1.Phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu công ty? 12.Phân tích đặc điểm của hoạt động môi giới thương mại theo quy định của Luật Thương mại. Quyền và nghĩa vụ cơ bản của các bên trong hoạt động môi giới thương mại?23. Nêu khái niệm và phân tích đặc điểm của Hợp đồng mua bán? Phân tích các điều kiện để Hợp đồng mua bán hàng hoá có hiệu lực.44. Hãy so sánh quảng cáo thương mại và khuyến mại? Nêu một số ảnh hưởng tiêu cực của hoạt động này với người tiêu dùng hiện nay ở nước ta75. Hãy nêu và phân tích đặc điểm của tranh chấp thương mại và nêu khái quát 4 hình thức giải quyết tranh chấp thương mại.86. Hãy nêu và phân tích các vấn đề pháp lý cơ bản của việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại (chủ thể, đại diện, đề nghị giao kết hợp đồng, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng và thời điểm giao kết, nội dung cơ bản cần thỏa thuận107.Hãy nêu khái niệm và đặc điểm của mua bán hàng hóa trong thương mại. Phân biệt quan hệ mua bán hàng hóa trong thương mại với quan hệ hàng đổi hàng, quan hệ tặng cho hàng hóa, quan hệ cho thuê hàng hóa.128. Hãy phân tích các điều kiện kinh doanh dịch vụ giám định thương mại, quyền và nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định thương mại.149. Phân biệt pháp nhân và thể nhân, trách nhiệm hữu hạn và trách nhiệm vô hạn:162. Phân tích đặc điểm của hoạt động môi giới thương mại theo quy định của Luật Thương mại. Quyền và nghĩa vụ cơ bản của các bên trong hoạt động môi giới thương mại?2.1Đặc điểm của hoạt động môi giới thương mạiTheo quy định của Luật thương mại 2005, môi giới thương mại là hoạt động thương mại, theo đó một thương nhân làm trung gian (gọi là bên môi giới) cho các bên mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ (gọi là bên được môi giới) trong việc đàm phán, giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ và được hưởng thù lao theo hợp đồng môi giới. (Điều 150. Môi giới thương mại)Căn cứ theo các quy định của Luật Thương mại 2005 thì có thể nhận thấy môi giới thương mại có các đặc điểm cơ bản sau đây:Thứ nhất: Đây là hoạt động thương mại, một loại dịch vụ thương mại, một hình thức trung gian thương mại, theo đó một thương nhân làm một công việc cho thương nhân khác để hưởng thù lao. Bên môi giới thực hiện hoạt động môi giới nhằm mục đích lợi nhuận bằng việc nhận thù lao của bên thuê dịch vụ. Vì thế, kết quả hoạt động kinh doanh của bên môi giới sẽ phụ thuộc vào khả năng và hiệu quả của hoạt động môi giới. Trong hoạt động môi giới, bên môi giới nhân danh chính mình, với tư cách là người môi giới tham gia vào giao dịch, trong các giao dịch với các bên.Thứ hai: Chủ thể trong quan hệ môi giới thương mại gồm có bên môi giới và bên được môi giới. Theo quy định của Luật Thương mại 2005 thì bên môi giới bắt buộc phải là thương nhân, phải có đăng ký kinh doanh ngành nghề môi giới thương mại. Tuy nhiên, đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ môi giới trong các lĩnh vực nhất định thì còn phải đáp ứng được các điều kiện khác do pháp luật quy định chẳng hạn như điều kiện để kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản, môi giới chứng khoán, môi giới tàu biển… được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành. Bên được môi giới có thể là hoặc không là thương nhân.Thứ ba: Nội dung và phạm vi của công việc môi giới khá rộng bao gồm tất cả các công việc làm trung gian cho các bên mua bán trong quan hệ mua bán hàng hóa, hay cung ứng và sử dụng dịch vụ trong hoạt động cung ứng dịch vụ với mục đích cho các bên này giao kết được hợp đồng với nhau. Luật Thương mại 2005 chỉ quy định bên môi giới “làm trung gian” cho các bên mà không quy định cụ thể các việc mà bên môi giới phải làm. Tuy nhiên, căn cứ theo quy định của Luật Thương mại 2005 thì bên môi giới có thể tiếp nhận các thông tin, hàng mẫu, tài liệu của bên thuê dịch vụ để tiến hành việc tìm kiếm, thúc đẩy các bên có cung và bên có cầu đạt được thỏa thuận mua bán hay cung ứng dịch vụ với nhau. Bên môi giới có thể phải làm nhiều việc cụ thể như tìm kiếm, tiếp xúc, trao đổi, giới thiệu, thuyết phục các bên liên quan.Thứ tư, quan hệ môi giới thương mại được xác lập trên cơ sở hợp đồng môi giới. Theo quy định tại Điều 150 Luật Thương mại 2005 thì quan hệ môi giới, các quyền và nghĩa vụ giữa bên môi giới và bên được môi giới, phải thể hiện trên hợp đồng môi giới. 2.2Quyền và nghĩa vụ cơ bản của các bên trong hoạt động môi giới thương mại+ Quyền và nghĩa vụ của bên môi giớiQuyền của bên môi giớiThứ nhất, quyền được hưởng thù lao môi giới là một quyền quan trọng của bên môi giới, đây cũng chính là mục đích trực tiếp mà bên môi giới mong muốn đạt được khi giao kết hợp đồng môi giới. Về nguyên tắc, bên môi giới được hưởng thù lao môi giới từ thời điểm các bên được môi giới đã giao kết được hợp đồng với nhau, chứ không phải ở thời điểm bên môi giới giới thiệu các bên gặp nhau hay khi các bên thực hiện xong hợp đồng mua bán hay cung ứng dịch vụ. Tuy nhiên, nhằm đảm bảo quyền tự do thỏa thuận của các bên, LTM 2005 cho phép các bên trong hợp đồng môi giới có quyền thỏa thuận thời điểm phát sinh quyền hưởng thù lao khác với nguyên tắc ở trên.Thứ hai, bên cạnh thù lao môi giới, bên môi giới được quyền yêu cầu bên được môi giới thanh toán các chi phí phát sinh hợp lý liên quan đến việc môi giới, kể cả khi việc môi giới không mang lại kết quả cho bên được môi giới, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.Thứ ba, bên môi giới còn có các quyền khác theo quy định của pháp luật và theo thỏa thuận.Nghĩa vụ của bên môi giớiĐiều 151 LTM 2005 quy định một loạt các nghĩa vụ của bên môi giới, theo đó trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, bên môi giới có các nghĩa vụ sau đây: Trong trường hợp bên được môi giới giao cho bên môi giới các mẫu hàng hóa, tài liệu đề thực hiện việc môi giới thì bên môi giới có nghĩa vụ bảo quản và phải hoàn trả cho bên được môi giới sau khi hoàn thành việc môi giới; Bên môi giới không được tiết lộ, không được cung cấp thông tin có được từ việc thực hiện công việc môi giới cho các tổ chức, cá nhân làm phương hại đến lợi ích của bên được môi giới. Với bản chất của quan hệ môi giới, bên môi giới không được tham gia thực hiện hợp đồng giữa các bên được môi giới, trừ trường hợp bên môi giới có sự ủy quyền của bên được môi giới đề tham gia thực hiện hợp đồng.Khi thực hiện công việc môi giới, bên môi giới phải đảm bảo và chịu trách nhiệm về tư cách chủ thể hợp pháp của các bên mà mình môi giới, giới thiệu họ đàm phán, giao dịch, ký kết hợp đồng với nhau. Các bên được môi giới đã không biết nhau trước khi được môi giới qua hoạt động của người môi giới, vì thế việc quy định bên môi giới phải chịu trách nhiệm về tư cách pháp lý của các bên được môi giới là hoàn toàn hợp lý. Tuy nhiên, bên môi giới không chịu trách nhiệm về khả năng thanh toán, khả năng thực hiện hợp đồng và các yếu tổ khác liên quan đến các bên được môi giới; các bên phải tự tìm hiểu và quyết định khi đàm phán, giao kết hợp đồng. + Quyền và nghĩa vụ của bên được môi giới Quyền của bên được môi giớiMặc dù LTM 2005 không có một điều luật riêng quy định về quyền của bên được môi giới nhưng có thể hiểu rằng, bên được môi giới có quyền yêu cầu bên môi giới phải thực hiện đúng các nghĩa vụ của mình, chẳng hạn như phải bảo quản các mẫu hàng hóa, tài liệu được giao đề thực biện việc môi giới; yêu cầu bên môi giới không được tiết lộ thông tin làm ảnh hưởng đến lợi ích của bên được môi giới... Các quyền này bao gồm những quyền theo thỏa thuận trong hợp đồng và quyền yêu cầu bên môi giới thực hiện những nghĩa vụ mà pháp luật quy định. Nghĩa vụ của bên được môi giớiNghĩa vụ của bên được môi giới được quy định tại Điều 152 LTM 2005. Nếu giữa bên môi giới và bên được môi giới không có thỏa thuận khác thì bên được môi giới có các nghĩa vụ sau đây: Phải cung cấp thông tin, tài liệu, phương tiện cần thiết liên quan đến hàng hóa, dịch vụ mà cần nhờ bên môi giới giao dịch; Phải thanh toán thù lao cho bên môi giới theo thỏa thuận, nếu không có thỏa thuận cụ thể về thù lao môi giới thì mức thù lao này sẽ căn cứ vào quy định tại Điều 86 LTM 2005. Bên cạnh đó bên được môi giới còn phải trả cho bên môi giới những chi phí phát sinh hợp lý liên quan đến công việc môi giới.3.Nêu khái niệm và phân tích đặc điểm của Hợp đồng mua bán? Phân tích các điều kiện để Hợp đồng mua bán hàng hoá có hiệu lực.3.1Khái niệm Xét về bản chất, hợp đồng mua bán hàng hóa – hình thức pháp lý của quan hệ mua bán hàng hóa – mang tính chất cơ bản của một hợp đồng, là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng mua bán hàng hóa. Nền tảng của hợp đồng mua bán hàng hóa trên sự thỏa thuận giữa các chủ thể của quan hệ mua bán hàng hóa theo quy định của pháp luật thương mại nhằm thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa. Theo cách hiểu này, dựa trên quy định của LTM 2005 về hoạt động mua bán hàng hóa, có thể hiểu hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận của các bên theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; còn bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa.3.2Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóaHoạt động mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại thuộc về bản chất, được thực hiện nhằm mục đích sinh lợi của thương nhân, vậy nên hợp đồng mua bán hàng hóa với tính chất là sự thỏa thuận của các bên để thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa có những đặc điểm như sau: Thứ nhất, về chủ thể, hợp đồng mua bán hàng hóa được xác lập giữa (i)các chủ thể là thương nhân hoặc giữa (ii)thương nhân với các chủ thể khác có nhu cầu về hàng hóa khi các chủ thể đó chọn áp dụng LTM 2005 các chủ thể này là một bên trong giao dịch với thương nhân, thực hiện hoạt động mua bán không nhằm mục đích sinh lợi trên lãnh thổ nước Việt Nam và chọn áp dụng LTM 2005 để điều chỉnh quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa của các bênThứ hai, về hình thức, hợp đồng mua bán hàng hóa được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể. Tuy nhiên, đối với những loại hợp đồng mà pháp luật quy định phải được giao kết bằng văn bản thì phải tuân theo quy định đó. Thứ ba, về đối tượng, hợp đồng mua bán hàng hóa có đối tượng là hàng hóa. Theo LTM 2005, hàng hóa bao gồm (i)tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; (ii)những vật gắn liền với đất đai.Theo quy định của pháp luật, động sản là những tài sản không phải là bất động sản; còn bất động sản là các tài sản bao gồm đất đai; nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; các tài sản khác gắn liền với đất đai; các tài sản khác do pháp luật quy định. Như vậy, LTM 2005 chỉ điều chỉnh các hợp đồng mua bán có đối tượng hàng hóa là (i) động sản đã tồn tại vào thời điểm xác lập hợp đồng hoặc sẽ hình thành trong tương lai và (ii) những vật gắn liền với đất đai (mà không bao gồm đất đai). Theo cách hiểu này, quyền sử dụng đất là đối tượng trong các giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì không phải là hàng hóa theo quy định của LTM 2005 nhưng nhà, công trình xây dựng tồn tại trên đất lại là hàng hóa thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này. Hàng hóa là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa phải không thuộc danh mục hàng hóa cấm kinh doanh; trường hợp hàng hóa thuộc danh mục hạn chế kinh doanh hoặc kinh doanh có điều kiện thì để có thể lưu thông hợp pháp phải đáp ứng các điều kiện này theo quy định của pháp luật. 3.3Phân tích các điều kiện để Hợp đồng mua bán hàng hoá có hiệu lựcLTM 2005 không quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong hoạt động thương mại, vì vậy các vấn đề pháp lý liên quan đến xác định điều kiện để hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực phải tuân theo quy định của BLDS 2015 về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự. Theo đó, hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực khi đáp ứng các điều kiện sau: Thứ nhất, các bên tham gia vào quan hệ hợp đồng phải có năng lực chủ thể để ký kết hợp đồng. Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa chủ yếu là thương nhân, chủ thể này có nghĩa vụ phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật thuơng mại. Thương nhân giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa nhằm mục đích sinh lợi với điều kiện có đăng ký kinh doanh đối với hàng hóa mua bán. Đối với thương nhân là tổ chức kinh tế, việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa được thực hiện thông qua người đại diện hợp pháp của mình, bao gồm người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp được xác định căn cứ vào giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (hoặc giấy chứng nhận có giá trị tương đương) và phạm vi quyền hạn của người đại diện theo pháp luật được xác định căn cứ vào điều lệ của doanh nghiệp và pháp luật doanh nghiệp. Như vậy, để hợp đồng mua bán hàng hóa của thương nhân có hiệu lực thì chủ thể tham gia hợp đồng phải đáp ứng yêu cầu về đăng ký kinh doanh và yêu cầu về thầm quyển của người ký kết hợp đồng.Thứ hai, mục đích và nội dung của hợp đồng không được vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Những hợp đồng mua bán có mục đích và nội dung vi phạm điều kiện này bị vô hiệu và vì vậy, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.Thứ ba, hợp đồng phải được giao kết trên nguyên tắc tự nguyện. Đây là một nguyên tắc cơ bản của pháp luật trong giao kết hợp đồng, bởi lẽ hợp đồng phải là sự thống nhất ý chí của các bên và các bên phải tự nguyện trong việc xác lập và thể hiện ý chí của mình, mọi trường hợp giao kết hợp đồng trên cơ sở lừa đối, đe dọa là căn cứ dẫn đến hậu quả hợp đồng bị vô hiệu. Thứ tư, hợp đồng phải đáp ứng quy định của pháp luật về hình thức. Hình thức của hợp đồng mua bán là phương thức thể hiện ý chí của các bên tham gia quan hệ mua bán hàng hóa, sự thỏa thuận của các bên về nội dung của hợp đồng phải được thể hiện bằng những hình thức đáp ứng quy định của pháp luật. Hình thức của hợp đồng là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong trường hợp pháp luật có quy định. Các bên trong quan hệ mua bán hàng hóa có thể xác lập hợp đồng bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, chỉ những hợp đồng nào pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó. Trường hợp pháp luật quy định hình thức hợp đồng là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mà các bên không tuân theo thì heo yêu cầu của một hoặc các bên, Toà án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của hợp đồng trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì hợp đồng vô hiệu.4.Hãy so sánh quảng cáo thương mại và khuyến mại? Nêu một số ảnh hưởng tiêu cực của hoạt động này với người tiêu dùng hiện nay ở nước ta4.1 So sánh quảng cáo thương mại và khuyến mạiĐiểm giống nhau:Đều là hoạt động xúc tiến thương mại của các thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.Có thể do thương nhân tự tiến hành hoặc thuê dịch vụ quảng cáo, khuyến mại dựa trên hợp đồng.
Trang 110 CÂU HỎI LÝ THUYẾT LUẬT KINH TẾ CÓ ĐÁP ÁN
1 Phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu công ty?
Khái niệm chủ sở hữu công ty được Luật Doanh nghiệp 2014 dùng cho chủ sở hữu công
ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Quyền của chủ sở hữu công ty được quy định tại Điều 75 Luật Doanh nghiệp 2014 như sau:
- Quyền chung của chủ sở hữu là tổ chức và cá nhân:
Quyết định nội dung Điều lệ công ty, sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty;
Quyết định tăng vốn điều lệ của công ty; chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân khác;
Quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác của công ty;
Quyết định tổ chức lại, giải thể và yêu cầu phá sản công ty;
Thu hồi toàn bộ giá trị tài sản của công ty sau khi công ty hoàn thành giải thể hoặc phá sản;
Quyền khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty
- Quyền riêng của chủ sở hữu công ty là tổ chức:
Quyết định chiến lược phát triển và kế hoạch kinh doanh hằng năm của công ty;
Quyết định cơ cấu tổ chức quản lý công ty, bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm người quản lý công ty;
Quyết định dự án đầu tư phát triển;
Quyết định các giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ;
Thông qua hợp đồng vay, cho vay và các hợp đồng khác do Điều lệ công ty quy định có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ hoặc giá trị khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty;
Quyết định bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ hoặc giá trị khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty;
Quyết định thành lập công ty con, góp vốn vào công ty khác;
Tổ chức giám sát và đánh giá hoạt động kinh doanh của công ty;
- Quyền riêng của Chủ sở hữu công ty là cá nhân:
Quyết định đầu tư, kinh doanh và quản trị nội bộ công ty, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác;
Nghĩa vụ của Chủ sở hữu công ty không phân biệt chủ sở hữu là tổ chức hay cá nhân được quy định tại Điều 76 Luật Doanh nghiệp 2014 như sau:
Trang 2 Góp đầy đủ và đúng hạn vốn điều lệ công ty.
Tuân thủ Điều lệ công ty
Phải xác định và tách biệt tài sản của chủ sở hữu công ty và tài sản của công ty Chủ sở hữu công ty là cá nhân phải tách biệt các chi tiêu của cá nhân và gia đình mình với các chi tiêu trên cương vị là Chủ tịch công ty và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc
Tuân thủ quy định của pháp luật về hợp đồng và pháp luật có liên quan trong việc mua, bán, vay, cho vay, thuê, cho thuê và các giao dịch khác giữa công ty và chủ sở hữu công ty
Chủ sở hữu công ty chỉ được quyền rút vốn bằng cách chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ cho tổ chức hoặc cá nhân khác; trường hợp rút một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ đã góp ra khỏi công ty dưới hình thức khác thì chủ
sở hữu và cá nhân, tổ chức có liên quan phải liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty
Chủ sở hữu công ty không được rút lợi nhuận khi công ty không thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác đến hạn
Thực hiện nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty
2 Phân tích đặc điểm của hoạt động môi giới thương mại theo quy định của Luật Thương mại Quyền và nghĩa vụ cơ bản của các bên trong hoạt động môi giới thương mại?
2.1 Đặc điểm của hoạt động môi giới thương mại
Theo quy định của Luật thương mại 2005, môi giới thương mại là hoạt động thương mại, theo đó một thương nhân làm trung gian (gọi là bên môi giới) cho các bên mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ (gọi là bên được môi giới) trong việc đàm phán, giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ và được hưởng thù lao theo hợp đồng môi
giới (Điều 150 Môi giới thương mại)
Căn cứ theo các quy định của Luật Thương mại 2005 thì có thể nhận thấy môi giới thương mại có các đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất: Đây là hoạt động thương mại, một loại dịch vụ thương mại, một hình thức trung gian thương mại, theo đó một thương nhân làm một công việc cho thương nhân khác để hưởng thù lao Bên môi giới thực hiện hoạt động môi giới nhằm mục đích lợi
nhuận bằng việc nhận thù lao của bên thuê dịch vụ Vì thế, kết quả hoạt động kinh doanh của bên môi giới sẽ phụ thuộc vào khả năng và hiệu quả của hoạt động môi giới Trong hoạt động môi giới, bên môi giới nhân danh chính mình, với tư cách là người môi giới tham gia vào giao dịch, trong các giao dịch với các bên
Thứ hai: Chủ thể trong quan hệ môi giới thương mại gồm có bên môi giới và bên được môi giới Theo quy định của Luật Thương mại 2005 thì bên môi giới bắt buộc
phải là thương nhân, phải có đăng ký kinh doanh ngành nghề môi giới thương mại Tuy nhiên, đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ môi giới trong các lĩnh vực nhất định thì còn phải đáp ứng được các điều kiện khác do pháp luật quy định chẳng hạn như điều kiện để kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản, môi giới chứng khoán,
Trang 3môi giới tàu biển… được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành Bên được môi giới có thể là hoặc không là thương nhân
Thứ ba: Nội dung và phạm vi của công việc môi giới khá rộng bao gồm tất cả các công việc làm trung gian cho các bên mua bán trong quan hệ mua bán hàng hóa, hay cung ứng và sử dụng dịch vụ trong hoạt động cung ứng dịch vụ với mục đích cho các bên này giao kết được hợp đồng với nhau Luật Thương mại 2005 chỉ quy định
bên môi giới “làm trung gian” cho các bên mà không quy định cụ thể các việc mà bên môi giới phải làm Tuy nhiên, căn cứ theo quy định của Luật Thương mại 2005 thì bên môi giới có thể tiếp nhận các thông tin, hàng mẫu, tài liệu của bên thuê dịch
vụ để tiến hành việc tìm kiếm, thúc đẩy các bên có cung và bên có cầu đạt được thỏa thuận mua bán hay cung ứng dịch vụ với nhau Bên môi giới có thể phải làm nhiều việc cụ thể như tìm kiếm, tiếp xúc, trao đổi, giới thiệu, thuyết phục các bên liên quan
Thứ tư, quan hệ môi giới thương mại được xác lập trên cơ sở hợp đồng môi giới.
Theo quy định tại Điều 150 Luật Thương mại 2005 thì quan hệ môi giới, các quyền
và nghĩa vụ giữa bên môi giới và bên được môi giới, phải thể hiện trên hợp đồng môi giới
2.2 Quyền và nghĩa vụ cơ bản của các bên trong hoạt động môi giới thương mại
+ Quyền và nghĩa vụ của bên môi giới
Quyền của bên môi giới
Thứ nhất, quyền được hưởng thù lao môi giới là một quyền quan trọng của bên
môi giới, đây cũng chính là mục đích trực tiếp mà bên môi giới mong muốn đạt được khi giao kết hợp đồng môi giới
Về nguyên tắc, bên môi giới được hưởng thù lao môi giới từ thời điểm các bên được môi giới đã giao kết được hợp đồng với nhau, chứ không phải ở thời điểm bên môi giới giới thiệu các bên gặp nhau hay khi các bên thực hiện xong hợp đồng mua bán hay cung ứng dịch vụ Tuy nhiên, nhằm đảm bảo quyền tự do thỏa thuận của các bên, LTM 2005 cho phép các bên trong hợp đồng môi giới có quyền thỏa thuận thời điểm phát sinh quyền hưởng thù lao khác với nguyên tắc ở trên
Thứ hai, bên cạnh thù lao môi giới, bên môi giới được quyền yêu cầu bên được
môi giới thanh toán các chi phí phát sinh hợp lý liên quan đến việc môi giới, kể cả khi việc môi giới không mang lại kết quả cho bên được môi giới, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác
Thứ ba, bên môi giới còn có các quyền khác theo quy định của pháp luật và theo
thỏa thuận
Nghĩa vụ của bên môi giới
Điều 151 LTM 2005 quy định một loạt các nghĩa vụ của bên môi giới, theo đó trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, bên môi giới có các nghĩa vụ sau đây:
- Trong trường hợp bên được môi giới giao cho bên môi giới các mẫu hàng hóa, tài liệu đề thực hiện việc môi giới thì bên môi giới có nghĩa vụ bảo
Trang 4quản và phải hoàn trả cho bên được môi giới sau khi hoàn thành việc môi giới;
- Bên môi giới không được tiết lộ, không được cung cấp thông tin có được
từ việc thực hiện công việc môi giới cho các tổ chức, cá nhân làm phương hại đến lợi ích của bên được môi giới
- Với bản chất của quan hệ môi giới, bên môi giới không được tham gia thực hiện hợp đồng giữa các bên được môi giới, trừ trường hợp bên môi giới có sự ủy quyền của bên được môi giới đề tham gia thực hiện hợp đồng
- Khi thực hiện công việc môi giới, bên môi giới phải đảm bảo và chịu trách nhiệm về tư cách chủ thể hợp pháp của các bên mà mình môi giới, giới thiệu họ đàm phán, giao dịch, ký kết hợp đồng với nhau Các bên được môi giới đã không biết nhau trước khi được môi giới qua hoạt động của người môi giới, vì thế việc quy định bên môi giới phải chịu trách nhiệm về tư cách pháp lý của các bên được môi giới là hoàn toàn hợp lý Tuy nhiên, bên môi giới không chịu trách nhiệm về khả năng thanh toán, khả năng thực hiện hợp đồng và các yếu tổ khác liên quan đến các bên được môi giới; các bên phải tự tìm hiểu và quyết định khi đàm phán, giao kết hợp đồng
+ Quyền và nghĩa vụ của bên được môi giới
Quyền của bên được môi giới
Mặc dù LTM 2005 không có một điều luật riêng quy định về quyền của bên được môi giới nhưng có thể hiểu rằng, bên được môi giới có quyền yêu cầu bên môi giới phải thực hiện đúng các nghĩa vụ của mình, chẳng hạn như phải bảo quản các mẫu hàng hóa, tài liệu được giao đề thực biện việc môi giới; yêu cầu bên môi giới không được tiết lộ thông tin làm ảnh hưởng đến lợi ích của bên được môi giới Các quyền này bao gồm những quyền theo thỏa thuận trong hợp đồng và quyền yêu cầu bên môi giới thực hiện những nghĩa vụ mà pháp luật quy định
Nghĩa vụ của bên được môi giới
Nghĩa vụ của bên được môi giới được quy định tại Điều 152 LTM 2005 Nếu giữa bên môi giới và bên được môi giới không có thỏa thuận khác thì bên được môi giới có các nghĩa vụ sau đây: Phải cung cấp thông tin, tài liệu, phương tiện cần thiết liên quan đến hàng hóa, dịch vụ mà cần nhờ bên môi giới giao dịch; Phải thanh toán thù lao cho bên môi giới theo thỏa thuận, nếu không có thỏa thuận cụ thể về thù lao môi giới thì mức thù lao này sẽ căn cứ vào quy định tại Điều 86 LTM 2005 Bên cạnh đó bên được môi giới còn phải trả cho bên môi giới những chi phí phát sinh hợp lý liên quan đến công việc môi giới
3 Nêu khái niệm và phân tích đặc điểm của Hợp đồng mua bán? Phân tích các điều kiện để Hợp đồng mua bán hàng hoá có hiệu lực.
3.1 Khái niệm
Trang 5Xét về bản chất, hợp đồng mua bán hàng hóa – hình thức pháp lý của quan hệ mua bán hàng hóa – mang tính chất cơ bản của một hợp đồng, là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng mua bán hàng hóa Nền tảng của hợp đồng mua bán hàng hóa trên sự thỏa thuận giữa các chủ thể của quan hệ mua bán hàng hóa theo quy định của pháp luật thương mại nhằm thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa
Theo cách hiểu này, dựa trên quy định của LTM 2005 về hoạt động mua bán hàng
hóa, có thể hiểu hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận của các bên theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; còn bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa.
3.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa
Hoạt động mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại thuộc về bản chất, được thực hiện nhằm mục đích sinh lợi của thương nhân, vậy nên hợp đồng mua bán hàng hóa với tính chất là sự thỏa thuận của các bên để thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa
có những đặc điểm như sau:
Thứ nhất, về chủ thể, hợp đồng mua bán hàng hóa được xác lập giữa
(i) các chủ thể là thương nhân hoặc giữa
(ii) thương nhân với các chủ thể khác có nhu cầu về hàng hóa khi các chủ
thể đó chọn áp dụng LTM 2005 các chủ thể này là một bên trong giao dịch với thương nhân, thực hiện hoạt động mua bán không nhằm mục đích sinh lợi trên lãnh thổ nước Việt Nam và chọn áp dụng LTM 2005
để điều chỉnh quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa của các bên
Thứ hai, về hình thức, hợp đồng mua bán hàng hóa được thể hiện bằng lời nói, bằng
văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể Tuy nhiên, đối với những loại hợp đồng mà pháp luật quy định phải được giao kết bằng văn bản thì phải tuân theo quy định đó
Thứ ba, về đối tượng, hợp đồng mua bán hàng hóa có đối tượng là hàng hóa Theo
LTM 2005, hàng hóa bao gồm
(i) tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; (ii) những vật gắn liền với đất đai
Theo quy định của pháp luật, động sản là những tài sản không phải là bất động sản; còn bất động sản là các tài sản bao gồm đất đai; nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; các tài sản khác gắn liền với đất đai; các tài sản khác do pháp luật quy định Như vậy, LTM
2005 chỉ điều chỉnh các hợp đồng mua bán có đối tượng hàng hóa là (i) động sản đã tồn tại vào thời điểm xác lập hợp đồng hoặc sẽ hình thành trong tương lai và (ii) những vật gắn liền với đất đai (mà không bao gồm đất đai)
Theo cách hiểu này, quyền sử dụng đất là đối tượng trong các giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì không phải là hàng hóa theo quy định của LTM 2005
Trang 6nhưng nhà, công trình xây dựng tồn tại trên đất lại là hàng hóa thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này
Hàng hóa là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa phải không thuộc danh mục hàng hóa cấm kinh doanh; trường hợp hàng hóa thuộc danh mục hạn chế kinh doanh hoặc kinh doanh có điều kiện thì để có thể lưu thông hợp pháp phải đáp ứng các điều kiện này theo quy định của pháp luật
3.3 Phân tích các điều kiện để Hợp đồng mua bán hàng hoá có hiệu lực
LTM 2005 không quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong hoạt động thương mại, vì vậy các vấn đề pháp lý liên quan đến xác định điều kiện để hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực phải tuân theo quy định của BLDS 2015 về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự Theo đó, hợp đồng mua bán hàng hóa
có hiệu lực khi đáp ứng các điều kiện sau:
Thứ nhất, các bên tham gia vào quan hệ hợp đồng phải có năng lực chủ thể để ký kết hợp đồng
Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa chủ yếu là thương nhân, chủ thể này có nghĩa vụ phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật thuơng mại Thương nhân giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa nhằm mục đích sinh lợi với điều kiện có đăng ký kinh doanh đối với hàng hóa mua bán Đối với thương nhân là tổ chức kinh
tế, việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa được thực hiện thông qua người đại diện hợp pháp của mình, bao gồm người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp được xác định căn
cứ vào giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (hoặc giấy chứng nhận có giá trị tương đương) và phạm vi quyền hạn của người đại diện theo pháp luật được xác định căn cứ vào điều lệ của doanh nghiệp và pháp luật doanh nghiệp Như vậy, để hợp đồng mua bán hàng hóa của thương nhân có hiệu lực thì chủ thể tham gia hợp đồng phải đáp ứng yêu cầu về đăng ký kinh doanh và yêu cầu về thầm quyển của người ký kết hợp đồng
Thứ hai, mục đích và nội dung của hợp đồng không được vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội
Những hợp đồng mua bán có mục đích và nội dung vi phạm điều kiện này bị vô hiệu và vì vậy, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên
Thứ ba, hợp đồng phải được giao kết trên nguyên tắc tự nguyện
Đây là một nguyên tắc cơ bản của pháp luật trong giao kết hợp đồng, bởi lẽ hợp đồng phải là sự thống nhất ý chí của các bên và các bên phải tự nguyện trong việc xác lập và thể hiện ý chí của mình, mọi trường hợp giao kết hợp đồng trên cơ sở lừa đối, đe dọa là căn cứ dẫn đến hậu quả hợp đồng bị vô hiệu
Thứ tư, hợp đồng phải đáp ứng quy định của pháp luật về hình thức
Hình thức của hợp đồng mua bán là phương thức thể hiện ý chí của các bên tham gia quan hệ mua bán hàng hóa, sự thỏa thuận của các bên về nội dung của hợp đồng phải được thể hiện bằng những hình thức đáp ứng quy định của pháp luật Hình thức của hợp đồng là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong trường hợp pháp luật có quy định Các bên trong quan hệ mua bán hàng hóa có thể xác lập hợp đồng
Trang 7bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, chỉ những hợp đồng nào pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó Trường hợp pháp luật quy định hình thức hợp đồng là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mà các bên không tuân theo thì heo yêu cầu của một hoặc các bên, Toà án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của hợp đồng trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì hợp đồng vô hiệu
4 Hãy so sánh quảng cáo thương mại và khuyến mại? Nêu một số ảnh hưởng tiêu cực của hoạt động này với người tiêu dùng hiện nay ở nước ta
4.1 So sánh quảng cáo thương mại và khuyến mại
- Điểm giống nhau:
Đều là hoạt động xúc tiến thương mại của các thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ
Có thể do thương nhân tự tiến hành hoặc thuê dịch vụ quảng cáo, khuyến mại dựa trên hợp đồng
- Điểm khác nhau:
Khái niệm
Quảng cáo thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân để giới thiệu với khách hàng
về hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của mình (Điều 102 Luật Thương mại 2005)
Là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định (Điều 88 Luật Thương mại 2005)
Chủ thể
Thường có nhiều chủ thể tham gia:
người thuê quảng cáo, người phát hành quảng cáo, người cho thuê phương tiện quảng cáo (bởi quảng cáo cần phải thông qua các phương tiện truyền thông)
Chủ thể thường không đa dạng bằng thường chỉ là thương nhân thực hiện khuyến mại và thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại
Cách thức
xúc tiến
thương mại
Sử dụng sản phẩm và phương tiện quảng cáo thương mại để thông tin
về hàng hóa, dịch vụ đến khách hàng: hình ảnh, tiếng nói được truyền tải tới công chúng qua truyền hình, truyền thanh, ấn phẩm…
Dành cho khách hàng những lợi ích nhất định, các lợi ích mà khách hàng nhận được có thể là các lợi ích vật chất, nhưng cũng có thể là các lợi ích tỉnh thần, nhưng đối với thương nhân khuyến mại bao giờ cũng có thể quy
về giá trị vật chất
Mục đích Giới thiệu hàng hoá, dịch vụ để xúc
tiến thương mại, đáp ứng nhu cầu cạnh tranh và mục tiêu lợi nhuận cuả thương nhân thông qua nhấn mạnh đặc điểm, lợi ích của hàng hóa
Xúc tiến bán hàng, cung ứng dịch vụ thông qua các đợt khuyến mại lôi kéo hành vi mua sắm, sử dụng dịch vụ, giới thiệu sản phẩm mới nhằm giúp tăng thị phần của doanh nghiệp trên
Trang 8Tiêu chí Quảng cáo thương mại Khuyến mại
hoặc so sánh tính ưu việt với sản
Thủ tục Không phải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền Phải đăng ký hoặc thông báo đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền
4.2 Ảnh hưởng tiêu cực của hoạt động này tời người tiêu dùng:
- Về kinh tế: Tăng sự lãng phí, tiêu thụ không cần thiết (giá rẻ - mua nhiều hơn mức cần thiết) Ngoài ra khách hàng cần thời gian tìm kiếm, so sánh các chương trình khuyến mại, quảng cáo của sản phẩm (nhằm tìm ra chương trình tốt nhất) hay thậm chí không mua hàng khi có nhu cầu thực sự mà cố đợi đến đợt khuyến mại
Xét ở góc độ kinh tế, quảng cáo thương mại được xem công cụ marketing hữu hiệu
để quảng bá hình ảnh của thương nhân, hàng hóa, dịch vụ của thương nhân Mặc đù mỗi quảng cáo đều có đối tượng tác động riêng (khách hàng mục tiêu), nhưng khi quảng cáo được phát hành trên cáo phương tiện quảng cáo như phương tiện thông tin đại chúng, xuất bản phẩm thì thông thường quảng cáo đó không chỉ tác động đến nhóm đối tượng mục tiêu, mà đến công chúng nói chung Bởi vậy, một quảng cáo cụ thể có thể có các hiệu ứng xã hội không mong muốn Mặt khác, là công cụ marketing quảng cáo cũng đồng thời là phương tiện cạnh tranh Với mục đích quảng bá hình ảnh, hàng hóa, dịch vụ của thương nhân, quảng cáo thương mại có thể có các hiệu ứng cạnh tranh không lành mạnh Bởi vậy, một trong những nhiệm
vụ chính của pháp luật điều chỉnh hoạt động quảng cáo thương mại là một mặt tạo điều kiện để thương nhân sử dụng quyền quảng cáo của mình một cách hiệu quả, nhưng đồng thời ngăn chặn được các quảng cáo xâm phạm đến trật tự, lợi ích chung của xã hội
- Về thông tin lên nhận thức:
Giá cả: Khách hàng dần có xu hướng cho rằng giá trị thực tế của hàng hóa, dịch
vụ chính là giá khuyến mại nên đối với họ mức giá thông thường của hàng hóa, dịch vụ khi chưa có khuyến mại là cao, không chấp nhận được
Chất lượng: Đối với khuyến mại, khách hàng cho rằng hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại có chất lượng thấp hơn hàng hóa, dịch vụ cùng loại của nhà sản xuất khác, thậm chí là thấp hơn hàng hóa, dịch vụ đó khi chưa có khuyến mại
- Về tác động cảm xúc: Quảng cáo, khuyến mại có thể làm cho khách hàng đánh giá sai về chất lượng hàng hóa, dịch vụ tạo cảm giác thất vọng cho khách hàng khi chất lượng, giá cả trên thực tế không như những gì mà doanh nghiệp hứa hẹn
5 Hãy nêu và phân tích đặc điểm của tranh chấp thương mại và nêu khái quát 4 hình thức giải quyết tranh chấp thương mại.
5.1 Khái niệm tranh chấp thương mại:
Điều 3 LTM 2005 quy định: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại
và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.”
Trang 9Các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại của các thương nhân được gọi
là tranh chấp thương mại Là một hiện tượng kinh tế - xã hội tất yếu xuất hiện trong điều kiện kinh tế thị trường, hiểu một cách khái quát, tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn (bất đồng hay xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện các hoạt động thương mại Dưới tác động của quy luật cạnh tranh và sự tự do hóa thương mại, tranh chấp thương mại có xu hướng ngày càng phong phú, đa dạng về chủng loai, phức tạp về nội dung
5.2 Đặc điểm.
Thứ nhất, về chủ thể, chủ thể chủ yếu của tranh chấp thương mại là thương nhân.
Quan hệ thương mại có thể được thiết lập giữa các thương nhân với nhau hoặc giữa thương nhân với bên không phải là thương nhân Một tranh chấp được coi là tranh chấp thương mại khi có ít nhất một bên là thương nhân Ngoài ra cũng có một số trường hợp, các cá nhân tổ chức khác cũng có thể là chủ thể của tranh chấp thương mại: tranh chấp giữa công ty – thành viên công ty; tranh chấp giữa các thành viên công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, hợp nhất, giải thể, chia, tách…công ty;
Thứ hai, căn cứ phát sinh tranh chấp thương mại là hành vi vi phạm hợp đồng hoặc
vi phạm pháp luật Trong nhiều trường hợp, tranh chấp thương mại phát sinh do các bên có vi phạm hợp đồng và xâm hại lợi ích của nhau, tuy nhiên cũng có thể có những vi phạm xâm hại lợi ích của các bên nhưng không làm phát sinh tranh chấp
Thứ ba, về nội dung của tranh chấp thương mại là những xung đột về quyền, nghĩa
vụ và lợi ích của các bên trong hoạt động thương mại Các quan hệ thương mại có bản chất là các quan hệ tài sản, nên nội dung tranh chấp thương liên quan trực tiếp tới lợi ích kinh tế của các bên
5.3 Khái quát 4 hình thức giải quyết tranh chấp thương mại
5.3.1 Hình thức thương lượng (khoản 1 Điều 317 LTM 2005)
Thương lượng được thực hiện bởi cơ chế tự giải quyết thông qua việc các bên tranh chấp gặp nhau bàn bạc, thỏa thuận để tự giải quyết những bất đồng phát sinh mà không cần có sự hiện diện của bên thứ ba; quá trình thương lượng không chịu sự ràng buộc của các nguyên tắc pháp lý; việc thực thi kết quả thương lượng hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện của mỗi bên tranh chấp
mà không có bất kỳ cơ chế pháp lý nào bảo đảm việc thực thi đối với thỏa thuận của các bên trong quá trình thương lượng
Quá trình thương lượng để giải quyết tranh chấp thương mại có thể được thực hiện bằng nhiều cách thức: thương lượng trực tiếp, gián tiếp hoặc kết hợp cả hai Việc lựa chọn cách thức thương lượng nào phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh của các bên
5.3.2 Hình thức hòa giải (khoản 2 Điều 317 LTM 2005)
Hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp với sự tham gia của bên thứ ba làm trung gian hòa giải để hỗ trợ, thuyết phục các bên tranh chấp tìm kiếm các giải pháp nhằm loại trừ tranh chấp đã phát sinh
Trang 10Phương thức hòa giải khác thương lượng ở chỗ có sự tham gia của nhân tố trung gian Người trung gian này không có vai trò quyết định trong việc giải quyết tranh chấp mà chỉ là người hỗ trợ, giúp đỡ cho các bên trong việc tìm ra giải pháp tốt nhất để giải quyết tranh chấp, còn việc giải quyết tranh chấp vẫn
là do các bên quyết định Hòa giải cũng không chịu sự chi phối của bất kỳ một thủ tục tố tụng pháp lý nào mà do các bên tranh chấp tự quyết định Kết quả của quá trình hòa giải thành cũng chỉ là sự thỏa thuận của các bên có tranh chấp và việc thực hiện thỏa thuận này cũng hoàn toàn phụ thuộc vào sự
tự nguyện của các bên mà không có bất kỳ một quyết định pháp lý nào
5.3.3 Hình thức giải quyết tại Tòa án (khoản 3 Điều 317 LTM 2005)
Tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp tại cơ quan xét xử nhân danh quyền lực nhà nước, được tiến hành theo trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ và bản án hay quyết định của tòa án về vụ tranh chấp nếu không có sự tự nguyện tuân thủ sẽ được bảo đảm thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước.Việc giải quyết tranh chấp thương mại tại tòa án không những phải tuân thủ các quy định về thẩm quyền khá rắc rối mà còn phải tuân theo một thủ tục rất nghiêm ngặt của luật tố tụng Việc giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại tại tòa án bao gồm nhiều quy định khác nhau Khi có tranh chấp, người có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm nếu muốn tòa án bảo vệ quyền và lợi ích cho mình thì phải gửi đơn kiện đến đúng cấp tòa án có thẩm quyền Tòa án sẽ xem xét vụ việc và xét xử theo thủ tục sơ thẩm và ra bản án
sơ thẩm Nếu các bên không đồng ý với bản án sơ thẩm thì có quyền kháng cáo yêu cầu tòa án cấp trên xét xử theo thủ tục phúc thẩm Việc giải quyết tại tòa án còn có thể được xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm và giám đốc thẩm Việc thi hành án có tính chất cưỡng chế nếu các bên không tự nguyện thi hành
5.3.4 Hình thức giải quyết tại Trọng tài (khoản 3 Điều 317 LTM 2005)
Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp có tính chất tài phán phi chính phủ do các đương sự thỏa thuận lựa chọn để giải quyết tranh chấp thương mại Trọng tài chính là bên trung gian thứ ba được các bên tranh chấp chọn ra
để giúp các bên giải quyết những xung đột, bất đồng giữa họ trên cơ sở đảm bảo quyền tự định đoạt của các bên Cũng giống như thương lượng và hòa giải, phương thức trọng tài bắt nguồn từ sự thỏa thuận của các bên trên cơ sở
tự nguyện Để đưa tranh chấp ra trọng tài giải quyết các bên phải có thoả thuận trọng tài Sau khi xem xét sự việc, trọng tài có thể đưa ra phán quyết có giá trị cưỡng chế thi hành đối với các bên Nhằm khuyến khích các bên sử dụng Trọng tài trọng giải quyết các tranh chấp thương mại và các tranh chấp khác, nhà nước đã ban hành một đạo luật mới về trọng tài thương mại - Luật Trọng tài thương mại để thay thế Pháp lệnh Trọng tài Thương mại 2003 trên
cơ sở kế thừa những chế định tiến bộ, phù hợp kết hợp với những quy định mới, hoàn chỉnh hơn
6 Hãy nêu và phân tích các vấn đề pháp lý cơ bản của việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại (chủ thể, đại diện, đề nghị giao kết hợp đồng, chấp