MỤC LỤC A LỜI MỞ ĐẦU B NỘI DUNG I Lý luận của chủ nghĩa Mác về sản xuất hàng hóa 1 Sản xuất hàng hóa 1 1 Điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa 1 2 Đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hóa[.]
Trang 1MỤC LỤC
A LỜI MỞ ĐẦU
B NỘI DUNG
I Lý luận của chủ nghĩa Mác về sản xuất hàng hóa
1 Sản xuất hàng hóa
1.1 Điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa
1.2 Đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hóa
2.Hàng hoá
2.1 Hai thuộc tính của hàng hoá
2.2 Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá
II Liên hệ thực tế ở Việt Nam
1 Thực trạng kinh tế Việt Nam để chúng ta phải chuyển sang phát triển kinh tế hàng hóa là tất yếu khách quan
2 Tiềm năng và hạn chế của nền kinh tế hàng hóa ở nước ta
2.1 Tiềm năng
2.2 Hạn chế
3 Những thành tựu kinh tế mà nước ta đạt được từ những năm đổi mới đến nay
4 Điều kiện và giải pháp để phát triển kinh tế hàng hóa ở Việt
Nam
C KẾT LUẬN
D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 2A LỜI MỞ ĐẦU
Trước năm 1986, Việt Nam áp dụng nền kinh tế tự cung tự cấp Với nền kinh tế này, một phần nào đó nước ta cũng đã có những bước phát triển nhất định Tuy nhiên, sau đó với tình hình định hướng chung của Việt nam, nền kinh tế này trở nên không còn phù hợp và đã gây ra nhiều sự kìm hãm, bộc lộ các mặt yếu kém Nhận thấy tình hình cấp thiết, tại Đại hội VI, Đảng và Nhà nước ta đã có những quyết định quan trọng trong đổi mới kinh tế, kiên quyết chuyển đổi từ nền kinh tế hàng hoá tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước và định hướng xã hội chủ nghĩa
Từ đó, nền sản xuất hàng hoá đã trở thành nền tảng, động lực thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển bền vững đất nước, đưa nền kinh tế nước ta đi lên, hội nhập không ngừng với thế giới Như vậy
từ việc nghiên cứu lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin về kinh tế hàng hóa chúng ta sẽ có cái nhìn tổng quát hơn về vai trò cũng như hạn chế
của nền sản xuất hàng hóa để từ đó soi rọi vào vấn đề cấp bách hiện nay của nước ta trong công cuộc đổi mới của nước ta đang đi theo con
đường xã hội chủ nghĩa
Xuất phát từ những thực tiễn trên, em đã lựa chọn đề : “Trình bày
lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về sản xuất hàng hoá và liên hệ thực
tế ở Việt Nam.” Do hạn chế về hiểu biết nên trong bài viết này của em sẽ khó tránh được những sai sót Kính mong được cô giáo bỏ qua và chỉ bảo để bài viết thêm phần sâu sắc
B NỘI DUNG
Trang 3I Những vấn đề lý luận cơ bản về sản xuất hàng hoá:
1 Sản xuất hàng hoá:
Sản xuất hàng hóa là một khái niệm được sử dụng trong kinh tế chính trị Mác – Lênin dùng để chỉ về kiểu tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất ra không phải là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người trực tiếp sản xuất ra nó mà là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác, thông qua việc trao đổi, mua bán Hay nói một cách khác, sản xuất hàng hoá là kiểu tổ chức kinh tế mà sản phẩm sản xuất ra
là để bán
Ví dụ: Đối với kinh tế tự nhiên, có nhu cầu mặc áo mới thì tự may áo, nhu cầu có một cái bàn mới thì tự làm ra cái bàn Còn đối với nền kinh
tế hang hoá, để làm ra một chiếc máy bay thì có phân công lao động, tức
là công ty phải có một bộ phận chuyên sản xuất ra cánh máy bay, bộ phận chuyên sản xuất động cơ, chuyên về bánh xe,… Trong trường hợp này sản xuất ra không nhằm mục đích sử dụng mà là để bán cho những trường hợp muốn mua máy bay
1.1 Điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hoá:
Kinh tế hàng hóa ra đời và tồn tại trong nhiều hình thái kinh tế xã hội gắn liền với hai điều kiện tiền đề:
Một là: Có sự phân công lao đông xã hội Phân công lao động xã hội
là sự phân chia lao động xã hội ra thành các ngành nghề, lĩnh vực khác nhau dựa theo khả năng và thế mạnh của từng người trong quá trình sản xuất Vì vậy người sản xuất này phải dựa vào người sản xuấtkhác, phải trao đổi sản phẩm cho nhau
Ví dụ: Người nông dân thì sản xuất ra lúa gạo, còn người thợ dệt sản xuấtra vải vóc Nhưng người nông dân cũng phải cần đến vải vóc và người thợdệt cũng cần lúa gạo Để thỏa mãn nhu cầu của mình họ phải nương tựavào nhau, trao đổi sản phẩm cho nhau
Như vậy phân công lao động xã hội là biểu hiện sự phát triển của lực lượng sản xuất làm cho năng xuất lao động tăng lên và làm cho trao đổi sản phẩm trở thành tất yếu Tuy nhiên theo Các Mác đây mới chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ để sản xuất hàng hóa ra đời và tồn tại
Hai là: Có chế độ tư hữu hoặc các hình thức khác nhau về tư liệu sản
xuất hàng hóa và sản phẩm, điều này làm cho người sản xuất hàng hóa độc lập với nhau và mỗi người có quyền đem sản phẩm của mình trao đổi với người khác Đây là điều kiện đủ để sản xuất hàng hóa ra đời và tồn tại
Trang 4Như vậy: Phân công lao động xã hội làm người sản xuất phụ thuộc vào nhau còn chế độ tư hữu lại chia rẽ họ, làm họ độc lập với nhau, đây
là một mâu thuẫn Tuy nhiên sản xuất hàng hóa chỉ ra đời khi có đồng thời cả hai điều kiện trên, nếu thiếu một trong hai điều kiện ấy thì không
có sản xuất hàng hóa và sản phẩm lao động không mang hình thái hàng hóa
1.2 Đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hoá.
Đặc trưng :
- Sản xuất hàng hoá là sản xuất để trao đổi, mua bán, không phải
để tiêu dùng
- Lao động của người sản xuất vừa mang tính chất tư nhân, vừa mang tính xã hội
- Mục đích của sản xuất hàng hoá là giá trị, lợi nhuận, không phải giá trị sử dụng
Ưu thế :
- Khiến cho phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc,tạo mối liên hệ chặt chẽ giữa các ngành, vùng Từ đó, xoá bỏ tính tự cấp, tự túc, bảo thủ, đẩy mạnh xã hội hoá sản xuất và lao động
- Thúc đẩy cải tiến kĩ thuật, mẫu mã hàng hoá, tổ chức tốt quá trình tiêu thụ Từ đó làm tăng năng suất lao động xã hội, giúp cho lực lượng sản xuất phát triển
- Tạo ra sự khác biệt về quy mô giữa sản xuất tự cấp và sản xuất hàng hoá Quy mô lớn trở thành hình thức kinh tế xã hội hiện đại, phù hợp với thời đại ngày nay
- Thúc đẩy giao lưu kinh tế, văn hoá, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của xã hội
Tuy có rất nhiều những ưu thế nhưng sản xuất hàng hoá cũng đem lại không ít những mặt trái Điển hình là tình trạng phân hoá giàu nghèo
rõ nét giữa những người sản xuất hàng hoá, đem lại nguy cơ khủng hoảng kinh tế,
2 Hàng hoá.
Hàng hoá là sản phẩm của lao động, có thể thoả mãn nhu cầu nào
đó của con người thông qua trao đổi, mua bán Có 2 loại hàng hoá: Hữu hình và vô hình
Trang 52.1 Hai thuộc tính hàng hoá.
Hai thuộc tính hàng hoá : Giá trị sử dụng và giá trị
- Giá trị sử dụng : là công dụng hay tính có ích của hàng hoá có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người Giá trị sử dụng do thuộc tính tự nhiên của vật thể làm ra hàng hoá đó quyết định; Là một phạm trù vĩnh viễn cùng với sự tồn tại của hàng hoá; Giá trị sử dụng chỉ thể hiện ra khi tiêu dùng Theo Các Mác, chỉ có trong việc sử dụng hay tiêu dùng thì giá trị sử dụng mới được thể hiện Hai giá trị sử dụng khác nhau
có thể trao dổi được với nhau theo một tỉ lệ nhất định là vì giữa chúng có một điểm chung với nhau : đều là sản phẩm của lao động, đều kết tinh một lượng sức lao động như nhau
Như vậy, một vật muốn trở thành hàng hoá thì giá trị sử dụng của
nó phải là vật được sản xuất ra để bán, trao đổi Trong kinh tế hàng hoá, giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi
- Giá trị : là hao phí sức lao động của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá Lượng giá trị hàng hoá là lượng sức lao động hao phí để sản xuất ra hàng hoá, được đo bằng thời gian lao động để sản xuất ra hàng hoá nhưng không phải là thời gian lao động cá biệt của người sản xuất riêng lẻ mà đo bằng thời gian lao động xã hội trung bình cần thiết
để sản xuất ra hàng hoá
Hàng hoá là sự thống nhất của hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị, nhưng đây là sự thống nhất của hai mặt đối lập
2.2 Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá
a, Lao động cụ thể
Là lao động có ích của người sản xuất, tồn tại dưới hình thái của một nghề nghiệp, lĩnh vực sản xuất Mỗi lĩnh vực cụ thể có mục đích riêng tác động vào một đối tượng lao động riêng bằng những phương pháp lao động riêng, thông qua những công cụ lao động riêng tạo ra kết quả lao động riêng
b, Lao động trừu tượng
Là lao động nói chung của người sản xuất hàng hoá sau khi đã gạt đi những hình thức biểu hiện của nó, chỉ còn lại một cái chung là sự hao phí sức lao động, sự mệt nhọc về thần kinh, cơ bắp của người lao động
Trang 6Lao động trừu tượng tạo ra giá trị, làm cơ sở cho sự ngang bằng trong trao đổi
II Liên hệ thực tế ở Việt Nam
1 Thực trạng kinh tế Việt Nam để chúng ta phải chuyển sang
phát triển kinh tế hàng hóa là tất yếu khách quan
Sau kháng chiến thắng lợi, dựa vào kinh nghiệm sản xuất của các nước XHCN, đất nước ta bắt đầu xây dựng mô hình kế hoạch hóa tập trung dựa trên hình thức sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất Với sự nỗ lực của nhân dân ta cộng thêm sự giúp đỡ tận tình của các nước XHCN khác, mô hình kế hoạch hóa đã phát huy được những tính ưu việt của nó
Từ một nền kinh tế hàng hóa lạc hậu và phân tán bằng công cụ kế hoạch, Nhà nước ta đã tập trung vào lực lượng quan trong về đất đai, tài sản
và tiền bạc để ổn định và phát triển kinh tế Tháng 8 năm 1979, Nhà nước ta đã chủ trương phát triển sản xuất hàng hóa Chỉ thị 1000 của ban
Bí thư trung ương và quyết định số 25/CP của Chính phủ năm 1981 đã
để cho các hợp tác xã tự chủ trong sản xuất kinh doanh Đại hội Đảng
VI, tháng 12 năm 1986 đã khẳng định quá trình từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lởn nước ta là quá trình chuyển từ nền kinh tế tự cung tự cấp, hay kinh tế tự nhiên sang nền kinh tế hàng hóa Điều quan trọng là ở đây chúng ta không chỉ thừa nhận từng khâu, từng phần sản phẩm là sản xuất hàng hóa mà là cả một nền kinh tế hàng hóa, coi đó là một quá trình có tính quy luật đi lên sản xuất XHCN ở nước ta Tại hội nghị TW 6 (khóa
VI, 3/1989) và Đại hội VII (6/1991) trên cơ sở nhận thức sâu hơn về tình hình đất nước, Đảng ta mới có điều kiện nói rõ và nhấn mạnh “ Nền kinh
tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước là hoàn toàn cần thiết để giải phóng và phát huy được các tiềm năng sản xuất của xã hội”
Đến đại hội lần VIII (6/1996) trên cơ sở kế thừa những đường lối,
chủ trương đúng đắn về việc sử dụng kinh tế hàng hóa do các đại hội trước đề ra, Đảng ta đã xác định rõ hơn vai trò của kinh tế hàng hóa –
mà phát triển cao hơn chính là kinh tế thị trường “ Cơ chế thị trường đã phát huy tác dụng tích cực to lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội Nó chẳng những
không đối lập mà còn là một nhân tố khách quan cần thiết của việc xây dựng và phát triển đất nước theo con đương XHCN” Đây là bước tiến quan trọng trong việc đổi mới tư duy kinh tế của Đảng ta Quan điểm này xuất phát từ tình hình kinh tế xã hội ở nước ta, từ nguyện vọng
Trang 7chính đáng của nhân dân ta, trên cơ sở vận dụng mô hình của Mác-Lênin
về một chủ nghĩa xã hội có nền kinh tế hàng hóa Nó phù hợp với thực tế của nước ta, phù hợp với các quy luật kinh tế và với xu thế của thời đại Bởi vì:
Thứ nhất: nếu chúng ta không thay đổi cơ chế kinh tế mà vẫn
giữ nguyên cơ chế kinh tế cũ thì không thể nào có đủ sản phẩm để tiêu dùng chứ chưa muốn nói đến tích lũy vốn để mở rộng sản xuất Thực tế những năm cuối của thập kỉ 80 đã chỉ rõ việc thực hiện cơ chế cũ cho dù chúng ta đã liên tục đổi mới hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế cũ, nhưng hiệu quả
của nền kinh tế xã hội đạt đến mức rất thấp, sản xuất không đáp ứng nổi tiêu dùng của xã hội, tích lũy hầu như không có, đôi khi còn ăn lạm
cả vào vốn vay của nước ngoài
Thứ hai: do nền kinh tế đặc trưng của nền kinh tế tập trung là rất
cứng nhắc do nó chỉ có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn ngắn và chỉ có tác dụng phát triển nền kinh tế theo chiều rộng, nền kinh tế chỉ huy ở nước ta tồn tại quá dài do đó mó không những không còn tác dụng đáng kể trong việc thúc đẩy sản xuất phát triển mà nó còn sinh ra nhiều hiện tượng tiêu cực làm giảm năng suất chất lượng và hiệu quả sản xuất
Thứ ba: xét về mối quan hệ kinh tế đối ngoại ta thấy nền kinh tế
nước ta đang hội nhập với nền kinh tế thị trường thế giới, nước ta còn tồn tại kinh tế đối ngoại, còn tham gia vào sự phân công hiệp tác quốc
tế Mặt khác nếu nền kinh tế nước ta hội nhập với nền kinh tế thị trường thế giới,giao lưu về hàng hóa, dịch vụ và đầu tư trực tiếp của nước ngoài
sẽ làm cho sự vận động của nền kinh tế nước ta gần gũi hơn với nền kinh tế thị trường thế giới, tương quan giá cả các loại hàng hóa trong nước sẽ gần gũi hơn với tương quan giá cả hàng hóa quốc tế
Thứ tư: xu hướng chung phát triển kinh tế của thế giới là sự phát
triển kinh tế của mỗi nước không thể tách rời phát triển và hội nhập quốc
tế Sự cạnh tranh giữa các quốc gia đã thay đổi hẳn về chất không còn là dân số đông, vũ khí nhiều, quân đội mạnh mà là tiềm lực kinh tế Mục đích chính sách của các quốc gia là tạo ra được nhiều của cải vật chất trong quốc gia của mình, là tốc độ phát triển kinh tế cao, đời sống nhân dân được ổn định, thất nghiệp thấp Tiềm lực kinh tế đã thành thước đo
Trang 8chủ yếu, vai trò sức mạnh của mỗi dân tộc, là công cụ chủ yếu để bảo vệ
uy tín và duy trì sức mạnh của Đảng cầm quyền
2 Tiềm năng và hạn chế của nền kinh tế hàng hóa ở nước ta.
2.1Tiềm năng
- Có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng, vị trí địa
lí thuận lợi
- Có sức lao động dồi dào, trình độ văn hóa, trình độ về chuyên môn
so với nhiều nước đang phát triển thì nước ta ở mức trung bình
- Chúng ta có đường lối, chính sách đổi mới đúng đắn của Đảng và Nhà nước
2.2 Hạn chế
- Tuy là nước nông nghiệp nhưng bình quân ruộng đất canh tác theo đầu người thấp
- Nền kinh tế kém phát triển, mang nặng dấu ấn của kinh tế tự nhiên, còn chịu ảnh hưởng nặng nề của cơ chế kế hoạch hóa tập trung, thi
trường chưa phát triển và chưa đồng bộ, thu nhập quốc dân theo đầu người thấp, sức mua còn hạn chế
- Kết cấu hạ tầng cơ sở còn kém phát triển, trình độ khoa học kĩ
thuật chưa cao, hệ thống pháp luật còn nhiều bất cập… Đảng và Nhà nước ta đang có những chính sách, giải pháp để khắc phục những hạn chế trên
3 Những thành tựu kinh tế mà nước ta đạt được từ những năm đổi mới đến nay
Đại hội VI của Đảng năm 1986 đã đặt nền móng vững chắc cho quan điểm phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Từ nền kinh tế bao cấp trì trệ bị bao vây cấm vận, đời sống nhân dân hết sức khó khăn, đến hôm nay, sau gần 30 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nền kinh tế nước ta đã có những bước tiến
vững vàng , tạo đà cho thế kỷ phát triển mới của đất nước Chúng ta có thể tự hào khẳng
định kinh tế Việt Nam 30 năm qua đạt được nhiều thành tựu to lớn
Một là, đã đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế- xã hội,
kinh tế tăng trưởng nhanh, cơ sở vật chất kỹ thuật được tăng cường, đời sống của các tầng lớp nhân dân không ngừng được cải thiện Từ năm 1986 đến năm 1989, công cuộc đổi mới đạt được những thành tựu
Trang 9bước đầu rất quan trọng Nhưng vào đầu thập kỷ 90, khi bước vào thực hiện chiến lược 10 năm 1991-2000, đất nước ta vẫn chưa thoát khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội Nhờ triển khai mạnh mẽ đường lối đổi mới toàn diện của Đảng, đến năm 1995, hầu hết các chỉ tiêu được hoàn thành vượt mức, tạo được tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ phát triển mới: đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Từ năm 1996 đến năm 2000 đất nước ta đạt được nhịp độ tăng trưởng cao Tốc độ tăng trưởng bình quân GDP của 10 năm (1990-2000) đạt 7,5%; năm 2000 so với năm 1990, GDP tăng hơn 2 lần Trong 5 năm (2001-2005) của nhiệm kỳ đại hôi IX, GDP bình quân tăng gần 7,5%, riêng năm
2005 đạt 8,4% GDP bình quân đầu người khoảng 10 triệu đồng (tương đương 640 USD), vượt mức bình quân của các nước đang phát triển có thu nhập thấp (500 USD) Từ một đất nước nghèo, mỗi năm phải nhập khẩu 50 vạn đến 1 triệu tấn lương thực, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới Năm 2005, Việt Nam đứng thứ nhất thế giới về xuất khẩu hạt tiêu, đứng thứ hai về gạo, cà phê, hạt điều, thứ tư
về cao su… Cùng với sự tang trưởng kinh tế, sự ổn định kinh tế vĩ mô được duy trì, bảo đảm sự ổn định chính trị, xã hội, quốc phòng và an ninh, bước đầu phát huy được nhiều lợi thế của đất nước, của từng vùng
và từng ngành; cải cách thể chế kinh tế, từng bước hoàn thiện các chính sách cơ chế quản lý và hệ thóng điều hành; cải cách và nâng cao hoạt động của hệ thống tài chính, tiền tệ; phát triển nguồn và chất lượng lao động, khoa học và công nghệ GDP năm 2010 tính theo giá thực tế đạt 101,6 tỷ USD, gấp 3,26 lần so với năm 2000 Mặc dù bị tác động
của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu (năm 2008), nhưng thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam vẫn đạt cao Trong năm 2011, mặc dù sự phục hồi kinh tế sau khủng hoảng tài chính toàn cầu còn rất chậm, song mức tăng trưởng kinh tế bình quân vẫn đạt 7% năm, tuy thấp hơn kế hoạch (7,5% - 8%), nhưng vẫn được đánh giá cao hơn bình quân các nước trong khu vực Như vậy, trong vòng 20 năm (1991 - 2011), tăng trưởng GDP của Việt Nam đạt 7,34% năm, thuộc loại cao ở khu vực Đông Nam Á nói riêng, ở châu Á và trên thế giới nói chung; quy mô kinh tế năm 2011 gấp trên 4,4 lần năm 1990, gấp trên 2,1 lần năm 2000 (thời kỳ 2001 - 2011 bình quân đạt 7,14% năm) Năm 2012, GDP tăng 5,03% so với năm 2011 Mức tăng trưởng tuy thấp hơn mức tăng 5,89% của năm 2011, nhưng trong bối cảnh kinh
tế thế giới gặp khó khăn thì đây là mức tăng trưởng hợp lý Nhìn chung, các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế đều có bước phát triển khá, trong đó
sự phát triển ổn định trong ngành nông nghiệp, nhất là sản xuất lương thực đã bảo đảm an ninh lương thực quốc gia; sản phẩm công nghiệp
Trang 10phát triển ngày càng đa dạng và phong phú về chủng loại, chất lượng được cải thiện, từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh, bảo đảm cung cầu của nền kinh tế, giữ vững thị trường trong nước và mở rộng
thị trường xuất khẩu; chú trọng đầu tư phát triển một số ngành công nghiệp mới, công nghệ cao; khu vực dịch vụ có tốc độ tăng trưởng ổn định Sự phục hồi và đạt mức tăng trưởng khá này đã tạo cơ sở vững chắc để quá trình thực hiện kế hoạch 5 năm (2011 - 2015) trong những năm sau đạt kết quả vững chắc hơn Tính chung cho cả giai đoạn GDP tăng bình quân gần 7%, trong đó có tới 20 năm liên tục GDP tăng bình quân 7,43% Đến năm 2016, quy mô nền kinh tế đã đạt khoảng 217 tỷ USD
Hai là, cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, gắn sản xuất với thị trường Về cơ cấu kinh tế tiếp tục được chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP giảm dần, năm 1986 là 46,3%, năm 2005 còn 20,9%, năm 2010 còn 20,6%; cơ cấu trồng trọt và chăn nuôi
đã chuyển dịch theo hướng tiến bộ, tăng tỷ trọng các sản phẩm có năng suất và hiệu quả kinh tế cao, các sản phẩm có giá trị xuất khẩu Tỷ trọng công nghiệp và xây dựng tăng nhanh và liên tục với thiết bị, công nghệ ngày càng hiện đại: năm 1988 là 21,6%, năm 2005 lên 41% Tỷ trọng khu vực dịch vụ đã tăng từ 33,1% năm 1988 lên 38,1% năm 2005 Nông nghiệp có sự biến đổi quan trọng, đã chuyển từ độc canh lúa, năng suất thấp và thiếu hụt lớn, sang không những đủ dùng trong nước, còn
xuất khẩu gạo với khối lượng lớn, đứng thứ hai thế giới, góp phần vào
an ninh lương thực quốc tế; xuất khẩu cà phê, cao su, hạt điều, hạt tiêu, thủy sản với khối lượng lớn đứng thứ hạng cao trên thế giới Các ngành dịch vụ đã phát triển đa dạng hơn, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của sản xuất và đời sống: ngành du lịch, bưu chính viễn thông phát triển với tốc độ nhanh; các ngành dịch vụ tài chính, ngân hàng, tư vấn
pháp lý; có bước phát triển
Ba là, thực hiện có kết quả chủ trương phát triển nền kinh tế
nhiều thành phần, phát huy ngày càng tốt hơn
tiềm năng của các thành phần kinh tế Kinh tế nhà nước được sắp xếp, đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả, tập trung hơn vào những ngành then chốt và những lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế Cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước được đổi mới một bước quan trọng theo hướng xóa bao cấp, thực hiện mô hình công ty, phát huy quyền tự chủ và trách nhiệm của doanh nghiệp trong kinh doanh Kinh tế tư nhân phát