Năm 1942, trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh, Hoài Chân khẳng định tôn giáo ở đây là Thiên Chúa giáo là nguồn cảm hứng mạnh mẽ trong thơ Hàn Mặc Tử: “Với Hàn Mặc Tử, Chúa gần lắm, ngườ
Trang 1NGUYỄN THỊ KIM HỒNG
ĐỨC TIN TRONG THƠ CÔNG GIÁO VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
(QUA NĂM TẬP CÓ MỘT VƯỜN THƠ ĐẠO)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.01.21
NGHỆ AN - 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới TS Biện Thị Quỳnh Nga – người đã tận tình hướng dẫn, động viên, tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Đồng thời, tôi cũng gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các thầy, cô trong Khoa Sư phạm Ngữ văn của Trường đại học Vinh đã cho tôi nhiều kiến thức quý báu trong quá trình học tập cũng như quá trình thực hiện đề tài Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến phòng đào tạo Sau đại học của Trường đại học Vinh và Trường đại học Sài Gòn đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học Cao học
Tôi cũng vô cùng cảm ơn sự quan tâm và động viên của gia đình, bạn bè
Đó chính là động lực tinh thần rất lớn để tôi hoàn thành luận văn này
Sau cùng, luận văn này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của quý thầy cô và độc giả để luận văn có thể hoàn thiện hơn
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Nghệ An, ngày tháng năm 2017
Người thực hiện
Nguyễn Thị Kim Hồng
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát 10
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10
5 Phương pháp nghiên cứu 11
6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn 11
Chương 1: NHÌN CHUNG VỀ THƠ CÔNG GIÁO VÀ VẤN ĐỀ ĐỨC TIN TRONG THƠ CÔNG GIÁO VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 13
1.1 Nhìn chung về thơ Công giáo Việt Nam hiện đại 13
1.1.1 Tôn giáo và thơ tôn giáo Việt Nam 13
1.1.2 Vị trí của thơ Công giáo trong thơ Việt Nam hiện đại 20
1.2 Vấn đề Đức tin trong thơ Công giáo 31
1.2.1 Đức tin và Đức tin trong thơ tôn giáo 31
1.2.2 Nhìn chung về Đức tin trong thơ Công giáo Việt Nam hiện đại 35
Chương 2: ĐỨC TIN TRONG THƠ CÔNG GIÁO VIỆT NAM HIỆN ĐẠI NHÌN TỪ NỘI DUNG CẢM HỨNG (QUA 5 TẬP CÓ MỘT VƯỜN
THƠ ĐẠO) 39
2.1 Cảm hứng về Đức tin - nguồn mạch xuyên suốt các chặng đường thơ Công giáo (qua 5 tập Có một vườn thơ đạo) 39
2.1.1 Từ Đức tin trong thơ Hàn Mặc Tử và thơ của các nhà thơ Công giáo trước 1945 39
2.1.2 … đến Đức tin trong thơ các nhà thơ Công giáo sau 1945 50
2.2 Những nội dung cơ bản của cảm hứng về Đức tin trong thơ Công giáo Việt Nam hiện đại 57
Trang 42.1.1 Hành trình khắc khoải tìm đến Đức tin của các nhà thơ Công giáo 57
2.1.2 Cảm xúc về Đức tin và mối quan hệ giữa đạo với đời 68
2.1.3 Cảm xúc về Đức tin với yêu cầu sáng tạo thi ca 75
Chương 3: ĐỨC TIN TRONG THƠ CÔNG GIÁO VIỆT NAM HIỆN ĐẠI NHÌN TỪ PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN (QUA 5 TẬP CÓ MỘT VƯỜN
THƠ ĐẠO) 81
3.1 Sự lựa chọn các thể thơ 81
3.1.1 Cách tân các thể thơ truyền thống 81
3.1.2 Sử dụng phong phú các thể thơ hiện đại 86
3.2 Tô đậm tính thiêng liêng, cao cả của các biểu tượng 94
3.2.1 Miêu tả sống động các biểu tượng “máu”, “hồn” và “ánh sáng” trong hành trình khắc khoải tìm đến Đức tin 94
3.2.2 Khắc họa đậm nét không gian linh thiêng của nước Chúa qua biểu tượng “cõi Thiên đường” 106
3.2.3 Nhấn mạnh tính thánh hiển của biểu tượng “Chúa” và “Thánh giá” 110
3.3 Sử dụng giọng điệu và ngôn ngữ đậm màu tôn giáo trong thể hiện Đức tin 116 3.3.1 Giọng điệu suy tư, chiêm nghiệm và ngợi ca thành kính 116
3.3.2 Ngôn ngữ thơ đậm tính triết lí và màu sắc siêu thực 122
KẾT LUẬN 129
TÀI LIỆU THAM KHẢO 133
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Thơ Công giáo là một thực thể hiện hữu trong nền thơ ca dân tộc Tuy
nhiên, bộ phận thơ văn này còn ít được quan tâm, nghiên cứu Đi sâu tìm hiểu thơ công giáo từ phương diện Đức tin, chúng tôi mong muốn góp thêm một cách nhìn, một cách đánh giá về vị trí và đặc trưng của bộ phận thơ này trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại
1.2 Đức tin của các nhà thơ đạo là vấn đề xuyên suốt hành trình thơ Công
giáo Đức tin trở thành nguồn cảm hứng cơ bản, chủ đạo của dòng thơ này Đối với các nhà thơ Công giáo, thơ ca là phương tiện giãi bày những cảm nghiệm đức tin của cái tôi cá thể muốn vươn tới sự cao cả, vĩnh hằng, huyền bí Nghiên cứu vấn đề đức tin chính là một cách đi tìm sự lung linh giữa khả giải và bất khả giải của niềm tin mãnh liệt vào tôn giáo ở thế giới vô thức được hiện diện trong thơ
1.3 Đức tin Thiên Chúa giáo, cũng như niềm tin của tôn giáo nói chung, đều
chứa đựng giá trị đạo đức nhân bản với ý hướng xây dựng nhân cách thánh toàn, khát vọng hướng thiện và hạnh phúc trong cõi thế tục Đức tin là biểu hiện của một cảm quan, một cách nhìn nghệ thuật về thực tại Trong ý thức của nhà thơ, đức tin trở thành cơ sở để họ cắt nghĩa và cảm nhận đời sống theo nhãn quan tôn giáo Cảm nghiệm đức tin của mỗi cái tôi trong thơ biểu đạt một quan niệm riêng
về con người và thế giới, nó chi phối cách xây dựng thế giới nghệ thuật Tìm hiểu vấn đề đức tin, vì thế, giúp chúng ta hiểu được cách tiếp cận đời sống từ chiều sâu tâm linh, từ đó, nắm bắt được thế giới nghệ thuật cùng những phương thức biểu đạt độc đáo của thơ Công giáo Việt Nam hiện đại
Trang 6đã có đề cập đến vấn đề tôn giáo Trong công trình Hoài Thanh - bình thơ và nói chuyện thơ, Từ Sơn đã giới thiệu và tuyển chọn những bài viết của Hoài Thanh từ
năm 1941 về các tác giả Thơ mới, trong đó có phần viết về tác giả Hàn Mặc Tử
Đề cập đến vấn đề tôn giáo trong thơ Hàn Mặc Tử, Hoài Thanh cho rằng: “Với Hàn Mặc Tử, thơ có một sự quan hệ phi thường, thơ chẳng những để ca tụng thượng đế mà cũng để nối người ta với thượng đế, để ban ơn phước cho cả thiên hạ Hàn Mặc Tử đã dựng riêng cho một ngôi đền để thờ Chúa” [52; tr.330] Năm
1942, trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh, Hoài Chân khẳng định tôn giáo (ở
đây là Thiên Chúa giáo) là nguồn cảm hứng mạnh mẽ trong thơ Hàn Mặc Tử:
“Với Hàn Mặc Tử, Chúa gần lắm, người đã tìm lại những rung cảm mạnh mẽ của các tín đồ thời thượng cổ Huống chi thơ Hàn Mặc Tử ra đời, điều ấy chứng minh rằng đạo Thiên Chúa ở xứ này đã tạo ra một cái không khí có thể kết tinh lại
thành thơ ” [68; tr.208]
Trang 7Theo Nguyễn Toàn Thắng trong cuốn Hàn Mặc Tử và nhóm thơ Bình định
thì từ năm 1942, Vũ Ngọc Phan đã nhận diện vai trò tiên phong của Hàn Mặc Tử đối với dòng thơ Công giáo: “thơ tôn giáo đã ra đời với Hàn Mặc Tử” và đưa ra
dự báo: “Từ Hàn Mặc Tử sẽ còn xuất hiện nhiều thi sĩ Việt Nam sẽ tìm nguồn hứng trong đạo giáo” [72, tr.15] Đồng thời, Vũ Ngọc Phan còn đã chỉ ra bước phát triển của thơ Công giáo và khẳng định sự xâm nhập của thi ca vào con đường triết học từ cảm hứng tôn giáo Trong công trình này, chúng ta thấy rõ dấu ấn tư tưởng của Kitô giáo được nhà phê bình lấy làm căn cứ để giải mã một số hiện tượng văn học, mà tiêu biểu là thơ Hàn Mặc Tử
Thời kỳ trước năm 1945, hầu hết các bài viết, công trình nghiên cứu về thơ Công giáo mới chỉ dừng lại ở những cảm nhận, thẩm định tổng quát, hoặc chỉ mới chú trọng tìm hiểu một vài tác giả có đóng góp nổi bật như Hàn Mặc Tử Tuy nhiên, căn cứ vào những kết quả đạt được, có thể thấy, công việc của lí luận, nghiên cứu phê bình trước năm 1945 cũng đã có ý nghĩa khai phá, mở đường rất quan trọng
Từ sau năm 1945 đến nay, tình hình nghiên cứu về thơ Công giáo Việt Nam hiện đại khả quan hơn Đã xuất hiện nhiều bài viết, công trình khoa học quan tâm, tìm hiểu thơ Công giáo từ nhiều góc độ và có những khám phá mới mẻ Có thể kể đến những công trình nghiên cứu sau:
Năm 1965, Võ Long Tê công bố công trình Lịch sử văn học Công giáo Việt Nam Cuốn sách được đánh giá là “tác phẩm duy nhất trong văn học đô thị miền
Nam viết về lịch sử văn học Công giáo còn lại cho đến nay” [2] Võ Long Tê cho rằng: “Riêng trong phạm vi văn học, đạo Công giáo đã đem lại những nguồn cảm hứng mới Những công trình sáng tác biên khảo Công giáo đã làm cho văn học Công giáo phát sinh và trưởng thành theo một đường hướng riêng biệt nhưng không phải là không có mối liên hệ hỗ tương với các thành phần khác của nền văn học Việt Nam” [2]
Trang 8Tiếp đến là các công trình của tác giả Lê Đình Bảng: Ở thượng nguồn thi ca Công giáo Việt Nam và Văn học Công giáo Việt Nam - những chặng đường Trong Ở thượng nguồn thi ca Công giáo Việt Nam, Lê Đình Bảng đã giới thiệu
các tác phẩm tiêu biểu của các thế hệ nhà thơ Công giáo Việt ngữ; ghi nhận, tưởng niệm và tri ân những cống hiến đã mở nẻo khơi nguồn cho sự nghiệp
truyền giáo và sống Tin Mừng bằng nghệ thuật thi ca Việt Nam Đến Văn học Công giáo Việt Nam - những chặng đường, tác giả tỏ ra công phu hơn khi lược sử
các chặng đường vận động, phát triển của văn học Công giáo Việt Nam (trong đó
có thơ ca) với lịch sử gần 400 năm (1634 - 2009) Tác giả phân kì lịch sử văn học theo tiêu chí thời gian: thế kỉ XVI - XVII, thế kỉ XVIII - XXI, thế kỉ XX với các tác giả và tác phẩm tiêu biểu như Alexan dre Rhods, Gioan Thanh Minh, Raphael Đắc Lộ, Thầy cả Lữ Y Đoan, Phạm Văn Minh, Trần Lục, Nguyễn Trường Tộ, Huỳnh Tịnh Của, Trương Vĩnh Ký, Hồ Zếnh, Hàn Mặc Tử, Bàng Bá Lân… Các chương I, II, III đã đề cập tới hầu hết các vấn đề của lịch sử văn học, ngoài tác giả, tác phẩm, nội dung phản ánh… còn là vấn đề thể loại (văn học dân gian - văn học viết; thơ - văn xuôi - kịch bản văn học), văn tự (Hán, Nôm, quốc ngữ), chương V: Gặp gỡ những dòng sông (tác giả, tác phẩm), chương VI: Một chút tâm tình cỏ hoa (về mối quan hệ văn học và văn hóa, phương Tây và Việt Nam…), chương phụ lục: Gửi giới văn nghệ sĩ (Ở đây tác giả đề cập tới các vấn đề: thực trạng văn hóa trong thế giới ngày nay, nguyên tắc hướng dẫn phát triển văn hóa, bổn phận của Kitô hữu với văn hóa…)
Ngoài ra, còn phải kể đến chuyên đề nghiên cứu Nền văn học Công giáo Việt Nam của linh mục GioaKim Nguyễn Hoàng Sơn Tác giả đã dựa vào những tham
luận của các nhà nghiên cứu trong kỳ “Hội Thảo Khoa Học, Bình Định Với Chữ Quốc Ngữ” ngày 12-13/01/2016 tại thành phố Quy Nhơn để khái quát về lịch sử văn học Công giáo, trong đó có đề cập đến thơ ca Công giáo Việt ngữ
Một số bài viết nổi bật như Khuynh hướng phê bình chịu ảnh hưởng tôn giáo
ở đô thị miền Nam 1954 - 1975 của Trần Hoài Anh cũng ít nhiều đề cập đến vấn
Trang 9đề phê bình thơ Công giáo Dưới dạng là các khóa luận tốt nghiệp Đại học, luận văn Thạc sĩ, cũng có nhiều tác giả quan tâm đến sử ảnh hưởng của Đạo Thiên
Chúa đối với thơ Việt hiện đại: Cảm hứng tôn giáo trong Thơ mới 1932 – 1945 của Nguyễn Thị Phương Thúy, Cảm hứng tôn giáo trong thơ Mai Văn Phấn của
Mai Thị Thảo, v.v
Riêng trường hợp Hàn Mặc Tử, từ sau 1945, có rất nhiều công trình bài viết nghiên cứu về sự ảnh hưởng của Thiên Chúa giáo trong thơ ông từ nhiều góc độ: nội dung tư tưởng, thi pháp, cảm hứng, Đức tin, v.v Và phần lớn các nhà nghiên cứu đều thống nhất khẳng định vai trò, vị trí quan trọng của Hàn Mặc Tử đối với dòng thơ Công giáo Việt Nam hiện đại
Như vậy, từ sau năm 1945 đến nay, vấn đề nghiên cứu thơ Công giáo Việt Nam hiện đại đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, thậm chí có những khảo lược công phu, tâm huyết Theo đó, vấn đề thơ Công giáo đã được soi chiếu từ nhiều góc nhìn khác nhau: lịch sử vận động và phát triển, mối quan hệ giữa thơ ca
và tôn giáo, các tác giả tác phẩm tiêu biểu, đóng góp và thành tựu của thơ ca Công giáo, v.v Tuy nhiên, phần lớn người nghiên cứu là các linh mục hoặc những người theo đạo Công giáo có tâm huyết với thơ ca, văn học Phạm vi
nghiên cứu cũng như sức ảnh hưởng của thơ ca Công giáo chưa thực sự rộng rãi
2.2 Lịch sử tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề Đức tin trong thơ Công giáo Việt Nam hiện đại
Riêng về vấn đề Đức tin trong thơ Công giáo cũng đã được đề cập trong ít
nhiều bài viết Võ Long Tê khi nghiên cứu về Lịch sử văn học Công giáo Việt Nam đã khẳng định có một dòng văn học riêng của Công giáo và cũng vì thế có
đội ngũ tác giả Công giáo, thi sĩ Công giáo sáng tác thơ ca nhằm giãi bày Đức tin
cá nhân Trong công trình Văn học Công giáo Việt Nam - những chặng đường,
khi bàn về mối quan hệ giữa văn hóa, văn học và tôn giáo, tác giả Lê Đình Bảng
có dẫn luận về đức tin trong thơ Trong bài viết Khuynh hướng phê bình chịu ảnh hưởng tôn giáo ở đô thị miền Nam 1954 - 1975 của Trần Hoài Anh, khi nói về
Trang 10vấn đề phê bình thơ Công giáo, tác giả cũng điểm qua vài nét về vấn đề đức tin
Luận văn Thạc sĩ Cảm hứng tôn giáo trong Thơ mới 1932 – 1945 của Nguyễn Thị
Phương Thúy bàn nhiều về Đức tin và cõi Thiên đường trong thơ các nhà Thơ
mới; còn Mai Thị Thảo trong Cảm hứng tôn giáo trong thơ Mai Văn Phấn cũng
nhắc đến vấn đề đức tin và có nghiên cứu hệ thống biểu tượng, phương thức biểu hiện đức tin và các cảm nghiệm, triết lí tôn giáo khác trong thơ Mai Văn Phấn, v.v
Phần lớn các bài viết, công trình nghiên cứu đều đặc biệt tỏ ra hứng thú với trường hợp Hàn Mặc Tử Trước năm 1945, nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan đã
khẳng định: Hàn Mặc Tử “là người Việt Nam ca ngợi thánh nữ đồng trinh Maria
và Chúa Jésu bằng thơ trước nhất, cũng như ca tụng đạo Gia tô bằng một giọng rất chân thành hiếm có, chẳng khác nào một thi sĩ Âu tây” [69, tr.15]
Năm 1966, nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ đã cho ra đời một chuyên luận công
phu có tựa đề Phong trào Thơ mới 1932 - 1945 đi sâu nghiên cứu, chỉ ra nhiều
phát hiện mới mẻ về Thơ mới Trong đó, tác giả dành khá nhiều sự quan tâm đến vấn đề mối quan hệ giữa thơ Hàn Mặc Tử và tôn giáo Trong đó, ông thống nhất với các ý kiến khác rằng, chính cảm hứng tôn giáo và đức tin đã mở ra thơ Hàn Mặc Tử một thế giới rất riêng Tác giả khẳng định dấu ấn đậm nét của tôn giáo trong thơ Hàn Mặc Tử Rõ ràng, với tín đồ ngoan đạo Hàn Mặc những lời Chúa dạy đã trở thành dấu ấn trong tâm thức nhà thơ để từ đó thăng hoa thành những đam mê sáng tạo Ở nhà thơ có sự hài hòa giữa hồn thơ, sự sáng tạo của một nghệ
sĩ và tâm hồn, tinh thần của một con chiên ngoan đạo
Tiếp nối khuynh hướng nghiên cứu gắn Hàn Mặc Tử với Thiên Chúa giáo là các nhà nghiên cứu Võ Long Tê, Phạm Đán Bình, Đặng Tiến và linh mục Dũng
Lạc Trần Cao Tường, Viết về Kinh nghiệm thơ và hành trình tinh thần của Hàn Mặc Tử, Võ Long Tê cho rằng: “Hàn Mặc Tử đã đi từ người tín hữu Công giáo
đến nhà thơ Công giáo sau khi trải nghiệm một quãng đường đầy đau thương và
có nhận thức do ân sủng thúc đẩy” [69; tr.22] Võ Long Tê đã dày công tìm hiểu
Trang 11ảnh hưởng Thiên Chúa giáo trong thơ Hàn Mặc Tử, ông coi Hàn Mặc Tử với tư cách là nhà thơ Công giáo, ở nhà thơ có sự hài hòa giữa tinh thần sáng tạo văn chương và tinh thần mộ đạo, Hàn Mặc Tử vừa là một nhà thơ vừa là một tín hữu Công giáo rất yêu mến đạo Bên cạnh đó, Võ Long Tê đã còn đưa ra nhiều nhận định khái quát về thơ Công giáo có ý nghĩa quan trọng, ông khẳng định riêng trong phạm vi văn học, đạo Công giáo đã đem lại những nguồn cảm hứng mới Những công trình sáng tác biên khảo Công giáo đã làm cho văn học Công giáo phát sinh và trưởng thành theo một đường hướng riêng biệt nhưng vẫn có mối liên
hệ mật thiết với các thành phần khác của nền văn học Việt Nam
Linh mục Dũng Lạc Trần Cao Tường viết bài Thấy được những huyền bí bên kia cõi chết qua hiện tượng Hàn Mặc Tử đã có những lí giải về thế giới Khải huyền trong Kinh thánh qua thơ của Hàn Mặc Tử Thế Phong trong Lược sử Văn nghệ Việt Nam (Nhà văn tiền chiến 1930 - 1945) cũng cảm nhận thơ Hàn Mặc Tử
từ góc nhìn của Kitô giáo Thế Phong cho rằng lòng tín ngưỡng ở đạo giáo tôn nghiêm thiêng liêng đã làm cho Hàn Mặc Tử nhiều cảm xúc mới mẻ đặc biệt, và chính điều đó làm cho Hàn Mặc Tử luôn ca ngợi Thiên Chúa giáo bằng những lời
thơ chân thành Trong công trình Hàn Mặc Tử - thơ và đời, nhóm trí thức Việt đã
thực hiện việc tuyển chọn và tập hợp nhiều bài viết nói đến vấn đề tôn giáo trong
thơ Hàn Mặc Tử như: Đạo và đời trong thơ Hàn Mặc Tử của Yến Lan; Quan niệm về thơ của Hàn Mặc Tử của Mai Văn Hoan; Sự nghiệp ảnh hưởng đạo Phật trong thơ Hàn Mặc Tử của Quách Tấn; Con người trong thơ Hàn Mặc Tử của
Nguyễn Thị Hồng Nam, Tựu trung lại, các nhà nghiên cứu đều khẳng định thơ Hàn Mặc Tử là sự gặp gỡ giữa tư tưởng Thiên Chúa giáo và Phật giáo trong thơ; đồng thời thơ Hàn Mặc Tử dù bắt nguồn từ trong Thiên Chúa giáo vẫn giữ được cái bản chất Đông phương và nhờ đó đến được đỉnh của thơ tượng trưng với màu sắc riêng của dân tộc Đối với Hàn Mặc Tử, những lời Chúa dạy đã trở thành dấu
ấn trong tâm thức nhà thơ và thăng hoa thành những đam mê sáng tạo Vì vậy, khi phê bình thơ Hàn Mặc Tử, các nhà nghiên cứu đã cho rằng những rung động thẩm
Trang 12mỹ trong thơ Hàn Mặc Tử đều bắt nguồn từ tình thương bao la của thượng đế trong hành động nhập thể cứu chuộc tội lỗi của nhân loại Đó là một biến cố trọng đại và thiêng liêng, báo hiệu một tin mừng từ bao năm đợi chờ, mong mỏi, hành động nhập thế này kết tinh cảm xúc của thơ về tình yêu vô ngần của Thiên Chúa với con người, làm thơ trở thành tiếng nói mầu nhiệm của con người dâng lên cảm tạ Thượng đế
Trong công trình Hàn Mặc Tử và nhóm thơ Bình Định, nhà nghiên cứu
Nguyễn Toàn Thắng cũng phân tích khá sâu sắc về “chất đạo”, “chất đời” trong thơ của Hàn Mặc Tử và “Trường thơ Loạn”: “Nếu đọc Kinh thánh sẽ thấy ảnh hưởng của những huyền thoại về Thiên Chúa đối với Hàn Mặc Tử” [69; tr.152]
Ngoài ra, từ điểm nhìn phúc âm của Kitô giáo, Đặng Tiến trong bài Đức tin trong hồn thơ Hàn Mặc Tử đã phân tích sự hòa hợp giữa đạo và thơ, xem đây như một
cơ sở lý giải hành trình sáng tạo thơ Hàn Mặc Tử
Trong số các công trình nghiên cứu về thơ tôn giáo Hàn Mặc Tử, bài viết
Đức tin trong nguồn thơ Hàn Mặc Tử của Đặng Tiến thực sự am tường và sâu sắc
khi nhìn thấy vai trò chi phối của Đức tin Thiên Chúa đến hành động sáng tạo của nhà thơ Từ điểm nhìn Phúc Âm, Đặng Tiến đã chứng minh các tập thơ của Hàn Mặc Tử là sự tương ứng chặt chẽ với thế giới Kitô giáo: “Kiến trúc toàn bộ của thơ Hàn Mặc Tử đều vang dội lời truyền giảng của Phúc Âm” [69, tr.145] Bên
cạnh đó, tác giả Phạm Đán Bình khi công bố kết quả nghiên cứu qua bài Tan loãng trong Hàn Mặc Tử đã dựa trên cơ sở tư tưởng Thiên Chúa giáo để lý giải
hành trình sáng tạo thi ca của Hàn Mặc Tử Phạm Bán Đình cho rằng đức tin vào Chúa trời là lẽ sống của Hàn Mặc Tử, là nguồn cảm hứng để ông sáng tạo thơ ca Hàn Mặc Tử là một tín đồ ngoan đạo nên ông đã tìm được nhiều sự an ủi từ tấm gương chịu đựng đau khổ của Chúa và của thánh nữ đồng trinh Maria; càng đau khổ bao nhiêu ông càng trông cậy vào sự an ủi của Chúa và Đức Mẹ Vì thế trong thơ Hàn Mặc Tử, đức tin ảnh hưởng rõ rệt đến việc lựa chọn chủ đề, nội dung thơ
ca, v.v
Trang 13Như vậy, khi tìm hiểu thơ Hàn Mặc Tử, các nhà phê bình đều cố gắng nghiên cứu thơ ông từ điểm nhìn tư tưởng Thiên Chúa giáo Những kiến giải về hành trình sáng tạo thơ của Hàn Mặc Tử nếu chỉ căn cứ duy nhất từ điểm nhìn này có thể chưa thực sự khách quan, thậm chí có khi không tránh khỏi cực đoan,
áp đặt, nhất là về vấn đề Đức tin Tuy nhiên, việc dựa trên cơ sở tư tưởng Thiên Chúa giáo để lý giải thơ Hàn Mặc Tử, hồn thơ của một con chiên ngoan đạo, trong một chừng mực nào đó sẽ đưa lại những phát kiến mới mẻ và hợp lý Điều quan trọng hơn, từ trường hợp Hàn Mặc Tử, đã hình thành khuynh hướng nghiên cứu phê bình thơ ca, văn học chịu ảnh hưởng tư tưởng Thiên Chúa giáo, đồng thời cũng cho thấy mối quan hệ gắn bó giữa văn học và tôn giáo trong tiến trình vận động của thơ ca Công giáo
Tóm lại, từ lược sử về vấn đề nghiên cứu Đức tin trong thơ Công giáo, chúng tôi nhận thấy, vấn đề này không chỉ được giới nghiên cứu phê bình văn học quan tâm mà gần đây còn có sự tham gia tìm hiểu của các vị linh mục với mong muốn phục dựng lại hành trình sáng tạo của thi ca Công giáo Việt Nam Vấn đề Đức tin Công giáo trong thơ đã bước đầu được chú ý, nhất là từ các khía cạnh nội dung của Đức tin như: Đức tin là nguồn cảm hứng cho thơ ca, Đức tin cứu rỗi tinh thần con người, v.v Trong những công trình nghiên cứu về cuộc đời, văn nghiệp
và phong cách của một số nhà thơ Công giáo cũng có điểm lược về Đức tin cá nhân của các nhà thơ, đặc biệt là trường hợp Hàn Mặc Tử Đây sẽ là những gợi ý quý báu giúp chúng tôi triển khai và nghiên cứu đề tài này
Tuy nhiên, nhìn chung, cho đến nay, vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu riêng về phạm trù Đức tin trong thơ Công giáo Việt Nam một cách toàn diện và
hệ thống Việc tìm hiểu Đức tin trong thơ Công giáo Việt Nam mới chỉ được các nhà nghiên cứu xem xét chủ yếu ở góc độ nội dung mà chưa chú ý nhiều đến các phương thức nghệ thuật thể hiện Hiện nay, thơ Công giáo Việt Nam đang vận động và phát triển theo chiều hướng tích cực Tìm tòi của các nhà thơ Công giáo Việt Nam từ thế hệ của Hàn Mặc Tử đến nay có nhiều đổi mới, nhiều thể nghiệm
Trang 14làm phong phú thêm diện mạo của thơ ca Việt Nam Thế nhưng phần lớn các nhà nghiên cứu có vẻ ưu ái nhiều hơn đối với Hàn Mặc Tử, trong khi thơ Công giáo Việt Nam còn nhiều nhà thơ khác như Hồ Dzếnh, Bàng Bá Lân, Lê Đình Bảng, Xuân Ly Băng, Bùi Chí Vinh, Lê Quốc Hán, v.v còn ít được quan tâm Những khoảng trống này sẽ là nhiệm vụ nghiên cứu trọng tâm của chúng tôi khi thực
hiện đề tài: Đức tin trong thơ Công giáo Việt Nam hiện đại
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Đức tin trong thơ Công giáo Việt Nam hiện đại
3.2 Phạm vi tư liệu khảo sát
Đề tài bao quát thơ Công giáo Việt Nam hiện đại với văn bản dùng để khảo
sát là 5 tập Có một vườn thơ đạo, trong đó, tập 1 đến tập 4, Nxb Phương Đông,
nhiều mặt của vấn đề này trong thơ Công giáo Việt Nam hiện đại
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.2.1 Đưa ra một cái nhìn bao quát về thơ Công giáo và vấn đề Đức tin trong thơ Công giáo Việt Nam hiện đại
4.2.2 Đi sâu khảo sát, phân tích, xác định những biểu hiện của nội cảm
hứng về Đức tin trong thơ Việt Nam hiện đại qua 5 tập Có một vườn thơ Đạo
4.2.3 Đi sâu khảo sát, phân tích, xác định phương thức thể hiện vấn đề
Đức tin của các tác giả trong 5 tập Có một vườn thơ Đạo
Trang 155 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau,
trong đó có các phương pháp chính: Phương pháp nghiên cứu liên ngành là
phương pháp có ý nghĩa quan trọng trong việc vận dụng kiến thức liên ngành về triết học, lịch sử, mỹ học, và nhất là tôn giáo để lí giải các vấn đề văn học Các
phương pháp của thi pháp học được luận văn đặc biệt chú trọng vì đây chính là
“chìa khóa” giải mã vấn đề đức tin trên các phương diện cơ bản: nội dung và phương thức biểu hiện
Các phương pháp khác được vận dụng trong luận văn đều giữ vai trò riêng:
Phương pháp cấu trúc – hệ thống giúp cho việc hệ thống hóa các vấn đề về nội
dung và phương phức biểu hiện Đức tin theo một cấu trúc mang tính chỉnh thể,
khoa học Phương pháp lịch sử giúp cho việc xác định hành trình vận động và
những đặc trưng khu biệt của Đức tin trong thơ ở từng thế hệ nhà thơ Công giáo
Từ đây, xác định được giá trị, ý nghĩa của vấn đề đức tin trong thơ Công giáo Việt Nam hiện đại
Ngoài ra, luận văn còn vận dụng nhiều thao tác cần thiết của khoa học nghiên cứu văn học (như: thống kê, miêu tả, phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, )
6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn
6.1 Đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên đi sâu tìm hiểu Đức tin trong thơ Công giáo Việt Nam hiện đại (qua 5 tập Có một vườn thơ Đạo) với một cái nhìn tập trung và
hệ thống
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc tìm hiểu, nghiên cứu thơ Công giáo Việt Nam hiện đại
Trang 166.2 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của
luận văn gồm ba chương:
Chương 1 Nhìn chung về thơ Công giáo và vấn đề Đức tin trong thơ Công giáo Việt Nam hiện đại
Chương 2 Đức tin trong thơ Công giáo Việt Nam hiện đại nhìn từ nội dung
cảm hứng (qua 5 tập Có một vườn thơ Đạo)
Chương 3 Đức tin của thơ Công giáo Việt Nam hiện đại nhìn từ phương
thức thể hiện (qua 5 tập Có một vườn thơ Đạo)
Trang 17Chương 1 NHÌN CHUNG VỀ THƠ CÔNG GIÁO VÀ VẤN ĐỀ ĐỨC TIN
TRONG THƠ CÔNG GIÁO VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
1.1 Nhìn chung về thơ Công giáo Việt Nam hiện đại
1.1.1 Tôn giáo và thơ tôn giáo Việt Nam
giáo khác đã lấy thuật ngữ religion dành riêng để chỉ đạo Kitô Thế kỷ XVI, với
sự ra đời của đạo Tin Lành (tách ra từ Công giáo), thuật ngữ religion dùng để chỉ
hai tôn giáo thờ cùng một vị Chúa Khi chủ nghĩa tư bản bành trướng vượt phạm
vi châu Âu, sự tiếp xúc với các tôn giáo thuộc các nền văn minh khác Kitô giáo
rộng rãi hơn, thuật ngữ religion lúc này được dùng chỉ các hình thức tôn giáo
khác nhau trên thế giới
Khái niệm tôn giáo, tùy thuộc vào quan điểm của các nhà thần học, tâm lí học, chính trị học, tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau Chủ nghĩa duy tâm đã khẳng định tôn giáo như một hiện tượng nằm ngoài hiện thực khách quan, không phụ thuộc vào hiện thực khách quan mà là “một sức mạnh kì bí thuộc “tinh thần”
tồn tại vĩnh hằng, là cái chủ yếu đem lại sinh khí cho con người” [58, tr.17] Tôn
giáo vừa có nguồn gốc từ xã hội vừa có nguồn gốc từ nhận thức và tâm lí của con người Tôn giáo ra đời từ sự bất lực của con người nguyên thủy trong cuộc đấu tranh với tự nhiên Khi công cụ lao động, phương tiện sản xuất yếu kém, không đưa lại kết quả mong muốn, người nguyên thủy đã viện đến những tưởng tượng
hư ảo, cầu ước và nuôi dưỡng niềm tin vào đó Mặt khác, trong xã hội có đối kháng giai cấp, người nô lệ, người nông nô, người vô sản mất bị tự do, bị bần
Trang 18cùng về kinh tế, áp bức về chính trị, bị tước đoạt những phương tiện và khả năng phát triển tinh thần Quần chúng không thể tìm ra lối thoát khỏi sự kìm kẹp và áp bức trong hiện thực, họ đi tìm lối thoát ở những thế giới khác, có thể trên trời hay thế giới bên kia Đây chính là nguồn gốc xã hội của tôn giáo
Tôn giáo còn được sinh ra bởi nhận thức của con người Tôn giáo chỉ có thể ra đời ở một trình độ nhận thức nhất định, gắn với sự tự ý thức của con người
về bản thân mình trong mối quan hệ với thế giới bên ngoài Khi con người tự nhận thức được sự bất lực của mình trước sức mạnh của thế giới bên ngoài thì khi
đó con người mới có nhu cầu và khả năng tưởng tượng ra cái siêu nhiên thần thánh, sáng tạo ra tôn giáo Đồng thời tôn giáo còn có nguồn gốc tâm lý Các nhà duy vật đã nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố tâm lý (tâm trạng, xúc cảm) đến sự
ra đời của tôn giáo Họ cho rằng, sự sợ hãi sinh ra thần thánh Chủ nghĩa Marx - Lenin đã giải quyết vấn đề nguồn gốc tâm lý của tôn giáo khác về nguyên tắc so với các nhà duy vật trước đó, vạch ra được nguồn gốc xã hội của sự sợ hãi Quan điểm duy vật lịch sử cho rằng, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh một cách hoang đường, hư ảo, song nó lại tác động hết sức phức tạp đến đời sống
xã hội Họ tin rằng, ngoài thế giới hiện thực còn có sự tồn tại của lực lượng siêu nhiên và ảnh hưởng đến vận mệnh của con người Từ khi xuất hiện đến nay, tôn giáo luôn luôn biến động phản ánh sự biến đổi của lịch sử Một tôn giáo có thể hưng thịnh, suy vong, thậm chí mất đi, nhưng tôn giáo luôn luôn song hành cùng với đời sống của nhân loại
Theo quan điểm của Karl Marx, tôn giáo không phải là sản phẩm của thần thánh, là cái siêu nhiên, thần bí mà là sản phẩm của xã hội Tôn giáo là hiện tượng thuộc đời sống tinh thần của xã hội chịu sự quy định của đời sống vật chất Karl Marx cho rằng không phải tôn giáo sáng tạo ra con người mà chính con người sáng tạo ra tôn giáo: “Tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự cảm giác của con người chưa tìm được bản thân mình hoặc đã lại để mất bản thân mình một lần nữa”, chính vì vậy mà “tôn giáo biến bản chất con người thành tính hiện thực ảo tưởng,
Trang 19vì bản chất con người không có tính hiện thực thật sự… Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, nó là tinh thần
của trật tự không có tinh thần Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” [14, tr
570] Như vậy, bản chất xã hội của tôn giáo đến đây đã được làm sáng rõ Friedrich Engels thì cho rằng bản chất của tôn giáo như là một hình thái ý thức xã hội, vì thế với ông tôn giáo là một sự phản ánh hư ảo về thế giới bên ngoài nhằm đền bù cho những bất lực của con người trong cuộc sống hàng ngày
Trong quá trình tìm hiểu, đánh giá dựa trên nhiều điểm nhìn khác nhau, chúng tôi cho rằng dù theo ý nghĩa hay cách hiểu nào về tôn giáo thì luôn luôn phải đề cập đến vấn đề hai thế giới: thế giới hiện hữu và thế giới phi hiện hữu, thế giới của người sống và thế giới sau khi chết, thế giới của những vật thể hữu hình
và vô hình Cả hai thế giới ấy luôn tồn tại xung quanh cuộc sống con người Trong đời sống xã hội có những hiện tượng phức tạp mà con người không thể giải thích được, con người hướng những điều không thể lí giải đó đến với niềm tin tâm linh vào thần thánh Tôn giáo là nơi thể hiện sự gắn kết giữa con người với thần linh Tôn giáo không chỉ là những sự bất lực của con người trong cuộc đấu tranh với tự nhiên và xã hội, do thiếu hiểu biết dẫn đến sợ hãi và tự đánh mất mình do đó phải dựa vào thánh thần mà còn hướng con người đến một hy vọng tuyệt đối, một cuộc đời thánh thiện, một cuộc đời mà quá khứ, hiện tại, tương lai cùng chung sống Nó gieo niềm hi vọng vào con người, dù có phần ảo tưởng để yên tâm, tin tưởng để sống và phải sống trong một thế giới trần gian có nhiều bất công và khổ ải Tóm lại, tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hư ảo, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia Niềm tin đó được biểu hiện rất đa dạng, tuỳ thuộc vào những thời kỳ lịch
sử, hoàn cảnh địa lý - văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo, được vận hành bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xã hội tôn giáo khác nhau Nhà nghiên cứu Đặng Nghiêm Vạn cho
Trang 20rằng: “Niềm tin tôn giáo không phải là niềm tin mê muội, cuồng tín thiếu suy nghĩ Người tín đồ tôn giáo trước hết là người hiểu một cách trí tuệ điều mình tin, điều mình coi là thiêng liêng niềm tin tôn giáo cũng không thể là những hiện tượng được xem là phản văn hóa, trái với tiến bộ, văn minh” [79]
Bản thân tôn giáo hết sức phức tạp Tôn giáo vừa phản ánh sự bất lực của con người nguyên thủy trước các hiện tượng tự nhiên nhưng cũng là phương tiện
để con người khả tri thế giới; tôn giáo ra đời từ tâm lí sợ hãi nhưng cũng là nơi nuôi dưỡng niềm tin tuyệt đối; vừa bí ẩn vừa hiện hữu; vừa là một hiện tượng xã hội, vừa có tính lịch sử Chính sự phức tạp này tạo nên sức hấp dẫn của tôn giáo đối với nhiều lĩnh vực, trong đó có văn chương - nghệ thuật Thế giới quan của tôn giáo là “thế giới quan lộn ngược” Ở đó, hiện thực khách quan được phản ánh thông qua hình dung chủ quan của con người và quay trở lại chi phối con người Thế giới khách quan trong sự phản ánh của tôn giáo được khoác lên vẻ thần bí, thiêng liêng, hư ảo Và ý thức tôn giáo vẫn luôn tin vào thế giới siêu nhiên, thần
bí, tin vào những gì không có thật, không phụ thuộc vào quy luật của thế giới vật chất khách quan Từ điểm này, có thể thấy, thế mạnh của tôn giáo là Đức tin tồn tại trong con người, và nhờ niềm tin vào thế giới siêu nhiên, huyền bí, tôn giáo còn có khả năng kích hoạt và dẫn dắt trí tưởng tượng cùng khả năng sáng tạo phong phú của con người Khi bắt gặp thơ ca, trong sự cộng hưởng với những xúc cảm thơ, xúc cảm của cái tôi trữ tình sẽ tạo nên sự sáng tạo đặc biệt Sự sáng tạo mang cảm quan tôn giáo Tìm đến tôn giáo, là một cách để nhà thơ suy tư, chiêm nghiệm về con người, giao cảm với cuộc đời, nhận ra tâm hồn mình rõ hơn, từ đó tạo nên những phương thức tổ chức thế giới nghệ thuật mới lạ trong thơ ca Có thể nói những ảnh hưởng trong đời sống văn hóa không có ảnh hưởng nào mạnh
mẽ hơn, sâu sắc hơn tôn giáo Cũng không có sự quyến rũ nào lớn hơn tôn giáo một khi nó đã ăn sâu vào đời sống tâm linh của con người Bởi thế, tôn giáo đi vào thơ ca cũng là một lẽ tự nhiên
Trang 211.1.1.2 Khái lƣợc về thơ tôn giáo Việt Nam
Từ khi mới du nhập vào Việt Nam, một đất nước vốn trọng tình và có tín ngưỡng từ sớm, tôn giáo dễ bắt nhịp và có những ảnh hưởng nhất định trong đời sống của con người, nhất là đời sống tinh thần, tư tưởng Vì vậy, tôn giáo đã đi vào thơ ca, cũng như vào văn học nghệ thuật nói chung, khá tự nhiên, phổ biến
Đó là nguồn cảm hứng bất tận để các văn nghệ sĩ hướng tới Tôn giáo đến với văn học Việt Nam đã trải qua sự thanh lọc cho phù hợp với những tín ngưỡng dân tộc tạo nên một sắc thái riêng, khác biệt với thứ tôn giáo chính thống lúc ban đầu Mặt khác, tôn giáo ảnh hưởng lên tâm hồn nhạy cảm của các nghệ sĩ cũng không thuần nhất Vì vậy, sự cộng hưởng trong thơ văn học được tạo nên từ sự giao thoa của nhiều hình thức tôn giáo khác nhau, văn học không phải chỉ thể hiện một loại tôn giáo nhất định mà mỗi tôn giáo được thể hiện trong mỗi thời kì văn học đậm nhạt khác nhau
Nhìn chung văn học Việt Nam, nhất là thơ ca, chịu ảnh hưởng nổi bật từ một số tôn giáo lớn: Phật giáo, Đạo giáo và Thiên Chúa giáo Trong đó, Phật giáo
là tôn giáo có ảnh hưởng mạnh mẽ, sâu rộng và lâu bền nhất Văn học dân gian đã thể hiện rất rõ sự ảnh hưởng này Mang tinh thần “cứu nhân độ thế”, Phật giáo là tôn giáo về con người và vì con người, hướng tới những kiếp người đau khổ Bên cạnh các thể văn xuôi dân gian như vốn có ưu thế tự sự trong việc chuyển tải các nội dung, tinh thần ảnh hưởng của Phật giáo (như thần thoại, truyền thuyết, truyện
cổ tích…) thì các thể văn vần như ca dao, tục ngữ cũng thể hiện khá rõ nét tư tưởng triết lí nhà Phật Từ giáo lý nhân quả - nghiệp báo, khuyên răn con người:
“ở hiền gặp lành”, “ác giả ác báo”; khuyên con người sống với đức từ - bi - hỷ -
xả Nhìn chung, luân lý Phật giáo trong tục ngữ dễ hiểu, dễ cảm nhận, dạy con người biết sống đời sống tốt lành, lương thiện, “gần mực thì đen gần đèn thì rạng”,
“thương người như thể thương thân” Tinh thần Phật giáo trong tục ngữ là tổng
hợp kết tinh của những triết lý dân gian có ý nghĩa nhân sinh cao đẹp thấm đượm tình người Nguyên lý cao đẹp của Phật giáo trong tục ngữ nhằm thể hiện khát
Trang 22vọng của con người bình dân trong cuộc sống Như vậy, trong quan hệ ảnh hưởng với tinh thần Phật giáo ta thấy ít nhiều văn học dân gian đã phản ánh một thái độ sống, có một sức tác động mãnh liệt trong đời sống tín ngưỡng, tạo nên một sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa bản sắc dân tộc và tinh thần Phật giáo
Thời kì trung đại, hiện tượng “tam giáo đồng nguyên” (Nho - Phật - Đạo) trong văn hóa, văn học đã khiến cho thơ ca thời kì này thấm đẫm tinh thần tôn giáo Thời kì đầu, Phật giáo là tôn giáo có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất Lịch sử văn học trung đại Việt Nam phải kể đến những vẻ đẹp kết tinh từ Phật giáo với văn chương Biết bao kiệt tác của cha ông chuyên chở tinh thần nhân văn của đạo Phật, phản ánh niềm tin, khát vọng cao cả của con người Trong thời kì văn học trung đại, thơ ca Lý - Trần luôn được nhắc đến như một sự thăng hoa của tinh thần Phật giáo Với mạch nguồn cảm hứng từ giáo lý Thiền tông vô cùng đa dạng
và phong phú, thơ Thiền đã thể hiện rõ vai trò của loại hình thơ chức năng: giải tỏa sự bừng ngộ và tạo ra sự trợ lực nhằm giác ngộ của thi nhân Đến giai đoạn
sau, từ Truyện Kiều của Nguyễn Du, đến Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia
Thiều… đều thấm đẫm tinh thần, giáo lý Phật giáo Giai đoạn tiếp theo khoảng thế kỉ XV đến thế kỉ XIX, văn học trung đại Việt Nam chịu ảnh hưởng mạnh mẽ tinh thần Nho giáo Tất nhiên, Nho giáo không phải là một tôn giáo Nho giáo ảnh hưởng tới văn học Việt Nam với tư cách là một học thuyết chính trị, tức là các quan điểm về thế giới, xã hội, con người, lý tưởng… Trong bối cảnh “tam giáo đồng nguyên”, cùng với Phật giáo và Đạo giáo, sự ảnh hưởng của Nho giáo trong thơ ca, văn học đưa lại một màu sắc riêng, độc đáo Cùng với Phật giáo, Đạo Lão cũng ảnh hưởng nhiều đến đời sống văn hóa tinh thần người Việt Nam Đạo giáo (hay đạo Lão) tồn tại với tư cách là một tôn giáo và là một hệ thống triết học nên có sự bổ sung, làm đầy nhau Tư tưởng tập trung và nổi bật của đạo giáo là thuyết vô vi Lão Tử cho rằng người ta phải giữ lòng bao giờ cũng phải thanh tĩnh, cái gì cũng để theo lẽ tự nhiên Bỏ hết lòng ham muốn mới biết chỗ huyền diệu của đạo: “Thường vô dục dĩ quan kỳ diệu” Các Nho sỹ xưa tìm thấy ở đạo Lão
Trang 23lối thoát tinh thần khi thất thế hoặc chán ngán với cuộc đời Đạo Lão còn là cơ sở
tư tưởng cho những suy nghĩ lãng mạn, những ước mơ bay bổng, những sáng tạo trong văn hóa nghệ thuật Văn học Việt Nam không ít các nhà thơ ảnh hưởng tư tưởng Lão – Trang như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Công Trứ, Tản Đà…
Thời kỳ văn học Việt Nam hiện đại, khi xã hội ngày càng phát triển, sự giao lưu, tiếp nhận ngày càng phong phú thì những luồng gió mới từ phương Tây
đã mang đến cho nền văn hóa Việt Nam thêm nhiều điều mới mẻ Tôn giáo trong văn học Việt Nam không còn là sự độc tôn của một dòng tôn giáo nào mà bắt đầu
có sự hỗn giao của nhiều loại hình tôn giáo trong sáng tác của các nhà văn, nhà thơ Bên cạnh đạo Phật giáo và Đạo giáo, nền văn hóa, văn học dân tộc bắt đầu tiếp thu tư tưởng Thiên Chúa giáo Khoảng thế kỷ XVII, đến đầu thế kỷ XX, ánh sáng của Thiên Chúa giáo đến từ phương Tây du nhập vào nước ta và nhanh chóng chiếm lĩnh đời sống tâm linh sâu kín, trở thành chỗ dựa tinh thần to lớn để xoa dịu những nỗi đau cho con người So với Phật giáo và Đạo giáo, dấu ấn Thiên Chúa giáo trong văn học Việt Nam khá muộn và mở đầu là những tác phẩm văn
xuôi Có tiếng vang nhất là tác phẩm Truyện Thầy Lazarô Phiền của Nguyễn
Trọng Quản, xuất bản năm 1887 Về phía thơ, có thể xem Hàn Mặc Tử là đại diện tiêu biểu cho thơ Công giáo Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan đã khẳng định: “Thơ tôn giáo đã ra đời với Hàn Mặc Tử Tôi giám chắc rồi đây còn nhiều thi sĩ Việt Nam sẽ tìm nguồn cảm hứng trong Đạo giáo và đưa thi ca vào con đường triết học, con đường rất mới, rất xa xăm mà đến nay chưa mấy nhà thơ nào dám bước tới” [52, tr.333] Nhận định mang ý nghĩa tiên tri này đã thể hiện sự linh ứng, khi càng về các giai đoạn sau các văn nghệ sĩ theo cách riêng của mình đã lấy sự ảnh hưởng của Thiên Chúa giáo như một nguồn cảm hứng vô biên để tạo nên những tác phẩm có giá trị
Trang 241.1.2 Vị trí của thơ Công giáo trong thơ Việt Nam hiện đại
1.1.2.1 Một số vấn đề về Công giáo
Chữ Công giáo trong danh từ Giáo Hội Công Giáo (Catholic Church) được
dùng đầu tiên trong thư của Thánh Ignatius thành Antioch gởi cho giáo dân Smyrnaeans (tức ở Izmir, Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay) vào khoảng năm 110 Kinh tuyên xưng Đức Tin của Đại Công Đồng (Great Council) tại Nicaea từ ngày 20.5.325 được đọc trong các Thánh Lễ hàng ngày của Giáo Hội Công Giáo cũng dùng chữ “Ecclesiam Catholicam” Kinh tuyên xưng Đức Tin này nói lên Giáo Hội có 4 đặc tính là “duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền” (Et unam sanctam catholicam et apostolicam Ecclesiam) Ngày nay, danh từ Giáo Hội Công Giáo (Ecclesia Catholica) được chính thức dùng trong các văn kiện của Công
Đồng Vatican II và được ghi ở điều 11 của Bộ Giáo Luật Chữ ecclesia trong tiếng Latin, Church (viết hoa) trong tiếng Anh hay Église (viết hoa) trong tiếng
Pháp, được các giáo sĩ Công Giáo Việt Nam dịch là Hội Thánh hay Giáo
Hội Chữ Catholica xuất phát từ tiếng Hy Lạp là Katholicos, có nghĩa là phổ quát hay chung cho mọi người (universal or concerning the whole) Lúc đầu, các nhà
truyền giáo Tây phương không biết phải dịch chữ “Sanctam Ecclesiam Catholicam” ra tiếng Việt như thế nào, nên trong các Kinh tuyên xưng Đức Tin tiếng Việt lúc đầu đã được đọc là “Tôi tin có Sancta Ighêleja catholica”, sau đó Kinh tuyên xưng Đức Tin này được dịch lại và chữ “Santam Ecclesiam Catholicam” được dịch là Tôi Tin có “Hội Thánh hằng có ở khắp thế này” Chữ
“hằng có ở khắp thế này” cũng lột tả được ý nghĩa của chữ Catholica, có nghĩa là
phổ quát, chung cho mọi người, nhưng không gọn gàng lắm, nên hàng giáo sĩ
Việt Nam quyết địnch dịch chữ Catholica là Công Giáo, và chữ này được đưa vào bản dịch Kinh tuyên xưng Đức Tin của Đại Công Đồng Nicaea Chữ công
trong từ điển có nét nghĩa là “chung cho mọi người” rất sát với chữ Katholicos
gốc Hy Lạp Các tự điển Hán Việt khác cũng giải nghĩa công là chung Các nhà
Trang 25truyền giáo và giáo sĩ Việt Nam cũng đã dựa theo đó dịch chữ Catholicism là đạo Công Giáo, Catholic là người Công Giáo
Ngày nay, nhiều người Việt gọi đạo Công Giáo là Thiên Chúa Giáo Trong tiếng Việt, cụm từ Thiên Chúa giáo hay đạo Thiên Chúa có phạm vi nghĩa khá rộng, chỉ tất cả các tôn giáo độc thần (monotheismus), khi đó cách gọi Thiên Chúa được dùng để đề cập tới thần linh tối cao và duy nhất Các tôn giáo này đều tôn thờ Thiên Chúa (God) nhưng với quan điểm, nội dung thần học khác nhau,
cách gọi về Thiên Chúa cũng khác nhau, kể cả khác biệt về phương thế thể hiện
sự tôn thờ đó (Liturgy) Ví dụ, trong số các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham có:
Kitô giáo (hay Cơ Đốc giáo): gồm các nhánh chính là Công giáo Roma, Chính thống giáo Đông phương, Tin Lành và nhánh trung dung Anh giáo đều thờ Thiên
Chúa Ba Ngôi; Do Thái giáo: thờ Thiên Chúa mang danh hiệu là Yahweh; Hồi
giáo: thờ Thiên Chúa mang danh hiệu là Allah Thực tế, ở Việt Nam, do các yếu
tố lịch sử mà cụm từ Thiên Chúa giáo thường được dùng để chỉ Công giáo Rôma, hay gọi tắt là Công giáo (tiếng Latinh: Catholicismus) Thuật ngữ này cũng được dùng để gọi chung Kitô giáo (Christianitas) Đây là tôn giáo thờ Thiên Chúa được truyền bá vào Việt Nam sớm nhất (dù rằng việc thờ Ông Trời theo tín ngưỡng dân
gian Việt Nam về phương diện nào đó có thể coi là thờ Thiên Chúa) Như vậy, từ
lí giải trên, nhằm phù hợp với thực tiễn lịch sử và thói quen của người Việt, có thể
thống nhất cách hiểu: Thiên Chúa giáo (hay Đạo Thiên Chúa) là dùng để chỉ Kitô giáo, cụ thể là nhánh Công giáo Roma, có khi gọi tắt là Công giáo
Kitô giáo xuất hiện vào thế kỷ thứ I ở các tỉnh phía đông của đế quốc La
Mã với chế độ chiếm hữu nô lệ Đế chế La Mã tiến hành nhiều cuộc chiến tranh xâm lược tàn khốc, tạo ra nhiều mâu thuẫn và xung đột gay gắt trong đời sống xã hội, làm nảy sinh những tư tưởng được giải phóng và tự do Bên cạnh đó, ở vùng Trung Cận Đông - nơi tiếp giáp ba châu lục, dân cư vốn theo đa thần giáo Quá trình thống nhất của đế chế đã xuất hiện yêu cầu thống nhất về tư tưởng, trong đó
có nhu cầu về tôn giáo độc thần Vì vậy, Kitô giáo đã ra đời trên cơ sở của Do
Trang 26Thái giáo vốn tồn tại ở vùng này Sự ra đời của Kitô giáo gắn với tên tuổi của Chúa Giê su Kitô Theo ghi chép trong Kinh thánh Tân ước, Chúa Giêsu Kitô được sinh ra vào đầu thế kỷ I sau Công Nguyên Đức mẹ Maria (một phụ nữ Do Thái có đạo đức, trong trắng; được Chúa Cha chọn để mang thai Chúa Giêsu Kitô)
đã mang thai một cách màu nhiệm bởi quyền năng Chúa Thánh thần và sinh ra Chúa Giêsu Kitô Lớn lên, Chúa Giêsu Kitô đi truyền giảng đạo khắp nơi, chữa bệnh cho mọi người, làm nhiều phép lạ Người lên án thói đạo đức giả của các vị lãnh đạo dân tộc Do thái nên bị kết tội mưu phản La Mã và bị đóng đinh chết trên thập tự giá Sau khi Đức Giêsu qua đời, Kitô giáo được hình thành Như vậy, Chúa Giê su là kết tinh tư tưởng, tinh thần của Đạo Thiên Chúa, biểu trưng cho sức sống, lẽ phải, đạo đức, niềm tin mà dân Chúa hướng tới
Sự phát triển của Kitô giáo trải qua nhiều thăng trầm lịch sử Trong thời kỳ
cổ đại, Kitô giáo xuất hiện và hoạt động trong cộng đồng người Do Thái nhưng bị những người theo Do Thái giáo đả kích và chính quyền La Mã đàn áp Sang thế
kỷ II, tầng lớp quý tộc dần theo Kitô giáo làm thay đổi vị trí và ảnh hưởng của nó Cuối thế kỷ II, Kitô giáo trở thành quốc giáo của Đế chế La Mã Trong thời trung
cổ, Kitô giáo chi phối mọi mặt đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của nhiều nước phong kiến châu Âu Quá trình mở rộng ảnh hưởng của đạo Kitô đã gây ra nhiều cuộc xung đột, mâu thuẫn gay gắt giữa Kitô giáo với Do Thái giáo
và Hồi giáo với những cuộc Thập tự chinh tàn khốc và đẫm máu Ngay trong nội
bộ Kitô giáo cũng nảy sinh mâu thuẫn gay gắt, quyết liệt dẫn đến sự phân hoá thành nhiều nhánh qua các thời kỳ Đến nay, Kitô giáo có hơn 400 dòng khác nhau trong đó có 4 nhánh lớn là Công giáo, Chính thống giáo, đạo Tin Lành và Anh giáo
Đạo Công giáo được truyền vào Việt Nam năm 1533 theo bước chân giáo
sĩ phương Tây Inikhu đến làng Ninh Cường và Quần Anh, huyện Nam Chấn và làng Trà Lũ, huyện Giao Thuỷ (tỉnh Nam Định ngày nay) Năm 1615, việc truyền giáo thực sự có kết quả Địa bàn truyền giáo ngày càng mở rộng Năm 1622, Bộ
Trang 27Truyền giáo ra đời thực hiện nhiều hoạt động truyền giáo tại Việt Nam: mở các nhà in đa ngữ, hỗ trợ tài chính, gửi các sách phụng vụ và giáo lý, mở chủng viện Urbano năm 1627 để đào tạo chủng sinh các miền truyền giáo, lập ra chức Đại diện Tông Toà cho các giám mục hoạt động tại các miền truyền giáo; Hội Thánh Công giáo hình thành Đến nay, Đạo Công giáo phát triển mạnh mẽ và có số lượng tín đồ lớn thứ hai ở Việt Nam (sau Phật giáo)
Sự du nhập và phát triển của đạo Thiên Chúa tại Việt Nam có ý nghĩa quan trọng, đặc biệt trên phương diện văn hóa Đáng kể nhất là sự hình thành chữ Quốc ngữ với vai trò tiên phong của linh mục Alexandre de Rhodes Năm 1961, ông
cho xuất bản tại Rôma Tự điển Việt - Bồ - La Tiếp sau là sách văn phạm An Nam
và cuốn song ngữ Phép giảng tám ngày Từ một phương tiện nhằm mục đích
truyền đạo, chữ Quốc ngữ ngày càng phổ biến, vượt khỏi phạm vi truyền giáo, trở thành văn tự chính thống của dân tộc, thay thế chữ Hán và chữ Nôm Hơn thế, nhờ có chữ Quốc ngữ, nền văn hóa, văn học Việt Nam được hiện đại hóa, gia nhập vào quỹ đạo hiện đại của văn hóa, văn học thế giới
Việc truyền đạo Thiên Chúa đến truyền bá những tư tưởng văn hóa phương Tây vào Việt Nam ghi dấu vai trò của người Pháp Tư tưởng tư sản theo gót chân xâm lược của thực dân Pháp tràn vào Việt Nam, dẫn đến sự phá vỡ cơ cấu xã hội phong kiến, dần chuyển sang một thuộc địa theo khuynh hướng phương Tây ở Đông Á Tư tưởng dân chủ, tư tưởng tự do cá nhân, tư tưởng về quyền con người, theo đó, nhanh chóng thâm nhập vào Việt Nam, làm thay đổi diện mạo cả một nền văn hóa và văn học Trong quá trình tác động đó, ắt hẳn có sự góp mặt của Thiên Chúa giáo Bằng chính sự tác động mạnh mẽ của tôn giáo có thể lý giải vì sao phương Tây tự do cá nhân sớm hơn rất nhiều so với phương Đông Nếu đạo Phật và tư tưởng Nho giáo, sự liên đới, quan hệ với người khác về tôn ty, trật tự, đẳng cấp là quan trọng nhất thì mọi con chiên của đạo Thiên Chúa lại bình đẳng trước Chúa, mỗi người tự chịu trách nhiệm về hành động và linh hồn mình trước Chúa Đây là một dẫn chứng khẳng định sự tác động của tôn giáo mạnh mẽ, sâu
Trang 28sắc, thấm sâu đến tư tưởng của con người, chi phối hành động, quan niệm của cộng đồng
1.1.2.2 Khái lƣợc về thơ Công giáo Việt Nam hiện đại
Thơ Công giáo là một bộ phận của văn học Công giáo nói riêng và văn học Việt Nam nói chung, bao gồm các sáng tác thơ viết về Đạo Thiên Chúa hoặc các vấn đề liên quan đến Đạo Thiên Chúa Người sáng tác thơ Công giáo có thể theo đạo hoặc ngoại đạo
Lịch sử văn học Công giáo Việt Nam gắn liền với lịch sử truyền giáo ở Việt Nam Từ khi đạo Công giáo được du nhập vào Việt Nam đã tạo nên nhiều ảnh hưởng lớn đến văn hóa tinh thần người Việt và tạo nên nhiều biến chuyển trong văn học Ý thức xây dựng nền văn học Công giáo được manh nha và trưởng thành với thời gian do nhu cầu dùng ngôn ngữ văn tự để truyền giáo và nuôi
dưỡng Đức tin Theo nhà nghiên cứu Võ Long Tê trong cuốn Lịch sử Văn học Công giáo Việt Nam (Nxb Tư Duy, Sài Gòn, 1965), văn học Công giáo tại Việt
Nam có thể chia làm ba thời kỳ lớn, mốc giới phân định là những biến cố quan trọng trong quốc sử hay giáo sử Việt Nam, tất nhiên, trong mỗi thời kỳ, có nhiều giai đoạn tiến triển và gồm nhiều khuynh hướng:
- Thời kỳ thứ nhất: từ 1533 (thế kỷ XVI) đến giữa thế kỷ XVII: phát sinh văn học Công giáo Việt Nam
- Thời kỳ thứ hai: từ giữa thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX: thời kỳ phát triển trong phạm vi cộng đồng giáo dân (nội bộ)
- Thời kỳ thứ ba: từ giữa thế kỷ XIX đến hiện đại: thời kỳ phát triển trong cộng đồng văn học Việt Nam nói chung
Đạo Công giáo du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ XVI Nhưng thật ra, trong thế kỷ XVI, công cuộc truyền giáo chưa được tổ chức quy mô và cũng như chưa
có tác phẩm văn học đáng kể Trước khi có văn học viết Công giáo thì chúng ta cũng có hình thức văn học truyền khẩu như các bài ca, ca nhạc phụng vụ bình dân Hầu hết các nền văn học trên thế giới đều bắt đầu bằng hình thái truyền khẩu Văn
Trang 29học Công giáo Việt Nam trong buổi sơ khai này, bên cạnh những tác phẩm hùng biện tôn giáo đã xuất hiện những bài ca vè, các bài ca nhạc phụng vụ mang nhạc điệu của tiếng Việt với tinh thần mơ mộng, lãng mạn của người Việt Những câu
ca dao và những điệu dân ca đó chính là những sáng tác thơ Công giáo truyền khẩu đầu tiên ở nước ta
Kể từ thế kỷ XVII trở đi, nền văn học Công giáo mới chính thức phát sinh trong khuôn khổ công cuộc truyền giáo do các cha Dòng Tên phụ trách từ năm
1615 ở Đàng Trong và từ năm 1626 ở Đàng Ngoài Do sự vận động của giáo sĩ Alexandre de Rhodes, năm 1658, Đức giáo hoàng Alexandre VII bổ nhiệm các giám mục tiên khởi ở Việt Nam Kể từ đấy, công cuộc truyền giáo bước sang một giai đoạn mới và nền văn học Công giáo Việt Nam cũng có điều kiện để phát triển mạnh mẽ hơn Sự hình thành của văn học Công giáo thành văn ở Việt Nam trước hết là những văn phẩm Công giáo Hán Nôm Thơ Công giáo thành văn cũng ra đời từ thời kì này Phong trào văn học Công giáo chữ Nôm là một nhu cầu thực tế trong lúc chữ quốc ngữ chưa được ổn định hay phổ biến rộng rãi Các văn kiện Công giáo đầu tiên đều được ghi chép bằng chữ Nôm Giáo sĩ Alexandre de
Rhodes, khi mới đến xứ Bắc đã nhờ một thầy đồ chép những Kinh tối sớm và Kinh mười điều răn Ngay đến cuốn Phép giảng tám ngày của giáo sĩ Alexandre
de Rhodes trong thời kỳ còn là sơ thảo cũng đã được ghi chép bằng chữ Nôm và chữ quốc ngữ để các thầy giảng và giáo dân tiện dụng Đặc biệt, các tác phẩm văn vần của giáo sĩ Girolamo Majorica truyền giáo ở Đàng Ngoài và các tác phẩm truyện thơ của thầy giảng Gioan Thanh Minh ở Đàng Trong là những sáng tác thơ
ca Công giáo Việt Nam đầu tiên bằng chữ Nôm Ngoài ra, còn có thể kể đến tác
phẩm dịch bằng văn vần Tạo đoan kinh của linh mục Lữ Y Đoan Tuy nhiên,
các tác phẩm này hoàn toàn phục vụ mục tiêu truyền giáo và tu đức với những đề tài rút trong giáo lý, thánh sử Đạo giáo đã chi phối nghệ thuật trong văn phẩm của các tác giả thời kì này
Trang 30Ý thức và nỗ lực mạnh mẽ xây dựng ngôn ngữ Công giáo Việt Nam, chữ quốc ngữ đã ra đời với vai trò tiên phong của giáo sĩ Alexandre de Rhodes (1593-1660) Nhà nghiên cứu Võ Long Tê cho rằng chữ quốc ngữ ngày nay được hoàn chỉnh là nhờ đã trải qua ba giai đoạn chỉnh lí Giai đoạn đầu tiên được công bố qua công trình của Alexandre de Rhodes vào năm 1651, giai đoạn thứ hai được biết đến với Pigneau de Béhaine và Hồ Văn Nghi vào năm 1772, giai đoạn thứ ba đánh dấu bởi công trình Từ điển của Taberd và Phan Văn Minh vào năm 1838 Chính trong giai đoạn cuối này, chữ quốc ngữ đã được chuẩn hóa đến mức hoàn thiện và được sử dụng thống nhất trên toàn quốc cho đến ngày nay Với ba tác
phẩm (Tự điển Việt - Bồ - La, Ngữ pháp và Phép giảng tám ngày của Alexandre
de Rhodes), chữ quốc ngữ được điển chế và thử nghiệm trong phạm vi sáng tác văn học nghệ thuật Bên cạnh giá trị thần học, các công trình của Alexandre de Rhodes đều được đánh giá về giá trị văn học Và như vậy, kể từ đây, nền văn học Công giáo hiện đại bằng chữ quốc ngữ chính thức bắt đầu và lớn mạnh Mở đầu nền văn học Công giáo Việt Nam hiện đại là những tác phẩm văn xuôi của các tác
giả theo đạo Thiên Chúa Có tiếng vang nhất là tác phẩm Truyện Thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản, xuất bản năm 1887 Về thơ, từ năm 1842 đã có
những bài thơ xướng họa của Philiphê Minh và các tác giả Công giáo về đề tài Gia Tô Cơ Đốc Lúc này, việc sáng tác thuần tuý thơ ca chưa thành phong trào rộng lớn mà chỉ mới xuất hiện trong những bản ca nhạc phụng vụ hay thi phẩm phổ thông giáo sử và giáo lý Tuy vậy, từ giữa thế kỷ XIX, việc sáng tác các tác phẩm Công giáo không chỉ lưu hành trong nội bộ những người theo đạo mà ngay
cả những người ngoại đạo cũng tham gia sáng tác
Đầu thế kỷ XX, thi ca Công Giáo “đi vào thời kỳ nở hoa” [35] Thời kì này ghi dấu các sáng tác của các linh mục Nguyễn Hữu Bài, Nguyễn Văn Thích Đặc biệt giai đoạn 1930 - 1945, đồng cảm với người đồng thời, các nhà thơ Công giáo cũng hăng say với Thơ mới, mặc dầu vẫn còn nhiều lưu luyến với thơ truyền thống Từ Phạm Đình Tân, Võ Long Tê, Xuân Ly Băng, Lê Đình Bảng đến Hồ
Trang 31Dzếnh, Hàn Mặc Tử, Bàng Bá Lân Trong số đó, Hàn Mặc Tử được đánh giá là nhà thơ xuất sắc nhất của thơ Công giáo Việt Nam hiện đại Thơ Hàn Mặc Tử đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên giá trị cho dòng thơ Công giáo Việt ngữ Các nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan, Phan Cự Đệ, Hoài Thanh đều nhận định, thơ Công giáo ra đời chính từ thơ của Hàn Mặc Tử Năm 1942, Vũ Ngọc Phan
trong công trình Nhà văn hiện đại đã khẳng định rõ ràng và chắc chắn: “Thơ tôn
giáo đã ra đời với Hàn Mặc Tử Tôi giám chắc rồi đây còn nhiều thi sĩ Việt Nam
sẽ tìm nguồn cảm hứng trong Đạo giáo và đưa thi ca vào con đường triết học, con đường rất mới, rất xa xăm mà đến nay chưa mấy nhà thơ nào dám bước tới” [52, tr.333] Và đúng như dự báo của Vũ Ngọc Phan, từ sau Hàn Mặc Tử đã xuất hiện rất nhiều thi sĩ Việt Nam đi tìm nguồn cảm hứng trong đạo Công giáo
Từ sau 1975 đến nay, chủ trương đổi mới đã thổi một luồng sinh khí mới vào đời sống văn học nghệ thuật ở nước ta Nó vượt qua mọi định kiến, đem lại những sáng tạo tinh khôi, những khám phá mới mẻ và trả lời được những câu hỏi
mà một thời chưa xa không thể hoặc không dám trả lời Báo Văn nghệ in truyện ngắn trước 1975, thừa nhận có một nền văn học vùng tạm bị chiếm, nhà xuất bản Đại Nam in 2 tập “20 năm văn học Việt Nam hải ngoại” của 158 tác giả với tiêu chí Việt kiều là một bộ phận của đất nước Việt Nam và tiếng Việt là điểm cư trú cuối cùng… Trong bối cảnh đó, các công trình nghiên cứu về văn học Công giáo
cũng “chào đời”: Văn học Công giáo Việt Nam - những chặng đường (Lê Đình Bảng), Lịch sử văn học Công giáo (Võ Long Tê), Thơ văn Công giáo cũng có những biến chuyển đáng chú ý Năm 2006, chuyên trang Đồng xanh thơ được mở
trên mạng lưới Dũng Lạc thu hút các tác giả trẻ sáng tác về thơ Công giáo Từ năm 2009, các câu lạc bộ sáng tác thơ văn Công giáo lần lượt ra đời từ Nam ra Bắc: từ Sài Gòn, Nha Trang, Qui Nhơn, Đà Nẵng, Xuân Lộc đến Hải Phòng, Bùi Chu Đội ngũ các nhà thơ Công giáo ngày càng đông đảo, trong đó có những gương mặt khá tên tuổi trong làng thơ Việt, tiêu biểu có Phi Tuyết Ba, Lê Vĩnh Tài, Lê Quốc Hán Thơ Công giáo giai đoạn này đã có những đổi thay về hình
Trang 32thức, thi pháp, mạnh dạn chạm đến nhiều vấn đề trong đời sống hiện đại, các khuất khúc tâm linh, cõi vô thức
Qua lược sử về thơ Công giáo, có thể khẳng định, có một dòng thơ Công giáo Việt ngữ hiện đại, độc đáo, riêng biệt, có vị trí nhất định trong nền thơ ca dân
tộc Và sự ra đời của tập Có một vườn thơ đạo đã phác họa khá trọn vẹn diện mạo
thơ Công giáo Việt Nam
1.1.2.3 Sự ra đời của Có một vườn thơ đạo
Năm 2009, nhà thơ Lê Đình Bảng giới thiệu 77 tác giả thơ và nhạc trong bộ
sách Ở thượng nguồn thi ca Công giáo Việt Nam, những tác giả đã sáng tác từ
nhiều vị trí khác nhau trên hành trình Đức tin, nhưng đều có chung một cảm hứng thiêng liêng đã hội tụ và khởi đầu cho một dòng chảy thơ ca tôn giáo Tiếp nối dòng chảy ấy, năm 2012, nhà thơ Trăng Thập Tự (chủ biên) và nhóm các tác giả: Cao Huy Hoàng, Lê Đình Bảng, Lê Hồng Bảo, Mạc Tường, Nguyễn Đình Diễn, Nguyễn Thanh Xuân, Thiện Chân, Trần Như Luận, Trần Vạn Giã, Vũ Thủy có
sáng kiến thực hiện một sưu tập mới mang tên Có một vườn thơ đạo, bao gồm
140 tác giả, tính từ cột mốc năm sinh Hàn Mặc Tử, 1912 Trong đó, có hơn 120 tác giả mới, hầu hết hiện đang sống, vị cao niên nhất đã 92 tuổi và người trẻ nhất
là 22 tuổi Đó là bộ sưu tập những tác phẩm thơ ca minh chứng một sự thật rằng:
dù nhẹ nhàng và đôi khi lặng lẽ, vẫn đang có một dòng thơ Công giáo Việt ngữ đang vận động và phát triển trong văn học Việt Nam
Tiền thân bộ sưu tập Có một vườn thơ đạo này là chương trình đã được khởi đầu với tập Kinh Trong Sương 4 của Nhà xuất bản Phương Đông, 2007 Từ
khi du nhập vào Việt Nam, Kitô giáo phát triển hòa vào nhịp sống chung của dân tộc, một dân tộc có tâm hồn yêu thơ ca, văn chương, nghệ thuật Các tín hữu Kitô
đã sớm có những ca dao, hò, vè, câu đố mang nội dung Đức tin và luân lý Kitô giáo Cao hơn là kinh bổn và nhiều tác phẩm văn chương bằng lục bát và các thể loại văn vần khác Đặc biệt, giai đoạn 1930 - 1945, nhiều tín hữu Kitô giáo là nhà thơ hàng đầu của Thơ mới đã dùng hình thức thơ hiện đại của phong trào thơ này
Trang 33để diễn tả lòng tin tôn giáo, tiêu biểu như Hàn Mặc Tử, Hồ Dzếnh… Từ sau 1945 đến nay, rất nhiều thế hệ nhà thơ là những tín đồ Thiên Chúa giáo tìm đến thơ ca
để giãi bày suy niệm, ưu tư trong tinh thần tôn giáo Nếu đứng lẻ thì thơ ca của
họ dường như là chuyện cá nhân, nhưng khi tập hợp lại sẽ cho chúng ta cả “một vườn thơ đạo”, một mạch sống của Dân Chúa trong thơ ca Việt Nam, một phần thế giới tâm hồn những người theo đạo Công giáo Từ tâm huyết của các nhà soạn
giả, cầm trên tay tuyển tập Có một vườn thơ đạo, có thể thấy: các soạn giả đã rất
có ý thức trong việc đi tìm và định hình diện mạo một dòng thơ Công giáo hiện đại trong lòng thơ ca dân tộc bằng việc quy tụ các tác phẩm, các nhà thơ Công giáo suốt một chặng dài, tính từ Hàn Mặc Tử đến nay Điều này thể hiện rất rõ trong ý đồ cấu trúc tập thơ Tuyển tập thơ này khá dày dặn, chia làm 5 tập:
Tập 1: Mang tên Thi sĩ của thánh giá, giới thiệu về nhà thơ Hàn Mặc Tử,
về thơ đạo của ông Nhan đề của tập này là Thi sĩ của thánh giá được lấy ý từ một câu thơ của bài Nguồn thơm, giới thiệu con người, cuộc đời và thơ đạo của Hàn
Mặc Tử, cùng với các công trình nghiên cứu, bài viết của một số tác giả tiêu biểu
về thơ đạo của ông Các tập sau được đặt tên theo những hình ảnh trong bài thơ
Ave Maria bất hủ của Hàn Mặc Tử, giới thiệu thơ đạo của những tác giả theo chân
Hàn Mặc Tử
Về nhà thơ Hàn Mặc Tử đã có hàng loạt công trình trên diễn đàn văn học trong nước và nước ngoài, trong đó có những đóng góp của giới Công giáo Những đóng góp này ban đầu có vẻ rời rạc và ít có điều kiện để được biết đến rộng rãi Thế nhưng khi những nhận định trên diễn đàn chung đi đến sự thống nhất thì những cách đánh giá và nhìn nhận của các tác giả Công giáo lại bắt đầu khởi sắc và được ghi nhận, cách riêng là với Phạm Xuân Tuyển, Trần Quý Thiện, Nguyễn Thị Tuyệt, Lê Văn Lân, Võ Long Tê, Đặng Tiến, Phạm Đán Bình, Phạm Đình Khiêm, linh mục Trần Cao Tường … Tập đầu của bộ sách, dành riêng để nghiên cứu về nhà thơ Hàn Mặc Tử giới thiệu 10 nội dung, cụ thể là:
Nội dung thứ nhất: Giới thiệu tổng quát về nhà thơ Hàn Mặc Tử
Trang 34Nội dung thứ 2: Trích tuyển tác phẩm Hàn Mặc Tử
Nội dung thứ 3: Đóng góp của giáo sư Phan Cự Đệ
Nội dung thứ 4: Trong ký ức bạn bè
Nội dung thứ 5: Lăng kính riêng của nhà thơ Quách Tấn
Nội dung thứ 6: Trong mắt các nhà phê bình văn học
Nội dung thứ 7: Trong mối đồng cảm của những người đồng đạo
Nội dung thứ 8: Đóng góp của LM Trần Cao Tường
Nội dung thứ 9: Từ góc nhìn huyền học cát minh
Nội dung thứ 10: Vườn thơ đạo nở hoa
Tập 2: Giới thiệu 45 tác giả có năm sinh từ 1912 đến hết 1940 Tập này
mang tên Như song lộc triều nguyên, mang tên theo câu đầu của bài thơ Ave Maria của Hàn Mặc Tử
Tập 3: Mang nhan đề là Ơn phước cả Tập thơ này giới thiệu 51 tác giả có
năm sinh từ 1941 đến hết 1955, trong đó có các nhà thơ tiêu biểu như Lê Đình Bảng, Trần Mộng Tú, Trần Vạn Giã, Lê Quốc Hán, Cao Huy Hoàng, Trần Thu Miên…
Tập 4: Mang tiêu đề là Thần nhạc sáng hơn trăng, giới thiệu 44 tác giả có
năm sinh từ 1956 đến thập niên 1990 Trong đó có các nhà thơ tiêu biểu như Trầm Tĩnh Nguyện, Nguyên Thông, Thiên Giang, Mic Cao Danh Viện, Quang
Uy, Thanh Phương, Maria Nguyễn Thị Xuyến…
Riêng tập 5 ra đời vào năm 2015, nhân dịp kỉ niệm 75 năm nhà thơ Hàn
Mặc Tử qua đời Tập 5 mang tiêu đề là Bay tới cõi thiên đàng, giới thiệu 46 tác
giả với 293 tác phẩm Trong đó có các nhà thơ tiêu biểu như Thế Kiên Dominic, Mai Thành, Lê Ngọc Hồ, Khải Triều, Lan Cao, Cung Chi
Rõ ràng, đây là một tuyển tập thơ khá quy mô, số lượng tác phẩm lớn (1.217 tác
phẩm), nhiều sáng tác có giá trị (Đêm xuân cầu nguyện, Ave Maria, Nguồn thơm, Điềm lạ… của Hàn Mặc Tử, Thể chất, Mẹ đẹp vô ngần của Hồ Dzếnh, Đêm giáng sinh, Nguyện cầu của Bàng Bá Lân, Ở trên lầu cao khó nhìn thấy Chúa của Bùi
Trang 35Chí Vinh, Đối thoại với con người của Nguyễn Hoàng Đức,… ), phong phú về
thể loại (lục bát, song thất lục bát, thơ hợp thể, kịch thơ, thơ 4 chữ, 5, chữ, 6 chữ,
7 chữ, 8 chữ, thơ tự do, thơ văn xuôi, trường ca,…), lực lượng sáng tác đông đảo, được sắp xếp theo một hành trình xuyên suốt từ Hàn Mặc Tử đến nay, đặc biệt có những gương mặt thơ sáng giá như Lê Đình Bảng, Trần Mộng Tú, Trần Vạn Giã, Bùi Chí Vinh, Lê Quốc Hán, Cao Huy Hoàng, Trần Thu Miên Trong đó Hàn Mặc Tử được lựa chọn làm gương mặt điển hình của tập thơ Điều này cho thấy, thơ Công giáo Việt đã đạt được những kết quả nhất định Và không thể phủ định,
có một dòng thơ Công giáo Việt Nam hiện đại với vai trò, vị trí và sức sống riêng của nó trong dòng chảy thơ ca dân tộc
Tuy nhiên, tuyển tập thơ này không phải không có những hạn chế Dường như các nhà soạn giả quá tập trung vào quy mô, số lượng dẫn đến việc chọn lựa, tinh tuyển chất lượng tác phẩm nhiều khi khá dễ dãi Xuyên suốt 5 tập thơ, ngoài những gương mặt thơ tên tuổi, chuyên nghiệp, có không ít tác giả lạ lẫm với nhiều sáng tác khá đơn giản, ít giá trị nghệ thuật Vì vậy, lấy tập thơ làm căn cứ khảo sát chính, bằng cái nhìn khách quan, khoa học, chúng tôi sẽ cố gắng đánh giá cả những đóng góp cùng những hạn chế, bất cập của tuyển tập, góp phần khẳng định
vị thế, sức sống cũng như những bổ khuyết cần thiết cho dòng thơ độc đáo này
1.2 Vấn đề Đức tin trong thơ Công giáo
1.2.1 Đức tin và Đức tin trong thơ tôn giáo
1.2.1.1 Khái niệm “Đức tin”, “Đức tin tôn giáo”
Tin (croire, to believe), động từ, trong từ niềm tin, danh từ, theo Từ điển tiếng Việt, có nghĩa là: 1 cho là đúng sự thật, là có thật 2 đặt hoàn toàn hi vọng vào người
nào hay cái gì đó [80, tr.899] Từ đó có những chữ ghép như: tin cẩn, tin cậy, tin
dùng, tin tưởng, tin yêu Đặc biệt tin tưởng (avoir confiance en, to trust on) có nghĩa là: tin ở cái gì hoặc một người một cách chắc chắn, có cơ sở Ngược lại, cả tin là tin một cách dễ dàng, nhẹ dạ, không suy xét Tin tiếng Hán Việt là tín Từ đó có những
chữ ghép như: tín chủ, tín dụng, tín điều, tín đồ, tín hiệu, tín nghĩa, tín
Trang 36ngưỡng, tín nhiệm, tín phục, cuồng tín, mê tín, sùng tín Đặc biệt tín ngƣỡng (religion) có nghĩa là: tin theo một tôn giáo nào đó (ngưỡng là nhìn lên với lòng thành kính) Tín điều (dogme) là những điều do tôn giáo đặt ra để tín đồ tuân theo, hoặc những điều được tin theo một cách tuyệt đối Sùng tín (dévotion)
là tin theo hoàn toàn một tôn giáo nào đó, với tinh thần kính trọng và ngưỡng mộ
Mê tín (superstition) là tin theo một cách mù quáng, không biết suy xét, thường là vào những chuyện thần bí hoang đường Chữ mê tín thường đi cùng với chữ dị đoan, tức là những điều quái lạ huyền hoặc do tin nhảm nhí mà có Cuồng tín (foi
aveugle) là tin theo một cách mãnh liệt, điên cuồng, mù quáng [80, tr.899] Như vậy, có thể hiểu, niềm tin là sự tin tưởng, hy vọng vào một vấn đề hay đối tượng nào đó Có thể là tin vào một chủ thuyết, một vấn đề tâm linh hay một sự kiện, một lẽ sống, một đối tượng, trong hiện tại cũng như trong tương lai, để mong đạt được một mục đích cao đẹp nào đó Niềm tin là một động cơ để sống và làm việc,
để có lý do tồn tại và là điều kiện cốt yếu để có được hạnh phúc, ngay cả trong lúc
con người gặp đau khổ nhất Còn Đức trong Đức tin, theo Từ điển Tiếng Việt, có
nghĩa: 1 Cái biểu hiện tốt đẹp của đạo lí trong tính nết, tư cách, hành động của con người; 2 Chỉ đức tính; 3 Điều tốt lành do ăn ở có đạo đức để lại cho con cháu đời sau, theo một quan niệm duy tâm; 4 Từ dùng đặt trước danh từ chỉ thần thánh hoặc người có địa vị cao quý trong xã hội phong kiến để tỏ ý tôn kính khi nói đến (Ví dụ: Đức thánh thần) [80, tr.361] Như vậy, giữa Niềm tin và Đức tin
có sự khác biệt khá rõ Từ đây có thể hiểu, Đức tin là niềm tin thiêng liêng của
con người vào bậc thần thánh nào đó Và Đức tin tôn giáo là niềm tin vào các lực
lượng siêu nhiên, thần thánh, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một phần bằng cách cách hư ảo, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia Niềm tin đó được biểu hiện rất đa dạng, tuỳ thuộc vào những thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa lý - văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo, được vận hành bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xã hội tôn giáo khác nhau
Trang 37Yếu tố có vai trò quyết định của một tôn giáo là Đức tin Đức tin tôn giáo
là một dạng nhận thức đặc biệt, dựa trên trực giác, tạo cho con người một niềm tin thiêng liêng, giúp con người có thể nhận thức được những sự vật mà lí trí của con người không thấy được, cho con người một sức mạnh tinh thần siêu việt trong cuộc sống tâm linh Đức tin tôn giáo thường mang tính chủ quan, không cần lý giải một cách khoa học Đó là điều kiện để con người đến với tôn giáo Không có Đức tin con người khó lòng đến được với đạo Con người luôn quan niệm tôn giáo là cõi thánh thiện, cao khiết, bao gồm các giá trị bất biến về đời sống tâm linh Khi bế tắc không thể giải quyết được trong đời sống hiện hữu, con người thường tìm đến các thế lực siêu nhiên, thần thánh có trong tín ngưỡng hoặc tôn giáo Họ tin rằng, các thế lực thần thánh ở tôn giáo có quyền năng nhiệm màu có thể cứu rỗi con người, dẫn dắt con người đi đến an yên Thế nên, Đức tin tôn giáo thường là niềm tin tuyệt đối, vô điều kiện Và ngược lại, nhờ Đức tin, con người
có khả năng tự sám hối, có sức mạnh tinh thần vượt qua bi kịch cá nhân Như vậy, Đức tin tôn giáo, trong một chừng mực nào đó, chi phối các hành vi ứng xử của con người, thiết lập cho con người khả năng tự điều chỉnh hành vi trong cuộc sống
Niềm tin tôn giáo phát sinh một cách tự nhiên đối với con người Nhưng để đạt đến Đức tin, người theo đạo cần phải có một sự hiểu biết nhất định về giáo lý tôn giáo Nói cách khác, trong Đức tin thường có hai phần: sự tin tưởng cảm tính
và nhận thức lý trí Nếu phần tin tưởng cảm tính trội hơn lý trí, gọi là sùng tín; và trong mê tín và cuồng tín thì không còn lý trí nữa, lúc này con người trở nên mù quáng và thường có các hành vi lệch lạc Để có được những Đức tin chân chính, đúng nghĩa, niềm tin của con người không thể dựa trên trí tưởng tượng, trên những cảm xúc nhất thời mà phải dựa trên cả cơ sở nhận thức lí tính nhất định Một xã hội vũng bền và phát triển phần lớn là có được những niềm tin chân chính, tin vào con người với nhau, vào tổ chức, vào tín ngưỡng và tôn giáo chính đáng trong xã hội đó Và để tạo lòng tin nơi con người, mỗi một tôn giáo đều đưa ra
Trang 38những vấn đề, luận điểm riêng Vì thế, Đức tin ở mỗi tôn giáo luôn có đặc điểm riêng tạo nên đặc trưng khác biệt giữa chúng
1.2.1.2 Đức tin - nguồn cảm hứng cơ bản của thơ tôn giáo
Cảm hứng Đức tin trở thành một cảm hứng xuyên suốt trong thơ ca tôn giáo Tôn giáo được nảy sinh và hình thành từ nhu cầu giải thích về con người và thế giới Và khi đã trở thành Đức tin, tôn giáo có sự tác động đến lạ kỳ đến tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực sáng tạo, lĩnh vực có thể coi là có sự dẫn dụ của
vô thức Với văn học nghệ thuật, khi đó tôn giáo sẽ trở thành một dạng thức khác: cảm hứng Đức tin
Chúng ta có thể khẳng định Đức tin là nguồn cảm hứng chủ đạo của thơ tôn giáo, ở đây không chỉ thơ ca Công giáo, mà rộng ra cả thơ ca mang ảnh hưởng Phật giáo, Đạo giáo Điều này là tất yếu, bởi: Thứ nhất, Đức tin là yếu tố cốt lõi của một tôn giáo, thơ ca viết về tôn giáo không thể không viết về Đức tin Thứ hai, nhiều nhà thơ viết về tôn giáo đều theo đạo hoặc thấm nhuần tư tưởng của đạo
mà họ đang quan tâm Ở họ sẵn có lòng mộ đạo, niềm tin có từ trong tâm thức, căn cốt con người họ và thơ như một phương tiện giãi bày cảm xúc về đức tin đó Thứ ba, xét từ mối quan hệ giữa Đức tin tôn giáo và hoạt động sáng tạo thơ ca,
có thể thấy, từ Phật giáo, Đạo giáo hay Thiên Chúa giáo, Đức tin của đạo luôn là nguồn cảm xúc mãnh liệt thôi thúc sự sáng tạo trong nghệ thuật Trái lại, thơ ca chính là phương tiện giãi bày những xúc cảm và khát vọng mãnh liệt về Đức tin của các nhà thơ Mặt khác, trong thực tế cuộc sống, khi bế tắc con người thường tìm đến đức tin tôn giáo, dù là vô thức, nhằm giải thoát những ẩn ức Đức tin tôn giáo trong thơ tạo nên sự khoáng đạt, hư ảo, bay bổng trong hồn thơ, giúp thi nhân mở rộng thế giới của tâm tưởng và cảm hứng tôn giáo thêm một lần nữa
tạo nên sự thoát tục mà dường như chỉ có trong nỗi khát vọng
Cảm hứng viết về Đức tin thể hiện rất đa dạng, phong phú trong thơ tôn giáo, nó chi phối đến cách lựa chọn đề tài, chủ đề, hình ảnh, nội dung, ngôn ngữ
Để chuyển tải mạch cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của mình, các nhà thơ đã
Trang 39tìm tòi, sử dụng nhiều phương tiện nghệ thuật khác nhau từ cách thức tổ chức ngôn ngữ, giọng điệu, đến sự lựa chọn thể thơ, lựa chọn các hình ảnh biểu tượng phù hợp
1.2.2 Nhìn chung về Đức tin trong thơ Công giáo Việt Nam hiện đại
1.2.2.1 Khái lƣợc về Đức tin Công giáo
Như đã luận giải ở trang 21, theo thói quen của người Việt, Thiên Chúa giáo (hay Đạo Thiên Chúa) là dùng để chỉ Kitô giáo, cụ thể là nhánh Công giáo Roma, có khi gọi tắt là Công giáo Từ “Công giáo” có nghĩa là chung, phổ
quát Đức tin Công giáo luôn mở ra với kinh nghiệm phổ quát của con người Theo quan niệm của Thiên Chúa giáo, Đức tin, trước hết là hành vi đón nhận Mặc Khải Để hiểu Đức tin là gì cần đặt nó trong tương quan với mặc khải, hiểu đúng
về bản chất của Mặc khải Công đồng Vatican II cho rằng do lòng nhân lành và khôn ngoan, Thiên Chúa đã muốn mặc khải chính mình và tỏ cho biết mầu nhiệm của ý muốn Ngài… Qua việc mặc khải này, Thiên Chúa vô hình, do tình thương chan hòa của Ngài, đã ngỏ lời với loài người như với bạn hữu và liên lạc với họ
để mời gọi họ và chấp nhận cho họ đi vào cuộc sống của chính Ngài Như vậy, Mặc Khải trước hết và trên hết là việc Thiên Chúa đi bước trước đến với con
người, ngỏ lời và trao ban chính Mình để thiết lập tương quan bằng hữu với họ; cùng với món quà “Tự Thân” đó là các chân lý diễn tả ý muốn cứu độ của Ngài
Công đồng cũng nói về Đức tin như sau: Phải bày tỏ “sự vâng phục bằng Đức tin” đối với Thiên Chúa, Đấng mặc khải Nhờ sự vâng phục đó, con người tự do ký thác mình trọn vẹn cho Thiên Chúa bằng cách dâng lên Thiên Chúa, Đấng mạc khải, sự quy phục trọn vẹn của lý trí và ý chí và bằng cách tự ý ưng thuận mặc
khải Ngài đã ban Vậy Đức tin trước hết là phó thác bản thân mình cho Thiên Chúa và sau đó là tự do chấp nhận những điều Ngài truyền dạy Nói một cách
nôm na, có thể mô tả Mặc Khải như hành vi và tiến trình Thiên Chúa “tặng quà” cho con người và Đức tin là hành vi và tiến trình con người “nhận quà” từ Thiên Chúa Nhờ Thiên Chúa mặc khải, con người mặc nhiên tin có Chúa, dù không hề
Trang 40trông thấy Người mà vẫn vững chắc niềm tin và sống theo Thánh ý của Người để được chúc phúc và cứu rỗi Tính mặc nhiên này thể hiện rất rõ trong nghi thức tuyên xưng Đức tin của các con chiên Các tín hữu Công giáo luôn khởi đầu bằng cụm từ: “Tôi tin” hoặc “Chúng tôi tin” Việc thể hiện Đức tin của Thiên Chúa giáo được Hội thánh tuyên xưng trong Tín biểu, được cử hành trong phụng vụ, được thể hiện trong cuộc sống bằng việc tuân giữ các Điều răn và bằng việc cầu nguyện
Đức tin Thiên Chúa giáo được hiểu là sự nương cậy hoàn toàn của một người vào tình yêu và quyền năng của Đức Chúa Trời, đồng thời dâng hiến trọn vẹn tấm lòng, cuộc đời của mình cho Chúa (người có ơn thiên triệu) Các tín đồ Thiên Chúa giáo quan niệm: với tâm tình phó thác và yêu mến, Đức tin cho người
ta thấy những điều mà người ta không thấy, hiểu những điều mà người khác không hiểu, biết những điều mà người khác không biết, kinh nghiệm những điều
mà người khác không hề kinh nghiệm, làm những điều mà người khác không thể làm và sống theo cách mà người khác không thể sống… Sống bằng Đức tin, con người không chỉ có cái biết của lý trí, mà còn là cái biết của con tim, cái biết của một tình yêu khao khát tìm về với Đấng toàn Chân, toàn Thiện, toàn Mỹ Đó chính là sự trang bị, là điều kiện cần thiết để mỗi cá nhân có thể đi đến một nhân cách thánh toàn
1.2.2.2 Cảm xúc về Đức tin và sự “nở hoa” của “vườn thơ đạo”
Niềm tin mỗi tôn giáo khác nhau và có đặc sắc riêng Màu sắc thần bí tạo nên sự hấp dẫn của Đức tin ở thế giới tâm linh của con người rất phức tạp, huyền
bí Chính điều này tạo ra sức lôi cuốn thơ ca nghệ thuật đối với tôn giáo nói chung
và cảm hứng Đức tin nói riêng Cảm hứng Đức tin từ lâu đã trở thành nguồn cảm hứng chủ đạo trong thơ của các nhà thơ Công giáo Nguồn cảm hứng này khơi dậy những cảm xúc tinh tế, đặc biệt trong tâm hồn các thi nhân, nó trở thành động lực thôi thúc thi nhân sáng tạo Các nhà thơ Công giáo xuất phát từ cảm hứng Đức tin, sự yêu mến và tôn thờ Thiên Chúa để sáng tạo nên những tác phẩm thơ tôn