1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số ảnh hưởng của văn hóa người tày trong chăm sóc sức khoẻ ban đầu tại huyện lục yên tỉnh yên bái

151 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 151
Dung lượng 2,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng với sự đầu tư đúng hướng của Đảng và Nhà nước; đời sống của nhân dân dần dần được cải thiện; cái đói, cái nghèo đang được đẩy lùi, công tác bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nh

Trang 1

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC THÁI NGUYÊN

HOÀNG VĂN LIÊM

NGHIÊN U MỘT SỐ ẢNH HƯỞNG VĂN HÓ NGƯ I T T ONG HĂM SÓ S HO N U

T I HU N N T NH N I

Chuyên ngành: Y tế công cộng

Mã số: 62 72 76 01

LUẬN ÁN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP II

Người hướng dẫn khoa học: TS Đào Thị Ngọc Lan

THÁI NGUYÊN - 2012

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Y tế công cộng, Khoa

sau đại học, các thầy cô giáo Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên đã tận

tình giảng dạy cho tôi trong hai năm học qua

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sỹ Đào Thị Ngọc Lan, Giám

đốc Sở Y tế Yên Bái – Người thầy đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận

án này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban Giám đốc Sở Y tế Yên Bái,

cùng toàn thể anh chị em trong Sở Y tế, Trung tâm Y tế huyện Lục Yên đã tạo

mọi điều kiện, giúp đỡ động viên tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin cảm ơn tất cả các bạn bè đồng nghiệp và gia đình đã tạo mọi

điều kiện về tinh thần cũng như vật chất và động viên tôi vượt qua mọi khó

khăn để hoàn thành luận án này

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án do

tôi thu thập là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên

cứu khoa học nào

Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận án đã được chỉ rõ

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BMI Chỉ số khối cơ thể

BPTT Biện pháp tránh thai

CSSKBĐ Chăm sóc sức khoẻ ban đầu

CSSKND Chăm sóc sức khoẻ nhân dân

CSSKBMTE Chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em CSSKSS Chăm sóc sức khỏe sinh sản

MNPB Miền núi phía Bắc

NVYT Nhân viên y tế

NVYTTB Nhân viên y tế thôn bản

PKĐKKV Phòng khám đa khoa khu vực

PTTT Phương tiện truyền thông

SKSS Sức khỏe sinh sản

Trang 5

TBMMN Tai biến mạch máu não

TT- GDSK Truyền thông giáo dục sức khoẻ

TTYT Trung tâm y tế

UBND Ủy ban nhân dân

Trang 6

Chương 1 TỔNG QUAN 13

1.1 Thực trạng công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu 13

1.1.1 Vài nét về chăm sóc sức khoẻ ban đầu 13

1.1.2 Một số nét về chăm sóc sức khỏe ban đầu trên thế giới 15

1.1.3 Tình hình thực hiện chăm sóc sức khoẻ ban đầu ở Việt Nam 16

1.1.4 Chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho người dân ở miền núi phía Bắc 18 1.2 Đặc trưng văn hóa của dân tộc Tày 33

1.2.1 Vài nét về lịch sử văn hoá dân tộc Tày châu Á 33

1.2.2 Vài nét về lịch sử văn hoá dân tộc Tày Việt Nam 34

1.2.3 Văn hoá dân tộc Tày ở một số tỉnh miền núi phía bắc Việt Nam 35

1.3 Đặc điểm chung của huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái……… 28

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41

2.1 Đối tượng 41

2.2 Địa điểm 41

2.2.1 Xã Lâm Thượng 30

2.2.2 Xã Mường Lai 31

2.3 Thời gian nghiên cứu 42

2.4 Phương pháp nghiên cứu 42

2.4.1 Phương pháp: 42

2.4.2 Thiết kế nghiên cứu: 42

2.4.3 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu 42

2.4.4 Các nhóm chỉ tiêu nghiên cứu 43

2.4.5 Phương pháp điều tra……….36

2.4.6 Cán bộ điều tra 48

2.4.7 Phương pháp xử lý số liệu 48

2.4.8 Phương pháp khống chế sai số 49

2.5 Đạo đức nghiên cứu 49

V¨n

yªn

Lµo

cai

Trang 7

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 50

3.1 Thực trạng chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người Tày huyện Lục Yên 50 3.1.1 Kết quả chăm sóc sức khỏe ban đầu qua số liệu điều tra hộ gia đình……… 39 3.1.2 Kết quả thực hiện CSSKBĐ qua thực hiện chuẩn Quốc gia về y

tế xã ở huyện Lục Yên 59 3.1.3 Kết quả điều tra thanh niên người Tày Lục Yên……… 62 3.1.4 Kết quả điều tra trẻ em dưới 5 tuổi………64 3.2 Các đặc trưng văn hoá của người Tày và mối liên quan giữa các yếu

tố với công tác CSSKBĐ của người Tày huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái 65 3.2.1 Một số đặc trưng văn hóa của người Tày ảnh hưởng đến sức khỏe của người Tày huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái……… 65 3.2.2 Các yếu tố liên quan đến CSSKBĐ người Tày huyện Lục Yên…71 Chương 4 BÀN LUẬN 91 4.1 Thực trạng chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người Tày huyện Lục Yên 91 4.2 Các đặc trưng văn hoá của người Tày và mối liên quan giữa các yếu

tố với công tác CSSKBĐ của người Tày huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái 89 4.2.1 Một số đặc trưng văn hóa của người Tày ảnh hưởng đến sức khỏe của người Tày huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái 89 4.2.2 Các yếu tố liên quan đến CSSKBĐ người Tày huyện Lục Yên 92

KẾT LUẬN 108 KHUYẾN NGHỊ 110 TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 98

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Tỷ lệ người nghèo sử dụng nước sạch và hố xí hợp vệ sinh 21

Bảng 1.2 Kết quả điều tra về tình hình VSMT một số tỉnh MNPB 21

Bảng 1.3 Các chương trình y tế đang được triển khai tại cộng đồng 26

Bảng 3.1 Một số thông tin chung về đối tượng nghiên cứu…… ……… 39

Bảng 3.2 Phân bố hộ gia đình theo điều kiện kinh tế văn hóa 51

Bảng 3.3 Tình hình các công trình vệ sinh của các hộ gia đình 52

Bảng 3.4 Tình hình chăm sóc sức khoẻ cho bà mẹ và trẻ em 54

Bảng 3.5 Tình hình thực hiện chương trình DS-KHHGĐ 56

Bảng 3.6 Tình hình bệnh tật trong 2 tuần qua ở các hộ gia đình 57

Bảng 3.7 Tình hình sử dụng các dịch vụ y tế 58

Bảng 3.8.Tình hình xã hội hóa chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân dân và công tác TT-GDSK 59

Bảng 3.9 Tình hình Vệ sinh phòng bệnh 60

Bảng 3.10 Tình hình thực hiện KCB và phục hồi chức năng 62

Bảng 3.11 Tình hình thực hiện Y học cổ truyền 64

Bảng 3.12 Tình hình thực hiện Chăm sóc sức khoẻ trẻ em 65

Bảng 3.13 Tình hình thực hiện chăm sóc sức khoẻ sinh sản 66

Bảng 3.14 Tình hình xây dựng cơ sở hạ tầng, TTB của các xã điều tra 68

Bảng 3.15 Tình hình Nhân lực và chế độ chính sách 70

Bảng 3.16 Tình hình thực hiện Kế hoạch và Tài chính cho trạm y tế 71

Bảng 3.17 Tình hình Thuốc thiết yếu và sử dụng thuốc an toàn hợp lý 73

Bảng 3.18 Kết quả cân đo của học sinh trung học phổ thông 62

Bảng 3.19 Tình hình tín ngưỡng hộ người Tày tại hai xã 68

Bảng 3.20 Mối liên quan giữa các yếu tố kinh tế, văn hóa xã hội với kết quả CSSKCĐ (xây dựng hố xí để quản lý phân) 83

Trang 9

Bảng 3.21 Mối liên quan giữa các yếu tố với bệnh tật 2 tuần qua 84 Bảng 3.22 Mối liên quan giữa các yếu tố với việc sử dụng dịch vụ KCB tại

TYT xã 73 Bảng 3.23 Mối liên quan giữa các yếu tố với việc đẻ tại nhà 86 Bảng 3.24 Mối liên quan giữa các yếu tố với việc khám thai đầy đủ 86 Bảng 3.25 Mối liên quan giữa các yếu tố với việc cho trẻ bú ngay sau đẻ 87 Bảng 3.26 Mối liên quan giữa các yếu tố với việc ăn sam sớm 87 Bảng 3.27 Mối liên quan giữa các yếu tố với việc cai sữa sớm 88 Bảng 3.28 Mối liên quan giữa các yếu tố với việc áp dụng BPTT 88 Bảng 3.29 Mối liên quan giữa các yếu tố với tỷ lệ BMI thấp của HS THPT 89

Trang 10

tật, người cao tuổi 66

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đồng bào các dân tộc miền núi, vùng sâu, vùng xa luôn được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước với nhiều chính sách ưu tiên nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân để cùng hoà nhập với xu thế phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước [1], [3], [4] Nhưng trên thực tế, ở các khu vực này sự phát triển về mọi mặt còn thấp hơn nhiều so với các vùng khác Do trình độ dân trí của người dân còn thấp, không đồng đều; hệ thống giao thông không thuận tiện, làm cho đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu

số nói chung và của dân tộc Tày nói riêng rất khó khăn Bên cạnh đó, sự chăm sóc sức khỏe của đồng bào các dân tộc thiểu số cũng gặp nhiều khó khăn và đang là vấn đề đáng lo ngại, có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế, văn hoá và xã hội ở khu vực này [7], [10]

Toàn quốc có khoảng 1,2 triệu người Tày thì ở miền núi phía Bắc có tới 1,1 triệu người Người Tày sống chủ yếu ở các tỉnh Cao Bằng (khoảng 25 vạn), Lạng Sơn (khoảng 22 vạn), Tuyên Quang (khoảng 26 vạn), Bắc Kạn khoảng (27 vạn người) Người Tày là một dân tộc có trình độ kinh tế, văn hoá,

xã hội tương đối phát triển Tập quán của người Tày là sống trong những căn nhà sàn, sống tập trung thành những làng bản đông đúc ở các thung lũng, chân núi hoặc ven sông Trồng lúa nước là nghề chính của người Tày [41], [49] Yên Bái là một trong các tỉnh nghèo của vùng núi phía Bắc với tỷ lệ hộ nghèo chiếm tới 32,0% [21], tồn tại nhiều phong tục tập quán lạc hậu Điểm xuất phát của nền kinh tế đã thấp, ngoài ra tỉnh còn bị thiên tai liên tiếp gây hậu quả nặng nề làm khó khăn cho quá trình đổi mới và phát triển Nhưng với sự đầu tư đúng hướng của Đảng và Nhà nước; đời sống của nhân dân dần dần được cải thiện; cái đói, cái nghèo đang được đẩy lùi, công tác bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân ở Yên Bái đã bắt đầu được tăng

Trang 12

cường Các chương trình y tế quốc gia được đẩy mạnh, hệ thống bệnh viện được nâng cấp, dịch vụ khám chữa bệnh được mở rộng ngày càng đa dạng, phong phú Số xã có trạm y tế đạt tỷ lệ 98,0%; 96,0% số thôn bản có nhân viên y tế, các dịch bệnh nguy hiểm được khống chế, các bệnh xã hội giảm đáng kể Tuy nhiên công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho người dân nói chung và người dân tộc Tày ở vùng sâu, vùng xa nói riêng vẫn còn hạn chế [21], [53]

So với vùng Đông Bắc, người Tày ở Yên Bái ít hơn nhưng tại huyện Lục Yên người Tày là 1 trong 16 dân tộc sống tại huyện chiếm tới 53,3% dân số Người Tày chủ yếu phát triển nông nghiệp và trồng rừng, phát triển văn hóa, xã hội còn chậm, một số nét văn hóa và nhiều phong tục, tập quán lạc hậu ảnh hưởng đến sức khỏe, bệnh tật của cộng đồng đang tồn tại làm ảnh hưởng đến sự chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng [21] Vậy các đặc trưng văn hoá của người dân tộc Tày ở huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái là gì? Các đặc trưng văn hoá này đang ảnh hưởng đến công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu

của người Tày tại huyện Lục Yên như thế nào?

Chính vì thế mà chúng tôi tiến hành đề tài: Nghiên cứu một số ảnh hưởng của văn hóa người Tày trong chăm sóc sức khoẻ ban đầu tại huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái Để giúp cho cộng đồng có các giải pháp chăm sóc

sức khỏe ban đầu được tốt hơn

Mục tiêu nghiên cứu như sau:

1 Đánh giá thực trạng công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho người Tày huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái năm 2011

2 Mô tả một số đặc trưng văn hoá của người Tày huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái và mối liên quan với công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu của người dân tộc Tày tại huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 Thực trạng công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu

1.1.1 Vài nét về chăm sóc sức khoẻ ban đầu

Năm 1978, Hội nghị Quốc tế về chăm sóc sức khoẻ ban đầu (CSSKBĐ)

họp tại Alma Ata đã đề ra chiến lược toàn cầu “Sức khoẻ cho mọi nhà vào

năm 2000” (Health for all by the year 2000) và xác định chăm sóc sức khoẻ

ban đầu là chìa khoá để mang lại sức khoẻ cho mọi người CSSKBĐ (Primary

Health Care) được định nghĩa như sau: “CSSKBĐ là những chăm sóc thiết

yếu dựa trên cơ sở thực tiễn, có cơ sở khoa học và được chấp nhận về mặt xã hội, có thể phổ biến rộng rãi tới các cá nhân, gia đình và cộng đồng thông qua sự tham gia đầy đủ của họ với chi phí mà cộng đồng và nước đó có thể chấp nhận được để duy trì hoạt động chăm sóc sức khoẻ (CSSK) ở mọi giai đoạn phát triển trên tinh thần tự nguyện, tự giác” [20], [69] CSSKBĐ là một

hệ thống quan điểm với 7 nguyên tắc: Công bằng, Phát triển, Tự lực, Kỹ thuật phù hợp, Dự phòng thích hợp, Hoạt động liên ngành và Cộng đồng tham gia CSSKBĐ bao gồm 8 nội dung như sau:

1 Giáo dục sức khoẻ (GDSK)

2 Cải thiện điều kiện dinh dưỡng - ăn uống

3 Cung cấp nước sạch - Thanh khiết môi trường

4 Bảo vệ sức khoẻ bà mẹ trẻ em - Kế hoạch hoá gia đình (BVSKBMTE -KHHGĐ)

5 Tiêm chủng mở rộng (TCMR)

6 Phòng và chống bệnh dịch lưu hành

7 Khám chữa bệnh và thương tích thông thường

Trang 14

8 Cung cấp thuốc thiết yếu

Nội dung CSSKBĐ tại Việt Nam có 8 nội dung trên và bổ sung thêm 2 nội dung có tính đặc thù đó là:

9 Củng cố màng lưới y tế cơ sở

10 Quản lý sức khoẻ

Các nội dung CSSKBĐ đều được triển khai thực hiện tại cộng đồng Tuỳ theo từng nước, từng mô hình sức khoẻ và bệnh tật để chọn thứ tự ưu tiên cho thích hợp Ở Thái Lan người ta đã gắn 8 nội dung CSSKBĐ của Alma Ata vào nhu cầu cơ bản, tối thiểu về CSSK của mỗi người dân và cộng đồng [69]

Đối với nước ta, những năm đầu của thập kỷ 50, quan điểm y tế đã thể hiện một cách khá toàn diện về những vấn đề cơ bản trong quan niệm CSSKBĐ Năm 1993, tại kỳ họp thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII đã có quyết định về những vấn đề cấp bách của sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, trong đó nhấn mạnh vai trò quan trọng của công tác CSSKBĐ và củng cố y tế cơ sở (YTCS) [3], [4] Ngày 20/06/1996, Chính phủ đã ban hành nghị định 37/CP về định hướng chiến lược công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân trong giai đoạn năm 1996 đến năm 2000 và

2020, có viết: “CSSKBĐ là một công tác trọng yếu để đạt được các mục tiêu

quản lý tỷ lệ mắc bệnh, giảm tỷ lệ tử vong, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng, tăng cường sức khoẻ và thể lực, tăng tuổi thọ, tạo điều kiện để mọi người dân đều được hưởng một cách công bằng những dịch vụ CSSK” [5], [7] Nội dung

củng cố và hoàn thiện y tế cơ sở có ý nghĩa chiến lược rất quan trọng trong hệ thống y tế nhà nước, góp phần quyết định sự thành công của CSSKBĐ Đây

là tuyến gần dân nhất, sát với đối tượng đông đảo nhất mà ngành y tế được phục vụ Cán bộ y tế cơ sở phát hiện những vấn đề sức khỏe sớm nhất, giải quyết được 80% khối lượng phục vụ y tế tại chỗ, là nơi thể hiện sự công bằng trong CSSKBĐ rõ nhất, nơi trực tiếp thực hiện kiêm nhiệm các chủ trương,

Trang 15

chính sách của Đảng và Nhà nước, là bộ phận quan trọng nhất của ngành y tế tham gia phát triển kinh tế xã hội và ổn định chính trị xã hội ở cơ sở [9]

1.1.2 Một số nét về chăm sóc sức khỏe ban đầu trên thế giới

Theo các nhà nghiên cứu cộng đồng trên thế giới, muốn thực hiện được CSSKBĐ cần phải có chính sách Y tế đúng đắn, phải có tiêu chuẩn và chỉ số đánh giá phù hợp Trong chiến lược sức khỏe của hầu hết các nước trên thế giới, CSSKBĐ được đặt ra hàng đầu, giải quyết mọi khó khăn để đạt được mục đích Về mặt tổ chức hoạt động CSSKBĐ, trên thế giới hầu hết các nước rất chú ý quan tâm, phát triển tổ chức Y tế tuyến huyện, ở nhiều nước đây là tuyến thực hiện CSSKBĐ [69] Trong CSSKBĐ công tác Y học dự phòng được nhiều nước trên thế giới rất quan tâm, đặc biệt là các nước đang phát triển Vệ sinh môi trường (VSMT) là vấn đề được quan tâm hàng đầu trong công tác Y học dự phòng, vấn đề này được tuyên truyền cho nhân dân một cách sâu rộng như tuyên truyền vệ sinh cá nhân người mẹ trong việc góp phần làm giảm tỉ lệ trẻ bị tiêu chảy, rửa tay trước khi ăn phòng bệnh tiêu chảy, giáo dục cho trẻ em tuổi học đường về thái độ, hành vi đối với vệ sinh cá nhân Trong VSMT, việc cung cấp đủ nước sạch cho sinh hoạt là mục tiêu phấn đấu của rất nhiều quốc gia Thanh toán nguồn nước không vệ sinh là mục tiêu phấn đấu của nhiều quốc gia châu Phi, châu Á để làm giảm tỉ lệ chết trẻ em

do bị tiêu chảy [67], [70] Nguồn nước còn là một tiêu chuẩn đánh giá tình hình Y tế quốc gia Ngoài ra, muốn đánh giá tình trạng vệ sinh của một cộng đồng, cần phải có những tiêu chuẩn phù hợp với nó

Trong CSSKBĐ thì công tác chăm sóc sức khoẻ cho các bà mẹ đặc biệt

là những bà mẹ có thai là hết sức quan trọng Người phụ nữ cần được khám thai, tiêm phòng uốn ván thường xuyên và cung cấp dinh dưỡng đầy đủ Việc phòng chống các bệnh dịch lưu hành như các bệnh nhiễm trùng, sốt rét cũng

là những vấn đề cần quan tâm

Trang 16

Theo nguồn AUSAID - 1997: Hệ thống cơ sở y tế công cộng của Việt Nam đã đảm bảo cung cấp dịch vụ ở tất cả các tuyến, các chỉ số về tiếp cận cơ

sở Y tế cao hơn nhiều so với các nước đang phát triển Ví dụ như tỷ lệ Trạm

Y tế trên triệu dân là 170, so sánh với 32 của Indonesia, 62 của Trung Quốc,

441 của Thái Lan Tỷ lệ giường bệnh là một giường bệnh cho 389 người dân

so sánh với 465 ở Trung Quốc, 665 của Thái Lan và 1.743 của Indonesia Một thầy thuốc phục vụ cho 2.694 người dân, 1 y tá phục vụ 760 người dân, có thể đánh giá là nước có tỷ lệ cao nhất trong hầu hết các nước đang phát triển [20],[66], [68] Đây là điều rất đáng phấn khởi ở một nước mà nền kinh tế còn chưa phát triển như nước ta

1.1.3 Tình hình thực hiện chăm sóc sức khoẻ ban đầu ở Việt Nam

Ngày nay, công tác CSSKBĐ đã được thực hiện trong toàn quốc Trong quá trình thực hiện đã gặp không ít khó khăn vì chúng ta còn chưa có nhiều kinh nghiệm tổ chức, đời sống kinh tế xã hội của đất nước chưa ổn định

Tuy nhiên CSSKBĐ đã có những đóng góp to lớn trong việc CSSK cho nhân dân [13] Trong một vài năm gần đây, các công trình nghiên cứu về CSSKBĐ ở nước ta đều có chung một số nhận xét như sau: Mặc dù đã có nhiều đổi mới trong lĩnh vực kinh tế, ở những thành phố lớn, các khu đô thị đời sống kinh tế đã có nhiều cải thiện, nhưng ngược lại ở nông thôn tình hình kinh tế vẫn còn rất khó khăn, do vậy Việt Nam vẫn là một trong những nước nghèo của khu vực cũng như trên thế giới [1] Theo kết quả nghiên cứu của đơn vị chính sách Bộ y tế ở 7 vùng sinh thái cho thấy: Tỷ lệ hộ nghèo đói chung chiếm 27,2%, trong đó tỷ lệ hộ nghèo đói cao nhất là miền núi phía Bắc (MNPB) (32%) VSMT là một nội dung rất quan trọng của CSSKBĐ, tuy nhiên vẫn là một vấn đề tồn tại hiện nay Số hộ gia đình có hố xí tạm hợp vệ sinh gồm hố xí dội nước và 2 ngăn chiếm 1 tỷ lệ rất thấp (5,3% và 9,6%) Nơi

có tỷ lệ loại hố xí này cao nhất ở đồng bằng sông Hồng (36,9% và 48%), thấp

Trang 17

nhất ở đồng bằng sông Cửu Long (7,0% và 2,4%) Loại hố xí thùng, một ngăn rất phổ biến ở các vùng với tỷ lệ chung 40,6%, cao nhất ở vùng Bắc Trung Bộ (68,3%) và thấp nhất ở Duyên hải miền Trung (13,0%) Ở vùng đồng bằng sông Cửu Long loại hố xí thường gặp là cầu ao cá chiếm tỷ lệ 46,4% Có tới 1/5 tổng số hộ gia đình (19,2%) không có hố xí, tỷ lệ này cao nhất ở đồng bằng sông Cửu Long (42,9%), thấp nhất ở vùng Đông Nam Bộ (2,8%) [8] Tình hình vệ sinh môi trường, thực trạng sử dụng hố xí và tỷ lệ hộ gia đình có các nguồn nước sạch cho phép chúng ta nhận định về mô hình bệnh tật và nhu cầu CSSK của cộng đồng

Về tình hình bệnh tật: Mô hình bệnh tật ở nước ta vẫn là mô hình của những nước nghèo chủ yếu là bệnh nhiễm khuẩn và suy dinh dưỡng Nổi bật

là sốt rét, nhiễm khuẩn hô hấp cấp (NKHHC) và tiêu chảy Vùng núi tỷ lệ mắc và chết cao do 3 bệnh sốt rét, viêm phổi, tiêu chảy thêm vào là bệnh bướu cổ với hậu quả là tỷ lệ đần độn cao [8], [9] Về tình hình sử dụng các

dịch vụ y tế: Kể từ khi các chương trình CSSKBĐ được triển khai đến nay,

việc sử dụng các dịch vụ y tế rất phong phú Có rất nhiều loại hình để phục vụ nhu cầu cuộc sống sức khoẻ Người dân có thể tự do lựa chọn sao cho phù hợp với điều kiện của mình và có hiệu quả nhất Theo Đơn vị chính sách - Bộ

y tế, nghiên cứu ở 7 vùng sinh thái (1999) thấy tỷ lệ hộ gia đình có sử dụng dịch vụ y tế ở xã trung bình/ tháng là 23,5% Chỉ số sử dụng còn ở mức thấp

và trung bình tuỳ theo từng vùng (dao động từ 9,0% đến 41%) Mua thuốc về

tự chữa là cách xử trí đứng hàng đầu của các hộ gia đình khi có người ốm đau (45,2% - 46,6%); Khám chữa bệnh ở y tế tư nhân là cách lựa chọn đứng hàng tiếp theo (17,6% - 18,9%) và khám chữa bệnh tại trạm y tế là sự lựa chọn đứng hàng thứ 3 (14,2% - 12,9%) Lý do chính khiến người dân lựa chọn khám chữa bệnh tại Trạm y tế xã là gần nhà (27,2%), chuyên môn tốt (25,1%)

và quen biết (21,1%) Đối với y tế tư nhân lý do chính là quen biết (26,8%),

Trang 18

chuyên môn tốt (24,2%), gần nhà (18,3%) Còn đối với Bệnh viện có 2 lý do chủ yếu là chuyên môn tốt (43,3%) và bệnh nặng (20,6%) [8], [18] Về chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em: Trong những năm gần đây công tác chăm sóc sức khoẻ cho bà mẹ và trẻ em đã thực hiện tương đối tốt Đặc biệt chương trình tiêm chủng mở rộng đã thu được kết quả rất tốt trong việc phòng 6 bệnh truyền nhiễm ở trẻ em Làm giảm tỷ lệ tử vong do 6 bệnh hay gặp và hạn chế được những di chứng tàn phế do bệnh Hầu hết trẻ em dưới 1 tuổi đã được tiêm chủng (94,7%) Số trẻ được tiêm đủ 6 loại vacxin trong chương trình tiêm chủng mở rộng đạt tỷ lệ 79,4% [29] Do làm tốt công tác quản lý thai nghén nên đã giảm đáng kể tỷ lệ tai biến sản khoa và tình trạng suy dinh dưỡng bào thai Số phụ nữ được khám thai chiếm 80,6%; số được khám thai

từ lần 2 trở lên chiếm tỷ lệ 40,3% 75,0% bà mẹ có thai đã được tiêm phòng Uốn ván Tỷ lệ tiêm uốn ván mũi 2 là 58% Tỷ lệ trẻ có cân nặng khi sinh < 2.500g là 8,8% [34] Về GDSK, đây là một nội dung quan trọng trong CSSKBĐ, là những giải pháp phù hợp để giải quyết các vấn đề sức khoẻ ưu tiên Thay đổi hành vi không có lợi cho sức khoẻ Nhưng nhìn chung thực trạng hoạt động công tác này chưa tốt Kết quả mới chỉ dừng ở mức tuyên truyền sức khoẻ, chưa có sự thay đổi hành vi Do vậy việc giải quyết vấn đề

vệ sinh môi trường, CSSK bà mẹ trẻ em, kế hoạch hoá gia đình và bệnh tật vẫn là những vấn đề nan giải và khó khăn ở nước ta nhất là đối với người nghèo [13], [37]

1.1.4 Chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho người dân ở miền núi phía Bắc

1.1.4.1 Truyền thông - Giáo dục sức khỏe

Truyền thông – giáo dục sức khỏe (TT – GDSK) được xác định là giải pháp hàng đầu trong các hoạt động CSSK cho người dân ở MNPB Hệ thống

TT - GDSK ở MNPB đã được thiết lập từ các tỉnh tới thôn/bản Cơ sở và trang thiết bị của hệ thống TT - GDSK bước đầu được đầu tư Các đơn vị

Trang 19

trong và ngoài ngành y tế cũng như các chương trình/dự án y tế đều triển khai hoạt động TT - GDSK thường xuyên Các hình thức và các kênh TT - GDSK được sử dụng theo hướng truyền thông chuyển đổi hành vi sức khỏe để có hiệu quả cao nhất Nhận thức và hành vi của người dân tộc thiểu số (DTTS) ở MNPB đối với nhiều vấn đề sức khỏe đã được cải thiện [39]

Nghiên cứu của Đàm Khải Hoàn, Hạc Văn Vinh, Đàm Thị Tuyết và cs ở hai xã vùng cao huyện miền núi Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên năm 2006 cho thấy: Hành vi về chăm sóc sức khoẻ sinh sản của các bà mẹ người DTTS như sau: Tỷ lệ các bà mẹ được tiêm phòng uốn ván đầy đủ tương đối cao (Văn Lăng 89,3%; Tân Long 91,6%) Tỷ lệ các bà mẹ đẻ tại nhà có cán bộ y tế giúp

đỡ cũng đạt tỷ lệ khá (Văn Lăng 70,0%; Tân Long 80,0%) Nhưng tỷ lệ các bà

mẹ được khám thai đầy đủ còn thấp (Văn Lăng 25,5%; Tân Long 46,1%) [35] Nghiên cứu của Hoàng Khải Lập và cs tại ở 2 tỉnh miền núi Lào Cai và Lai Châu cho thấy hành vi của người dân 2 dân tộc Mông, Giáy như sau: Tỉ lệ trẻ không được cân sau đẻ rất cao (91,0%; 60,0%), tỉ lệ trẻ có phiếu theo dõi biểu đồ tăng trưởng rất thấp (15,5%; 2,5%) Tiêm chủng cho trẻ dưới 1 tuổi đạt tỉ lệ thấp (45,0%; 65,0%) Trong đó tỉ lệ trẻ tiêm đầy đủ và đúng lịch các loại vắc xin chỉ đạt 20,0% và 40,0% Tỉ lệ tiêu chảy trẻ em dưới 5 tuổi ở 2 dân tộc này khá cao: Giáy 6,0%; Mông 14% Tỉ lệ được sử dụng Oreson khi tiêu chảy thấp (33,0%; 7,0%) Tuy nhiên việc sử dụng nước sắc lá, rễ cây của người DTTS trong nghiên cứu khá phổ biến (50,0%) [47]

1.1.4.2 Dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm

Khẩu phần ăn của người dân các DTTS nói chung hiện nay đã được cải thiện so với 10 năm về trước như giảm lượng ngũ cốc, tăng thực phẩm là đạm động vật, dầu mỡ, hoa quả Lượng Kcal bình quân/ngày đã tăng hơn so với trước, đã đạt mục tiêu phấn đấu về năng lượng cho nhân dân Trong những năm qua tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) ở trẻ em < 5 tuổi trên toàn quốc đã giảm

Trang 20

đáng kể từ 51,5% (1995) xuống 33,1% (2000) và 31% (2005) Tuy nhiên, tỷ

lệ SDD ở các tỉnh MNPB vẫn chiếm cao nhất: nhẹ cân 38,6% - 35,8%; thấp còi 44,0% – 40,0% và gầy còm 10,4% - 8,7% [23], trong khi đó ở Đồng bằng Sông Hồng tương ứng là 21,7%; 29,8% và 5,8% [8]

Tình trạng ngộ độc thực phẩm ở các tỉnh MNPB ngày càng có nguy cơ gia tăng Ở tỉnh Hà Giang, năm 2004 có 3 vụ ngộ độc thực phẩm: 12 người mắc, tử vong 04 người; Năm 2005 có 13 vụ ngộ độc thực phẩm với 93 người mắc và tử vong là 31 người; Năm 2006, trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 11 vụ ngộ độc thực phẩm với tổng số mắc 140 người, tử vong 14 người; Năm 2007

có 19 vụ ngộ độc thực phẩm với 114 người mắc và tử vong là 12 người; Đặc biệt trong 6 tháng đầu năm 2008 toàn tỉnh có 14 vụ ngộ độc thực phẩm với 63 người mắc và 16 trường hợp tử vong Nguyên nhân chủ yếu do ăn phải nấm độc, ăn phải thực phẩm ôi thiu và nhiễm vi sinh vật [25]

1.1.4.3 Nước sạch và vệ sinh môi trường

Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước sạch ở Việt Nam hàng năm có tăng lên đáng kể (năm 2000 là 58,0% và 2005 dự kiến đạt 80,0%) và vẫn ở mức thấp trong khu vực Đông Nam Á Khả năng tiếp cận nguồn nước của các hộ gia đình là không đồng đều giữa các vùng Tỷ lệ hộ gia đình dùng nước sạch ở nông thôn chỉ bằng 2/3 so với thành thị Đặc biệt ở một số vùng tỷ lệ hộ được

sử dụng nước sạch là rất thấp như MNPB và đồng bằng sông Cửu Long Trên thực tế người DTTS có tỷ lệ tiếp cận nước sạch thấp nhất Tỷ lệ các hộ gia đình sử dụng nhà xí hợp vệ sinh chỉ đạt 41,68%, nhất là vùng MNPB (khoảng 20%) Phần đông các hộ gia đình vẫn đang dùng nhà xí không hợp vệ sinh, không đúng quy cách, vẫn còn 11,2% hộ gia đình không có nhà vệ sinh Tình trạng sử dụng phân tươi để bón cây vẫn còn phổ biến ở nhiều nơi, nhất là vùng trung du MNPB Phóng uế bừa bãi cũng là một tập quán lạc hậu ở một

số tộc người ở MNPB [34]

Trang 21

Bảng 1.1 Tỷ lệ người nghèo sử dụng nước sạch và hố xí hợp vệ sinh

Nguồn: Điều tra y tế quốc gia 2001-2002 [8]

Bảng 1.2 Kết quả điều tra về tình hình vệ sinh môi trường một số tỉnh miền núi phía Bắc

Lào Cai

Bắc Kạn

Hà Gian

g

Yên Bái

Lạng Sơn

Tỷ lệ người dân được sử

Nguồn: Điều tra y tế quốc gia 2001-2002 [8]

Hoạt động thu gom rác tại các địa phương trong thời gian qua còn chưa được đầu tư và quan tâm thích đáng Tất cả các cách tự xử lý rác của gia đình đều gây ô nhiễm cho môi trường đất, nước, không khí Nơi chứa nước thải hiện nay phổ biến tại các địa phương vẫn là vườn, mặt đất (60,8%); hệ thống nước tự nhiên ao, hồ, sông (28,6%); hệ thống cống chỉ 10,46% Xử lý chất thải các làng nghề và chăn nuôi còn rất nhiều khó khăn [13]

Trang 22

1.1.4.4 Bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em và KHHGĐ

* Chăm sóc sức khỏe bà mẹ Tỷ lệ chung quản lý thai nghén đạt 84,3%,

cao nhất là vùng Đồng bằng Sông Hồng, tiếp đến là Bắc Trung Bộ, thấp nhất

là vùng MNPB và Tây Nguyên Tỷ lệ bà mẹ khám thai trên 3 lần đạt 83,79%, cao nhất là vùng Đồng bằng Sông Hồng đạt 96,28% và Nam Trung Bộ

91,69%, thấp nhất là vùng Tây Nguyên và Tây Bắc Tỷ lệ tiêm phòng uốn ván

2 mũi cho các bà mẹ là 91,0% Cao nhất là Đồng bằng Sông Hồng và Nam

Trung Bộ, thấp nhất là vùng MNPB và Tây Nguyên [34] Bổ sung viên sắt khi mang thai đạt 50%, vùng nông thôn cao hơn thành thị ở mọi vùng sinh thái

Tỷ lệ đẻ có cán bộ y tế (CBYT) đỡ đẻ năm 2004 là 95,8% Tỷ lệ bà đỡ vườn đỡ đẻ ở thành thị là 2,4% và ở nông thôn là 11,2% Có CBYT trợ giúp

đỡ đẻ ở thành thị là 96,6% và ở nông thôn là 78,7% Như vậy có 21,3% phụ

nữ ở khu vực nông thôn không được CBYT trợ giúp khi đỡ đẻ Tỷ lệ có CBYT đỡ đẻ thấp nhất ở vùng nông thôn, vùng người DTTS ở MNPB 29,2%

và nông thôn Tây Nguyên 51,5% Tử vong mẹ do 5 tai biến sản khoa là băng

huyết, sản giật, uốn ván, vỡ tử cung, nhiễm trùng hậu sản đều giảm mạnh cả

về số mắc và số tử vong tính từ năm 1999 đến 2003 Tỷ suất chết mẹ (MMR)

giảm (chỉ còn 85/100.000 trẻ đẻ sống năm 2003) Tuy nhiên các vùng MNPB

tỷ suất này còn cao (330/100.000) [8]

* Chăm sóc sức khỏe cho trẻ em Tỷ suất chết trẻ em < 1 tuổi năm 1999

là 36,7‰; tỷ suất chết trẻ em < 1 tuổi năm 2003 là 21,0‰; đạt mục tiêu trung

bình mỗi năm giảm 3‰ Tỷ suất chết trẻ em < 5 tuổi là 32,0‰ [8] Tỷ lệ SDD của trẻ em<5 tuổi (cân nặng/tuổi) năm 2005 là 28,4%, đạt mục tiêu đề ra Tỷ

lệ tiêm chủng đầy đủ đạt 96,7%; loại trừ uốn ván sơ sinh, bại liệt [11]

* Kế hoạch hóa gia đình Tính đến 1/4/2004: Tỷ suất sinh thô tăng từ

17,5‰ lên 18,7‰ Tỷ suất sinh thô giảm so với năm 2003 Tổng tỷ suất sinh năm 2003 từ 2,12 con/phụ nữ giảm xuống 2,0 con/phụ nữ năm 2009; Số con

Trang 23

trung bình của một phụ nữ nhìn chung có giảm song đang tiềm tàng nguy cơ tăng sinh trong giai đoạn này nếu không tiếp tục duy trì các biện pháp hạn chế

sinh đẻ [18] Năm 2003, tỷ suất chết thô 5,8‰ và tỷ suất chết sơ sinh là 21‰

So với năm 1998 - 1999 tỷ suất chết thô là 5,6‰ và tỷ suất chết sơ sinh là 36,7‰ thì tỷ suất chết thô có tăng chút ít nhưng tỷ suất chết sơ sinh giảm

mạnh [11] Tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên giảm rõ rệt trong những năm gần đây Tỷ lệ cặp vợ chồng trong đó tuổi sinh đẻ chấp nhận các biện pháp tránh thai (BPTT) năm 1998 là 82,6% và 2003 là 84,3% Tỷ lệ đặt vòng 61,6% năm

1998 và 57% năm 2003, có giảm hơn do các cặp vợ chồng sử dụng các BPTT

khác Số hút điều hòa kinh nguyệt, sảy thai năm 2003 giảm hơn với năm

2002 Tỷ lệ nạo, hút thai năm 2000 là 45/100 trẻ đẻ sống và 2003 đã giảm còn 38,7/100 trẻ đẻ sống Tỷ lệ nạo phá thai ở lứa tuổi vị thành niên có tới 3 - 5‰

[10], [13]

1.1.4.5 Tiêm chủng phòng chống các bệnh truyền nhiễm ở trẻ em

Các mục tiêu về TCMR đều đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch, tỷ lệ mắc các bệnh giảm một cách rõ rệt, đặc biệt là sởi, UVSS, bạch hầu, ho gà Năm 2004, Việt Nam tiếp tục bảo vệ thành công thành quả thanh toán bại liệt và là năm đầu tiên 100% số huyện đạt tiêu chuẩn loại trừ UVSS theo tiêu chuẩn của Tổ chức y tế thế giới (WHO) [20] Tỷ lệ tiêm vaccine phòng bạch hầu - ho gà - uốn ván (vaccine DPT) được duy trì ở mức trên 90,0% từ năm 1993 và trên 95,0% từ năm 2000 đến nay Số mắc ho gà, bạch hầu giảm rõ rệt Vaccine phòng thương hàn mới được đưa vào dịch vụ TCMR Tỷ lệ trẻ em được tiêm

đủ 3 liều vaccine phòng viêm gan B của cả nước đạt 94,2% với khoảng 1,43 triệu trẻ được tiêm so sánh với năm 2003 là 78% 7 tỉnh triển khai vaccine phòng tả trong năm 2004 với tổng số trẻ được uống đủ liều là 248.317 trẻ đạt 95,14% số đối tượng đăng ký 4 vùng với 50 tỉnh, 267 huyện đã được triển khai tiêm vaccine phòng viêm não Nhật Bản miễn phí cho trẻ em từ 1-5 tuổi

Trang 24

Năm 2004, tỷ lệ trẻ < 1 tuổi được tiêm đủ liều trong TCMR đã đạt trên 90% Thành công này cũng cho phép từ năm 2005, vaccine phòng viên gan B sẽ là vaccine thứ 7 trong 7 vaccine bắt buộc phải đạt tỷ lệ bao phủ trên 90% [13]

1.1.4.6 Phòng chống các bệnh dịch và bệnh xã hội [13]

* Phòng chống sốt rét Trước đây sốt rét là bệnh lưu hành chủ yếu ở

MNPB, đến nay bệnh đã được khống chế Tỷ suất mắc sốt rét có triệu chứng lâm sàng giảm từ 19,6 ca bệnh/1000 người năm 1991 xuống còn 3,3% vào

năm 2001 [10]

* Phòng chống HIV/AIDS Hiện nay nước ta có 220.000 người nhiễm

HIV, đã có ở 63/63 tỉnh/thành chủ yếu là ở thành thị Tuy nhiên, các tỉnh miền núi có nhiều DTTS, có vùng biên giới giao lưu thì tỷ lệ nhiễm HIV có chiều hướng tăng, ví dụ năm 2000 và 2001, tỷ lệ này ở 10 tỉnh có đông DTTS nhất là 53/100.000 người và 68,7/100.000 người cao hơn các tỉnh có ít DTTS Nhiễm HIV không chỉ khu trú trong các khu vực đô thị mà đã lan rộng ra cả các khu vực ít giao lưu, vùng nông thôn, vùng sâu, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số Các tỉnh có nhiều DTTS cư trú, giáp biên giới Trung Quốc, tỷ lệ nhiễm HIV trong những người tiêm chích ma túy đang tăng nhanh Cao Bằng

và Lạng Sơn, nơi đông DTTS Tày, Nùng, được xếp vào hàng thứ 7 và 9 về nhiễm HIV cao trong toàn quốc Tình trạng nhiễm HIV/AIDS gia tăng nhanh, ngay cả ở những vùng ít giao lưu, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc [8] Nhiễm HIV có xu hướng trẻ hóa, lây nhiễm HIV từ mẹ sang con cũng gia tăng Nam nhiễm HIV vẫn nhiều hơn nữ, nhưng xu hướng gia tăng ở nữ khá

rõ rệt Chính phủ đã ban hành Chiến lược quốc gia phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020, trong đó xác định 4 nội dung ưu tiên và 9 chương trình hành động Nhà nước tiếp tục đầu tư cho công tác

Trang 25

phòng chống HIV/AIDS và giữ được ổn định trong đầu tư Các nhà tài trợ

quốc tế đã quan tâm hỗ trợ Việt Nam trong cuộc chiến chống HIV/AIDS

* Chương trình chống Lao Theo thống kê của WHO năm 2005 tỷ lệ phát

hiện Lao dương tính của toàn quốc là 80/100.000 dân, tỷ suất mới mắc và chết vì lao cũng có sự khác nhau giữa các tỉnh có đông DTTS và các tỉnh có ít DTTS Năm 2000 và 2001, tỷ suất mới mắc Lao ở 10 tỉnh có tỷ lệ DTTS cao nhất MNPB là 29/100.000 ca AFB +/năm và 30/100.000 ca AFB +/năm; trong khi ở 10 tỉnh có tỷ lệ DTTS thấp, tỷ suất trên là 66 và 65 Tuy nhiên, không có nghĩa là DTTS ít mắc và chết vì Lao, mà vì phát hiện lao chủ yếu được thực hiện ở tuyến huyện, do đó vùng sâu, vùng xa không tiếp cận để phát hiện được Về chẩn đoán chết do lao cũng trong trình trạng tương tự Nguyên nhân điều trị bệnh Lao chậm là do người bệnh ở xa cơ sở khám chữa bệnh, họ sợ bị xã hội cô lập, thiếu tiền đi lại và tiếp cận với dịch vụ y tế, chất lượng dịch vụ y tế còn kém ở những vùng núi xa xôi Tỷ lệ bao phủ của Chương trình phòng chống Lao > 90,0% các TYT xã/PKĐKKV Tỷ lệ TYT/PKĐKKV có nhân viên được đào tạo về bệnh Lao khoảng 95% còn lại

các TYT/PKĐKKV tỷ lệ này rất cao > 97,0% [29]

* Phòng chống một số bệnh dịch nguy hiểm khác Trong vài năm gần

đây, nước ta đang phải đối đầu với một số loại bệnh dịch nguy hiểm là SARS, cúm A H5N1 và cúm A H1N1 Tính chất nguy hiểm của dịch là có thể lan trên diện rộng, khó khống chế nếu phát hiện muộn Mặt khác, do đặc tính chăn nuôi gia súc, gia cầm của người dân càng làm cho vấn đề lan tràn dịch thêm nan giải và khi giải quyết vấn đề dịch tễ cũng phức tạp và tốn kém Cần

có những biện pháp can thiệp dịch tễ tích cực kết hợp việc nâng cao nhận thức

và sự tham gia của người dân mới có thể ngăn chặn tốt bệnh dịch này [13]

Trẻ em ở những vùng xa xôi hẻo lánh nơi có người DTTS sinh sống được hệ thống y tế cơ sở tại cố gắng thực hiện nên tỷ lệ tiêm chủng phòng bệnh đạt

Trang 26

khá cao (93,4% và 99,6%) Tỷ lệ tử vong do các bệnh truyền nhiễm ở khu vực

MNPB còn cao hơn so với cả nước [22]

* Phòng chống tai nạn thương tích Các bệnh không truyền nhiễm ngày

một phát triển ở cộng đồng như: tai nạn thương tích (kể cả bạo lực) và ngộ độc, đặc biệt là tai nạn giao thông đứng hàng thứ 5 trong 10 bệnh mắc cao nhất xu hướng chưa giảm, số chết cũng ngày một tăng và đứng đầu trong 10 nguyên nhân chết cao nhất trong các bệnh viện Để phòng các loại thương tích tại cộng đồng, hiện có chương trình quốc gia về phòng chống thương tích, đặc biệt là có dự án về xây dựng cộng đồng an toàn Trong thời gian gần đây, nước ta có tỷ lệ chết do tai nạn thương tích ở nông thôn là 10,6%, thành thị là 11,2% Đáng lưu ý tỷ lệ này lại có sự khác biệt giữa các vùng khác nhau, miền núi cao hơn thành thị: Đồng bằng Sông Hồng chiếm 6,4%, MNPB (11,4%) Nguyên nhân cơ bản liên quan đến tai nạn thương tích tăng cao là do trình độ dân trí thấp và không sử dụng các phương tiện bảo hộ [29]

* Các chương trình y tế được triển khai tại tuyến xã Trong CSSKBĐ ở

tuyến xã/thôn hiện nay trung bình có 16 - 18 chương trình phòng chống các bệnh lưu hành đã và đang góp phần cải thiện những điều kiện CSSKBĐ của người dân tại cộng đồng Tuy nhiên, trong giai đoạn tới cần chú trọng sự lồng ghép, chia sẻ thông tin giữa các chương trình nhằm tận dụng tối đa những

Trang 27

6 Phòng chống Lao 17 Phòng chống HIV/AIDS

7 SKSS & KHHGĐ 18 Vệ sinh môi trường

8 Phòng chống Sốt rét 19 Phòng chống tai nạn thương

10 Giám sát các bệnh truyền nhiễm 20 Phòng chống tác hại thuốc lá

11 Phòng chống Bướu 21 Sức khỏe vị thành niên

(Nguồn: BYT-Vụ KHTC; Báo cáo nghiên cứu hoạt động TYT xã 2002) [12] 1.1.4.7 Chữa các bệnh tại nhà và xử trí các vết thương thông thường

* Tình hình sức khỏe chung và sử dụng dịch vụ y tế

Số lần ốm/năm/người là 1,2 Tỷ lệ lượt người đến điều trị nội trú trong

12 tháng qua tại TYT là 8,57%; tại PKĐKKV là 8,64%; y tế tư nhân là 3,17%; lang y 0,26%; khu vực bệnh viện chiếm tới 77,5% Cách xử trí hàng đầu của các hộ gia đình khi ốm đau là mua thuốc về tự chữa (45,2 - 46,6%), sau đó đến KCB ở y tế tư nhân (17,6 - 18,9%) KCB tại TYT đứng hàng lựa chọn thứ 3 (14,2 - 12,9%); Tỷ lệ hộ gia đình có sử dụng dịch vụ y tế tại trạm trung bình là 23,5% Chỉ số tới trạm còn ở mức thấp và trung bình tùy theo từng vùng (dao động từ 9% - 41,0%) Lý do đến TYT chủ yếu để KCB (37,8%), tiếp theo là tiêm chủng (22,7%), sau đó là mua thuốc chữa bệnh (19,1%) Lý do chính khiến người dân lựa chọn đến KCB tại TYT là gần nhà (27,2%), chuyên môn tốt (25,1%) và quen biết (21,1%) Tiếp cận dịch vụ y tế thông thường ở cơ sở đã được giải quyết tốt hơn, đặc biệt cho những đối tượng chính sách, người nghèo (miễn giảm viện phí, cấp thẻ BHYT, sổ KCB, KCB nhân đạo…) [31] Y tế tư nhân ngày càng phát triển và đóng góp vào sự

đa dạng của dịch vụ CSSK cho người dân, nhất là ở tuyến xã Tỷ lệ chi cho y

tế và CSSK trong 12 tháng là 51,6% Tỷ lệ hộ gia đình chi tiêu cho y tế ngoài KCB là 96,1% (trong đó chi cho mua thuốc tự chữa hoặc dự trữ là 94,80%,

Trang 28

mua dụng cụ y tế là 19,1%, đóng góp y tế 11,9%, mua BHYT tự nguyện là

23,6%) [12]

* Vai trò của TYT xã TYT không thu tiền dịch vụ KCB, nhưng bệnh

nhân phải mua thuốc, chỉ những người có BHYT (kể cả người nghèo) mới được cấp thuốc theo quy định của BHYT mà mức trần còn quá thấp so với nhu cầu KCB tại nhà, qua điều tra ở 7 tỉnh đại diện các vùng trong cả nước cho thấy chỉ có 10,0% TYT có KCB thường xuyên tại nhà, 83,0% thỉnh thoảng thực hiện, 7,0% không thực hiện Riêng mặt KCB thông thường, số người đến KCB tăng lên khi TYT được nâng cao chất lượng (có bác sĩ, có trang thiết bị tốt) và mở rộng BHYT cùng với việc đưa BHYT về KCB tại

TYT [6]

* Vai trò của nhân viên y tế thôn bản Xử lý cấp cứu ban đầu, theo dõi

điều trị đều đặn các bệnh mạn tính như lao, phong, sốt rét, tâm thần, động kinh… (có văn bản về nhiệm vụ của y tế thôn bản) Y tế thôn bản được đào tạo về chuyên môn, TT GDSK, được cấp túi thuốc, tài liệu truyền thông và một số trang thiết bị (TTB) cần thiết để chăm sóc sức khỏe người dân, nhất là vùng miền núi, vùng khó khăn [5]

1.1.4.8 Cung cấp đủ thuốc thiết yếu

Tiền thuốc bình quân đầu người đã tăng lên từ 0,5 USD trong những năm 1986 - 1990, đến năm 1998 đạt 5,5 USD và vào năm 2003 là 4,5 USD Bình quân mỗi trạm có 1 quầy bán thuốc, phần lớn (81,3%) số quầy này gọn gàng, sạch Các mặt hàng thuốc thiết yếu ở TYT cơ bản là đủ Vốn thuốc tại TYT tăng dần, phổ biến là từ 2 triệu trở lên cho 1 quầy thuốc Nguồn cung cấp vốn kinh doanh thuốc là do xã, trung tâm y tế huyện viện trợ >70%; 20,84% do cán bộ nhân viên trạm góp vốn (Kết quả điều tra năm 1998, 1999) Số mặt hàng thuốc trên một quầy trung bình là 74 loại, trong đó 80,0% là thuốc nội, 8,0%

là thuốc đông y, 24,4% là thuốc kháng sinh, 20,6% là vitamin các loại; 13,1%

Trang 29

là thuốc cảm cúm; 21,8% thuốc tiêm các loại Tỷ lệ thuốc đông y 8,8%; Thuốc YHCT sẵn có ở địa phương nhưng không phải là luôn luôn có thể chi trả được đối với 20% dân nghèo Trung bình có 128 lượt người mua thuốc tại trạm trong một tháng, mỗi đơn thuốc bình quân có 3 loại Có 38,7% lượt mua kháng sinh và 12,4% lượt mua Corticoid; 6,3% trạm không có ORESOL trong quầy thuốc Tỷ lệ người ốm tự mua thuốc về điều trị trung bình là 48,23% Người ốm sử dụng thuốc dân gian đông y chỉ chiếm 2,2% Thuốc được mua từ quầy của TYT là 47,6%, nhà thuốc tư là 18,65%, hiệu thuốc của

cơ sở điều trị là 12,96%, trực tiếp từ nhân viên y tế là 15,91% và còn 1 - 3,3% mua thuốc ở chợ; 68,0% hộ gia đình có trữ thuốc tây trong nhà, thành thị 73,0% và nông thôn 66,0%

1.1.4.9 Quản lý sức khỏe

Hồ sơ quản lý sức khỏe chỉ được thực hiện với một số đối tượng, chưa bao phủ toàn xã hội Hồ sơ sức khỏe đối với hơn 80% dân số thuộc khu vực nông thôn còn ít được quan tâm Khi ốm đau, bệnh tật đến khám tại TYT, tình hình và diễn biến bệnh chỉ được ghi chép vào các biểu mẫu theo quy định tại TYT Thực hiện công tác thống kê, báo cáo y tế tại tuyến cơ sở Hệ thống sổ sách theo dõi tại tuyến cơ sở đã được cải tiến, bổ sung TYT không có cán bộ chuyên trách thống kê Chất lượng báo cáo còn hạn chế Thông tin từ y tế tư nhân không được thu thập đầy đủ Còn tồn tại nhiều kênh thu thập thông tin

và báo cáo riêng rẽ, nhất là những chương trình y tế Các hệ thống thu thập thông tin trên đều thụ động, chỉ thu thập thông tin về dịch vụ y tế của nhà

nước, các thông tin y tế khác không ghi nhận được

1.1.4.10 Củng cố và kiện toàn mạng lưới y tế cơ sở

Chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân giai đoạn 2001 - 2010 nêu lên những định hướng chỉ tiêu và các giải pháp quan trọng trong công tác CSSKND, trong đó phần về y tế cơ sở (YTCS) được xác định: bảo đảm 100%

Trang 30

số xã có TYT phù hợp với điều kiện kinh tế, địa lý, môi trường sinh thái và nhu cầu KCB từng vùng Với mục tiêu phấn đấu đến năm 2010 đạt 80% số xã

có bác sĩ (trong đó có 60% số xã miền núi có bác sĩ); 80% số TYT xã có nữ

hộ sinh trung học; các TYT đều có cán bộ quản lý với trình độ dược tá phụ trách công tác dược và có cán bộ được đào tạo, bổ túc về YHCT; thường xuyên 100% thôn bản có nhân viên y tế có trình độ sơ học trở lên Phát triển đội ngũ tình nguyện viên y tế tại các thôn, ấp miền đồng bằng

* Hoạt động của y tế tuyến xã Nhiệm vụ của cơ sở y tế (CSYT) tuyến xã

là thực hiện các dịch vụ kỹ thuật CSSKBĐ cho nhân dân trên địa bàn xã/phường do mình phụ trách Các dịch vụ khám thai, tiêm bắp thịt và KCB thông thường, dịch vụ đỡ đẻ, tiểu phẫu thuật nhiều hơn (93%) so với TYT phường/thị trấn Dịch vụ hút điều hòa kinh nguyệt và châm cứu/ xoa bóp, bấm huyệt được các CSYT tuyến xã, phường thực hiện không nhiều chỉ từ 34% đến 46% Các TYT xã/phường mở cửa 6,1 ngày với tổng cộng 50 giờ dành để KCB Số giờ một tuần dành cho các chương trình y tế là 52 giờ/tuần Hầu hết

xã nào cũng có triển khai chương trình y tế quốc gia Những chương trình có

ít được triển khai hơn là PHCN tại cộng đồng (11% ở khu vực thành thị và 9% ở khu vực nông thôn) và chương trình nước sạch, vệ sinh môi trường (21% ở khu vực thành thị và 27% ở khu vực nông thôn); vệ sinh an toàn thực phẩm (25% ở cả hai khu vực thành thị và nông thôn)

* Hoạt động của y tế thôn bản (YTTB)

- Mức độ bao phủ của YTTB Theo Quyết định 3653/1999/QĐ-BYT ngày 15/11/1999, nhân viên y tế thôn, bản, ấp (NVYTTB) là nhân viên y tế hoạt động trong cộng đồng, chịu sự quản lý chỉ đạo trực tiếp của TYT xã và chịu sự quản lý của trưởng thôn, có chức năng chủ yếu là CSSK cộng đồng của một thôn, bản, ấp NVYTTB là cầu nối giữa hệ thống y tế công cộng và người dân, thực hiện các công tác TT-GDSK, hướng dẫn vệ sinh phòng bệnh

Trang 31

và phát hiện sớm dịch bệnh; hướng dẫn dinh dưỡng hợp lý; chăm sóc SKBMTE, KHHGĐ; sơ cứu và chăm sóc bệnh thông thường; tham gia các

chương trình y tế tại thôn bản Theo niên giám thống kê của Bộ Y tế, đến năm

2004 cả nước có 92.284 trên 115.630 thôn bản có nhân viên y tế hoạt động, chiếm 79,8% số thôn bản của cả nước [12]

Người dân sống tại các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa trung tâm, vùng khó khăn về kinh tế, có trình độ thấp khó tiếp xúc với các CSYT, nên việc phát triển mạng lưới NVYTTB ở những vùng này là rất quan trọng để chăm sóc sức khỏe ban đầu Thực tế, trong quá trình mở rộng mạng lưới NVYTTB, Bộ Y tế và các địa phương đã ưu tiên phát triển các vùng có nhiều

khó khăn Một chỉ tiêu khá quan trọng để đánh giá mức độ bao phủ đó là số

dân trung bình có một NVYTTB Ví dụ, ở đồng bằng có mức độ bao phủ NVYTTB thấp nhất, mật độ dân số đông bình quân một NVYTTB phải phụ trách 1.629 người dân Ngược lại ở miền núi cao, gần 90% các bản đều có NVYTTB và dân số thưa nên bình quân một NVYTTB phụ trách khoảng 425 người Mức bao phủ NVYTTB ở các vùng như vậy là rất hợp lý, thể hiện sự quan tâm đầu tư của nhà nước cho những nơi điều kiện kinh tế khó khăn, nhất

là ở những nơi việc tiếp cận mạng lưới y tế khó khăn do điều kiện kinh tế

cũng như điều kiện đi lại

- Trình độ chuyên môn của NVYTTB Mạng lưới NVYTTB đã được hình thành và tồn tại từ lâu, nhưng chỉ từ năm 1998 mạng lưới mới được mở rộng nhanh Trong quá trình tuyển NVYTTB, thời gian đầu các địa phương

ưu tiên chọn những người có trình độ chuyên môn y tế Nhưng từ năm 1998, khi các địa phương xúc tiến nhanh việc thực hiện bố trí NVYTTB, số người

có chuyên môn y tế chưa bao phủ hết nên các địa phương đã tuyển nhiều người không có chuyên môn y tế dẫn đến tình trạng như hiện nay, nhiều nhân

viên y tế hoạt động tại thôn bản chưa được bồi dưỡng chuyên môn y tế Khi

Trang 32

phát triển mạng lưới NVYTTB nhiều người có chuyên môn y tế đã về hưu hoặc không hành nghề nữa, nhưng địa phương đã vận động họ tham gia hoạt động và có thời gian để làm NVYTTB Việc tập huấn lại cho những người này thường nhanh và có hiệu quả Tuy nhiên, tại vùng có nhu cầu cao về về NVYTTB như miền núi, tỷ lệ người có chuyên môn y tế lại rất thấp (28% ở miền núi cao và 41% ở miền núi thấp) Ở đồng bằng ven biển nơi có nhu cầu thấp, tỷ lệ người có chuyên môn y tế lại rất cao (70% ở ven biển và 58% ở đồng bằng) Rõ ràng cần có chiến lược phát triển mạng lưới NVYTTB có chất lượng hơn, nghĩa là phải tiếp tục đào tạo mới và đào tạo lại đội ngũ y tá sơ

cấp cho vùng núi một cách có kế hoạch Các chương trình mục tiêu y tế đã tổ

chức và huy động lực lượng NVYTTB tham gia, ví dụ tổ chức các lớp tập huấn ngắn hạn Trong vòng 3 năm trước cuộc điều tra, khoảng 70% NVYTTB được tập huấn về chương trình SDD và 63% về TCMR Tỷ lệ NVYTTB được tập huấn về chương trình phòng chống tiêu chảy là 59%, phòng chống nhiễm khuẩn hô hấp cấp là 44%, phòng chống khô mắt (Vitamin A) là 35% Còn 60% NVYTTB trả lời được tập huấn về chăm sóc sức khỏe trẻ em nói chung

Tỷ lệ được tập huấn như vậy tương đối cao trừ chương trình về NKHHC ở trẻ

em

- Tình hình trang thiết bị của nhân viên y tế thôn bản Theo ĐTYTQG

2001 - 2002, khoảng 40% NVYTTB có nhiệm vụ KCB, nhưng TTB để thực hiện được nhiệm vụ này còn thiếu Cứ 4 NVYTTB mới có 1 người có huyết

áp kế (27%) dù 66% NVYTTB trả lời biết đo huyết áp Tỷ lệ có nhiệt kế là 63% dù 88% trả lời là biết đo nhiệt độ Hơn một nửa NVYTTB trả lời có túi thuốc thông thường, 75% biết tiêm và 50% có bơm kim tiêm trong các dụng

cụ y tế của họ Tỷ lệ NVYTTB có những thiết bị y tế cơ bản để thực hiện

nhiệm vụ KCB tại các vùng khác nhau Tỷ lệ có bơm kim tiêm tương đối cao (từ 48% đến 65%), kể cả ở miền núi dù tiêm không phải là nhiệm vụ của

Trang 33

NVYTTB Vùng ven biển và đồng bằng, trên 60% NVYTTB có túi thuốc thông thường trong khi đó, ở miền núi thấp chỉ có 37% Ở miền núi thấp chỉ khoảng 10% NVYTTB có ống nghe tim phổi hoặc huyết áp kế mặc dù thiết bị này cần thiết cho việc khám bệnh và khám thai So sánh tình hình ở thành thị

và nông thôn cho thấy tỷ lệ KCB ở nông thôn cao hơn ở thành thị và tỷ lệ NVYTTB được trang bị dụng cụ y tế cơ bản ở nông thôn cao hơn ở thành thị Điều này cho thấy cần có sự phân phối trang thiết bị phù hợp với công việc của NVYTTB theo vùng

- Những hoạt động hàng ngày của NVYTTB Như đã trình bày ở trên, NVYTTB có nhiệm vụ thực hiện công tác TT-GDSK, hướng dẫn vệ sinh phòng bệnh và phát hiện sớm dịch bệnh; hướng dẫn dinh dưỡng hợp lý; chăm sóc SKBM&TE/KHHGĐ; sơ cứu và chăm sóc bệnh thông thường; tham gia các chương trình y tế tại thôn bản

Tóm lại: CSSKBĐ ở MNPB Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn trong CSSK cho người dân các DTTS Kết quả đạt được nhờ có các chính sách phù hợp và đúng đắn của Chính phủ Việt Nam Tuy nhiên để cho người dân các DTTS ở MNPB có được sức khỏe tốt, công tác CSSKBĐ còn phải đối mặt với nhiều thách thức và khó khăn Xây dựng các mô hình thực hiện CSSKBĐ ở miền núi, vùng khó khăn đang là những sáng kiến cần được quan tâm thích đáng

1.2 Đặc trƣng văn hóa của dân tộc Tày

1.2.1 Vài nét về lịch sử văn hoá dân tộc Tày ở châu Á

Từ xưa đến nay, các cư dân thuộc ngôn ngữ Tày - Thái đã giữ một vai trò rất quan trọng trong lịch sử miền Nam Trung Quốc và các nước ở Đông nam Á Những người Tày - Thái cổ đã góp phần sáng tạo nên nền văn hoá bản địa ở vùng này, thường được gọi là văn hoá Nam - Á Hiện nay số đông nhà

Trang 34

khoa học chấp nhận có nhiều yếu tố văn hoá Tày- Thái cổ được truyền bá đến các dân tộc xung quanh như dân tộc Hán, các dân tộc thuộc ngôn ngữ Tạng - Miến, Việt - Mường, Môn - Khơ me, Mèo - Dao và Mlayô - Pôlinêdiêng Ngược lại, Họ cũng hấp thu những yếu tố của dân tộc láng giềng Chính sự trao đổi qua lại về văn hoá đó thúc đẩy những dân tộc Tày - Thái ngày một tiến triển với một nền văn hoá ngày càng phong phú và đồng thời cũng làm cho bộ mặt của các dân tộc Tày - Thái ngày nay mỗi vùng có những vẻ khác nhau [43]

1.2.2 Vài nét về lịch sử dân tộc Tày Việt Nam

Người Tày toàn quốc có khoảng 1,2 triệu người thì ở miền núi phía Bắc

có tới 1,1 triệu Người Tày sống chủ yếu ở các tỉnh Đông Bắc như: Cao Bằng khoảng 25 vạn, Lạng Sơn khoảng 22 vạn, Tuyên Quang khoảng 26 vạn, Bắc Kạn khoảng 27 vạn người Người Tày là một dân tộc có trình độ kinh tế, văn hoá, xã hội tương đối phát triển Tập quán của người Tày là sống trong những căn nhà sàn, sống tập trung thành những làng bản đông đúc ở các thung lũng, chân núi hoặc ven sông Trồng lúa nước là nghề nông chính của người Tày Tộc người Tày đã cùng tộc người Việt có mặt trên đất nước Việt nam từ thời dựng nước, chịu ảnh hưởng đậm nét về nhân chủng và văn hóa Việt Một

bộ phận người Tày cổ, con cháu vua Thục đã hòa vào người Việt, vì đến đầu thiên niên kỷ thứ II, đã không còn nhắc đến người Lí, người Lão ở đồng bằng nữa Ngược lại, ở Đông Bắc, ranh giới Tày - Việt không xê dịch bao nhiêu vẫn giữ được ranh giới gần như ngày nay Điều đó chứng tỏ trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa hai tộc người ở nông thôn không lớn

Qua những cuộc đấu tranh chống Tống, Nguyên, Minh qua việc liên kết khăng khít với người Việt về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, nhất là qua việc thiết lập triều Mạc ở vùng Cao Bằng, qua việc các quan triều đình được

cử lên cai trị, mang gia đình lên theo và ở lại, qua việc nhân dân dưới đồng

Trang 35

bằng vì loạn lạc, thiếu đất, đói kém mất mùa, trốn tránh tù tội, liên tục từ đời này qua đời khác lên kiếm sống, tổ tiên người Tày ở Việt Nam tiếp nhận văn hóa người Việt và hỗn huyết với người Việt Hàng chục vạn người Việt theo Mạc, sau đó theo Lê, lên vùng Cao Bằng, nay đã thành người Tày Văn hóa Việt đậm nét ở vùng Hòa An, Cao Bằng Các gia phả cho biết nhiều dòng họ Tày có tổ tiên gốc gác từ dưới xuôi, thậm chí tận Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh Nửa thế kỷ qua, quê hương người Tày là căn cứ địa cách mạng và kháng chiến thời kỳ chống Pháp Văn hóa Việt lại có dịp thấm sâu vào các bản làng Việt Bắc Nên có thể nói, tuy cùng chịu ảnh hưởng của văn hóa Hán, người Tày lại tiếp thu nó thông qua người Việt Đó là điều khác biệt cơ bản với người Nùng chủ yếu tiếp nhận trực tiếp văn hóa Hán [59], [60], [61]

1.2.3 Văn hoá dân tộc Tày ở một số tỉnh miền núi phía bắc Việt Nam

1.2.3.1 Một vài đặc điểm chung ở miền núi phía Bắc

Miền núi phía Bắc là một khu vực kinh tế, văn hoá, chính trị quan trọng

Bao gồm 20 tỉnh, khoảng 15 triệu dân, với khoảng 30 dân tộc sinh sống, người Kinh (dân tộc Việt) vẫn có số dân đông nhất Đặc điểm về địa lý và khí hậu ở miền núi phía Bắc mang một sắc thái riêng Địa hình phức tạp với những dãy núi đá cao đồ sộ xen kẽ vùng đồi thấp thoai thoải Đặc trưng về khí hậu của vùng núi phía Bắc là mùa đông lạnh, nhiệt độ thấp, mùa hè nóng bức với lượng mưa đáng kể, độ ẩm trung bình cao trên 80%,chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm lớn (khoảng 8 - 10oC) Ở miền núi phía Bắc, kinh tế còn hết sức nghèo nàn, văn hoá chưa phát triển, còn nhiều phong tục tập quán lạc hậu Miền núi phía Bắc chia thành 2 khu vực, khu vực Đông Bắc (Việt Bắc) nơi sinh sống chủ yếu của các tộc người Tày và Nùng Khu vực Tây Bắc nơi sống chủ yếu người Thái và người Mường Người Mông, Dao ở rải rác khắp miền núi phía Bắc Mỗi dân tộc đều có nền văn hóa riêng, phong tục tập quán riêng trong đó nhiều nét văn hóa, phong tục tập quán có ảnh hưởng đến sức khỏe

Trang 36

cộng đồng Đông Bắc, Tây Bắc với kết cấu tộc người đa dạng đều được coi

như là những khu vực lịch sử - văn hóa Gần như là có tính quy luật, trên một địa bàn phân bố nhiều thành phần cư dân thì các tộc người có dân số đông với trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao hơn bao giờ cũng thể hiện trội về mặt văn hóa và ngôn ngữ của họ Cho nên, chúng ta không lấy làm ngạc nhiên về ảnh hưởng của văn hóa Tày - Nùng ở Đông Bắc và văn hóa Thái ở Tây Bắc Nhưng do tiếp xúc lâu dài và thường xuyên với các tộc người Việt và Hán và

do nhiều nguyên nhân khác nữa mà trong đời sống của nhiều tộc người Đông Bắc, nói riêng là trường hợp của người Tày đã ảnh hưởng đậm hơn các yếu tố của văn hóa Kinh (ngôn ngữ, phong tục); trong khi đó, về mặt truyền thống bộ phận Nùng lại tỏ ra ít chịu tác động của văn hóa Kinh hơn với người Tày [41]

1.2.3.2 Khái niệm về văn hóa của dân tộc Tày

* Định nghĩa văn hóa Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất

nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa:

“Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin” [64]

Tóm lại, văn hóa gắn bó hữu cơ với con người, chúng ta cũng có thể hiểu một khía cạnh của văn hóa đó là những phong tục, tập quán, thói quen, nếp sống của con người được hình thành, tồn tại và phát triển trong đời sống của con người Các thành tố của văn hóa bao gồm 9 nội dung cơ bản: Ngôn ngữ,

ăn uống, ở, mặc, tín ngưỡng, lễ hội, văn nghệ dân gian, tri thức dân gian và các phong tục tập quá khác (ma chay, cưới xin, vào nhà mới,chữa bệnh, dòng

họ, gia đình…)

* Một số đặc điểm văn hóa dân tộc Tày

Trang 37

- Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ Tày - Thái nên số lượng người

thông thạo ngôn ngữ văn chương không nhiều Do đặc thù về ngôn ngữ, nên trong quá trình giao tiếp cán bộ y tế gặp nhiều khó khăn do bất đồng ngôn ngữ

- Nhà ở: Nhà ở của người Tày chủ yếu là nhà sàn, mỗi ngôi nhà có từ ba đến năm gian, dẫn nước lần vào gian cuối trên sàn gọi là thích nước Dưới gầm sàn là chuồng gà, vịt, một số gia đình buộc trâu, ngựa dưới gầm sàn

- Ăn, uống: Cơm lam, mắm lợn, thịt sấy, cơm ngũ sắc, ăn thịt tái Tết mồng ba tháng ba (tết thanh minh) mổ gà, vịt đi cúng tảo mộ, làm bánh trôi Tết mồng năm tháng năm mổ vịt, làm cơm ngũ sắc Tết rằm tháng bảy (thíp thí) tết này ăn to hơn mổ lợn, dê ăn tết và làm bánh chuối Tết nguyên đán mổ lợn làm mắn, làm nem mọc, làm bánh đẳng

- Mặc: Con trai quần dài, áo không cổ bằng vải mộc nhuộm chàm Con gái mặc váy, áo ngắn vải mộc nhuộm chàm Lễ hội con trai mặc áo chàm dài đội mũ nồi, con gái áo chàm dài thắt dây dao hoa văn, đội khăn

- Tín ngưỡng: Cúng mụ, cúng hạn, cúng lên nhà mới, gọi hồn (loọng khoăn) làm bụt, cúng tổ tiên các ngày tết, cúng ba ngày sau đẻ (thoát ví)

- Lễ hội: Ném còn, hội lồng tồng

- Văn nghệ dân gian: Hát lượn, hát then, khắp (hặt yếu), cọi, hát phong thư (hặt vỉ)

- Tri thức dân gian và các phong tục tập quán

+ Làm ma thường làm 2 đêm 3 ngày, một đêm làm chay, một đêm làm

ma Tục làm ma khô người Tày quan niệm khi người chết làm ma hồn chưa đi hết làm cho con cháu ốm đau và mơ thấy người chết về nhà, người chết sai những con vật như rắn, rùa và nhà vô cớ

+ Cưới xin: Được tổ chức và chia làm bốn lần: Lần một là hỏi dò, lần hai thì đặt lễ (lệ thí cáy), đến lần ba ăn mời họ, lần thứ tư mới chính thức tổ chức đám cưới

Trang 38

+ Vào nhà mới: Làm lễ lấy lửa lên bếp giữa nhà, sau đó cúng mời tổ tiên

về nhà mới

+ Chữa bệnh: Sử dụng thuốc nam, làm phép, làm bùa ngải…

- Dòng họ: Có trưởng cho từng họ, phân biệt ngôi thứ dựa vào thứ bậc

trong dòng họ, không có tập quán ai đẻ trước là anh như một số dân tộc thiểu

số khác

- Gia đình: Nhiều thế hệ sống trong một gia đình, vài trò của người già là

rất quan trọng Con dâu không được ngồi chung mâm với bố chồng

1.2.3.3 Một số nét văn hóa của người Tày liên quan đến sức khỏe

Theo Đàm Khải Hoàn và CS, cùng một số nhà dân tộc học: Người Tày ở MNPB có một số phong tục tập quán sau đây, có ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe mà người cán bộ y tế cần biết để vận động, thuyết phục giáo dục người dân dần dần thay đổi để chăm sóc sức khỏe, đó là:

- Nhà ở: Người Tày Nùng ở nhà sàn, hai tập quán cần quan tâm đó là việc nuôi và nhốt gia súc ở dưới gầm nhà sàn nên rất mất vệ sinh và việc đun bếp trong nhà sàn, tất cả đều gây ô nhiễm không khí, ảnh hưởng tới đường hô hấp Ngoài ra, nhà sàn người Tày Nùng thường có mái thấp, nhà rộng, ít cửa sổ nên trong nhà thường thiếu ánh sáng, tất cả đều gây bất lợi cho sức khỏe

- Vệ sinh: Nuôi gia súc thả rông, phóng uế bừa bãi, làng bản chật chội, đường xá nhiều phân gia súc trong khi nguồn nước ăn nhiều nơi dùng nước suối không vệ sinh ảnh hưởng tới việc phát triển bệnh đường tiêu hóa

- Cúng bái chữa bệnh: Người Nùng khi có người ốm thường đến nhà thày bói để đoán ma, sau đó mời thày cúng về cúng ma giải hạn Điều này là không tốt, người Tày tập quán này ít hơn Khi có người chết người Tày, Nùng thường để người chết lâu trong nhà, có nơi đến 5-7 ngày rất mất vệ sinh

- Sinh đẻ và nuôi con: Tập quán đẻ nhiều vẫn còn tồn tại ở các bản Tày,Nùng vùng cao, vùng sâu Tập quán nuôi con của người Tày, Nùng thường

Trang 39

không đúng với chương trình nuôi con bằng sữa mẹ: Đẻ ra chưa cho bú ngay,

mà bú muộn, ăn sam sớm và cai sữa sớm [39], [59], [62]

1.3 Đặc điểm chung của huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái

Là huyện miền núi, nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Yên Bái, phía Bắc giáp với huyện Bắc quang (Hà Giang), phía Tây giáp huyện Văn Yên (Yên Bái), phía Nam giáp hồ Thác Bà huyện Yên Bình, phía Đông giáp huyện Hàm Yên (Tuyên Quang) Huyện lỵ là thị trấn Yên Thế, cách thành phố Yên Bái 93 km, cách Hà Nội 270 km Huyện còn 30% số xã giao thông đi lại khó khăn Tỷ lệ

mù chữ còn 14%

Huyện gồm 24 xã, thị trấn, trong đó có 10 xã và 2 thôn thuộc vùng III Huyện có diện tích tự nhiên là 80.870 ha

Tổng dân số toàn huyện là 105.104 người Mật độ dân số bình quân là

130 người/km² Lục Yên có 16 dân tộc anh em trong đó dân tộc Tày chiếm 53,3%, Kinh 21,2%, Dao 14,5%, Nùng 10,4%, còn lại là các dân tộc khác

Cơ cấu kinh tế của huyện là phát triển nông, lâm, ngư nghiệp, dịch vụ công nghiệp, lao động nông nghiệp chiếm tới 90% [55]

Mạng lưới chăm sóc sức khỏe gồm: 1 bệnh viện đa khoa 100 giường bệnh, 2 phòng khám đa khoa khu vực; 1 Trung tâm Y tế, 24 Trạm Y tế; 1 Trung tâm dân số KHHGĐ; 298 nhân viên Y tế thôn bản – Dân số

V¨n

yªn

Lµo

cai

Trang 40

NGƯỜI TÀY LỤC YÊN

BẢN ĐỒ HUYỆN LỤC YÊN – T.YÊN BÁI

Xã Mường Lai

Xã Lâm Thượng

Ngày đăng: 19/03/2021, 22:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w