Quốc hội thông qua (10%) Xuất khẩu nông sản có đóng góp lớn vào kết quả ngoạn mục đó Báo cáo của
Bộ Công Thương cho biết, tổng kim ngạch xuất khẩu ngành nông nghiệp năm
2010 ước đạt 19,15 tỷ đôla Mỹ, tăng 22,6% so với năm 2009, vượt 77,3% so với mục tiêu Đại hội Đảng lần thứ X đề ra (10,8 tỷ đôla Mỹ) Xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính (thuỷ sản, đồ gỗ, gạo, cao su, càphê, điều) ước đạt 16,5 tỷ đôla Mỹ, tăng 24,22% so với năm 2009 (thuỷ sản 4,94 tỷ; lâm sản và
đồ gỗ 3,63 tỷ; gạo 3,1 tỷ; cao su 2,2 tỷ; càphê 1,5 tỷ; điều vượt mốc 1tỷ)
1.3 Điểm mạnh, điểm yếu xuất khẩu nông sản
1.3.1 Điểm mạnh
- Lợi thế điều kiện tự nhiên
Dựa vào vị trí địa lý của Việt Nam có thể thấy được những lợi thế điều kiện tự nhiên của Việt Nam mà không phải nước nào cũng có Những điều kiện như đất đai, khí hậu, nước, khoáng sản,… có ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của ngành nông nghiệp tại Việt Nam Chính vì thế có thể nói nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam Có thể chia ra một số lợi thế cơ bản của điều kiện tự nhiên như sau:
Trang 9Việt Nam nằm ở cực Đông nam bán đảo Đông Dương trải dài từ kinh tuyến: 102°8′ - 109°27′ Đông; Vĩ tuyến: 8°27′ - 23°23′ Bắc với diện tích phần đất liền khoảng 331.698 km2 Là quốc gia nhiệt đới với những vùng đất thấp, đồi núi nhiều cao nguyên với những cánh rừng rậm Đất đai có thể dùng cho nông nghiệp chiếm gần 20% Hệ thống sông ngòi chằng chịt là một trong những điều kiện rất thuận lợi để Việt Nam có thể phát triển nông nghiệp Chính vì thế có rất nhiều loại cây trồng có thể phát triển được ở những vùng khác nhau trên khắp đất nước Việt Nam Không chỉ có sự đa dạng đất cũng là lợi thế để canh tác nhiều loại cây trồng Trong đó phải kể đến đất phù sa phục
vụ cho trồng lúa nước, đất xám bạc màu, đất phèn, đất feralit, đất mùn vàng…
Vùng Đồng Bằng Sông Hồng và Đồng Bằng Sông Cửu Long có diện tích đất đưa vào sử dụng khá cao lần lượt là 93% và 82% tổng diện tích của cả vùng nhưng hệ số sử dụng đất mới chỉ đạt 1,5 lần do tình trạng thâm canh trong nông nghiệp còn lạc hậu với sự yếu kém về hệ thống thuỷ lợi Do vậy nước ta vẫn có thể khai thác được vùng đồng bằng màu mỡ này nếu biết đầu tư phát triển sản xuất theo chiều sâu Đặc biệt những vùng đất còn hoang hoá ở các vùng khác cũng cần tích cực đầu tư tạo tiềm lực cho sản xuất nông nghiệp
Về khí hậu, do vị trí địa lý trải dài từ bắc xuất nam nên Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa Khí hậu Việt Nam rất đa dạng, phân biệt rõ rệt từ miền Bắc vào miền Nam Miền Bắc có mùa đông lạnh Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng Bằng Sông Cửu Long có khí hậu kiểu Nam Á Đây là điều kiện khí hậu thuận lợi để đa dạng hoá các loại cây trồng Ngoài ra tiềm năng nhiệt độ, độ ẩm và gió dồi dào phân bổ khá đồng đều trên phạm vi cả nước Tiềm năng nhiệt của nước ta được xếp vào dạng giàu có với số giờ nắng cao, cường độ bức xạ lớn, độ ẩm tương đối trong năm lớn hơn 80%, lượng mưa khoảng 1800 - 2000 mm/năm là điều kiện lý tưởng cho nhiều loại cây trồng sinh trưởng và phát triển
- Nguồn lao động và kinh nghiệm sản xuất
Trang 10Dân số nước ta là hơn 86 triệu người tính đến năm 2010, cơ cấu dân số trẻ với trên 80% sống bằng nghề nông Có thể nói trong giai đoạn này Việt
Nam đang ở vào thời điểm “ Dân số vàng” Chính vì vậy đây là một lực
lượng lao động hùng hậu cung cấp cho khu vực nông nghiệp Mặc dù chất lượng lao động của Việt Nam còn thấp hơn so với nhiều quốc gia khác trên thế giới nhưng con người Việt Nam với bản chất cần cù sáng tạo, ham học hỏi
là tiềm năng lớn góp phần vào chất lượng lao động ngành nông nghiệp Việt Nam Hơn thế nữa nguồn lao động dồi dào và rẻ tiền thì theo lý thuyết lợi thế
so sánh của Ricardo, các mặt hàng nông lâm thủy sản Việt Nam vẫn còn sức cạnh tranh cao trên thị trường thế giới
Không chỉ có vậy từ lâu đời nay nghề nông vẫn là nghề truyền thống của nước ta Trải qua nhiều giai đoạn thời kì thay đổi và những kinh nghiệm trong việc canh tác sản xuất vẫn được duy trì từ đời này sang đời khác Nó cũng chính là một trong những thuận lợi lớn để ngành nông nghiệp phát triển trong thời gian đã qua và phát triển trong những năm sau này của đất nước
Nguyên nhân chủ quan:
- Mặc dù là nước có lợi thế về nguồn lực nhưng chủ yếu lao động đều ở trình độ thấp chưa áp dụng được nhiều kiến thức khoa học kĩ thuật vào trong
Trang 11sản xuất Phần lớn nông dân làm việc đều chưa qua trường lớp đào tạo mà chỉ
là hoạt động tự học, được truyền từ đời trước sang đời sau nên không bắt kịp được với khoa học kĩ thuật
- Việt Nam vẫn là một quốc gia nông nghiệp không có nguồn vốn tài chính dồi dào chính vì thế đầu tư cho khoa học kĩ thuật hiện đại vào trong sản xuất chế biến bị hạn chế, khó khăn trong việc bắt kịp đối với những nước phát triển
- Doanh nghiệp, nông dân sản xuất hàng hóa không đạt tiêu chuẩn chất lượng do không nghiên cứu kĩ quy trình sản xuất, tiêu chuẩn quốc tế yêu cầu
- Môi trường ngày càng bị hủy hoại do ý thức của người sản xuất dẫn đến việc dịch bệnh xảy ra là điều khó tránh Hơn thế nữa nguồn tài nguyên bị hủy hoại, khai thác quá mức sẽ ảnh hưởng tới tương lai sau này
Nguyên nhân khách quan:
- Lợi thế về điều kiện tự nhiên đối với Việt Nam là không thể phủ nhận song cũng có những tác động bất lợi đối với sản xuất nông sản Đó là thiên tai
lũ lụt, hạn hán kéo dài Trong điều kiện thời tiết không thuận lợi thì không chỉ
có năng suất của nông sản mà cả chất lượng cũng bị giảm sút đáng kể
- Nguồn vốn của chúng ta còn hạn chế trong việc đầu tư công nghệ sản xuất và chế biến nông sản
- Phần lớn các loại giống cây con hiện đang được nông dân sử dụng có năng suất và chất lượng thấp hơn so với các nước trên thế giới và các đối thủ cạnh tranh trong khối ASEAN
- Thiếu thông tin thị trường
Do phần lớn người sản xuất là nông dân trình độ tiếp cận thông tin còn hạn chế nên sự am hiểu thị trường là điều khó khăn Lợi dụng hạn chế này nhiều thương lái buôn đã đánh vào tâm lý người nông dân sản xuất làm biến động giá cả hàng hóa để thu lại lợi nhuận Hơn thế việc kí kết hợp đồng còn nhiều kẽ hở, chưa chặt chẽ cũng là thách thức mà xuất khẩu hàng nông
Trang 12sản vẫn còn gặp nhiều khó khăn Có thể thấy tình trạng này diễn ra phổ biến với mặt hàng hoa quả Đây là loại mặt hàng có tiềm năng ở nước ta Hoa quả chủ yếu được trồng ở khu vực phía nam nên quãng đường vận chuyển gặp nhiều khó khăn, chi phí vận chuyển lớn Nhưng có một thực tế mà hoa quả Việt Nam thường xuyên gặp phải khi xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc – thị trường đầy tiềm năng nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro Nhiều nhà buôn xuất khẩu do không tìm hiểu kĩ cùng với việc kí kết hợp đồng thiếu chặt chẽ nên hay gặp phải thua lỗ Có thể đưa ra một ví dụ điển hình như đối với mặt hàng dưa hấu Trong những chuyến xuất khẩu hàng đầu tiên thì giá rất cao chính vì thế nhiều nhà buôn đã vận chuyện một số lượng lớn nhưng đến cửa khẩu bất ngờ phía Trung Quốc lại đóng cửa không nhập hàng nữa Như vậy
là hoa quả đã vận chuyển không qua được cửa khẩu Người lái buôn thua lỗ nặng do chi phí vận chuyển cao, chi phí thu mua,… đến thời điểm đó không bán được dù hàng đã giảm thấp hơn cả giá mua Nếu không bán thì chỉ có thể vứt bỏ vì hoa quả là mặt hàng bảo quản trong thời gian ngắn Thực trạng này diễn ra khá là phổ biến song nó vẫn chưa được khắc phục hiệu quả nhất
Thiếu thông tin thị trường cũng là một trong những nguyên nhân dẫn tới hàng nông sản Việt Nam không đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế Rau, quả tươi Việt Nam muốn vào EU phải đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn chất lượng GAP (tiêu chuẩn toàn cầu về thực hành nông nghiệp tốt) Thực tế cho thấy, đã
có một số lô rau quả xuất khẩu của Việt Nam từng bị nhà nhập khẩu khiếu nại Đó là vấn đề dư lượng thuốc bảo vệ thực vật đối với các lô thanh long tươi xuất đi Đan Mạch (năm 2006), xuất sang Anh (năm 2007), năm 2008, thanh long xuất khẩu cũng bị phát hiện dư lượng prochloraz…Một số mặt hàng khác như: vải hộp có hàm lượng kim loại, dứa có hàm lượng Asid lactic, rau đông lạnh xuất đi Nhật bị phát hiện có vật lạ (nút áo, tóc)… Một số thị trường như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Đài Loan… không cho nhập rau quả tươi từ Việt Nam do vấn đề "ruồi đục quả"
Trang 13- Công tác quảng bá và xây dựng thương hiệu cho nông sản Việt Nam còn yếu kém
Về thực tế, nông sản Việt Nam đa dạng và phong phú về chủng loại nhưng chưa được quảng bá và có thương hiệu trên thị trường thế giới nên vẫn chưa phát huy được hết những tiềm năng đang có
Như đối với mặt hàng chè, chúng ta đang đứng thứ 5 thế giới về xuất khẩu chè và có tới 110 nước biết đến sản phẩm này của Việt Nam Tuy nhiên, tại buổi họp báo hội nghị Xúc tiến Đầu tư và thương mại ngành chè năm
2009, Hiệp hội Chè cho biết, giá chè của Việt Nam chỉ bằng 1/2 giá chè bình quân trên thế giới, 98% lượng chè xuất khẩu là ở dạng nguyên liệu thô Trong số 53 thành viên của Hiệp hội Trái cây Việt Nam (Vinafruit), chỉ có 15 doanh nghiệp đăng ký đăng ký thương hiệu sản phẩm Hậu quả là 90% lượng hoa quả xuất khẩu phải ẩn dưới nhãn hiệu nước ngoài Thương hiệu chè được đăng ký bảo hộ ở 77 nền kinh tế, song mới 20 doanh nghiệp đăng ký sản xuất chè theo tiêu chuẩn “Chè Việt Nam”
- Tâm lý người dân không ổn định
Một điểm yếu khác của thị trường xuất khẩu nông sản của chúng ta hiện nay là độ nhạy cảm thấp của nhu cầu nông sản đối với giá của nó Nếu doanh nghiệp xuất khẩu chủ động giảm giá của một mặt hàng nông sản để kích thích thì nhu cầu của người tiêu dùng đối với mặt hàng nông sản cũng không tăng lên nhiều như mức độ giảm giá Hơn thế nữa tâm lý của người dân còn bị ảnh hưởng nhiều bởi sự biến động của thị trường Lợi dụng điểm yếu này nhiều nhà buôn, thương lái đã ép giá, tạo lên cơn sốt rồi đột ngột thay đổi
để kiếm lời Kết quả là nông dân lúc thu hoạch được nhiều thì bán ồ ạt với giá
cả thấp có khi còn không đủ chi phí bỏ ra nhưng đến khi giá cả tăng cao lại không còn hàng hóa để bán Điều này làm cho người nông dân ngày càng khổ cực, lợi nhuận của họ thu về gần như là không có
- Quản lý xuất xứ hàng hóa
Trang 14Đối với nhiều thị trường trên thế giới có nhiều tiêu chuẩn bắt buộc đối với các mặt hàng nhập khẩu phải có xuất xứ rõ ràng và đảm bảo được những tiêu chuẩn khắt khe vì vậy muốn xâm nhập vào các thị trường này cần phải đáp ứng được những yêu cầu đó Xét một số quy định đối với nông sản Việt Nam khi nhập khẩu vào thị trường EU cần đáp ứng một số quy định khắt khe
Đó như là hàng rào phi thuế quan áp dụng đối với hàng nông sản nhập khẩu vào thị trường EU:
Các qui định gián tiếp đến môi trường: Mức thuốc trừ sâu tối đa có trong sản phẩm nông nghiệp, kiểm tra thú y với gia súc và gia cầm, chất phụ gia trong thực phẩm,… Quy định hàm lượng thuốc trừ sâu hợp lý trong sản suất sản phẩm nông sản sẽ đảm bảo ít gây ô nhiễm môi trường không khí, nguồn nước, đất đai, đảm bảo sức khỏe của ngườI nông dân và người tiêu dùng
Năm 1976 EU đã ra chỉ thị 76/895/ EEC về việc sử dụng các loại thuốc trừ sâu và hàm lượng thuốc tối đa cho phép
Ngày 13/1/2009, Nghị viện châu Âu đã thông qua Luật hạn chế sử dụng các loại thuốc trừ sâu có chất gây ung thư và nguy hiểm về mặt sinh học, qui định này bao gồm 1100 loại thuốc trừ sâu đã từng hoặc hiện đang được sử dụng trong nông nghiệp nội khối và ngoài EU đối với tất
cả các sản phẩm nông nghiệp được dùng làm thức ăn cho người và gia súc -> đây là qui định hài hòa chung của EU vì hiện nay các nước thành viên EU vẫn có các qui định riêng về sử dụng thuốc trừ sâu Các quy định trực tiếp đến môi trường: bao bì và phế thải bao bì, nhãn hiệu cho thực phẩm hữu cơ,…
- Xuất khẩu nông sản Việt Nam đã có tăng trưởng nhưng chưa bền vững
Có thể thấy rằng trong thời gian qua, nhờ đường lối đổi mới, nên sản xuất và xuất khẩu nông sản ở nước ta tăng nhanh Tổng giá trị sản xuất nông nghiệp năm 1990 đạt 20.666,5 tỉ đồng, nhưng sau 10 năm (năm 2000) đạt giá
Trang 15trị là 129.140,5 tỉ đồng, tăng 6,3 lần và năm 2008 đạt giá trị là 248.314,8 tỉ đồng, tăng hơn 12 lần Tuy nhiên, theo quan điểm phát triển bền vững, việc phát triển sản xuất và xuất khẩu nông sản của nước ta vẫn còn bất cập, đã và đang có nguy cơ tác động đến sự phát triển ổn định của kinh tế, xã hội và môi trường
Về kinh tế, việc phát triển sản xuất và xuất khẩu nông sản của Việt Nam
trong những năm qua mới chỉ mang ý nghĩa tích cực trong việc tạo công ăn việc làm, chưa có biến chuyển lớn về hiệu quả kinh tế Đầu tư chủ yếu theo chiều rộng, nhằm tăng quy mô, sản lượng, chưa chú trọng đầu tư chiều sâu nhằm tạo ra những mặt hàng nông sản có giá trị gia tăng cao
Về bảo vệ môi trường, nhiều mặt hàng xuất khẩu nông, lâm, thủy sản
Việt Nam, đều dựa vào tài nguyên thiên nhiên (đất, nước, biển, rừng ) nên sự phát triển sản xuất nông nghiệp đang có nguy cơ hủy hoại các nguồn tài nguyên này Hơn nữa, do trình độ sản xuất lạc hậu nên môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng trong quá trình sản xuất
Về mặt xã hội, phát triển sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm,
thủy sản đang là nơi thu hút nhiều lao động nhất Tuy nhiên, đây cũng là nơi nảy sinh những nguyên nhân dẫn đến kém bền vững về mặt xã hội của nước
ta hiện nay Do xuất khẩu nông sản chủ yếu vẫn theo chiều rộng, chất lượng lao động không cao và thu nhập của người lao động không ổn định nên sự biến động của thị trường thế giới làm cho người nông dân dễ bị tổn thương, Làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo, bất bình đẳng trong thu nhập giữa các vùng, các tầng lớp dân cư
1.2.3 Nguyên nhân chính của thực trạng xuất khẩu nông sản của Việt Nam
Trang 16Nhân tố bên trong:
Một là, khối lượng hàng hóa còn nhỏ bé, thị phần trên thế giới thấp,
chất lượng chưa đồng đều và ổn định Tuy nước ta đã bước đầu hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung nhưng chưa hình thành được các vùng chuyên canh sản xuất hàng tươi sống và vùng nguyên liệu tập trung cho các nhà máy chế biến lớn theo yêu cầu kỹ thuật và kinh tế Có thể lấy một ví dụ mặt hàng gạo của Việt Nam chưa đảm bảo độ đồng nhất về quy cách chất lượng ngay trong từng lô gạo, bao bì đóng gói kém hấp dẫn và chưa có nhãn thương hiệu của doanh nghiệp mình trên vỏ bao bì Điều đó làm cho giá xuất khẩu của nông sản Việt Nam thấp hơn các nước khác Đặc biệt là đối với Thái Lan, mặc dù chất lượng gạo của Việt Nam không thua kém gì so với gạo Thái Lan nhưng gạo Việt Nam vẫn phải xếp sau Thái Lan Mặt hàng gạo Việt Nam hoàn toàn có thể cạnh tranh với gạo Thái Lan nếu như giải quyết triệt để chất lượng, bao bì thương hiệu sản phẩm
Hai là, phần lớn các loại giống cây trồng hiện đang được nông dân sử
dụng có năng suất và chất lượng thấp hơn so với các nước trên thế giới và các đối thủ cạnh tranh trong khối ASEAN Hầu hết người nông dân đã tự sản xuất giống cây con cho mình từ vụ thu hoạch trước hoặc mua giống trên thị trường trôi nổi mà không có sự đảm bảo về chất lượng, đặc biệt là giống các loại cây
ăn quả, cây lương thực, cây rau Năng suất lúa của Việt Nam chỉ bằng 61% năng suất lúa của Trung Quốc và thấp thua nhiều so với lúa của Nhật Bản, Italia, Mỹ Năng suất cà chua của ta chỉ bằng 65% năng suất cà chua thế giới, cao su Việt Nam mới đạt năng suất 1,1 tấn/ha, so với năng suất thế giới là 1,5
- 1,8 tấn/ha - thấp hơn tới 30-40%
Ba là, năng lực quản lý sản xuất kinh doanh, chế biến và xuất khẩu
nông sản chưa đáp ứng được yêu cầu trong điều kiện tự do hóa thương mại, đặc biệt là khâu marketing, dự tính dự báo thị trường Mối liên kết kinh tế giữa các khâu sản xuất - chế biến - xuất khẩu, giữa khâu cung ứng vật tư đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra, giữa khâu kỹ thuật với khâu kinh tế chưa
Trang 17thiết lập được một cách vững chắc để đảm bảo sự ổn định về số lượng và chất lượng cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh hàng nông sản xuất khẩu theo yêu cầu của thị trường
Nhân tố bên ngoài:
Thứ nhất, Việt Nam có công nghệ chế biến lạc hậu, chưa đảm bảo chất
lượng sản phẩm theo yêu cầu tiêu dùng của các thị trường khó tính như Nhật Bản, EU, Bắc Mỹ Mặt khác, kết cấu hạ tầng phục vụ cho việc vận chuyển, bảo quản dự trữ, bốc xếp hàng hóa nông sản, nhất là hàng tươi sống rất yếu kém nên giá thành sản phẩm và phí gián tiếp khác tăng nhanh Có thể chứng minh điều này qua ví dụ: công suất bốc hàng ở Cảng Sài Gòn bằng 1/2 công suất bốc hàng của Cảng Băng Cốc (Thái Lan) Chính vì thế chi phí bốc hàng của Cảng Sài Gòn sẽ gấp đôi chi phí bốc hàng ở Cảng Băng Cốc (Thái Lan)
Thứ hai, bộ máy quản lý, những quy định pháp luật còn chưa đồng bộ,
cồng kềnh, làm việc chưa đạt hiệu quả cao Có thể thấy được điều này thông qua các thủ tục xuất nhập khẩu của nước ta còn nhiều bất cập Từ đó gây nhiều khó khăn cho doanh nghiệp và người sản xuất trong việc xuất khẩu hàng hóa Mặc dù đã được cải tiến và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ song vẫn chưa đáp ứng kịp yêu cầu của sự phát triển kinh tế đặt ra
Thứ ba, khó khăn từ hàng rào phi thuế quan của các nước nhập khẩu
Trong những năm gần đây ngày càng nhiều nước đặt hàng rào phi thuế quan Chủ yếu là đặt ra các tiêu chuẩn về chất lượng, nguồn gốc xuất xứ, tiêu chuẩn môi trường để làm hạn chế khả năng cạnh tranh của hàng hóa nước ngoài đối với hàng hóa trong nước
Dù là nguyên nhân khách quan hay nguyên nhân chủ quan thì nó vẫn là
lý do gây ra thực trạng xuất khẩu nông sản của Việt Nam chưa khai thác hết tiềm năng, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất và doanh nghiệp
1.3 Cơ hội
- Thị trường rộng lớn
Trang 18Tháng 7 năm 1995 Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của ASEAN và đã ký kết các văn kiện của hiệp hội như hiệp định chung về tăng cường hợp tác ASEAN, tham gia vào khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) Ngày 11/1/2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO Sau khi là thành viên của tổ chức thương mại lớn nhất thế giới cơ hội cho chúng ta xuất khẩu sang thế giới sẽ lớn hơn Cần khai thác hiệu quả tiềm năng lợi thế này Bên cạnh đó chúng ta còn có những thuận lợi lớn để phát triển xuất khẩu nông sản sang nhiều nước
Đó là lợi thế về giao thông, với đường bờ biển dài hơn 3000 km tạo điều kiện cho việc xây dựng các cảng biển phục vụ cho xuất khẩu hàng hóa đi nước ngoài Từ trước đến nay, một khối lượng lớn hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam được vận chuyển bằng đường biển So với các phương thức vận tải quốc tế bằng đường sắt, đường ống và đường hàng không thì phương thức vận tải này có nhiều thuận lợi hơn, thông dụng hơn và có mức cước phí rẻ hơn Trong thực tiễn chuyên chở bằng đường biển, các doanh nghiệp Việt Nam có nhiều thuận lợi nổi bật Đường biển Việt Nam có hình chữ “S”, hệ thống cảng biển nói chung đều nằm sát đường hàng hải quốc tế trải dọc từ Bắc, Trung, Nam, có thể hành trình theo tất cả các chuyến đi Đông Bắc Á, Đông Nam Á, Thái Bình Dương, Trung cận Đông, Châu Phi, Châu Mỹ Một
số cảng có khả năng bốc xếp hàng xuống tàu lớn, có hệ thống kho bảo quản tốt, lại gần đường hàng hải quốc tế như cảng Hải Phòng, Đà Nẵng hay Vũng Tàu… Trong tương lai sự phát triển nhanh chóng của nước hàng xóm - Trung Quốc với số dân đông nhất thế giới thì đây là một thị trường chúng ta có thể khai thác hiệu quả và đầy tiềm năng Trong tương lai Trung Quốc sẽ là một trong những đối tác chiến lược mà Việt Nam cần tính đến
- Chính sách hỗ trợ ưu tiên của Đảng và nhà nước
Ngoài những điều kiện thuận lợi ở trên thì còn có nhiều điều kiện khác cũng ảnh hưởng không nhỏ tới tiềm năng phát triển xuất khẩu nông sản Việt Nam Đối với quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam, xem nông nghiệp
Trang 19là mặt trận hàng đầu nên việc sản xuất, chế biến, xuất khẩu hàng nông sản cũng được chú trọng và quan tâm Việc ưu đãi đầu tư trong và ngoài nước vào lực lượng sản xuất nông sản đã và đang tạo được động lực mới cho sự phát triển của ngành này Việc đẩy mạnh áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất cũng tạo được những bước đột phá
- Một số lợi thế khác
Tỷ lệ quan trọng của nông sản và thủy sản trong cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam Cùng với các ngành hàng xuất khẩu quan trọng khác như may mặc và giày da, nông lâm thủy sản là những ngành hàng sử dụng nhiều nguồn lực lao động tại chỗ hơn là nguồn vốn đầu tư nước ngoài, do đó sẽ bị tác động ít hơn so với hai lĩnh vực tài chính và bất động sản Nông sản xuất khẩu còn có vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam vì liên quan đến hơn 70% dân số, là một thị trường lớn cho các ngành hàng sản xuất khác Khi xuất khẩu nông sản được giữ ổn định và tăng trưởng, cả nền kinh tế có nhiều cơ hội hơn để phát triển Vai trò của ngành nông nghiệp trong việc ổn định kinh tế của Việt Nam đã được chứng minh trong quá khứ Năm 1989, công nghiệp tăng trưởng âm, nhưng sản xuất nông nghiệp phát triển mạnh nên cứu được khủng hoảng Đến năm 1999, một lần nữa, công nghiệp – dịch vụ đều chựng lại, chỉ có nông nghiệp tăng trưởng tốt nên đã cứu được nền kinh tế đang bên bờ vực khủng hoảng
Nói về một số mặt hàng như cá tra, basa của Việt Nam có sức cạnh tranh cao Nhận rõ điều này qua thực tế trên thị trường Mỹ cá tra, cá basa là một sản phẩm có khả năng thay thế cao đối với sản phẩm cá nheo Sản phẩm cá tra, basa là sản phẩm “thứ cấp” nên trong điều kiện khi nền kinh tế chậm phát triển hay thu nhập của người dân Mỹ giảm sút họ sẽ thay thế dần sản phẩm cá nheo sang cá tra, basa
Sự nóng lên của giá dầu thô khiến nhiều quốc gia, nhiều tập đoàn kinh tế hàng đầu phải nghĩ lại hướng đi của mình Cao su nhân tạo, chế phẩm từ dầu thô, không còn được trọng dụng và giá cao su thiên nhiên nhanh chóng tăng gần gấp hai lần
Trang 201.4 Thách thức
Mặc dù nước ta có những điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp nhưng cũng có những ảnh hưởng lớn từ thiên nhiên tác động tới năng suất, chất lượng của nông sản Hằng năm, chúng ta phải hứng chịu hơn chục cơn bão lớn nhỏ Mỗi khi có bão lũ xảy ra thì thiện hại của nó để lại là không hề nhỏ
Nó ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của ngành nông nghiệp của chúng ta Có thể lấy ví dụ gần nhất trận lũ lịch sử năm 2010 vừa qua tại miền trung đã gây hậu quả to lớn không chỉ con người mà còn cả vật chất Trong đó thiệt hại của ngành nông nghiệp là không hề nhỏ Cây trông vật nuôi gần như mất trắng, thiệt hại này là một trong những khó khăn lớn nhất của ngành nông nghiệp
- Chính sách tỷ giá neo tiền đồng Việt Nam theo USD đã tạo nhiều lợi thế cho xuất khẩu Việt Nam trong giai đoạn đầu của khủng hoảng do đồng USD mất giá nhiều so với các đồng tiền khác trên thế giới Tuy nhiên, khi đồng USD tăng giá, chính sách này cũng đã khiến cho hàng xuất khẩu Việt Nam tăng giá và giảm sức cạnh tranh ở các thị trường ngoài Mỹ Lợi dụng chính sách tiền tệ nhiều nước đang sử dụng công cụ này để thúc đẩy xuất khẩu Tỷ giá tăng sẽ ảnh hưởng đến nguồn nguyên liệu đầu vào là thức ăn gây khó khăn cho các nhà nuôi trồng thủy sản Chính vì thế hiện tượng người nuôi
cá treo ao do nguyên liệu đầu vào và lãi suất tăng cao diễn ra khá phổ biến
- Khủng hoảng kinh tế toàn cầu là lý do lớn khiến cho xuất khẩu nông sản gặp nhiều khó khăn Sự suy giảm trong nhu cầu nhập khẩu của nhiều nước làm cho doanh thu từ xuất khẩu nông sản giảm mạnh Có thể thấy điều này vào năm 2008-2009 khi khủng hoảng kinh tế toàn cầu xảy ra khiến nền kinh tế lâm vào trì trệ nó cũng ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế Việt Nam nói chung và xuất khẩu nông sản nói riêng Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
2008 đã tác động trực tiếp đến thị trường vốn và bất động sản của Việt Nam
là những thị trường thâm dụng vốn tài chính, trong đó vốn tài chính từ bên ngoài cũng đóng một vai trò quan trọng Cuộc khủng hoảng tài chính sẽ khiến cho các hoạt động đầu tư vốn từ nước ngoài giảm nhanh trong ngắn hạn, các
Trang 21ngân hàng cũng gặp nhiều khó khăn hơn trong việc mở thư bảo lãnh, cấp tín dụng, để hỗ trợ cho các hoạt động xuất khẩu như trong các năm vừa qua Qui mô sản xuất cho xuất khẩu sẽ thu hẹp do vốn đầu tư bị suy giảm Đặc biệt
là khi chúng ta đã chính thức là thành viên của WTO thì ảnh hưởng của nó càng lớn hơn nhiều
- Sự biến động của giá cả cũng là một trong những thách thức lớn mà xuất khẩu nông sản phải vượt qua Những biến động trong năm 2008 đã là những minh chứng cụ thể cho đặc điểm này Bắt đầu là mặt hàng gạo, giá thế giới có khi tăng vọt lên đến 300%, sau đó lại suy giảm Tiếp theo là giá thịt tăng rồi giảm, và gần đây các mặt hàng cây công nghiệp đã giảm giá đột ngột cũng như các mặt hàng thủy sản chủ lực của Việt Nam như cá tra và tôm sú
Sự biến động của giá cả có thể là do của một số nhà kinh doanh lớn Sự tăng hay giảm của thị trường có thể gây thiệt hại lớn cho những nhà sản xuất nguyên liệu đặc biệt là nông dân Sự biến động của giá cả là đôi khi không phải do biến động cung cầu của thị trường mà còn do Hậu quả là giá cả các mặt hàng này trên thị trường được quyết định không bởi sự cân đối cung cầu
mà bởi các ngân hàng đầu tư và các quỹ phòng hộ
Thách thức đối với việc thực hiện cam kết về Các biện pháp Vệ sinh và Kiểm dịch động thực vất (SPS) ngay sau khi Việt Nam trở thành thanh viên WTO là rất lớn Hiệp định này đòi hỏi sự hài hoà các tiêu chuẩn quốc gia trong nông nghiệp và thuỷ hải sản Đây là mốt thách thức lớn đặc biệt cho những người sản xuất nghèo, qui mô nhỏ, nhất là vùng sâu vùng xa, và chắc chắn phải mất một thời gian để hoàn thành
- Một số ví dụ có thể thấy được sự khó khăn của các ngành xuất khẩu: Các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản gặp nhiều khó khăn bởi Luật IUU – những quy định về hạn chế các hoạt động đánh bắt bất hợp pháp không có báo cáo và không theo quy định Luật IUU được EU áp dụng từ ngày 1/1/2010 Quy định này yêu cầu tất cả các lô hàng hải sản khai thác phải có chứng nhận tên tàu khai thác…, nếu thiếu sẽ không được phép xuất vào EU
Trang 22Đây là yêu cầu khó đáp ứng được trong thời gian ngắn trong khi EU là thị trường nhập khẩu thủy sản lớn nhất của Việt Nam Có thể nhận thấy chính sách này có thể trở thành một hàng rào phi thuế quan đối với thủy sản Việt Nam
Mặt hàng hoa quả cũng bị “siết” khi Chính phủ Indonesia vừa ra một quy định mới áp dụng từ ngày 18/8/2009 yêu cầu các nhà xuất khẩu trái cây, rau quả sang Indonesia phải có giấy chứng nhận phân tích an toàn vệ sinh thực phẩm (CoA) do cơ quan kiểm dịch cấp
Cạnh tranh với hàng hóa nước ngoài
Nông dân Việt Nam có thế mạnh về một số sản phẩm xuất khẩu mà có thể tiếp tục duy trì hoặc mở rộng trong tương lai (như gạo, hạt tiêu, điều) Song, một số sản phẩm phục vụ cho nhu cầu thị trường trong nước sẽ gặp khó khăn vì Việt Nam chưa có khả năng cạnh tranh về những sản phẩm này (như đường, ngô, sản phẩm sữa và thịt Hơn nữa, nhiều sản phẩm mà Việt Nam đang cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu (như gạo) hay sẽ nhập khẩu ngày càng nhiều (như ngô) được Chính phủ các nước giàu trợ cấp ở mức độ cao cũng như được bảo hộ thông qua hàng rào thuế quan Chính phủ Mỹ hàng năm trợ cấp 10 tỷ USD cho các chủ trang trại trồng ngô, hay 3.6 tỷ USD cho trang trại sản xuất gạo Hay một con bò EU được trợ cấp 2.62 USD mỗi ngày, nhiều hơn thu nhập của nông dân nghèo Việt Nam
Chống bán phá giá
Bán phá giá là một khái niệm cơ bản của thương mại quốc tế Các sản phẩm bán vào một thị trường với giá bán ở mức dưới giá thành sản xuất thì được xem là bán phá giá và có thể phải chịu các cuộc điều tra và bị trừng phạt
Theo khái niệm như vậy thì có thể xem xét việc đánh thuế chống bán phá giá đối với hàng xuất khẩu của một nước đến một quốc gia nội địa nếu xét thấy:
- Giá xuất khẩu thấp hơn giá bán hàng hoá đó ở thị trường nội địa
- Giá xuất khẩu thấp hơn chi phí sản xuất
Trang 23- Giá xuất khẩu sang nước tiến hành điều tra chống bán phá giá thấp hơn giá xuất khẩu hàng hoá đó sang thị trường một nước khác
Trong trường hợp hàng nhập khẩu từ các nước không có nền kinh tế thị trường mở, nước nhập khẩu có thể lấy mức giá của nước thứ ba để so sánh khi xác định xem đánh thuế chống bán phá giá hay không. Nhìn lại 20 vụ kiện CBPG đối với hàng VN, thì vụ kiện về cá da trơn (cá basa) và tôm là 2 vụ có quy mô và phức tạp nhất Khởi kiện nhiều nhất là EU (9 vụ), tiếp đến là Hoa
Kỳ (2 vụ), Canada (2 vụ) còn lại là Ba Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Peru… Các doanh nghiệp Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong những vụ kiện bán phá giá không chỉ ảnh hưởng tới doanh số bán hàng mà chi phí bỏ ra trong những vụ kiện cũng là rất lớn Đây có thể coi là biện pháp hàng rào phi thuế quan mà các nước sử dụng để hạn chế nhập khẩu hàng hóa, gia tăng khả năng canh đối với hàng hóa nội địa của nước đó
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU
HÀNG NÔNG SẢN VIỆT NAM
Trong thời gian qua các cơ quan, doanh nghiệp, nhà quản lý đã đưa ra nhiều biện pháp để thúc đẩy xuất khẩu nông sản Việt Nam nhưng vẫn còn nhiều điểm hạn chế cần khắc phục do nền kinh tế trong nước và thế giới đang
có nhiều biến động Việc cấp thiết hiện nay là cần đưa ra những giải pháp hiệu quả để khắc phục những điểm yếu đang tồn tại và đưa ra những tầm nhìn, chiến lược lâu dài cho nông sản Việt Nam
2.1 Nâng cao chất lượng nông sản để đáp ứng yêu cầu thị trường
Trang 24Chất lượng nông sản được nâng cao không chỉ góp phần tăng lên khối lượng xuất khẩu của chúng ta mà còn tăng giá bán thu nhiều lợi nhuận hơn cho cả nông dân và doanh nghiệp Việt Nam Mặc dù có những lợi thế về điều kiện tự nhiên, nguồn nhân lực song sự bùng nổ của khoa học công nghệ nếu chúng ta không đổi mới nâng cao chất lượng sản phẩm thì sự cạnh tranh với hàng hóa nước ngoài sẽ gặp nhiều khó khăn Để nâng cao chất lượng sản phẩm cần có sự phối hợp của cả nông dân và cách doanh nghiệp Việt Nam:
2.1.1 Về phía nông dân
- Điều đầu tiên nông dân cần chú ý khi sản xuất là giống Con giống có ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng và năng suất thu hoạch Con giống cần được đảm bảo sạch không nhiễm sâu bệnh hơn nữa nó phải được kiểm tra chất lượng trước khi được mang đi gieo trồng Một việc không kém phần quan trọng là con giống phải phù hợp với từng loại đất của địa phương và khí hậu tại đó nên lựa chọn loại cây trồng con giống phù hợp là đầu tiên cần làm
- Đối từng loại cây trồng vật nuôi thì lại có những quy trình sản xuất khác nhau chính vì thế người sản xuất cần bảo đảm thực hiện đúng quy trình
để đảm bảo chất lượng của sản phẩm Việc chăm sóc đúng thời gian liều lượng sẽ ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của cây trồng vật nuôi Vì thế nông dân cần nắm rõ quy trình trong từng giai đoạn phát triển của cây trồng vật nuôi để từ đó chăm sóc được tốt nhất
- Do ảnh hưởng của thiên nhiên như hạn hạn, lũ lụt, lạnh giá cũng làm giảm chất lượng của sản phẩm Chính vì thế nông dân cũng cần có cách đối phó lại với sự khắc nghiệt của thời tiết Cách làm đơn giản mà nhiều nơi đã áp dụng khi lạnh giá là phủ nilon chống rét cho cây hay thắp điện cũng là cách chống rét cho cây Xây dựng hệ thống sông ngòi, hệ thống tưới tiêu phù hợp
sẽ khắc phục được tình trạng thiếu nước trong mùa khô, hạn hán kéo dài Đối với nuôi trồng thủy hải sản cũng như vậy cần chú ý tới điều kiện nuôi trồng
để ứng phó với thay đổi thời tiết
Trang 25- Sau khi tạo ra thành quả là sản phẩm thì người nông dân cũng cần chú ý đến bảo quản sản phẩm để không làm giảm chất lượng của nông phẩm
2.1.2 Về phía doanh nghiệp:
Điều quan trọng và bức thiết nhất hiện nay, là phải tạo sự đồng lòng của người sản xuất và cộng đồng DN thủy sản Việt Nam, không tìm cách cạnh tranh nội bộ, mà phải tập trung sức cạnh tranh với bên ngoài, cùng gánh vác khó khăn, chia sẻ hợp lý lợi ích, vì quyền lợi chung của đất nước và quyền lợi của từng người sản xuất, từng DN Khi tạo được mối liên kết giữa các doanh nghiệp trong nước thì sức mạnh cạnh tranh khi hàng hóa nông sản của Việt Nam xuất khẩu ra nước ngoài sẽ là rất lớn Thực tế cho thấy trong thời gian qua có một số doanh nghiệp trong nước do sự cạnh tranh với nhau
đã làm thiệt hại đến chính lợi ích của doanh nghiệp đó và cả những người nông dân Đó là tình trạng giảm giá để tăng sức bán hàng hóa của một số doanh nghiệp, hay sự cạnh tranh về thu mua nguyên liệu đã khiến cho lợi ích của doanh nghiệp và những người nông dân giảm sút Chính vì thế cần có những sự gắn kết, hợp tác giữa các doanh nghiệp trong nước để tăng cạnh tranh cho hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam Bên cạnh đó một số điểm cần chú ý nhằm nâng cao chất lượng nông sản:
- Quy hoạch xây dựng nhà máy chế biến gần khu nguyên liệu để thuận tiện hơn cho việc vận chuyển thu mua, tiết kiệm được thời gian và chi phí
- Nghiên cứu kĩ các điều kiện tiêu chuẩn đối với từng mặt hàng nông sản để từ đó chế biến và bảo quản đáp ứng được đầy đủ các tiêu chuẩn đã quy định của nhiều nước
- Liên kết chặt chẽ với người sản xuất để có thể lo đầu ra cho sản phẩm Xây dựng kho dự trữ bảo quản trong những tình huống khó khăn để có thể chủ động khi thị trường biến động
2.1.3 Phát triển cơ sở chế biến nông sản
Tại các nước phát triển họ đặc biệt chú trọng tới việc phát triển ngành công nghiệp chế biến Hàng hóa xuất khẩu chủ yếu là hàng hóa đã qua chế
Trang 26biến, hạn chế tối đa xuất khẩu sản phẩm thô hay mới chỉ sơ chế Sở dĩ việc phát triển ngành công nghiệp chế biến là quan trọng bởi vì có thể thấy rõ được
sự khác biệt giữa hàng hóa chưa qua chế biến và hàng hóa đã qua chế biến là hàng hóa qua chế biến sẽ có giá cao hơn, được đưa vào danh mục hàng hóa cắt giảm thuế nhanh và chi phí vận chuyển, bảo quản cũng thấp hơn nhiều so với hàng hóa chưa qua chế biến Đặc biệt, hàng hóa đã qua chế biến có sức cạnh tranh lớn trên thị trường so với hàng hóa chưa qua chế biến Hiện nay ở nước ta ngành công nghiệp chế biến nói chung và ngành chế biến nông sản nói riêng đang có những bước phát triển nhanh chóng song bên cạnh đó vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục Một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng này như: thiếu vốn, công nghệ còn lạc hậu, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, đội ngũ cán bộ còn chưa đáp ứng được sự thay đổi thích ứng của thị trường hay thiếu thông tin thị trường Trong quá trình xây dựng và phát triển ngành công nghiệp chế biến nông sản cần chú ý:
- Tập trung vào đầu tư phát triển công nghiệp chế biến nông sản đối với các loại nông sản có lợi thế cạnh tranh cao và nguyên liệu dồi dào, có thị trường tiêu thụ rộng (gạo, chè, cà phê, cao su, hoa quả, …)
- Bán sát nhu cầu thị yếu của thị trường trong nước và quốc tế Nâng cao cả chất lượng và đa dạng chủng loại
- Đổi mới công nghệ và hiện đại hóa thiết bị chế biến Nhưng cần chú ý đến chất lượng sản phẩm và vệ sinh an toàn thực phẩm
- Gắn bó chặt chẽ giữa chế biến và người sản xuất nguyên liệu nông sản Bảo đảm vững chắc nền tảng cung cấp nguyên liệu và đầu ra cho nông sản Việt Nam
- Huy động mọi nguồn lực kinh tế để phát triển vùng nguyên liệu và cơ
sở chế biến
Vai trò to lớn của việc chế biến nông sản nên cần chú ý tới một số giải pháp để phát triển ngành chế biến nông sản:
Thứ nhất, phát triển vùng nguyên liệu tập trung Quy hoạch vùng sản
xuất nguyên liệu tập trung là cơ sở để quy hoạch mạng lưới sản xuất nguyên
Trang 27liệu và chế biến nguyên liệu, nâng cao hiệu quả cả sản xuất và chế biến nông sản Ở hầu hết các địa phương thì việc sản xuất nuôi trồng thủy sản chủ yếu nhỏ lẻ, tự phát và phân tán Thực tế này không chỉ gây bất lợi cho cả người sản xuất nguyên liệu mà cả nhà chế biến cũng gặp nhiều khó khăn Chính vì thế việc tập trung các vùng nguyên liệu để có thể thu mua, dễ dàng trong việc chế biến Bên cạnh đó sản xuất tập trung sẽ giúp cho chất lượng của nông sản
sẽ đáp ứng được tiêu chuẩn, năng suất cao và dễ dàng thực hiện các chính sách hỗ trợ về vốn và kĩ thuật Chính vì thế phát triển vùng nguyên liệu tập trung là một trong những hướng đi cần thiết để nâng cao chất lượng nông sản đồng thời mang lại nhiều lợi ích cho cả người sản xuất và chế biến nông sản
Thứ hai, đa dạng hóa nguồn lực và vốn đảm bảo điều kiện phát triển
ngành công nghiệp chế biến nông sản Việc đầu tư trên nhiều lĩnh vực hệ thống đường giao thông, hệ thống thủy lợi, hệ thống trạm giống…sẽ tốn nhiều vốn nên cần huy động không chỉ vốn của nhà nước mà còn của các tổ chức ngoài nhà nước Cần có những chính sách ưu đãi, khuyến khích như đất đai, tín dụng, thuế… để thu hút vốn đối với các nhà đầu tư Sử dụng nguồn vốn một cách hợp lý cũng là một trong những vấn đề cần được quan tâm
Thứ ba, hỗ trợ xuất khẩu Tìm hiểu thông tin thị trường để đưa ra
những nhận định, tầm nhìn để giúp đỡ các doanh nghiệp khi xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài Phát huy tốt vai trò của các đại diện thương mại của Việt Nam ở nước ngoài trong việc tìm hiểu thị trường và thiết lập mối quan hệ Tham gia tích cực các hội trợ, triển lãm cũng là cách quảng bá sản phẩm và kí kết các hợp đồng xuất khẩu
Xây dựng hệ thống dự trữ, bảo quản hàng nông sản
Xây dựng được kho dự trữ bảo đảm được chất lượng hàng nông sản sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam Sẽ chủ động trong việc xuất khẩu không bị ép giá trong thời kì thu hoạch Tránh được tình trạng được mùa thì mất giá hay giá cả trong thời điểm giữa thu hoạch thường thấp Có thể đưa ra một số ví dụ để thấy được hiệu quả của