Mục Lục Phần I Lí do chọn đề tài 2 Phần II Cơ sở lý luận tiền công của Mác 3 1 Bản chất kinh tế của tiền công 3 2 Các hình thức cơ bản của tiền công 4 3 Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế 5 Phầ[.]
Trang 1Mục Lục
Phần I: Lí do chọn đề tài 2
Phần II: Cơ sở lý luận tiền công của Mác 3
1 Bản chất kinh tế của tiền công 3
2 Các hình thức cơ bản của tiền công 4
3 Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế 5
Phần III: Liên hệ thực tiễn ở Việt Nam 6
1 Khái quát về chính sách công 6
2 Thực trạng chính sách tiền lương ở Việt Nam 8
3 Nguyên nhân dẫn đến hiện trạng bất cập trong chế độ tiền lương ở Việt Nam 11
4 Giải pháp cải cách chính sách tiền lương ở Việt Nam 12
Phần IV: Kết luận……… 14
Trang 2PHẦN I: LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Tiền công là một trong những vấn đề căn bản và quan trọng trong kinh tế học Theo đó, chính sách tiền công là mối quan tâm rất lớn không chỉ với người lao động, nhà doanh nghiệp mà với toàn xã hội Chính sách tiền công có tác động rất lớn đến tăng trưởng, phát triển kinh tế, ổn định xã hội và nâng cao đời sống của người lao động Một số chế định tiền công thích hợp sẽ tạo ra động lực lớn kích thích người lao động hăng say sáng tạo và cống hiến cho xã hội Có tầm quan trọng như thế nhưng ở Việt Nam, chế độ tiền lương hiện hành đang bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập như: tiền lương hầu như không có tác động nâng cao đội ngũ cán bộ, công nhân, viên chức và người hưởng lương từ ngân sách Trong nhiều năm qua, ngân sách nhà nước đều bố trí hàng chục nghìn tỷ đồng để thực hiện cải cách tiền lương nhưng chất lượng đội ngũ cán bộ không được nâng cao, thậm chí còn giảm sút, bộ máy vẫn trì trệ
Dễ dàng nhận thấy, ở mỗi thời kì kinh tế khác nhau thì chính sách tiền công đối với người lao động là khác nhau, song lí thuyết về tiền công của C.Mác luôn có giá trị thực tiễn to lớn trong chính sách tiền công của Việt Nam Việc hiểu, vận dụng đúng, linh hoạt và sáng tạo nguyên lí tiền công của C.Mác trong điều kiện kinh tế thị trường như nước ta hiện nay có ý nghĩa vô cùng to lớn – là tiền đề để phát triển vững mạnh nền kinh tế Vì vậy, đại hội thứ IX của Đảng đã khẳng định: “Phải cải cách cơ bản chế độ tiền lương, nâng cao đời sống của người hưởng lương, chống đặc quyền, đặc lợi” Cải cách tiền lương ở nước ta diễn ra trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vì vậy phải đảm bảo không xa rời lý luận của cách mạng về tiền công (tiền lương), mà điểm mấu chốt là tiền công phải đảm bảo đầy đủ giá trị sức lao động Thấy rõ được tầm quan trọng của tiền lương đối với người lao động em đã chọn đề tài: “”
Trang 3PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN TIỀN CÔNG CỦA MÁC
Rơi vào thời kì khủng hoảng nhất, đen tối nhất khi làn sóng mâu thuẫn trong lòng xã hội giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản đang lên đến cao trào Các cuộc đấu tranh của công nhân liên tiếp nổ ra Những lý luận về giá trị thặng dư nói chung và về tiền công nói riêng, không chỉ có
ý nghĩa phát hiện và phê phán trong giai đoạn trên hay trong chủ nghĩa
tư bản hiện đại Nhìn nhận thực tế rằng: giá trị thặng dư là bài luận được xây dựng trên cở lý luận về tiền công của C.Mác dưới chủ nghĩa tư bản Vào thời điểm C.Mác nghiên cứu về vấn đề này, chủ nghĩa tư bản có thể nói đang là mục tiêu của mọi ngành, mọi nhà kinh doanh hướng đến – khi xã hội chưa bước vào thời kì xã hội chủ nghĩa – là một tiền đề quan trọng để có cái nhìn đúng đắn và khách quan về những lý luận kinh tế của C.Mác mà lý luận về tiền công là một trong những lý thuyết cơ bản
và phức tạp
Bản chất, nguồn gốc và những thủ đoạn chiếm đoạt giá trị thặng dư lại có mối liên hệ chặt chẽ với tiền công Vì vậy, sự nghiên cứu về tiền công của C.Mác một mặt có tác dụng hoàn chỉnh và lý luận giá trị thặng
dư, mặt khác lại góp phần tạo ra một lý luận độc lập về tiền công
1 Bản chất kinh tế của tiền công
Ở bề ngoài của đời sống xã hội tư bản, công nhân làm việc cho nhà
tư bản một thời gian nhất định, sản xuất ra một lượng hàng hóa hay hoàn thành một số công việc nào đó thì nhà tư bản trả cho một số tiền nhất định gọi là tiền công Hiện tượng đó làm cho người ta lầm tưởng rằng tiền công là giá cả của lao động Sự thật thì tiền công không phải là giá
cả hay giá trị của lao động, vì lao động không phải là hàng hóa Sở dĩ như vậy là vì:
Nếu lao động là hàng hóa, thì nó phải có trước, phải được vật hóa trong một hình thức cụ thể nào đó Tiền đề để cho lao động vật hóa được
là phải có tư liệu sản xuất
Nhưng nếu người lao đông có tư liệu sản xuất, thì họ sẽ bán hàng hóa do mình sản xuất ra, chứ không bán “lao động”
Việc thừa nhận lao động là hàng hóa dẫn tới một trong hai mâu thuẫn về lý luận sau đây:
Thứ nhất, nếu lao động là hàng hóa và nó được trao đổi ngang giá,
thì nhà tư bản không thu được lợi nhuận (giá trị thặng dư), điều này phủ nhận sự tồn tại thực tê của quy luật giá trị trong chủ nghĩa tư bản
Trang 4Thứ hai, còn nếu “hàng hóa lao động” được trao đổi không ngang
giá để có giá trị thặng dư cho nhà tư bản, thì phải phủ nhận quy luật giá trị
Nếu lao động là hàng hóa, thì hàng hóa đó cũng hải có giá trị Nhưng bản thân lao động thì không có giá trị Vì thế, lao động không phải là hàng hóa, cái mà công nhân bán cho nhà tư bản chính là sức lao động Do đó, tiền công mà nhà tư bản phải trả cho công nhân là giá cả của sức lao động
Bản chất của tiền công trong chủ nghĩa tư bản là giá trị hay giá cả của sức lao động, nhưng lại biểu hiện ra bề ngoài thành giá trị hay giá cả của lao động
Hình thức biểu hiện đó đã gây ra sự nhầm lẫn Điều đó là do những thực tế sau:
Thứ nhất, đặc điểm của hàng hóa sức lao động là không bao giờ
tách khỏi người bán, nó chỉ nhận được giá cả khi đã cung cấp giá trị sử dụng co người mua, tức là lao động cho nhà tư bản, do đó bề ngoài chỉ thấy nhà tư bản trả giá trị cho lao động
Thứ hai, đối với công nhân, toàn bộ lao động trong cả ngày là
phương tiện để có tiền sinh sống, do đó bản thân công nhân cũng tưởng rằng mình bán lao động Còn đối với nhà tư bản bỏ tiền ra là đẻ có lao động, nên cũng nghĩ rằng cái họ mua là lao động
Thứ ba, lương của tiền công phụ thuộc vào thời gian lao động hoặc
số lượng sản phẩm sản xuất ra, điều đó làm cho người ta lầm tưởng rằng tiền công là giá cả lao động
Tiền công đã che đậy mọi dấu vết của sự phân chia ngày lao động thành thời gian lao động tất yếu và thời gian lao động thặng dư, thành lao động được trả công và lao động không được tra công, do đó tiền công che đậy bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản
2 Các hình thức cơ bản của tiền công
Tiền công có hai hình thức cơ bản là: tiền công tính theo thời gian
và tiền công tính theo sản phẩm
Tiền công tính theo thời gian là hình thức tiền công mà số lượng của nó ít hay nhiều tùy theo thời gian lao động của công nhân (giờ, ngày, tháng) dài hay ngắn
Trang 5Cần phân biệt tiền công giờ, tiền công ngày, tiền công tuần, tiền công đó cao hay là thấp, vì nó còn tùy theo ngày lao động dài hay ngắn
Để đánh giá chính xác mức tiền công không chỉ căn cứ vào tiền công, mà phải căn cứ vào độ dài của ngày lao động và cường độ lao động Giá cả của một giờ lao động là thước đo chính xác tiền công tính theo thời gian
Tiền công tính theo sản phẩm là hình thức tiền công mà số lượng của nó phụ thuộc vào số lượng sản phẩm hay số lượng những bộ phận của sản phẩm mà công nhân đã sản xuất ra hoặc là số lượng công việc đã hoàn thành Mỗi sản phẩm được trả công theo một đơn giá nhất định Đơn giá tiền công được xác định bằng thương số giữa tiền công trung bình của công nhân trong một ngày với số lượng sản phẩm trung bình
mà một công nhân sản xuất ra trong một ngày
Về thực chất, đơn giá tiền công là tiền công trả cho thời gian cần thiết sản xuất ra một sản phẩm Vì thế, tiền công tính theo sản phẩm là hình thức biến tướng của tiền công tính theo thời gian
Chính vì vậy, thực hiện tiền công tính theo sản phẩm, một mặt, giúp cho nhà tư bản trong việc quản lý, giám sát quá trình lao động của công nhân dễ dàng hơn, mặt khác kích thích công nhân lao động tích cực, khẩn trương tạo ra nhiều sản phẩm để nhận được tiền công cao hơn
3 Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế
Tiền công danh nghĩa là số tiền mà người công nhân nhận được do bán sức lao động của mình cho nhà tư bản Tiền công được sử đụng để tái sản xuất sức lao động, nên tiền công danh nghĩa phải được chuyển hóa thành tiền công thực tế
Tiền công thực tế là tiền công được biểu hiện bằng số lượng hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ mà công nhân mua được bằng tiền công danh nghĩa của mình
Tiền công danh nghĩa là giá cả sức lao động, nên nó có thể tăng lên hay giảm xuống tùy theo sự biến động của quan hệ cung - cầu về hàng hóa sức lao động trên thị trường Trong một thời gian nào đó, nếu tiền công danh nghĩa không thay đổi, nhưng giá cả tư liệu tiêu dùng và dịch
vụ tăng lên hoặc giảm xuống, thì tiền lương thực tế sẽ giảm xuống hay tăng lên
Tiền là giá cả của sức lao động, nên sự vận động của nó gắn liền với sự biến đổi của giá trị sức lao động Lượng giá trị sức lao động chịu
Trang 6ảnh hưởng của các nhân tố tác động ngược chiều nhau Nhân tố tác động làm tăng giá trị sức lao động như: sự nâng cao trình độ chuyên môn của người lao động, sự tăng cường độ lao động và sự tăng lên của nhu cầu cùng với sự phát triển của xã hội Nhân tố tác động làm giảm giá trị sức lao động đó là sự tăng năng suất lao động làm cho giá cả tư liệu tiêu dùng bé đi Sự tác động qua lại của các nhân tố đó dẫn tới quá trình phức tạp của sự biến đổi giá trị sức lao động, do đó dần tới sự biến đổi phức tạp của tiền công thực tế
Tuy nhiên, C.Mác đã vạch ra rằng xu hướng chung của sản xuất tư bản chủ nghĩa không phải là nâng cao mức tiền công trung bình mà là hạ thấp mức tiền công ấy Bởi lẽ, trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản, tiền công danh nghĩa có xu hướng tăng lên, nhưng mức tăng của nó nhiều khi không theo kịp mức tăng giá cả tư liệu tiêu dùng và dịch vụ, đồng thời thất nghiệp là hiện tượng thường xuyên, khiến cho cung về lao động làm thuê vượt quá cầu về lao động, điều đó cho phép nhà tư bản mua sức lao động dưới giá trị của nó Vì vậy, tiền công thực tế của giai cấp công nhân có xu hướng hạ thấp
Nhưng sự hạ thấp của tiền công thực tế chỉ diễn ra như một xu hướng, vì có những nhân tố chống lại sự hạ thấp tiền công Một mặt, đó
là cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân đòi tăng tiền công Mặt khác, trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản ngày nay, do sự tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ nên nhu cầu về sức lao động có chất lượng cao ngày càng tăng đã buộc giai cấp tư sản phải cải tiến tổ chức lao động cũng như kích thích người lao động bằng lợi ích vật chất Đó cũng là một nhân tố cản trở xu hướng hạ thấp tiền công
PHẦN III: LIÊN HỆ THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM
1 Khái quát về chính sách công
Ở các nước phát triển và các tổ chức kinh tế quốc tế, thuật ngữ
”chính sách công” được sử dụng rất phổ biến Có thể nêu ra một số quan niệm như sau:
- Chính sách công là một kết hợp phức tạp những sự lựa chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả quyết định không hành động, do các cơ quan nhà nước hay các quan chức nhà nước đề ra (William N Dunn, 1992)
Trang 7- Chính sách công bao gồm các quyết định chinh trị đề thực hiện chương trình nhằm đạt được những mục tiêu xã hội (Charle L Cochran and Eloise F Malone, 1995)
- Nói một cách đơn giản nhất, chính sách công là tập hợp các hoạt động của chính phủ chính quyền, trực tiếp hoặc thông qua tác nhân ở vì
nó có ảnh hưởng đến đời sống của công dân (B Guy Peters, 1999)
- Chính sách công là một quá trình hành động có mục đích mà một
cá nhân hoặc một nhóm theo đuổi một cách kiên định trong công việc giải quyết vấn đề (James Anderson, 2003)
- Chính sách công cũng là một quá trình hành động hoặc không hành động của chính quyền để đáp lại một vấn đề công cộng Nó được kết hợp với các cách thực hiện và mục tiêu chính sách đã được chấp thuận một cách chính thức, cũng như các quy định và thông lệ của các cơ quan chức năng thực hiện những chương trình (Kraff and Furlong, 2004)
Từ các quan niệm trên, chính sách công có thể được nhìn nhận như sau:
Thứ nhất, là một chính sách của nhà nước, của chính phủ (do nhà
nước, do chính phủ đưa ra), là một bộ phận thuộc chính sách kinh tế và chính sách nói chung của mỗi nước
Thứ hai, về mặt kinh tế, chính sách cũng phản ánh và thể hiện hoạt
động cũng như quản lí đối với khu vực công, phản ánh việc đảm bảo hàng hóa, dịch vụ công cộng cho nền kinh tế
Thứ ba, chính sách công là một công cụ quản lý của nhà nước, được
nhà nước sử dụng để:
Khuyến khích việc sản xuất, đảm bảo cho hàng hóa, dịch vụ công cho nền kinh tế, khuyến khích cả với khu vực công và cả khu vực tư Quản lý nguồn lực công một cách hiệu quả, hiệu lực, thiết thực đối với cả kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường, cả trong ngắn hạn lẫn trong dài hạn Nói cách khác, chính sách cũng là một trong những căn cứ đo lường năng lực hoạch định chính sách, xác định mục tiêu, căn cứ kiểm tra, đánh giá, xác định trách nhiệm trong việc sử dụng nguồn lực công như ngân sách nhà nước, tài sản công, tài nguyên đất nước
Hiện nay, nhiều chính sách công ở Việt Nam đang được các đại biểu Quốc hội quan tâm Trong diễn đàn Quốc hội đã có những ý kiến bàn về vai trò của các nhóm dự án, nghiên cứu độc lập, có đề xuất về việc các đại biểu quốc hội nên được trao quyền trình các dự án luật… Theo GS Kenichi Ohno, Việt Nam có một quy trình hoạch định chính
Trang 8sách có một không hai Hầu hết chính sách được xây dựng với sự can dự hạn chế của doanh nghiệp Doanh nghiệp chỉ được phép có ý kiến sau hoặc khi có các vấn đề phát sinh Chính sách được xây dựng trên cơ sở các phân tích và mục tiêu không thực tế, không được giới kinh doanh ủng hộ Hơn nữa, các chính sách không có sự kết hợp của các Bộ, chỉ là bàn liệt kê các chính sách mà thiếu kế hoạch hành động cụ thể Mỗi Bộ ngành có nhiều kế hoạch nhưng lại không xác định được lĩnh vực ưu tiên
Vì vậy, Việt Nam nên bắt đầu một quy trình hoạch định kế hoạch mới, với sự tham gia của tất cả các bên liên quan, bao gồm: Chính Phủ, doanh nghiệp, người tiêu dùng, người nước ngoài, các nhà tài trợ, các nhà khoa học, chuyên gia Đôi khi, các doanh nghiệp hoặc các nhà khoa học có thể vạch ra một chiến lược trình chính phủ Chính sách không đơn thuần là một văn bản hành chính của nhà nước
Có thể thấy, Chính sách công là một vấn đề khá mới ở Việt Nam, trước đây, vẫn có quan niệm về tài sản công, sử dụng nguồn lực công , nhưng theo quan niệm, theo nhận thức công hữu, sở hữu công cộng, của đất nước, của toàn dân Do nhận thức chưa đúng đắn, chưa đầy đủ về chính sách công theo quan niệm mới, hiện đại nên trên thực tế việc tổ chức thực thi chính sách quản lí còn nhiều yếu kém, lãng phí
2 Thực trạng chính sách tiền lương ở Việt Nam
Trong những năm gần đây, công cuộc đổi mới ở nước ta đạt được nhiều thành tựu trong mọi lĩnh vực, đặc biệt trong lĩnh vực nâng cao chất lượng cuộc sống con người, thể hiện qua chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, đầu tư phát triển giáo dục, phát triển y tế Theo đó, chính sách tiền lương tại Việt Nam cũng đạt được nhiều thành tựu:
Thứ nhất, quan điểm, chủ trương về cải cách chính sách tiền lương
từ năm 2003 đến nay là đúng đắn, phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đặc biệt, quan điểm coi việc trả lương đúng cho người lao động là thực hiện cho đầu tư, phát triển, tạo động lực
để phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng dịch vụ công, góp phần làm trong sạch và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước Đặc biệt, Luật Cán bộ, Công chức đã quy định công chức có 2 năm liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ sẽ bị cho thôi việc Thực hiện tốt việc xác định vị trí việc làm sẽ là cơ sở và căn cứ để tính toán được biên chế công chức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, phạm vi và đối tượng quản lý trong từng cơ quan, tổ chức, đơn vị Người nào không đáp ứng được các yêu cầu của vị trí việc làm sẽ bị đưa ra khỏi công vụ
Trang 9Chính phủ đã xác định lộ trình thực hiện việc xây dựng hệ thống vị trí việc làm trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị, phấn đấu đến năm 2015, 50% cơ quan hành chính nhà nước có cơ cấu cán bộ, công chức theo vị trí việc làm
Thứ hai, tách dần tiền lương khu vực sản xuất kinh doanh với khu
vực hành chính nhà nước (HCNN) và khu vực sự nghiệp cung cấp dịch
vụ công; chính sách tiền lương với chính sách bảo hiểm xã hội và ưu đãi người có công, trợ giúp xã hội Đó là bước ngoặt rất quan trọng cải cách tiền lương trong điều kiện mới theo định hướng thị trường
Thứ ba, chú ý gắn cải cách tiền lương cán bộ, công chức, viên chức
(CBCCVC) với cải cách hành chính và xây dựng nền công vụ, tinh giảm biên chế khu vực HCNN, phát triển khu vực sự nghiệp cung cấp dịch vụ công theo nhu cầu phát triển của xã hội Tuy phải tiến hành dần từng bước nhưng là hướng đi đúng đắn Một số ý kiến cho rằng cần tiếp tục cắt giảm 40% cán bộ công chức hiện nay để có nguồn bổ sung cho cải cách tiền lương, nếu không cải cách tiền lương khó thành công
Thứ tư, tiếp tục đổi mới cơ chế tiền lương, mở rộng và làm rõ trách
nhiệm, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị sự nghiệp công lập trong việc xếp lương, trả lương gắn với chất lượng và hiệu quả cung cấp dịch vụ công theo tinh thần xã hội hóa Đây cũng là định hướng rất quan trọng trong cải cách và trong cơ chế tạo nguồn cải cách tiền lương CBCCVC
Thứ năm, tiền lương danh nghĩa của CBCCVC có xu hướng tăng do
nhiều lần điều chỉnh mức lương tối thiểu chung trên cơ sở bù trượt giá và tăng trưởng kinh tế, mở rộng quan hệ tiền lương tối thiểu trung bình -tối đa, từng bước tiền tệ hóa các khoản ngoài lương nhằm khắc phục bình quân, bao cấp và ổn định đời sống của CBCCVC Theo Bộ Nội vụ,
từ năm 2003 đến nay, mức lương tối thiểu chung cho người lao động trong khu vực hành chính - sự nghiệp đã điều chỉnh 7 lần từ 210.000 đồng/tháng lên 830.000 đồng/tháng, với mức tăng gần 4 lần Từ ngày 1/5/2012, mức lương tối thiểu đã được quyết định tăng lên mức 1.050.000 nghìn đồng/tháng Việc điều chỉnh này được thực hiện trên cơ
sở các mức đã dự kiến trong Đề án tiền lương giai đoạn 2003 - 2007 và
2008 - 2012, có điều chỉnh linh hoạt theo mức tăng trưởng kinh tế, chỉ số giá tiêu dùng và khả năng của ngân hàng nhà nước
Song thực tế, chính sách phát triển tiền công của nước ta còn chậm phát triển so với sự phát triển chung của tình hình kinh tế - xã hội Chính sách tiền lương còn nhiều bất hợp lí được thể hiện ở các điểm sau:
- Mức lương tối thiểu:
Theo nhiều đánh giá tiền lương của CBCCVC khá thấp và thấp hơn khu vực sản xuất kinh doanh, chưa đảm bảo cho các công chức sống
Trang 10bằng tiền lương Thu nhập ngoài lương lớn là một trong những nguyên nhân của tiêu cực, tham nhũng Quan hệ tiền lương chưa hợp lý, các mức lương theo hệ số tiền lương gắn chặt với tiền lương tối thiểu chung Tiền lương chưa gắn chặt với vị trí, chức danh và hiệu quả công tác, chất lượng cung cấp dich vụ công Mức tiền lương tối thiểu mới chỉ bảo đảm
bù trượt giá là chính, mức tăng để đảm bảo tiền lương đủ sống tốt, phù hợp với giá trị lao động là không đáng kể và ngày một giảm dần Theo một nghiên cứu, lương tối thiểu trong khu vực nhà nước mới đạp ứng được khoảng 37,5% nhu cầu sống tối thiểu (nếu tính cả 25% phụ cấp công vụ thì đạt khoảng 46,9% nhu cầu sống tối thiểu) Mức lương tại khu vực doanh nghiệp cũng chỉ đạt 75% nhu cầu sống tối thiểu của người lao động Thực trạng này cho thấy tiền lương đã lỗi thời, thang bảng lương hiện thời cứng nhắc, thiếu linh hoạt, không khuyến khích được người tài Đặc biệt, bảng lương đối với cán bộ, công chức đã không theo kịp thị trường, xa rời thực tế Mặc dù qua nhiều lần điều chỉnh tăng mức lương tối thiểu, nhưng cho tới nay mức lương vẫn còn thấp không đảm bảo tái sản xuất giản đơn sức lao động của bản thân người lao động
- Thời gian và mức độ điều chỉnh tiền lương danh nghĩa:
Ở nước ta, trong những năm gần đây, tỷ lệ lạm phát hàng năm khá cao Vì thế, về nguyên tắc để tiền lương thực tế của người lao động trong nền kinh tế thị trường không bị giảm cân cần phải điều chỉnh tăng mức lương danh nghĩa ít nhất ngang bằng với tỷ lệ lạm phát Tuy nhiên, viêc điều chỉnh lương chưa được thực hiện kịp thời, không theo kịp với đà tăng giá Việc tăng lươmg hiện nay chỉ bù đắp được mức tăng chỉ số giá
cả chứ chưa đáp ứng được mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống
- Hệ số phụ cấp:
Tiền lương có một chức năng cực kì quan trọng là điều tiết quan hệ cung - cầu về sức lao động trong nền kinh tế thị trường Hệ số phụ cấp trong chính sách tiền lương ở nước ta hiện nay mới chỉ có loại phụ cấp tham gia điều tiết cung – cầu sức lao động theo vùng là phụ cấp khu vực, phụ cấp thu hút, phụ cấp đắt đỏ Sự chênh lệch mức lương giữa lao động giản đơn và lao động phức tạp chưa đủ để khuyến khích nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thậm chí còn có tình trạng “chảy máu chất xám” Các chế độ phụ cấp lương và chế độ nâng ngạch, bậc còn có chỗ chắp
vá, góp phần phá vỡ quan hệ tiền lương chung Chế độ nâng ngạch, bậc, xếp lương còn bất cập, không gắn với trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của công việc, chức vụ đòi hỏi Quá trình đào tạo, bồi dưỡng thi nâng ngạch cho công chức, viên chức không gắn liền với nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ theo công việc đảm nhận vừa hình thức vừa gây lãng phí