1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu nuôi cấy tế bào gốc vùng rìa giác mạc và niêm mạc má tự thân điều trị bệnh lý biểu mô giác mạc

7 71 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 687,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề được đặt ra ở nghiên cứu này đó là một số bệnh lý khiếm khuyết tế bào vùng rìa giác mạc bẩm sinh hoặc mắc phải bởi các nguyên nhân như hội chứng steven johnson, phẫu thuật giác mạc nhiều lần, bỏng nhiệt hoặc hóa chất tạo sẹo giác mạc, nhiễm trùng, đeo contact lens... dẫn đến phá hủy lớp biểu mô giác mạc gây giảm thị lực của bệnh nhân. Để điều trị hiệu quả, bệnh nhân cần phải tạo được lớp biểu mô giác mạc thay thế.

Trang 1

NGHIÊN CỨU NUÔI CẤY TẾ BÀO GỐC VÙNG RÌA GIÁC MẠC

VÀ NIÊM MẠC MÁ TỰ THÂN ĐIỀU TRỊ BỆNH LÝ BIỂU MÔ GIÁC MẠC

Trần Công Toại * , Trần Thị Thanh Thủy * , Phan Kim Ngọc ** , Diệp Hữu Thắng ***

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Một số bệnh lý khiếm khuyết tế bào vùng rìa giác mạc bẩm sinh hoặc mắc phải bởi các nguyên

nhân như hội chứng Steven Johnson, phẫu thuật giác mạc nhiều lần, bỏng nhiệt hoặc hóa chất tạo sẹo giác mạc, nhiễm trùng, đeo contact lens…dẫn đến phá hủy lớp biểu mô giác mạc gây giảm thị lực của bệnh nhân Để điều trị hiệu quả, bệnh nhân cần phải tạo được lớp biểu mô giác mạc thay thế

Vật liệu và phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu loạt ca Phương pháp nghiên

cứu: Bệnh nhân được chia làm 2 nhóm dựa theo chỉ định để tiến hành ghép tế bào gốc Nhóm 1: ghép “tấm biểu mô” được tạo thành từ niêm mạc má Nhóm: ghép “tấm biểu mô” được tạo thành từ tế bào gốc vùng rìa giác mạc Tế bào rìa giác mạc và niêm mạc má được thu nhận theo đúng tiêu chuẩn chọn mẫu và tạo tấm biểu mô theo qui trình Đánh giá: Tế bào nuôi cấy được theo dõi dưới kính hiển vi đảo ngược pha, nhuộm mô học HE và nhuộm hóa mô miễn dịch với marker p63 Kết quả ghép tấm biểu mô trên bệnh nhân được theo dõi và dựa trên khám bề mặt giác mạc, đánh giá thị lực và kết quả tạo tân mạch giác mạc

Kết quả và bàn luận: Sau khi tiến hành nghiên cứu, chúng tôi đạt được một số kết quả như sau: - Nhóm 1:

bề mặt nhãn cầu ổn định 6/7 mắt Thị lực cải thiện nhưng không quá 1 hàng - Nhóm 2: bề mặt nhãn cầu ổn định 22/23 ca Thị lực cải thiện lớn hơn 2 hàng 20/23 ca Kết quả này cho thấy tính hiệu quả của phương pháp điều trị như các tác giả khác trên thế giới

Kết luận: Chúng tôi đã sử dụng thành công kỹ thuật nuôi cấy tế bào gốc an toàn và hữu dụng, đặc biệt điều

trị bệnh lý bề mặt nhãn cầu ở chuyên khoa mắt

Từ khóa: ghép tế bào gốc, niêm mạc má, rìa giác mạc

ABSTRACT

CULTURE OF AUTOGRAFT LIMBAL CELLS AND CHEEK EPITHELIAL CELLS TO TREAT

CORNEAL EPITHELIUM DISEASE

Tran Cong Toai, Tran Thi Thu Thuy, Phan Kim Ngoc, Diep Huu Thang

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 2 - 2011: 24 - 30

Introduction: Some pathologies of corneal cell edge region may be of congenital origin such as Steven

Johnson syndrome, or can be caused by mechanical or environment condition such as corneal multiple surgeries, chemicals that eventually generate infection due to different auto-immune reaction All these condition may eventually lead to the destruction of cornea epithelial layer causing either a decrease or a total loss of vision For an effective treatment, patients need to be regenerated the corneal epithelial layer

Materials and methods: Research design: Case series study

Methods: Patients were divided into 2 groups to conduct stem cell transplantation: Group 1: graft

“epithelial sheets” are made up of oral mucosa Group 2: graft “epithelial sheets” are formed from stem cell of

*Trường ĐH Y Khoa Phạm Ngọc Thạch, **Trường ĐH Khoa Học Tự Nhiên- ĐH Quốc Gia Tp.HCM

***Bệnh viện Mắt Tp.HCM

Tác giả liên lạc: PGS TS BS Trần Công Toại ĐT: 0913.914.672

Trang 2

corneal area (limbal stem cell) Corneal cell edge and oral mucosa were included as standard sample and generate epithelial sheets in the protocol

Evaluation: Cells were monitored by inverted phase microscopy, HE staining and immune-histochemical

staining by p63 marker Results of the epithelial sheet transplant are monitored and evaluated by the corneal surface examination, vision and corneal new vessels

Results and discussion: After conducting research, we obtained the results as follows: - Group 1: Stable

surface eyeball 6/7 eyes Vision improved, but not more than 1 row - Group 2: Stable surface eyeball 22/23 eyes Vision improved, but not more than 2 row This result shows the effectiveness of treatment in line with other international studies

Conclusion: We used a successfully technique which confirmed that cultured stem cells are safe and useful

in the treatment of few eye pathological condition

Key words: stem cell transplantation, oral mucosa, of corneal area (limbal stem cell)

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nghiên cứu tế bào gốc là một lĩnh vực mang

tính thời sự hiện nay trên thế giới vì những tiềm

năng ứng dụng to lớn của chúng trong lĩnh vực

Y Sinh học(18,19,21,32) Tuy nhiên, tùy theo định

hướng nghiên cứu của mỗi nhóm nghiên cứu,

mỗi vùng miền và mỗi quốc gia mà khả năng

nghiên cứu được tiến hành trên những quy mô

nghiên cứu khác nhau Ở nước ta nghiên cứu tế

bào gốc đang từng bước được quan tâm bởi các

nhà khoa học, các nhà nghiên cứu, các bác sĩ lâm

sàng cũng như các nhà đầu tư chiến lược khoa

học của nhà nước và đang được đầu tư vào lĩnh

các nước trong khu vực, Việt Nam chúng ta bắt

đầu xây dựng chiến lược, đào tạo đội ngũ

chuyên gia, cơ sở hạ tầng và mức độ đầu tư

cũng như những sản phẩm công nghệ tế bào

gốc như quy trình công nghệ, công trình công

bố khoa học chuyên ngành …tuy nhiên vẫn chỉ

ở điểm xuất phát

Nhờ vào sự giúp đỡ, chuyển giao kỹ thuật

từ phòng thí nghiệm tiên tiến tại Nhật(21,22,23)

chúng tôi có thể tiếp cận, triển khai các qui trình

mới mẻ nhưng có giá trị vô cùng to lớn, thực

hiện nghiên cứu ứng dụng tế bào vùng rìa giác

mạc và niêm mạc má người tạo tấm biểu mô

điều trị các bệnh lý tổn thương biểu mô giác

mạc tự thân qua nuôi cấy(23,25,28)

Thực hiện đề tài chúng tôi cần đạt các mục

tiêu sau:

Tạo tấm biểu mô giác mạc từ tế bào gốc vùng rìa và tế bào niêm mạc má

Đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân tổn thương biểu mô giác mạc bằng ghép tấm biểu

mô tự thân qua nuôi cấy tế bào gốc

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kết nghiên cứu: nghiên cứu loạt ca Các phương pháp nghiên cứu:

Tạo màng collagen từ màng ối người(2,4,10,11,16,17,20,30)

- Sản phụ phải được xét nghiệm âm tính với HIV, HBV, HCV, VDRL… Mẫu được lấy ngay sau sanh, trữ trong lọ vô trùng có chứa dung dịch PBS (Phosphat Buffer Salin), kháng sinh, chuyển nhanh về phòng thí nghiệm

- Rửa màng ối trong dung dịch PBS cho đến khi sạch máu, sạch các mô sống không cần thiết

- Cắt màng ối thành từng mảnh khoảng 50cm2 và xử lý với dung dịch trypsin 0,25% -

- Cạo bỏ lớp tế bào biểu mô màng ối, tránh làm vỡ màng đáy

- Đánh giá hiệu quả bóc tách lớp tế bào biểu

mô màng ối bằng phương pháp nhuộm hematoxylin và eosin (nhuộm H&E)

- Màng collagen được bảo quản 12 tháng sau khi để khô tự nhiên và khử trùng bằng tia gamma

- Trải mẫu màng ối trên đĩa insert, để khô tự nhiên 2 giờ trong buồng cấy, ở nhiệt độ phòng

Trang 3

- Khảo sát màng ối sau xử lý bằng cách

quan sát mô học và phân tích độc chất

Phương pháp trải màng collagen trên đĩa

nuôi(1,14,26,31)

Cắt màng collagen thành những mảnh có

diện tích tương ứng bề mặt đĩa nuôi

Trải căng và áp sát màng collagen trên bề

mặt đĩa nuôi (đĩa lồng - insert) sao cho mặt biểu

mô hướng lên trên

Để khô tự nhiên trong tủ cấy

Đóng gói và khử trùng bằng chiếu xạ tia  từ

nguồn Co60, suất liều 25 kGy(3,8,15)

Các phương pháp nuôi cấy tế bào 3T3, tế

bào vùng rìa giác mạc và tế bào niêm mạc má

theo đúng qui trình ĐH Tokyo Dental College

Ichikawa(5,7,23)

Tạo tấm biểu mô giác mạc từ TBG vùng rìa

giác mạc

Thu nhận mẫu tế bào vùng rìa giác mạc tại

phòng mổ (Bệnh viện Mắt TP.HCM), cho vào

dung dịch bảo quản Optisol GS, đặt trong hộp

thí nghiệm

Rửa 2 lần bằng dung dịch PBS

Cắt lọc mẫu mô

Nuôi trên đĩa insert đã trảii màng collagen

từ màng ối và có feeder tế bào 3T3 trong môi

Streptomycine, 100U/ml Penicillin, 10ng/ml

EGF, 5 µ/ml Insulin, 0,1 µ/ml Cholera toxin, 5%

FBS)

Mẫu mô có bờ biểu mô áp trên màng, nhỏ 2

giọt môi trường SHEM, ngày tiếp theo thêm

0,5ml môi trường, 2 ngày tiếp theo thay môi

trường 1ml/đĩa insert và 1,5ml/đĩa 3T3

Từ 14-21 ngày tạo được tấm biểu mô có

nhiều lớp tế bào có thể ghép lại cho bệnh nhân

Một phần mẫu giữ lại sau ghép đánh giá mô

học và thực hiện hóa miễn dịch mô

Tạo tấm biểu mô giác mạc từ TBG niêm mạc

Niêm mạc má được lấy từ BV Mắt trên người tình nguyện d=0,8 cm đựng trong

thí nghiệm

Cắt lọc mẫu bớt phần mô dưới niêm mạc Tạo ra thành các phần 2mm

sao cho Dipase có nồng độ 0,8UI/ml

Tách tế bào,đếm tế bào sống cấy trên đĩa insert (0,1 – 1 x 105 cells/ml)

Thay môi trường SHEM mỗi 2 ngày, 1ml/đĩa insert và 1,5ml/đĩa tế bào 3T3 Mẫu được tiếp xúc không khí (airlifting) 3 ngày trước khi ghép

Từ 14-21 ngày tạo được tấm biểu mô có nhiều lớp tế bào có thể chuyển lại ghép cho bệnh nhân

Một phần mẫu giữ lại sau ghép đánh giá mô học và hóa miễn dịch mô

Điều trị bệnh lý biểu mô giác mạc và kết quả ghép điều trị 30 bệnh nhân tình nguyện(24,27,29,33) Bệnh nhân đến khám tại Bệnh viện Mắt TP HCM có chỉ định ghép TBG sẽ được chuyển đến khoa Giác mạc

Bác sỹ chuyên khoa Giác mạc sẽ khám, hội chẩn để ra quyết định điều trị Bệnh nhân được bác sĩ chuyên khoa giải thích đầy đủ các nhu cầu và phương pháp điều trị bằng giải pháp nuôi cây tế bào sau nuôi cấy, cam kết đồng ý theo mẫu

Nếu bệnh nhân bị tổn thương một mắt và mắt còn lại tốt sẽ được điều trị ghép TBG vùng rìa giác mạc

Nếu bệnh nhân bị tổn thương cả hai mắt và niêm mạc má còn tốt sẽ được điều trị ghép tấm biểu mô được nuôi cấy từ tế bào niêm mạc má Bệnh nhân sẽ được làm các xét nghiệm tiền phẫu, khám nội khoa tổng quát, khám mắt (đặc biệt đánh giá tình trạng viêm, tân mạch và phim nước mắt)

Trang 4

Lấy mẫu tế bào chuyển về phòng thí

nghiệm xử lý và nuôi cấy tạo tấm biểu mô,

hẹn trở lại ghép

Trong nghiên cứu này, chúng tôi:

- Đánh giá bước đầu việc ứng dụng ghép tấm biểu mô điều trị bệnh lý bề mặt nhãn cầu

- Đánh giá chất lượng tấm biểu mô được tạo thành từ nuôi cấy tế bào gốc vùng rìa giác mạc hoặc từ tế bào niêm mạc má trên màng ối

Phân loại

Bệnh nhân được chia làm 2 nhóm dựa theo chỉ định:

- Nhóm 1: ghép “tấm biểu mô” được tạo thành từ tế bào niêm mạc má

- Nhóm 2: ghép “tấm biểu mô” được tạo thành từ tế bào gốc vùng rìa giác mạc

Quy trình chọn lọc bệnh nhân

Tế bào gốc vùng rìa giác mạc: lấy từ kết mạc rìa cực trên 4x2 mm

Tế bào niêm mạc má: lấy từ niêm mạc má, đường kính 8mm

Mẫu được đặt trong môi trường chuyên chở

và gửi đến bộ Phòng thí nghiệm Vật liệu Sinh

Hình 1: Xử lý mẫu tế

bào niêm mạc má

Hình2: Đĩa insert dùng

để nuôi cấy tế bào

H ình 3.9: Tế bào niêm mạc

má sau nuôi cấy 6 ngày

Hình 3.10: Tế bào niêm mạc

má sau nuôi cấy 10 ngày

Hình 3.15: Màng ối trước cấy

tế bào, nhuộm HE x 400

Hình 3.16: Màng ối sau nuôi

cấy, nhuộm HE x400

Hình 3.17: Màng ối sau

nuôi cấy, nhuộm P63 x 400

Hình 3.18: Tấm tế bào từ

Y.Hori (Osaka, Nhật)

Trang 5

học, Bộ môn Mô - Phôi, Trường Đại học Y khoa

Phạm Ngọc Thạch thực hiện qui trình nuôi cấy

- Bệnh nhân sẽ được phẫu thuật ghép tấm

biểu mô

- Bệnh nhân được điều trị ngoại trú, không

phải nằm viện

Đánh giá: Đánh giá kết quả dựa trên khám

bề mặt giác mạc, thị lực và tân mạch giác mạc

(tân mạch được chia làm 4 độ: độ 1 là tân mạch

vùng rìa, độ 2 là tân mạch vào giác mạc 3mm,

độ 3 là tân mạch vào toàn bộ giác mạc, độ 4 vào

toàn bộ giác mạc và thành bó tân mạch)

Nhóm 1: Tấm biểu mô được tạo thành từ tế

bào gốc vùng rìa giác mạc của 23 bệnh nhân (16

bệnh nhân mộng thịt tái phát, 4 bệnh nhân bỏng

kiềm,1 bệnh nhân Stevens Johnson,1 bệnh nhân

suy yếu tế bào gốc chưa rõ nguyên nhân và 1

bệnh nhân bị ong chích) Thời gian theo dõi

trung bình 6,34 tháng

Nhóm 2: Tấm biểu mô từ tế bào niêm mạc

má được nuôi cấy trên màng ối của 6 bệnh nhân

(6 mắt) với hội chứng Stevens Johnson và một

bệnh nhân bỏng hóa chất Tổng cộng 7 mắt, thời

gian theo dõi trung bình 18,4 tháng

KẾT QUẢ

Nhóm 1:

- Ghép tế bào gốc vùng rìa

- Thời gian theo dõi trung bình 6,34 tháng

- Bề mặt nhãn cầu ổn định 22/23 ca Một ca bi

nhiễm trùng sau mổ 07 ngày trên bệnh nhân

nhiễm HIV (nhiễm trùng sau đó được điều trị ổn)

- Thị lực cải thiện lớn hơn 2 hàng 20/23 ca

(87%)

- Tân mạch chưa phát triển 18/23 ca

- Độ 1: 3/23 ca, độ 2: 1/23 ca và độ: 4 1/23

Nhóm 2:

- Ghép tế bào niêm mạc má

- Thời gian theo dõi trung bình 18,4 tháng

- Bề mặt nhãn cầu ổn định 6/7 mắt

- Tân mạch độ 1: 5/7 mắt, độ 2: 1/7 mắt, độ 3: 1/7 mắt

- Thị lực có cải thiện nhưng không quá 1 hàng

BÀN LUẬN

Ghép tấm biểu mô được nuôi cấy từ tế bào gốc đã giúp giải quyết được những bệnh lý bề mặt nhãn cầu do suy yếu tế bào gốc vùng rìa giác mạc(6,9,12,13,34)

Phối hợp với ghép giác mạc sẽ đem lại thị lực cho bệnh nhân tốt hơn và góp phần mang lại thành công của phẫu thuật ghép giác mạc Cần điều trị tình trạng viêm bề mặt, tình trạng khô mắt thật tốt sẽ giúp mang lại kết quả tốt

Bệnh nhân cần được làm xét nghiệm tiền phẫu kiểm tra các bệnh liên quan miễn dịch ví

dụ HIV, tiểu đường, viêm khớp, nhằm tiên lượng và hướng điều trị

Hình 3.24: Mắt tổn thương

sẹo giác mạc trước ghép

Hình 3.25: Điều trị tổn thương

sẹo giác mạc trước ghép

Hình 3.26:Tế bào rìa giác mạc

sau nuôi cấy, trước ghép

Hình 3.27: Điều trị tổn thương

sẹo giác mạc trước ghép

Trang 6

Đối với bệnh nhân suy giảm miễn dịch cần

rất thận trọng vì rất dễ bị nhiễm trùng do phải

sử dụng corticoid sau mổ

Phẫu thuật không phức tạp nhưng đòi hỏi

sự tỉ mỉ Chọn bệnh nhân đúng chỉ định và theo

dõi chặt chẽ

Với việc ứng dụng keo sinh học collagen sẽ

giúp cho phẫu thuật đơn giản và hiệu quả hơn

Đa số trường hợp có tổn thương giác mạc

nặng thì ghép tế bào gốc là bước đệm của việc

ghép giác mạc sau này

KẾT LUẬN

Thành công của kỹ thuật nuôi cấy tế bào

gốc

Phẫu thuật an toàn và hữu dụng, đặc biệt ở

những trường hợp mộng thịt tái phát, những

trường hợp hội chứng Stevens Johnson có đục

giác mạc cần phẫu thuật ghép giác mạc sau đó

nhằm đem lại thị lực cho bệnh nhân

Mở ra một hướng mới trong việc ứng dụng

tế bào gốc điều trị bệnh lý bề mặt nhãn cầu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ariane R, Yann B (2006): Essentials of stem cell biology, Elsevier,

Inc.: 440 – 444

2 Azuara BA, Pillai CT, Dua HS (1999) : Amniotic membrane

transplantation for ocular surface reconstruction, Br J Ophthalmol, 83:

399-402

3 Bacakova L, Filova E, Rypacek F, Svorcik V, Stary V (2004): Cell

adhesion on artificial materials for tissue engineering Physiol Res, 53:

35-45

4 Chen HJ, Pires RT, Tseng SC (2000): Amniotic membrane

transplantation for severe neurotrophic corneal ulcers, Br J Ophthalmol,

84: 826-833

5 Der-Yuan W, Yi-Jen H, Vivian CY, Jan-Kan C (2003): Propagation

and phenotypic preservation of rabbit limbal epithelial cells on amniotic

membrane, Investigative Ophthalmology and Visual Science, 44:

4698-4704

6 Higa K, Shimazaki J (2008): Recent advances in cultivated

epithelial transplantation, Cornea, 27(1):S41-47

7 Higa K, Shimmura S, Kato N et al (2007): Proliferation and

differentiation of transplantable rabit epithelial sheets

engineered with or without an amniotic membrane carrier, Invest Ophtalmol Vis Sci, 48: 597–604

8 Higa K, Shimmura S, Shimazaki J, Tsubota K (2005): Hyaluronic acid-CD44 interaction mediates the adhesion of lymphocytes by amniotic membrane stroma, Cornea, 24: 206-212

9 Higa K, Shimmura S, Shimazaki J, Tsubota K (2006): Ocular surface epithelial cells up-regulate HLA-G when expanded in vitro on amniotic membrane substrates, Cornea, 25: 715-721

10 Hopkinson A, Shanmuganathan VA, Gray T, Yeung AM, Lowe

J, James DK, Dua HS (2008): Optimization of amniotic membrane (AM) denuding for tissue engineering, Tissue engineering, 14: 371-383

11 Hori J, Wang M, Kamiya K, Takahashi H, Sakuragawa N (2006): Immunological characteristics of amniotic epithelium, Cornea,

25:53-58

12 Kevin YH Chee, Anthony Kicic, Steven J Wiffen (2006): Limbal stem cells: the search for a marker, Clinical and Experimental Ophthalmology, 34: 64–73

13 Koizumi NJ, Inatomi TJ, Quantock AJ (2000): Amniotic membrane as

a substrate for cultivating limbal epithelial cells for autologous transplantation in rabbits, Cornea, 19: 65-71

14 Kruse FE, Joussen AM, Rohrschneider K, You L, Sinn B, Baumann J, Volcker HE (2000): Cryopreserved human amniotic membrane for ocular surface reconstruction, Graefes Arch Clin Exp Ophthalmol, 238: 68-75

15 Kubo M, Sonoda Y, Muramatsu R, Usui M (2001): Immunogenicity

of human amniotic membrane in experimental xenotransplantation, Invest Ophthalmol Vis Sci, 42:1539-1546

16 Manabe Y, Himeno N, Fukumoto M (1991): Tensile strength and collagen content of amniotic membrane do not change after the second trimester or during delivery, Obstet Gynecol, 78: 24-27

17 Meller D, Tseng SCG (1999): Stratified Conjunctival Epithelial Cell Differentiation on Amniotic Membrane, Investigative Ophthalmology & Visual Science, 40: 878-886

18 Miki T, Lehmann T, Cai H, Stolz DB, Strom SC (2005): Stem cell characteristics of amniotic epithelial cells, Stem Cells, 23: 1549-1559

19 Miyamoto K, Hayashi K, Suzuki T, Ichihara S, Yamada T, Kano Y, Yamabe T, Ito Y (2004): Human placenta feeder layers support undifferentiated growth of primate embryonic stem cells, Stem Cells, 22: 433-440

20 Rita S, Sumita P, Chacharkar MP (2007): Effect of high doses of gamma radiation on the functional characteristics of amniotic membrane, Rad Phys Chem, 76:1026 – 1030

21 Satake Y, Dogru M, Yamane GY et all (2008): Barrier function and cytologic features of the ocular surface epithelium after autologous cultivated oral mucosal epithelial transplantation, Arch Ophthalmol, 126: 23-8

22 Shimazaki J, Aiba M, Goto E et all (2002): Transplantation of human limbal epithelium cultivated on amniotic membrane for the treatment of severe ocular surface disorders, Ophthalmology, 109:1285-90

23 Shimazaki J, Higa K, Kato N et all (2009): Barrier function of cultivated limbal and oral mucosal epithelial cell sheets, Invest Ophthalmol Vis Sci, 50:5672-80

Trang 7

24 Shimazaki J, Higa K, Morito F et all (2007):Factors influencing

outcomes in cultivated limbal epithelial transplantation for

chronic cicatricial ocular surface disorders, Am J Ophthalmol,

143: 945-53

25 Shimazaki J, Maruyama F, Shimmura S et all (2001):

Immunologic rejection of the central graft after limbal allograft

transplantation combined with penetrating keratoplasty, Cornea,

20:149-52

26 Shimazaki J, Shimmura S, and Tsubota K (2002): Limbal stem

cell transplantation for the treatment of subepithelial amyloidosis

of cornea (gelatinous drop-like dystrophy), Cornea, 21:177-80

27 Shimazaki J, Shimmura S, Tsubota K (2004): Donor source

affects the outcome of ocular surface reconstruntion in chemical

or thermal burns of the cornea, Opthalmology, 111:38-44

28 Shimmura S, and Tsubota K (2002): Ocular surface

reconstruction update, Curr Opin Ophthalmol, 13:213-219

29 Shimmura S, Tsubota K (2008): Surgical treatment of limbal

stem cell deficiency: are we really transplanting stem cell?, Am J

Ophthalmal, 146:154-5

30 Terada S, Matsuura K, Enosawa S, Miki M, Hoshika A, Suzuki S, Sakuragawa N (2000): Inducing proliferation of human amniotic epithelial (HAE) cells for cell therapy, Cell Transplant, 9:701-704

31 Tseng SC, Prabhasawat P, Barton K, Gray T, Meller D (1998): Amniotic membrane transplantation with or without limbal allografts for corneal surface reconstruction in patients with limbal stem cell deficiency, Arch Ophthalmol, 116: 431-441

32 Tsubota K, Satake Y, Kaido M et all (1999): Treatment of severe ocular-surface disorders with corneal epithelial stem cell transplantation, N Engl J Med, 340:1697-703

33 Tsubota K, Satake Y, Ohyama M, Toda I, Takano Y, Ono M, Shinozaki N, Shimazaki J (1996): Surgical reconstruction of the ocular surface in advanced ocular cicatricial pemphigoid and Stevens-Johnson syndrome, Am J Ophthalmol, 122: 38-52

34 Yiqin Du, Jing Chen, James L Funderburgh, Xiuan Zhu, Lingsong Li (2003): Functional reconstruction of rabbit corneal epithelium by human limbal cells cultured on amniotic membrane, Molecular Vision, 9:635-643

Ngày đăng: 23/01/2020, 17:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm