1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn sư phạm Nghiên cứu một số ảnh hưởng của dân số đến chất lượng của người dân trong địa bàn phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên

52 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 420,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hơn lúc nào hết, vấn đề dân số học đã và đang có vai trò cấp bách, quyết định trong việc điều khiển sự phát triển dân số sao cho phù hợp với khả năng đáp ứng của trái đất về ba khả năng

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu, cũng như trong quá trình hoàn thành khoá luận tốt nghiệp, em đã nhận được sự giúp đỡ quý báu, hướng dẫn tận tình về mọi mặt của thầy giáo Thạc sĩ Nguyễn Xuân Thành, thầy giáo Tiến sĩ Mai Văn Hưng, cũng như các thầy cô giáo trong tổ, trong khoa Sinh - KTNN đã tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành khoá luận của mình

Quá trình thực hiện đề tài này em còn nhận được sự giúp đỡ của UBND, ban DS - GĐ&TE phường Hoàng Văn Thụ cũng như sự đóng góp ý kiến của bạn bè

Trong quá trình thực hiện đề tài không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong được sự đóng góp ý kiến của thầy, cô giáo cũng như toàn thể các bạn để

đề tài của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 04 năm 2007

Sinh viên

Nguyễn Thị Lan Hương

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Thông qua việc tìm hiểu công tác DS – KHHGĐ của Ban DS – GĐ&TE phường Hoàng Văn Thụ, đã thu thập các tài liệu cùng các số liệu liên quan, xử

lí số liệu để rút ra được kết quả nghiên cứu Em xin cam đoan kết quả trong đề tài này không trùng với kết quả của các tác giả khác

Trang 3

MỤC LỤC Trang

Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt

Danh mục các bảng biểu, hình vẽ

2 Hậu quả của bùng nổ dân số đối với chất lượng cuộc sống 5

3 Tình hình công tác DS - KHHGĐ của phường Hoàng Văn

Thụ Tp Thái Nguyên trong 5 năm 2002 - 2006

13

CỨU

23

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

- FAO: Tổ chức nông lương quốc tế (Food and Agricultural Organization)

- UNESCO: Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá của Liên hiệp quốc

(United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization)

- dB: Đơn vị dêxi Ben

- AFPPD: Diễn đàn nghị sĩ Châu Á về dân số và phát triển

- DS - DV - KHHGĐ: Dân số, dịch vụ, kế hoạch hoá gia đình

- BVCS & GDTE: Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em

- DS - GĐ & TE: Dân số, gia đình và trẻ em

- UB DS – GĐ & TE: Uỷ ban dân số gia đình và trẻ em

- HĐND: Hội đồng nhân dân

- UBND: Uỷ ban nhân dân

Trang 5

- Bảng 3.1 So sánh kết quả 5 năm (2001 - 2006) thực hiện công tác

DS - KHHGĐ của phường Hoàng Văn Thụ- Tp Thái Nguyên

- Bảng 3.2 Kết quả thực hiện các biện pháp tránh thai trong 5 năm (2002 - 2006) của phường Hoàng Văn Thụ - Tp Thái Nguyên

- Bảng 3.3 Kết quả thực hiện các biện pháp tránh thai trong 2 năm (2005 - 2006) của phường Hoàng Văn Thụ - Tp Thái Nguyên

- Bảng 3.4 So sánh kết quả 5 năm (2002-2006) thực hiện công tác

DS - KHHGĐ tổ 1 của phường Hoàng Văn Thụ - Tp Thái Nguyên

- Bảng 3.5 Kết quả thực hiện các biện pháp tránh thai trong 5 năm (2002 - 2006) của tổ 1 phường Hoàng Văn Thụ - Tp Thái Nguyên

- Bảng 3.6 So sánh kết quả thực hiện các biện pháp tránh thai trong

2 năm (2005 - 2006) của tổ 1 phường Hoàng Văn Thụ - Tp Thái Nguyên

- Bảng 3.7 So sánh kết quả 5 năm (2002 - 2006) thực hiện công tác

DS - KHHGĐ của tổ 16 phường Hoàng Văn Thụ – Tp Thái Nguyên

- Bảng 3.8 Kết quả thực hiện các biện pháp tránh thai trong 5 năm (2002 - 2006) của tổ 16 phường Hoàng Văn Thụ - Tp Thái Nguyên

Trang 6

MỞ ĐẦU

Dân số, danh từ này đã và đang được nhắc đến nhiều trong các hội nghị cũng như trong đời sống xã hội Vì dân số là một trong những vấn đề toàn cầu đang được nhân loại quan tâm và giải quyết Trong những thập kỷ gần đây, các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang quan tâm đến việc kiểm soát sự gia tăng dân số Hơn lúc nào hết, vấn đề dân số học đã và đang có vai trò cấp bách, quyết định trong việc điều khiển sự phát triển dân số sao cho phù hợp với khả năng đáp ứng của trái đất về ba khả năng cơ bản: Cung cấp thức ăn - đảm bảo không gian sống và là chỗ chứa các chất cặn bã rác thải, xác chết của sinh vật và con người

Trong thế kỷ XX, dân số toàn cầu đã tăng gấp bốn lần, tốc độ tăng nhanh chưa từng có Theo tài liệu của quỹ dân số Liên hiệp quốc đầu thế kỷ, dân số khoảng 1,5 tỷ người, đến năm 1927 tăng lên 2 tỷ; đến năm 1960 là 3 tỷ; 1974 là 4 tỷ; 1984 là 5 tỷ; chỉ 12 năm sau năm 1999 người thứ 6 tỷ đã ra đời Trong vòng 50 năm tới dân số vẫn tăng, dự đoán hàng năm trên thế giới khoảng 86 triệu trẻ em ra đời Theo dự báo của Liên hiệp quốc dân số thế giới năm 2025 sẽ là 8 tỷ 162 triệu người và chỉ 25 năm sau 2050 dân số toàn cầu

sẽ lên tới 10 tỷ người

Khu vực tăng dân số nhanh nhất là châu Phi (vùng cận Sahara), vùng Nam Á, Tây Á Hai nước có số dân đông nhất hiện nay là Trung Quốc và Ấn

Độ Ở Châu Âu, Bắc Mỹ, tốc độ gia tăng dân số đã chững lại, một số nước đã giảm

Trên bình diện thế giới, dân số tăng nhanh và gia tăng liên tục tất yếu dẫn đến “sự bùng nổ dân số” Sự tăng trưởng dân số trong vòng mấy chục năm qua nguyên nhân chủ yếu là sự thay đổi thực sự về mức tử vong và tuổi

Trang 7

trên thế giới vẫn tăng cao cùng với việc giảm tỷ xuất tử vong đã tạo nên nhịp

độ gia tăng dân số rất lớn

Dân số tăng nhanh để lại hậu quả nghiêm trọng về nhiều mặt làm ảnh hưởng xấu đến mọi mặt của đời sống xã hội Theo tính toán của các nhà khoa học: kinh tế phát triển theo cấp số cộng, dân số phát triển theo cấp số nhân, dẫn đến các vấn đề kinh tế xã hội cần phải giải quyết Muốn giải quyết được vấn đề kinh tế xã hội tức là phải giam nhịp điệu phát triển dân số

Theo số liệu của FAO, từ những năm đầu của thập kỷ 90, đã có tới 51 triệu người chết đói và 800 triệu người bị thiếu ăn nghiêm trọng Ở Việt Nam, trong gần 70 năm (1921 - 1990) dân số nước ta tăng từ 15,5 triệu người lên tới 66,2 triệu Đến nay dân số nước ta khoảng trên 84 triệu người

Từ rất sớm, Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề dân số, để có tầm nhìn chiến lược đối với công tác dân số mà mục đích tối cao của nó là: “Vì sức khỏe người mẹ, vì hạnh phúc và sự hoà thuận của gia đình để nuôi dạy con cái cho tốt” Việc đảm bảo dân số ổn định, phát triển kinh tế - xã hội bền vững, chất lượng cuộc sống của từng thành viên trong cộng đồng không ngừng được cải thiện là yêu cầu đặt ra đối với mọi dân tộc, mọi quốc gia nhất là trong giai đoạn đổi mới hiện nay

Quan điểm về công tác dân số đã được thể hiện sâu sắc ở Đại hội lần thứ

IX - 4/2001 và trong chiến lược dân số Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010 Đại hội chỉ rõ: tiếp tục giảm tốc độ gia tăng dân số, sớm ổn định ở mức hợp lý; giải quyết đồng bộ, từng bước và có trọng điểm chất lượng dân số, cơ cấu dân

số, phân bố dân cư và giải quyết việc làm, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của nhân dân Chủ động kiểm soát quy mô và tăng chất lượng dân số phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ sinh sản – KHHGĐ

Trang 8

Phường Hoàng Văn Thụ là một trong những phường trung tâm của Thành phố Thái Nguyên với 32 tổ dân phố Đời sống kinh tế - xã hội ngày càng được nâng cao, tuy nhiên vẫn gặp nhiều khó khăn mà nguyên nhân lớn nhất là vấn đề dân số Nhận thức được tầm quan trọng của công tác dân số đến với sự phát triển của Đất nước nói chung và của thành phố Thái Nguyên nói riêng Là một giáo viên sinh học, tôi muốn góp một phần nhỏ sức lực và trí tuệ của mình vào công tác này nên tôi đã chọn đề tài: “Nghiên cứu một số ảnh hưởng của dân số đến chất lượng cuộc sống của người dân trong địa bàn phường Hoàng Văn Thụ - thành phố Thái Nguyên”

Mục đích nghiên cứu:

Thông qua số liệu của Ban DS - GĐ&TE thấy được tình hình công tác

DS - KHHGĐ của phường trong 5 năm qua

Sự ảnh hưởng của dân số đến chất lượng cuộc sống của người dân trong địa bàn phường

Ảnh hưởng của sự gia tăng dân số đến nền kinh tế - xã hội cụ thể ở 2 tổ: tổ 1 và tổ 16

Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:

Việc nghiên cứu một số ảnh hưởng của dân số đến chất lượng cuộc sống của người dân trong địa bàn phường Hoàng Văn Thụ sẽ làm cơ sở để có những giải pháp hữu hiệu nhằm đưa nền kinh tế của phường đi lên, vì sự gia tăng dân số có tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế - xã hội

Trang 9

Phần 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1 VAI TRÒ CỦA DÂN SỐ VÀ SỰ CẦN THIẾT NGHIÊN CỨU

“Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động Như vậy, dân số vừa là lực lượng sản xuất, vừa là lực lượng tiêu dùng các sản phẩm sản xuất ra, dân số vừa là chủ thể, vừa là cơ sở để nền kinh tế - xã hội, tái sản xuất dân số phụ thuộc chặt chẽ vào sự phát triển của lực lượng sản xuất, quá trình sản sinh ra con người không chỉ tác động tương

hỗ của các yếu tố văn hoá, y tế, môi trường sinh thái” [1]

Con người muốn tồn tại được trước hết phải tiêu dùng một lượng của cải vật chất nhất định Nếu lượng của cải vật chất đó không thay đổi hoặc tăng không đáng kể mà dân số ngày càng đông thì nó sẽ cản trở việc cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân Dân số là cơ sở hình thành nguồn lao động, nguồn nhân lực tạo điều kiện tăng nhanh nguồn của cải vật chất và tinh thần trong xã hội Và dân số còn tác động đến mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội Dân số - đặc biệt sự gia tăng dân số nhanh, ảnh hưởng đến quá trình phát triển của từng quốc gia và toàn thế giới Gia tăng dân số nhanh góp phần làm căng thẳng thêm các vấn đề toàn cầu như: cạn kiệt nguồn tài nguyên, suy thoái môi trường, hiện tượng nóng lên của khí hậu toàn cầu, sự quá tải dân cư

ở các thành phố lớn không đáp ứng đầy đủ những nhu cầu sống cơ bản như: lương thực thực phẩm, chăm sóc sức khoẻ, giáo dục, nhà ở,… của người dân

Vì vậy việc hạn chế tốc độ gia tăng dân số, góp phần ổn định quy mô dân số là vấn đề có ý nghĩa cấp bách toàn cầu hiện nay

Trang 10

2 HẬU QUẢ CỦA VIỆC BÙNG NỔ DÂN SỐ ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG

Dân số và phát triển luôn có mối tác động qua lại lẫn nhau Vì vậy phát triển kinh tế phải gắn với phát triển xã hội, giải phóng con người Dân số được phát triển một cách hợp lí thì chất lượng cuộc sống mới có điều kiện được đảm bảo và nâng cao Nhưng dân số tăng nhanh đã gây ra những tác động tiêu cực đến chất lượng cuộc sống, tỉ lệ sinh con thứ ba giảm chậm, dịch bệnh đe doạ ở một số vùng và có nguy cơ phát triển [8]

Sự gia tăng dân số nhanh ảnh hưởng tới mọi mặt của xã hội được thể hiện như sau:

2.1 Về kinh tế - xã hội

Công tác DS - KHHGĐ là bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước và là một trong những vấn đề kinh tế xã hội hàng đầu, là yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và của toàn xã hội Đầu tư cho công tác DS - KHHGĐ là đầu tư mang lại hiệu quả kinh tế trực tiếp rất cao Nhưng với tốc độ gia tăng dân số nhanh như hiện nay

dù kinh tế có phát triển, thì thu nhập của người dân tăng cũng không đáng kể, đời sống của nhân dân ít được cải thiện

2.1.1 Hậu quả của việc tăng dân số quá nhanh đối với giáo dục và đào tạo

Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống, có mục đích đến sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi người phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - văn hoá của xã hội Giáo dục có quan hệ mật thiết với sự

Trang 11

bản trong sự phát triển bền vững, là một thành phần của phúc lợi và là phương tiện để các cá nhân nâng cao được kiến thức Giáo dục cũng góp phần làm giảm tỷ lệ sinh, giảm tỷ lệ tử vong, tăng quyền và vị thế của phụ nữ, nâng cao chất lượng dân số Giáo dục ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến số lượng và chất lượng dân số

Sư gia tăng dân số, với số trẻ em bước vào độ tuổi đi học cao là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự mất công bằng trong giáo dục và có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển giáo dục Ngoài ra công tác giáo dục - đào tạo còn chịu sức ép gián tiếp của dân số, đó là sự giảm sút chất lượng cuộc sống, khiến cho đời sống của giáo viên và học sinh gặp nhiều khó khăn

Thế giới vẫn phát triển không ngừng tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ Vậy mà vẫn còn khoảng 20% dân số thế giới mù chữ tập trung ở các nước nghèo và kém phát triển Có những quốc gia chỉ có 8% đến 16% số dân biết chữ Riêng các nước ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương có tới 666 triệu người mù chữ Trong khi nạn đói còn đè nặng lên cuộc sống của con người, việc xoá mù chữ đem lại ánh sáng cho họ là một việc rất khó khăn [7]

Trình độ học vấn cao của dân cư là một trong những yếu tố tác động đến mức sinh, là cơ sở vững chắc cho sự phát triển dân số hợp lý trong quá trình phát triển Mức sinh phụ thuộc vào trình độ học vấn của dân cư mà trước hết

là trình độ học vấn của phụ nữ đang ở độ tuổi sinh đẻ và sắp bước vào độ tuổi sinh đẻ Muốn giải quyết được mối quan hệ giữa dân số và phát triển giáo dục cùng một lúc phải giảm sự gia tăng dân số đó là yếu tố quyết định sự ổn định của sự phát triển giáo dục Ngược lại chỉ thông qua giáo dục, mới có thể giảm

tỷ lệ gia tăng dân số, để phát triển bền vững

2.1.2 Sức ép của dân số đối với việc bố trí công ăn việc làm

Trang 12

Các quá trình biến động dân số, có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển nguồn lao động cả về số lượng, chất lượng và đi kèm theo đó là vấn đề việc làm Nhưng mối quan hệ giữa dân số với nguồn lao động và viêc làm cần được xem xét từ nhiều phương diện khác nhau sự tái sản xuất dân số là nguồn cung cấp lực lượng lao động duy nhất cho xã hội, nhưng đảm bảo việc làm cho lượng lao động lại hết sức khó khăn trong điều kiện dân số tăng nhanh, nằm ngoài tầm kiểm soát của nhà nước và xã hội

Nước ta, năm 1991 tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động là 51,18%, năm

1997 dân số trong độ tuổi là 57,91%, năm 1999 là 58,39%, năm 2002 là 59,51% trong khi đó tỷ lệ lao động thất nghiệp ở thành thị là 6,4% trong khi

đó tỷ lệ thời gian lao động được sử dụng ở nông thôn mới đạt có 73,8% (mục tiêu là 75%) đang trở thành vấn đề được quan tâm hiện nay [5]

Theo tổ chức lao động quốc tế, năm 1980 có gần 1/3 lực lượng lao động trên thế giới thất nghiệp hoặc bán thất nghiệp Còn hiện nay trên thế giới có ít nhất 15% lực lượng lao động thất nghiệp thực sự [10]

Dân số tăng cao, lực lượng lao động tăng nhanh trong khi đất canh tác

có hạn và ngày càng bị thu hẹp dẫn đến thiếu đất canh tác, diện tích gieo trồng bình quân một lao động bị giảm rõ rệt Cùng đó là việc phát triển công nghiệp

và dịch vụ để giải quyết việc làm lại gặp khó khăn về nguồn vốn làm cản trở quá trình hiện đại hoá sản xuất

2.1.3 Hậu quả của việc gia tăng dân số đến việc cung cấp lương thực thực phẩm

Do dân số tăng nhanh, nên hơn 3 thập niên vừa qua tuy tổng sản lượng ngũ cốc toàn thế giới đã tăng đáng kể nhưng sản lượng ngũ cốc bình quân đầu người trên năm vẫn đạt dưới 300 kg/người, từ năm 1990 đến năm 1993 lại có

Trang 13

hơn năng xuất cây trồng, vật nuôi và khả năng chống đỡ thiên tai thấp, nên còn nhiều quốc gia, nhất là các nước ở Châu Phi, việc sản xuất lương thực - thực phẩm không đủ đáp ứng nhu cầu tối thiểu của dân cư, tình trạng đói nghèo và trẻ em suy dinh dưỡng rất nghiêm trọng

Theo tính toán của FAO và UNESCO thì có tới 65 nước Á - Phi đang phát triển, nếu cứ duy trì nhịp độ canh tác như hiện nay thì lương thực cũng chỉ đủ cung cấp cho hơn 1/2 số dân đang sống ở nước này

Ở Việt Nam, nền kinh tế chưa phát triển, khẩu phần ăn của cư dân chủ yếu là lương thực với những bữa ăn đạm bạc Từ năm 1989 đến nay, nhờ đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, sản xuất nông nghiệp đã phát triển, sản lượng lương thực tăng nhanh, tỷ lệ gia tăng đã giảm nhưng còn ở mức cao nên tỷ lệ gia tăng lương thực bình quân đầu người vẫn còn rất thấp, cho nên nếu chỉ phấn đấu nâng cao tổng sản lượng lương thực mà không chú ý đến việc giảm tốc độ gia tăng dân số thì khó có thể đáp ứng được yêu cầu lương thực tối thiểu cần thiết cho mọi người dân [8] Dân số tăng nhanh còn là áp lực về lương thực, thực phẩm và cũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu của tình trạng đói nghèo

2.2 Về mặt tài nguyên và môi trường

Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, chúng ta cần quan tâm giải quyết mối quan hệ giữa dân số với môi truờng Bản tuyên bố Amxtecđam năm 1989 đã khẳng định “Dân số, môi trường và tài nguyên là một thể liên kết khăng khít” và nhấn mạnh sự cần thiết phải đảm bảo “mối liên hệ bền vững giữa số lượng người, nguồn tài nguyên và sự phát triển” Số dân tăng lên thì nhu cầu cơ bản cho đời sống lấy từ môi trường cũng tăng lên, đi cùng với nó là quá trình khai thác tài nguyên thiên nhiên bừa bãi không có sự bảo

Trang 14

tồn và tái tạo sẽ dẫn đến hậu quả không tránh được là môi trường tự nhiên bị suy hoá, các nguồn tài nguyên bị cạn kiệt [9]

Môi trường tự nhiên tồn tại và phát triển theo quy luật khách quan của tự nhiên Con người am hiểu các quy luật này để sử dụng và bảo vệ tự nhiên đảm bảo cho môi trường tự nhiên phát triển bền vững

2.2.1 Tài nguyên đang bị cạn kiệt và suy thoái

Xã hội loài người đang đứng trước sự phát triển của khoa học kỹ thuật,

xã hội,… nó góp phần đáp ứng ngày càng đầy đủ hơn những nhu cầu thiết yếu của con người Cùng với đà phát triển công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước đem lại những thành tựu kinh tế - xã hội to lớn cho con người nhưng nó lại đặt ra cho con người đứng trước một nguy cơ lớn đó là tình trạng cạn kiệt nguồn tài nguyên và suy thoái môi trường cùng với sự gia tăng dân số, đặc biệt ở các nước đang phát triển đó là những mối hiểm hoạ to lớn đối với nhân loại Bức tranh chung về tài nguyên môi trường hiện nay là kết quả của hàng loạt nhân tố: sự khai thác bừa bãi tài nguyên và các hoạt động sản xuất sinh hoạt làm ô nhiễm môi trường

Thế giới động - thực vật, tuy là tài nguyên tái tạo được nhưng cũng đã bị nghèo cạn kiệt dần và suy giảm nhanh chóng Cứ theo đà chặt phá rừng bừa bãi như hiện nay, thì khoảng 80 năm nữa toàn bộ thế giới biến thành đất trống đồi trọc Hàng năm trên những vùng đất trống đồi trọc ở nước ta đất đai bị xói mòn (hiện tượng lớp đất mặt mầu mỡ nhất bị mất do nước chảy) đến 200 tấn trên một hecta đất trong đó có 6 tấn mùn Diện tích rừng bị thu hẹp dẫn đến hạn hán, lũ lụt,…

Nước bao phủ 71% diện tích trái đất, trong đó 96,5% là nước mặn và nước lợ; 3,5% là nước ngọt nhưng lại chủ yếu ở dạng băng đá và nước ngầm

Trang 15

Hiện nay có 60% diện tích đất canh tác còn thiếu nước ngọt nhất là ở Châu Phi

2.2.2 Môi trường đang bị tàn phá và ô nhiễm

Có người cho rằng vấn đề “môi trường” là vấn đề của các nước giàu có, phát triển mạnh mới quan tâm Tuy nhiên, các nước đang phát triển cũng đang phải chịu hậu quả của hiện tượng ô nhiễm môi trường vì độ gia tăng dân số lớn và vì tốc độ công nghiệp hóa Ô nhiễm là kết quả của ba yếu tố được thể hiện ở công thức sau:

Quy mô dân số x Mức tiêu thụ (Tính theo đầu người) x Tác động của môi trường (Tính theo đơn vị sản xuất) = Độ ô nhiễm

Theo tiến sĩ Ehrlich cho rằng trong ba yếu tố trên, quy mô dân số là yếu

tố quan trọng nhất [9]

2.2.2.1 Ô nhiễm môi trường đất

Trong tổng diện tích thế giới là 148 triệu km2 (đất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp chiếm 12,6%) nhưng do dân số tăng nhanh làm cho đất ngày càng bị thu hẹp Đất ngày càng bị thu hẹp chính là do hoạt động sản xuất của con người như các công trình xây dựng, mở đường xá giao thông để đảm bảo lương thực, chúng ta phải thực hiện thâm canh nhằm tăng diện tích, sử dụng các loại phân hoá học, thuốc trừ sâu nhằm tăng năng suất Do những hoạt động trên làm chất lượng đất đai ngày càng bị xấu đi, ước tính đến nay 10% đất có tiềm năng sản xuất nông nghiệp bị xa mạc hoá, hàng năm có 15% đất nông nghiệp bị suy thoái

Việc sử dụng thuốc trừ sâu, có khoảng 50% lượng thuốc trừ sâu khi phun rơi xuống đất, tồn tại trong đất.Thêm vào đó các chất thải công nghiệp, sinh hoạt cũng thường chứa các sản phẩm độc hại gây ô nhiễm đất Ngoài ra

Trang 16

đất còn bị nhiễm bẩn do các tác nhân sinh học: sử dụng phân tươi, xác chết của xúc vật hoặc bùn thải sinh hoạt ngấm trực tiếp vào đất làm đất mất khả năng canh tác

2.2.2.2 Ô nhiễm môi trường nước

Nước là nguồn tài nguyên quý giá của con người Hiện nay mới chỉ khoảng 30% người dân sử dụng nước sạch (nước giếng tự đào hoặc giếng khoan) còn lại vẫn sử dụng nước thiên nhiên, sông suối - ao hồ ô nhiễm môi trường nước còn là do địa chất Ngoài ra còn sự mục nát và thối rữa các thuỷ sinh vật: các chất mục nát và vi sinh vật bị thối rữa theo dòng nước Nguồn ô nhiễm từ nghĩa địa với 60% nguồn nước ngầm, rồi nguồn nước này lại chảy ra sông, ao hồ làm ảnh hưởng đến sức khoẻ con người

Theo Liovit mối đe doạ về giảm chất lượng nước còn nghiêm trọng hơn mối đe doạ thiếu hụt nước [14]

2.2.2.3 Ô nhiễm môi trường không khí

Thành phần không khí gồm N2 78%; O2 21%; CO2 0,03%; hơi nước, độ

ẩm không khí, các khí trơ, các bụi lơ lửng và các chất khí như NO2, NO3,

N2O5, SO, SO2, SO3,… Hiện nay các chất thải vào không khí do kết quả hoạt động của con người, đã gây ra tác hại xấu đến sức khỏe con người và hệ sinh thái Sự phân hủy các xác động, thực vật trong tự nhiên gây ra các chất ô nhiễm Do các hoạt động của sản xuất công nghiệp: các ống khói nhà máy thải các khí thải công nghiệp vào không khí, các xí nghiệp không có hệ thống thông gió, hút khí độc, bụi, khói,… một số nhà máy tuy có hệ thống thiết bị bảo vệ môi trường nhưng không duy tu bảo dưỡng tốt nên thực tế chúng không hoạt động được đã gây ra hậu quả nghiêm trọng đến ô nhiễm không khí, ảnh hưởng đến đời sống của con người Hàng năm có khoảng 2,7 triệu trẻ

Trang 17

em chết do sống trong môi trường ô nhiễm không khí Các cơn mưa axit cũng gây ra nhiều tác hại khó lường

2.2.2.4 Ô nhiễm bởi tiếng ồn

Các thành phố lớn trên thế giới đều bị ảnh hưởng bởi tiếng ồn do giao thông, các khu công nghiệp, các nhà máy gây ra làm ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ con người Những người hay tiếp xúc với tiếng ồn mạnh thường hay nhức đầu, chóng mặt, thị lực giảm, trí nhớ giảm, khả năng làm việc giảm sút, giấc ngủ không bình thường, kết quả điều tra cho thấy: hầu hết công nhân làm việc trong nhà máy có trên 5 năm tuổi nghề thì tỷ lệ điếc nghề nghiệp chiếm khoảng 23% Tiếng ồn có ảnh hưởng tới thính giác (âm thanh rất mạnh có cường độ lớn hơn hoặc bằng 150 dB) có thể làm rách màng nhĩ, xô đẩy vị trí các xương nhỏ ở tai giữ làm ảnh hưởng đến thính giác thậm chí gây điếc vĩnh viễn [9]

Như vậy: Chống ô nhiễm môi trường trong mọi trường hợp, đối với mọi tác nhân gây ô nhiễm là một vấn đề lớn mang tính chất toàn cầu, vì nó tác động trực tiếp đến sức khoẻ Sức khoẻ và môi trường là hai lĩnh vực liên quan trưc tiếp đến nhau, còn sức khoẻ là bức tranh (phản ánh rõ nhất) về hình ảnh môi trường Việc giảm tỷ lệ dân số, điều tiết các xu hướng dân số phù hợp với quy luật phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường bền vững là vấn đề cấp bách của các nuớc đang phát triển trong đó có Việt Nam

Ở Việt Nam, sự gia tăng dân số vào loại nhanh trên thế giới Theo thông báo của Liên Hợp Quốc thì dự báo dân số Việt Nam vào năm 2009 là 91 triệu người Sự phân bố dân cư ở Việt Nam chưa đồng đều, chủ yếu là tập trung ở đồng bằng, thành phố trong khi đó ở miền núi đăc biệt ở các vùng xa xôi hẻo lánh thì lại quá thưa thớt [7]

Trang 18

Dân số Việt Nam hiện nay năm 2007 khoảng hơn 84 triệu người Tỷ lệ con thứ 3+ trở lên vẫn còn chiếm khoảng 1/5 số sinh, tỷ lệ này ở nông thôn cao gấp đôi ở thành thị [5]

Tại diễn đàn Nghị sỹ Châu Á về dân số và phát triển (AFPPD) về xoá đói giảm nghèo ngày 5 - 6/4/2006 tại Hà Nội đã đánh giá cao những thành tựu của Việt Nam trong công tác dân số - xoá đói giảm nghèo, 16 năm qua Việt Nam đã hạ mức sinh trung bình từ 3,6 xuống còn 2,1 Việt Nam được Liên Hợp Quốc đánh giá là một trong những quốc gia thành công trong việc triển khai các mục tiêu phát triển năm 1993 xuống còn 24,1 % năm 2004 Hiện nay Việt Nam đang thực hiện chiến lược phát trển kinh tế - xã hội 2006 - 2010 với mục tiêu cuối cùng của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội không ngoài việc nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi người dân Mục tiêu đó chỉ có thể đạt được với một quy mô, tốc độ gia tăng dân số, sự phân bố dân cư và nguồn nhân lực phù hợp với nền kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia [4]

Nên với nhận thức về tầm quan trọng của DS - KHHGĐ, một công việc đem lại lợi ích to lớn cho cả đất nước, cho từng địa phương, từng gia đình, nó vừa đem lại lợi ích trước mắt, vừa đem lại lợi ích lâu dài

3 TÌNH HÌNH CÔNG TÁC DS - KHHGĐ CỦA PHƯỜNG HOÀNG VĂN THỤ THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TRONG 5 NĂM (2002 - 2006)

3.1 Đặc điểm của phường Hoàng Văn Thụ

Phường Hoàng Văn Thụ là một phường trung tâm của thành phố Thái Nguyên với diện tích là 1.6 km2, địa bàn dân cư rộng và tương đối phức tạp

có nhiều tập thể cơ quan trường học, đơn vị kinh doanh xen lẫn với các khu dân cư của phường [3]

Trang 19

Tính đến 30 tháng 6 năm 2006, trên địa bàn phường có 3262 hộ dân với

12461 nhân khẩu : phụ nữ là 6113 Trong đó số phụ nữ từ 15 - 49 tuổi là 3532 người, phụ nữ có chồng là 2361 người Trong những năm qua công tác BVCS&GDTE ở phường đã trở thành một phong trào, có nề nếp, có quy mô 100% trẻ em trong độ tuổi đều được khám bệnh, được học hành, được vui chơi trong tình yêu thương của cha mẹ, của cộng đồng và xã hội Tuy nhiên, thực tế cuộc sống do điều kiện hoàn cảnh khác nhau nên vẫn còn trẻ em suy dinh dưỡng, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn [2]

Với diện tích lớn, số đối tượng trong diện vận động sinh đẻ có kế hoạch tương đối nhiều, địa bàn lại phức tạp Vì vậy, việc thực hiện chủ trương chính sách dân số của nhà nước là “mỗi cặp vợ chồng chỉ có từ 1 đến 2 con cách nhau từ 3 đến 5 năm” cũng gặp nhiều khó khăn Làm tốt công tác DS - KHHGĐ, thực hiện gia đình ít con, giảm nhanh tỷ lệ gia tăng dân số tiến tới

ổn định quy mô dân số là vấn đề được thành phố, phường quan tâm gắn liền với nhiệm vụ kinh tế - xã hội của toàn Đảng, toàn dân phường Hoàng Văn Thụ và toàn dân tỉnh Thái Nguyên quyết tâm phấn đấu thực hiện tốt

3.2 Kết quả thực hiện công tác DS - KHHGĐ trong 5 năm của phường Hoàng Văn Thụ (2002 - 2006)

Thực hiện chương trình dân số gia đình và trẻ em giai đoạn 2001-2010 với mục tiêu tổng quát là “Thực hiện gia đình ít con, khoẻ mạnh tiến tới ổn định quy mô dân số ở mức hợp lý để có cuộc sống ấm no, hạnh phúc Nâng cao chất lượng dân số, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hoá, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước” [5] Dưới sự lãnh đạo chỉ đạo sát sao của các cấp uỷ Đảng, chính quyền sự phân phối nhịp nhàng thường xuyên của các ngành, đoàn thể, các tổ chức chính trị xã hội,…sự nỗ lực hoạt động, có hiệu quả của

Trang 20

các cán bộ làm công tác DS - GĐ&TE thành phố đến ban DS - GĐ&TE phường Hoàng Văn Thụ Vì vậy công tác DS - GĐ&TE 5 năm qua đã đạt được những kết quả nhất định

3.3 Những kết quả đạt được trên một số lĩnh vực

Uỷ ban DS - GĐ&TE đã chỉ đạo xã, phường, thị trấn thành lập ban GĐ&TE, tham mưu với uỷ ban nhân dân thành phố giao chỉ tiêu kế hoạch dân

DS-số DV - KHHGĐ, giao chỉ tiêu kế hoạch về chăm sóc và giáo dục trẻ em cho

32 tổ dân phố Các ngành đoàn thể tiến hành ký kết hợp đồng trách nhiệm với Trưởng ban dân số, cán bộ chuyên trách và thủ trưởng các cơ quan các ngành

có liên quan Củng cố và kiện toàn đội ngũ cán bộ đảm bảo hoạt động đồng

bộ và thống nhất [2]

Các cán bộ chuyên trách về dân số, các cộng tác viên, luôn nghe những

ý kiến phản ánh từ cơ sở, kiểm điểm những công vịêc đã làm được, còn những công việc chưa làm được thì tìm nguyên nhân và đề ra phương hướng nhiệm vụ tiếp theo cho từng tổ cũng như trong toàn phường

Hàng tháng giao ban với UB DS –GĐ&TE thành phố, báo cáo kết quả thực hiện công tác DS - GĐ&TE, phản ánh những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực thi công việc, nhận kế hoạch của thành phố và trung ương về triển khai

Tổng kết 3 năm thực hiện quyết định 134 của Thủ tướng Chính phủ về bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

Được sự quan tâm và chỉ đạo sát sao của Đảng uỷ, HĐND và UBND phường, công tác DS - GĐ&TE trên địa bàn tiếp tục đi vào nề nếp và đạt được những kết quả đáng khích lệ Việc kiện toàn lực lượng cộng tác viên ở

tổ dân phố đã được quan tâm đúng mực, các cộng tác viên có năng lực, đáp

Trang 21

ứng được nhu cầu nhiệm vụ đề ra, chuyển tải kịp thời, chính xác những chủ trương và biện pháp cụ thể về công tác DS - GĐ&TE đến đúng đối tượng

Uỷ ban DS - GĐ&TE thành phố luôn quan tâm chỉ đạo kịp thời và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của công tác DS - GĐ&TE ở địa phương về chuyên môn, nghiệp vụ cho các chuyên trách viên và cộng tác viên

Tuyên truyền sâu rộng về pháp lệnh dân số và Nghị Định 104/2003/NĐ

- CP của Chính phủ quy định cho tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của pháp lệnh dân số Thường trực Đảng uỷ nhiều phường có lịch nghe báo cáo chuyên đề về công tác DS - GĐ&TE, trên cơ sở đó phường Hoàng Văn Thụ

đã tổ chức tuyên truyền sâu rộng đến 32 tổ dân phố với tiêu đề “Xây dựng các gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc” Năm 2005 có 2904 hộ gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hoá đạt tỷ lệ 92,1% Tỷ lệ sinh con thứ 3+ là 0,71/1,49 giảm 0,68% so với kế hoạch đề ra Do vậy, kết quả 5 năm (2002 - 2006) hoàn thành tốt các chỉ tiêu về DS - GĐ&TE

UBND phường tiếp tục triển khai, tuyên truyền chỉ thị của Bộ Chính trị

về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng cơ sở với công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em, tiếp tục thực hiện chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh các hoạt động văn hóa vui chơi cho trẻ em

Tập trung chỉ đạo cơ sở tổng kết 10 năm thi hành luật bảo vệ chăm sóc trẻ em

Công tác thông tin giáo dục tuyên truyền về DS - GĐ&TE từ phường xuống các tổ dân phố thường xuyên được tăng cường bằng nhiều hình thức, kết hợp nhiều loại hình tuyên truyền như: mở hội nghị tọa đàm, huy động lực lượng học sinh, thanh niên, phụ nữ dùng băng rôn khẩu hiệu,… tuyên truyền

cổ động ở những nơi vùng sâu, vùng xa, những nơi đông người Kết hợp tuyên truyền vận động trực tiếp từng người, từng nhà thông qua nhiều tài liệu

Trang 22

tranh ảnh, sách, báo gia đình và xã hội Ban DS - GĐ&TE phường phối hợp với các ban ngành đoàn thể tổ chức tuyên truyền chiến dịch truyền thông lồng ghép với DV - KHHGĐ năm 2005

Phường tập trung tuyên truyền Luật bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em, công ước quốc tế về quyền trẻ em Đảng uỷ, HĐND có nghị quyết lãnh đạo, UBND phường có kế hoạch cụ thể triển khai và thường xuyên chỉ đạo, kiểm tra tới các tổ dân phố thực hiện tốt phong trào bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ

em

Phối hợp với hội phụ nữ Thành phố chỉ đạo cơ sở xây dựng mô hình câu lạc bộ phụ nữ không có người sinh con thứ 3+ với nhiều nội dung hoạt động phong phú Truyền thông các cặp vợ trồng thực hiện kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc giáo dục trẻ em, phát triển kinh tế, tăng thu nhập xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc

Phối hợp với uỷ ban DS - GĐ&TE triển khai chiến lược dân số

2001-2010 và giao chỉ tiêu KHHGĐ cho từng tổ dân phố Năm 2006 ban DS - GĐ

&TE phường phối hợp với các tổ chức đoàn thể, các tổ dân phố đã tổ chức nhiều buổi truyền thông lớn Phối hợp tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ,… trong dịp hè cho các cháu Trong tháng 8/2006, ban DS - GĐ&TE tổ chức hội thi “Tiếng hát hoa phượng đỏ, thời trang hè 2006” thành công tốt đẹp

Uỷ ban Mặt trận tổ quốc phường phối kết hợp nhịp nhàng với các thành viên ban DS - GĐ&TE tổ chức tốt ngày gia đình Việt Nam 28/6 với chủ đề ngày gia đình năm 2005: “Gia đình ông bà mẫu mực, con cháu thảo hiền” Giúp đỡ gia đình chăm sóc và giáo dục trẻ em, phát triển kinh tế gia đình.Tiếp tục xây dựng mô hình gia đình “No ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc” và

Trang 23

Phối hợp với ngành văn hoá thông tin và chỉ đạo cơ sở tổ chức các hoạt động trong hè cho các cháu Xây dựng điểm vui chơi cho các cháu gắn với tuyên truyền, vận động trong các lễ hội Phát động phong trào sinh đẻ có kế hoạch cho ngươi dân, phong trào người lớn gương mẫu, trẻ em chăm ngoan tăng cường xây dựng gia đình, làng xóm văn hoá

Phối hợp với ngành giáo dục và đào tạo tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện công tác giáo dục trẻ em Trên địa bàn phường có nhiều cơ sở giáo dục là các trường từ hệ mầm non đến THPT ngày càng được quan tâm Tiếp tục đưa công tác giáo dục DS - GĐ & TE vào trong nhà trường

Phối hợp ngành y tế, đẩy mạnh công tác truyền thông dân số, chăm sóc sức khoẻ sinh sản KHHGĐ đạt hiệu quả thiết thực Thường xuyên đảm bảo phục vụ tốt hơn nhu cầu khám chữa bệnh cho trẻ em Tăng cường truyền thông hướng dẫn chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho trẻ em, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống các bệnh mắc trong dịp hè, phòng chống tai nạn thương tích, sơ cấp cứu kịp thời khi trẻ bị nạn Năm 2006 làm tốt công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu, giảm tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng

Phối hợp với ngành Tư pháp thực hiện tốt việc đăng kí khai sinh cho trẻ

em

3.4 Những tồn tại

3.4.1 Về sự lãnh đạo, chỉ đạo bộ máy

Không có sự sát nhập giữa hai ngành DS - GĐ & TE và bảo vệ chăm sóc trẻ em dẫn đến công tác chuyển giao đội ngũ cán bộ chuyên trách DS -

GĐ & TE từ cơ sở đến Thành phố mới được kiện toàn và mới được tập huấn nghiệp vụ về DS - GĐ & TE cho nên việc triển khai thực hiện các mục tiêu vì trẻ em còn chậm

Trang 24

Vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Uỷ ban DS - GĐ & TE Thành phố cũng như của Đảng uỷ - HĐND - UBND phường Hoàng Văn Thụ còn thiếu chặt chẽ và sát sao Cần nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cơ quan chức năng trong kế hoạch chỉ đạo cơ sở Tăng cường hơn nữa sự phối hợp có hiệu quả của các ban ngành, đoàn thể trong công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ

em Một bộ phận người dân chưa hiểu rõ về Pháp lệnh dân số nên năm 2005

và năm 2006 vẫn còn có trường hợp vi phạm sinh con thứ 3+

3.4.2 Về truyền thông DS - GĐ&TE

Với đặc thù là một phường trung tâm diện tích hẹp, dân số đông, gần bến tàu, bến xe địa bàn phức tạp, nguồn kinh phí cho công tác tuyên truyền vận động còn quá ít, hiệu quả chưa cao

Nguồn kinh phí hỗ trợ xây dựng cơ sở vật chất còn hạn chế, cơ sở y tế chưa đáp ứng được yêu cầu còn thiếu trang thiết bị chưa đủ điều kiện để chăm sóc sức khoẻ cộng đồng

Một số nhà văn hoá ở các tổ dân phố trang thiết bị còn thiếu

3.4.3 Về DV - KHHGĐ

Công tác tuyên truyền vận động trong độ tuổi sinh đẻ, nhất là những cặp

vợ chồng sinh con một bề chưa tích cực, chưa cụ thể và sâu sát nhất là những đối tượng chưa thực hiện KHHGĐ

3.4.4 Đầu tư kinh phí

Nguồn kinh phí cho các tổ dân phố còn hạn chế, cấp uỷ Đảng chính quyền nhận thức chưa đầy đủ về quan điểm của Đảng là: “Đầu tư cho công tác DS - GĐ&TE là đầu tư mang lại hiệu quả kinh tế trực tiếp rất cao” Do đó

Trang 25

3.5 Mục tiêu

3.5.1 Mục tiêu dân số

- Giảm tỉ suất sinh thô so với năm 2006 là 0,26%

- Giảm tỉ lệ sinh con thứ 3+ là 0,68%

- Hạ tỉ lệ phát triển dân số tự nhiên xuống dưới 1,01%

- Tăng 2% số cặp vợ chồng được bảo vệ bằng các biện pháp tránh thai hiện đại

3.5.2 Thực hiện các biện pháp tránh thai hiện đại

- Số đặt dụng cụ tử cung mới: 167 người/157 người đạt 106,36 kế hoạch

- Số dùng thuốc tránh thai là: 180 người/180 người đạt 100% kế hoạch

- Số sử dụng bao cao su là: 364 người/312 người đạt 116,66% kế hoạch

- Đình sản là 1/1 đạt 100%

3.5.3 Bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em

- Giảm tỉ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi xuống dưới 10%

- Tỉ lệ trẻ em được tiêm phòng và tiêm chủng đầy đủ: 100%

- Tỉ lệ trẻ em đến nhà trẻ đạt: 99%

- Tỉ lệ trẻ em từ 3 - 5 tuổi đến lớp mẫu giáo đạt: 99,2%

- Tỉ lệ trẻ em khai sinh đúng luật đạt: 99%

- Các tổ dân phố có nhà văn hoá đạt: 96%

- Các tổ dân phố có quỹ bảo trợ trẻ em đạt: 100%

- Xây dựng quỹ bảo trợ trẻ em phường đạt: 20 triệu đồng

3.5.4 Nhằm thực hiện các mục tiêu

Trang 26

- Phụ nữ sinh con đầu lòng sau 22 tuổi

- Sinh con thứ hai cách con thứ nhất từ 3- 5 năm

- Sinh tối đa hai con

Thực hiện gia đình một hoặc hai con khoẻ mạnh để nuôi dạy cho tốt, tiến tới ổn định quy mô dân số ở mức hợp lí, tạo điều kiện để có cuộc sống

ấm no hạnh phúc Nâng cao chất lượng dân số, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu CNH- HĐH góp phần vào sự phát triển và bền vững của đất nước

3.6 Giải pháp

3.6.1 Lãnh đạo tổ chức quản lí

Tăng cường sự chỉ đạo của cấp trên, sự phối kết hợp của các ngành đoàn thể Thường xuyên kiểm tra đánh giá tình hình thực hiện các chương trình mục tiêu, phân công từng thành viên, từng cộng tác viên phụ trách từng tổ để lãnh đạo, chỉ đạo sát sao công tác DS - GĐ&TE ở cơ sở đạt hiệu quả cao Bố trí cán bộ chuyên trách và cộng tác viên bảo đảm chất lượng và ổn định, có đủ năng lực chuyên môn để hoàn thành nhiệm vụ

- Thường trực Ban DS - GĐ&TE phường duy trì chế độ giao ban hàng tháng đảm bảo các cuộc giao ban có chất lượng hiệu quả

- Duy trì báo cáo theo định kì của ngành Đảm bảo thu thập số liệu, thông tin báo cáo chuẩn từ các tổ trên địa bàn phường

- Thường xuyên theo dõi ghi chép các loại sổ sách chuyên ngành kịp thời đầy đủ và chuẩn xác

- Ban DS - GĐ&TE phường duy trì sinh hoạt đều hàng tháng, năm đối với các thành viên, các ngành, các cán bộ chuyên trách và cộng tác viên,

Ngày đăng: 27/06/2020, 08:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[7]. Bộ Giáo dục - Đào tạo và Quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA). Một số vấn đề cơ bản về giáo dục dân số – Dự án VIE/01/P09 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cơ bản về giáo dục dân số – Dự án VIE/01/P09
Tác giả: Bộ Giáo dục - Đào tạo, Quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA)
[9]. Nguyễn Hữu Dũng - Lê Thống. Dân số - Môi trường - Tài nguyên. NXB Giáo dục, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân số - Môi trường - Tài nguyên
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng, Lê Thống
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1995
[10]. Phạm Văn Đồng – Nguyễn Thị Thiến. Giáo trình thống kê dân số học. Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thống kê dân số học
Tác giả: Phạm Văn Đồng, Nguyễn Thị Thiến
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1995
[11]. Nguyễn Thị Thu Hợi. Luận văn tốt nghiệp. 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn tốt nghiệp
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hợi
Năm: 2006
[12]. Nguyễn Minh Huệ - Nguyễn Văn Lê. Dân số học đại cương. NXB Đại học quốc gia, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân số học đại cương
Tác giả: Nguyễn Minh Huệ, Nguyễn Văn Lê
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia
Năm: 2001
[13]. Dương Toàn Thắng. Luận văn tốt nghiệp. 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn tốt nghiệp
Tác giả: Dương Toàn Thắng
Năm: 2005
[14]. Nguyễn Văn Tuyên. Sinh thái và môi trường. NXB giáo dục, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh thái và môi trường
Tác giả: Nguyễn Văn Tuyên
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 2001
[1]. Mác - Ănghen tuyển tập 6. NXB Sự Thật Khác
[2]. Ban DS - GĐ&TE – Báo cáo thực hiện công tác DS - GĐ&TE các năm từ 2002 - 2006 Khác
[3]. Ban DS - GĐ&TE - Báo cáo kết quả thực hiện xây dựng phường phù hợp với trẻ em năm 2005 Khác
[4]. Báo gia đình và xã hội tháng 04/2006 Khác
[5]. Chiến lược dân số Việt Nam giai đoạn 2001- 2010 Khác
[6]. Văn kiện Đại hội Đảng khoá VII, VIII, IX Khác
[8]. Tạp chí báo chí và tuyên truyền số 2. Học viện chính trị quốc gia, 2006 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w