Ở đây, chúng ta nghiên cứu về kiến trúc ở khu vực khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, sử dụng 2 công trình truyền thống và hiện đại để làm rõ vấn đề trên: Một là trường Đại học bách khoa Hà Nội v
Trang 11
LỜI NÓI ĐẦU
Khí hậu ảnh hưởng trực tiếp lên hệ thống kiến trúc và văn hóa bản địa ở từng vùng miền khác nhau Do đó, ở mỗi miền khí hậu, ta lại thấy ở đó có các kiểu công trình xây dựng, công trình công cộng, thẩm mỹ của con người và thậm chí là bản tính con người cũng mang tính chất riêng biệt
Ở đây, chúng ta nghiên cứu về kiến trúc ở khu vực khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, sử dụng 2 công trình truyền thống và hiện đại
để làm rõ vấn đề trên:
Một là trường Đại học bách khoa Hà Nội và hai là Đình Chu Quyến ở Hà Tây (nay đã sát nhập vào Hà Nội) Từ xưa đến nay, con người vẫn vận dụng kiến thức về tự nhiên trong vũ trụ để chế ngự lại tự nhiên và tồn tại, phát triển Những nguyên tắc dường như là luật bất thành văn được hình thành từ kinh nghiệm của những thế hệ ông cha vẫn đảm bảo giá trị cho đến ngày nay Điều đó thể hiện qua những nét tương đồng về cách thức chọn hướng, xây dựng, lưu thông, Giữa công trình xưa
và công trình hiện đại Bởi thời tiết mấy trăm năm trước và bây giờ vẫn là khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm(Khí hậu cận nhiệt đới theo Koppen) Nhưng theo sự phát triển, trình độ của con người ngày càng được nâng cao, các vật liệu bền vững hơn, ứng dụng thuận tiện hơn đã được thay thế, khắc phục được nhiều nhược điểm hơn Hình khối công trình cũng phải thay đổi phù hợp với sự thay đổi toàn cầu Thế nhưng, trong những công trình hiện đại vẫn có những cái không còn được tốt, an toàn và thân thiện với môi trường như ngày xưa
Chúng ta sẽ tìm hiểu rõ hơn thông qua việc phân tích 2 công trình này:
Trang 2NỘI DUNG
A-VỊ TRÍ ĐỊA LÍ- KHÍ HẬU
I.PHÂN VÙNG KHÍ HẬU THEO KOPPEN
-Phân loại khí hậu Köppen: là một trong những hệ thống phân loại khí hậu được sử dụng rộng rãi nhất Nó được Wladimir Köppen, một nhà khí hậu học người Đức phát triển vào khoảng năm 1900 (với vài sửa đổi sau này do chính ông thực hiện, đáng chú ý nhất là vào các năm 1918 và 1936) Nó dựa trên khái niệm cho rằng thảm thực vật bản địa là diễn giải tốt nhất cho khí hậu, vì thế ranh giới của các đới khí hậu phải được lựa chọn với sự phân bố thảm thực vật trong suy nghĩ và ý tưởng Nó kết hợp các nhiệt độ trung bình hàng năm và hàng tháng cùng lượng giáng thủy, cũng như tính chất theo mùa của giáng thủy
-Sơ đồ phân loại khí hậu Köppen phân chia các đới khí hậu ra thành 5 nhóm chính và vài kiểu cùng vài phụ kiểu Mỗi kiểu khí hậu cụ thể được ký hiệu bằng 2 tới 4 chữ cái
Nhóm A: Khí hậu nhiệt đới/đại nhiệt
Khí hậu rừng mưa nhiệt đới (Af)
Khí hậu gió mùa nhiệt đới (Am):
Khí hậu ẩm và khô nhiệt đới hay khí hậu xavan (Aw)
Nhóm B: Khí hậu khô (khô cằn và bán khô cằn)
Nhóm C: Khí hậu ôn đới/trung nhiệt
Nhóm D: Khí hậu lục địa/tiểu nhiệt
Trang 33
Nhóm E: Khí hậu vùng cực
II HAI KHU VỰC ĐIỄN HÌNH MANG KHÍ HẬU CẬN NHIỆT ĐỚI
1.KHU VỰC HÀ NỘI(VIỆT NAM)
1.1.Phân loại theo koppen
- Theo koppen, thì Hà nội thuôc nhóm C khí hậu ôn đới/trung nhiệt, nằm trong vùng có khí hậu cận nhiệt
Ôn hòa, Địa Trung Hải
Ôn hòa, cận nhiệt đới ẩm
Ôn hòa, hải dương bờ phía tây
Trang 4ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA KHÍ HẬU CẬN NHIỆT ĐỚI:
-Vùng cận nhiệt đới có giới hạn địa lý và khí hậu nằm giữa 2 đường Hạ chí tuyến (23° 26' 22" vĩ bắc) và Đông chí tuyến (23° 26' 22" vĩ nam) ở hai bán cầu Khí hậu cận nhiệt đới có thể xuất hiện ở những vùng cao trong các khu vực nhiệt đới, chẳng hạn như trên cao nguyên Mexico và tại Bắc Việt Nam hay Đài Loan Tám tháng trong năm của vùng cận nhiệt đới có nhiệt độ trung bình ngang bằng hoặc trên 10 ° C , với tháng lạnh nhất có nhiệt độ trung bình từ 6 đến 13 ° C
-Phần lớn của các sa mạc trên thế giới nằm trong vùng cận nhiệt đới, do sự phát triển của áp cao ở vùng cận nhiệt đới.Ở các vùng thảo nguyên trong vùng cận nhiệt đới, mùa mưa hàng năm diễn ra trong mùa hè, đó là hầu hết lượng mưa của cả năm của cả khu vực Ở vùng khí hậu Địa Trung Hải, mùa mưa xảy ra trong mùa đông Khu vực được bao quanh bởi dòng biển ấm dễ dàng tạo ra những cơn mưa lớn và những cơn bão nhiệt đới, có thể đóng góp tỷ lệ đáng kể lượng vào mưa hàng năm
-Trong hệ thống phân loại khí hậu Köppen, một khu vực cận nhiệt đới có ít nhất tám tháng với nhiệt độ trung bình là 10 ° C hoặc cao hơn.Nhà khí hậu học Đức Carl Troll và Karlheinz Paffen xác định vùng ôn đới ấm như vùng đồng bằng và đồi núi
có nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất từ 2 ° C đến 13 ° C ở Bắc bán cầu và từ 6 ° C đến 13 ° C ở Nam bán cầu, không bao gồm khí hậu đại dương và lục địa
-Lượng nhiệt nhận được của trái đất ở gần đường xích đạo dẫn đến một lượng lớn chuyển động trở lên và đối lưu dọc theo máng gió mùa hoặc vùng hội tụ giữa hai chí tuyến Sự chênh lệch áp suất làm cho không khí bốc lên cao và di chuyển ra khỏi đường xích đạo Khi không khí di chuyển đến các vĩ độ cao hơn, nó lạnh đi và chìm dần ở vĩ tuyến 30 của cả hai bán cầu Nhiều sa mạc của thế giới được tạo ra bởi những vùng áp suất cao nằm trong vùng cận nhiệt đới Chế độ này được biết đến như là một khí hậu cận nhiệt đới khô cằn, mà thường xuất hiện tại các khu vực tiếp giáp với dòng hải lưu lạnh
Trang 55
1.2.vị trí địa lý
-Nằm chếch về phía tây bắc của trung tâm vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, Hà Nội có vị trí từ 20°53' đến 21°23' vĩ độ Bắc và 105°44' đến 106°02' kinh độ Đông, tiếp giáp với các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc ở phía Bắc, Hà Nam, Hòa Bình phía Nam, Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên phía Đông, Hòa Bình cùng Phú Thọ phía Tây
- Hà Nội cách thành phố cảng Hải Phòng 120 km Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, thành phố có diện tích 3.324,92 km², nằm ở cả hai bên bờ sông Hồng, nhưng tập trung
chủ yếu bên hữu ngạn
-Địa hình Hà Nội thấp dần theo hướng từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang
Đông với độ cao trung bình từ 5 đến 20 mét so với mực nước biển Nhờ
phù sa bồi đắp, ba phần tư diện tích tự nhiên của Hà Nội là đồng bằng,
nằm ở hữu ngạn sông Đà, hai bên sông Hồng và chi lưu các con sông
khác
- Phần diện tích đồi núi phần lớn thuộc các huyện Sóc Sơn, Ba Vì, Quốc
Oai, Mỹ Đức, với các đỉnh núi cao như Ba Vì (1.281 m), Gia Dê (707 m),
Chân Chim (462 m), Thanh Lanh (427 m), Thiên Trù (378 m) Khu vực
nội thành có một số gò đồi thấp, như gò Đống Đa, núi Nùng
Trang 6Nhiệt độ không khí trung bình các tháng (ºC) Lượng mưa trung bình các tháng(mm)
-Lượng mưa trung bình hàng nǎm là 1.800mm và mỗi nǎm có khoảng 114 ngày mưa
Trang 77
-Ðặc điểm khí hậu Hà Nội rõ nét nhất là sự thay đổi và khác biệt của hai mùa nóng, lạnh Từ tháng 5 đến tháng 9 là mùa nóng và mưa, nhiệt độ trung bình 29,2ºC Từ tháng 11 đến tháng 3 nǎm sau là mùa đông, thời tiết khô ráo, nhiệt độ trung bình 15,2ºC Giữa hai mùa đó lại có hai thời kỳ chuyển tiếp (tháng 4 và tháng 10) Cho nên có thể nói rằng Hà Nội có đủ bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Ðông Bốn mùa thay đổi như vậy đã làm cho khí hậu Hà Nội thêm phong phú, đa dạng, mùa nào cũng đẹp, cũng hay
2.KHU VỰC HÀ TÂY( NAY THUỘC HÀ NỘI)
2.1.Vị trí địa lí
Hà Tây là tỉnh nằm ở khu vực trung tâm của vùng Ðồng bằng
Bắc Bộ Phía Bắc giáp sông Hồng, ngăn cách với tỉnh Vĩnh
Phúc Phía Nam giáp tỉnh Hà Nam Phía Tây giáp các tỉnh Phú
Thọvà Hoà Bình Phía Đông giáp tỉnh Hưng Yên
Trang 82.2.Địa hình
Tuy là tỉnh đồng bằng nhưng địa hình Hà Tây khá đa dạng, bao gồm cả đồng bằng và đồi núi Nhìn chung, địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam
Vùng núi đồi phía Tây, có độ cao tuyệt đối 300m trở lên, diện tích 704km2, chiếm 1/3 diện tích toàn tỉnh, địa hình dốc trên
250 Cao nhất là đỉnh núi Ba Vì 1.281m, núi Gia Dê thuộc Ba Vì có độ cao 707m, núi Thiên Trù (Mỹ Đức cao 378 m, núi Bộc (Chương Mỹ) cao 245m, núi Thầy (Quốc Oai) cao 105m Các núi đá vôi tập trung ở phía Tây Nam tỉnh, địa hình bị chia cắt rất phức tạp, có nhiều hang động lớn Vùng đồi gò có diện tích trên 530 km2, chủ yếu là đồi thấp (độ cao trung bình
100 m) xen lẫn các thung lũng
Vùng đồng bằng phía Đông có diện tích 1.444 km2 chiếm 2/3 diện tích toàn tỉnh Độ cao trung bình từ 5-7 m so với mặt biển Địa hình vùng đồng bằng tương đối bằng phẳng, mang đặc trưng vùng đồng bằng Bắc Bộ với nhiều ô trũng đê viền Đất đai màu mỡ, có điều kiện thâm canh cây lúa nước cho năng suất cao, phát triển rau màu, cây công nghiệp ngắn ngày
2.3.Phân loại khí hậu theo koppen
- Theo koppen, thì Hà tây ( Ba Vì)thuôc nhóm C khí hậu ôn đới/trung nhiệt, nằm trong vùng có khí hậu cận nhiệt
Trang 99
KẾT LUẬN:
Hà Nội và Hà Tây là hai khu vưc năm trong vùng có khí hậu cận nhiệt đới, có mùa đông lạnh, nên khí hậu có những đặc điểm gần giống nhau
Trang 10B CÔNG TRÌNH TIÊU BIỂU
I.CÔNG TRÌNH ĐÌNH CHU QUYẾN
Nằm trong vùng đất có nền văn hoá lâu đời, đình Chu Quyến (hay còn gọi là đình Chàng) thuộc làng Chu Quyến, xã Chu Minh, huyện Ba Vì, Hà Nội là trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng của người dân trong cộng đồng đồng thời cũng là di tích nghệ thuật khá độc đáo Đình có niên đại khoảng cuối thế kỷ XVII Phân loại theo chức năng đình thuộc loại hình kiến trúc tín ngưỡng Theo phân loại chung đình thuộc loại hình di tích kiến
trúc nghệ thuật Đình đã được Bộ Văn hoá xếp hạng di tích lịch
sử văn hoá theo quyết định số 313/QĐ ngày 28/04/1962
1.các cơ chế thích ứng với khí hậu và
người sử dụng của công trình
1.1VỊ TRÍ (hướng, chuyển động biểu kiến của mặt
trời,…)
Đình Chu Quyến ở xã Chu Minh, huyện Ba Vì, cách thành phố
Sơn Tây 10km và cách Đường Lâm 6km về phía Tây Bắc, đi
theo đường QL 32 Đây là ngôi đình được dựng vào khoảng
thế kỷ XVII, vẫn được xem như ngôi đình tiêu biểu cho vẻ đẹp
của kiến trúc truyền thống Việt Nam
Nằm ở vị trí Đình Chu Quyến có hướng chính là hướng Nam
Trang 12Tiếp đến là các cột cái gian bên có đường kính 60cm, các hàng cột quân và cột hiên có đường kính tương đối đồng đều nhau 50cm Hệ thống cột được đặt trên các chân tảng bằng đá được đục đẽo kỹ lưỡng.Đình là tiêu biểu cho kiến trúc gỗ dân gian truyền thống của Việt Nam thời Lê trung hưng (Hậu Lê)
1.3.Chế vận hành
Đình Chu Quyến là một không gian kiến trúc mở, không có hệ thống ván nong và cửa Bức bàn bao quanh 4 phía hàng cột hiên, thay vào đó là một hệ lan can thấp bao quanh hệ sàn gỗ Sàn gỗ ở độ cao cách mặt đất 0,8 m, với 3 cấp để dân làng ngồi theo thứ bậc (thế thứ) chức sắc và tuổi tác, mỗi khi sinh hoạt cộng đồng làng xã
Hậu cung, nơi thờ thành hoàng làng là Nhã Lang, cũng không được làm tách riêng, mà nằm ngay trong gian giữa (chính điện), tại vị trí các cột cái và cột quân phía sau gian trung tâm tòa đại đình, và được quây kín cố định, tạo không khí thần bí
và trang nghiêm
Khác với đình làng Bảng xã Đình Bảng huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh, đình Chu Quyến là một không gian kiến trúc mở, không có hệ thống ván nong, cửa Bức bàn bao quanh 4 phía hàng cột hiên, thay vào đó là một hệ lan can thấp bao quanh hệ sàn gỗ Sàn gỗ ở độ cao cách mặt đất 0,8 m, với 3 cấp để dân làng ngồi theo thứ bậc (thế thứ) chức sắc và tuổi tác, mỗi khi sinh hoạt cộng đồng làng xã Hậu cung, nơi thờ thành hoàng làng là Nhã Lang, cũng không được làm tách riêng, mà nằm ngay trong gian giữa (chính điện), tại vị trí các cột cái và cột quân phía sau gian trung tâm tòa đại đình, và được quây kín cố định, tạo không khí thần bí và trang nghiêm (Đình Bảng: hậu cung tách riêng đại bái, thành kiến trúc chữ Đinh, 丁)
Trang 1313
CÔNG TRÌNH ĐÌNH CHU QUYẾN
2.Mô tả các thành phần thiết kế thích ứng khí hậu nhiệt đới
khu đất- cách bố trí
Trang 14
Được mệnh danh là ngôi đình lớn nhất xứ Đoài, đình Chu Quyến nằm ở địa
thế rất đẹp thuộc địa phận làng Chu Quyến - ngôi làng hiền hòa ven đê sông
Hồng, phía xa xa là đỉnh núi BaVì hùng vĩ
Đình Chu Quyến có điểm hơi khác thường là nằm ở rìa làng chứ không ở
trung tâm làng Đình làng quay về hướng nam Tuy không phải nằm trung
tâm làng nhưng là nơi thuận tiện cho việc đi lại, hội họp làng
3.Công trình- hình khối và vật liệu
Hình khối công trình liên quan đến khí hậu
Kết cấu khung gỗ chồng rường truyền thống, với
đầy đủ 6 hàng cột: 2 hàng cột cái (đường kính
60-81 cm), 2 hàng cột quân (50 cm), 2 hàng cột
hiên (50 cm), đối xứng với nhau qua trục dọc nhà
Khung cột kiểu "Thượng thu hạ thách" Bốn cột
cái lớn gian giữa (chính điện) có đường kính tới
81 cm Hai đầu hồi cũng có 1 hàng cột hiên ở mỗi
Trang 1515
hồi, quay vuông góc với hàng cột cái, và các cột hiên này nằm cùng trục dọc với 6 hàng cột dọc Hàng cột hiên đỡ hệ thống
kẻ bẩy ở 4 phía mặt đình Các kẻ hiên được nối liền, gác lên các cột quân Nối giữa các đỉnh cột quân với cột cái, là
các rường cụt, và cột cái với nhau là hệ thống xà, vì kèo giá chiêng kiểu chồng rường con nhị Trên hệ kết cấu khung gỗ: kẻ
bảy, rương cụt, ván nong (ván măng), là những tác phẩm điêu khắc dân gian tinh xảo, miêu tả các cảnh chọi gà, gảy đàn, hát múa dân gian, người cưỡi hổ, cưỡi ngựa, các họa tiết trang trí linh vật như: phượng mẹ và đàn phượng con, rồng là đề tài chủ đạo ở đây và được thể hiện bằng nhiều cách khác nhau
Trang 16
Nằm trong đặc điểm chung nhà ở truyền thống Việt Nam Tổ chức mái dốc là một đặc điểm chung Kết cấu nóc là kiểu 4 mái dốc (hai mái dốc chính và hai mái phụ vuông góc che 2 trái và 2 hiên đầu hồi), với 4 đầu đao vút cong thanh thoát ở 4 góc mái Trên mái là hệ thống tượng điêu khắc bằng gốm thể hiện các linh vật: con xô, con kìm nóc (cá hóa rồng) trên các
bờ nóc, góc mái, đầu đao
Đình Chu Quyến là một ngôi đình cổ hiếm hoi có nhiều tác phẩm trang trí đặc sắc được thể hiện cả trên đất nung và trên gỗ Những con giống làm bằng đất nung được trang trí trên các đầu nóc, đầu đao của đình rất ấn tượng Hình ảnh mây lửa mềm mại, hình tượng con lân, đầu rồng mắt to, trợn tròn, miệng há rộng hướng về các đao lửa trên bờ guột của đình thể hiện tài năng sáng tạo cao độ của người Việt xưa
Trang 1717
Cũng giống như các Đình làng Bắc Bộ khác Đình Chu Quyến có mái to và thấp, mô phòng dạng thuyền hoặc hình chiếc búa ( mang hình ảnh tính ngưỡng dân gian)
Mặt bằng phát triển theo chiều ngang Thông thoáng và đón gió tự nhiên
Hệ kết cấu vì kèo, mái thấp làm tăng thêm sức nặng đè xuống chống gió lùa và
mưa bão
Ngoài ra độ ẩm không khí quanh năm khá cao khoảng 80% Để chống ẩm Đình
Chu Quyến được chủ định nâng cốt Sàn gỗ ở độ cao cách mặt đất 0,8 m Việc
nâng sàn có tác dụng chống ẩm Ngoài ra các cột gỗ đều sử dụng chất gỗ lim
chịu được mối mọt rất tốt và được đặt trên đá tảng
Hệ kết cấu khung, vì kèo là một hệ kết cấu chịu lực rất tốt có thể chịu được gió
giật với cường độ lớn ngoài ra hệ kết cấu này dễ tháo lắp nên có thể dễ dàng tu
sửa
Trang 18
Vật liệu xây dựng :
Thành phần chịu lực chính của Đại đình là hệ khung gỗ Bộ khung kết cấu kiểu 6 hàng cột đều bằng gỗ lim, dựng theo kiểu thượng thu hạ thách Ngoài hệ kết cấu vì kèo trang trí bằng gỗ, Đình Chu Quyến lợp ngói với phần mái vút cao.Hệ kết cấu
trụ cột gỗ lim có khả năng chịu mối mọt tốt được đặt lên đá tảng
Sử dụng nguồn vật liệu khai thác từ địa phương Cách lựa chọn và sử dụng vật liệu thể hiện việc tính toán về quy mô công trình cũng như phù hợp với khí hậu gió mùa của người Việt xưa
Trang 1919
Dạng lối ra vào, cửa ra vào và cửa sổ :
Hệ kết cấu cột,vì kèo cộng them không gian mở Đứng bên trong Đình Chu Quyến có thể nhìn thấy tất cả cảnh vật phía bên ngoài song lối đi hướng nam dẫn đến gian trung tâm
Lối đi vào đình mở thoáng cả 4 hướng
4.Cảnh quan bao quanh và cay cối
4.1.Những yếu tố điển hình của cảnh quan trong điều kiện khí hậu tương ứng:
Trước Đình là khoảng sân thoáng gió và ao Ngoài ra cây cối được trồng bao phủ xung quanh khu Đình nhưng không trồng sát Đình Việc này giúp thông gió tốt và chống ẩm mốc
Trang 20
Đình Chu Quyến có lối bố trí cây xanh tương tự các đình làng truyền thống Việt Nam khác
Phía trước sân đình là ao nước trồng các loại rau muống, thả bèo trên ao
Bên cạnh ao trồng các loại cây ăn quả, cau…
Việc bố trí cây và ao là việc làm tạo vi khí hậu, lọc không khí , giảm tải năng lượng mặt trời truyền vào nhà Ngoài ra còn làm sinh động cảnh quan
4.2.Con người.- cảnh quan, khí hậu
Mọi người sống trong môi trường này như thế nào? Họ di chuyển giữa các không gian nội thất dựa trên thời gian trong ngày hoặc theo mùa? Họ di chuyển từ nội thất đến ngoại thất với thời gian trong ngày hoặc theo mùa?
Đối với văn hóa sinh hoạt của người Việt Nam xưa Đình làng là nơi hội họp tổ chức các buổi cúng bái, lễ hội ĐÌnh Chu Quyến được tôt chức với hai chức năng hai gian chính có chức năng rõ ràng
Gian bên trong nhà chính thống là nơi cúng bái thờ phụng vị Thánh hoàng làng Với các phần Sàn gỗ ở độ cao cách mặt đất 0,8 m, với 3 cấp để dân làng ngồi theo thứ bậc (thế thứ) chức sắc và tuổi tác, mỗi khi sinh hoạt cộng đồng làng xã
Gian bên ngoài là khu sân bên ngoài Đình( một số nơi có ao nước) góp phần vào các hoạt động mùa hè
Cách ăn mặc đáp ứng với khí hậu như thế nào?
Trang phục đặc trưng của làng Việt cổ
Trong nhiều gia đình tại làng cổ Đường Lâm vẫn còn lưu giữ được các trang phục cổ từ xa xưa với phong cách ăn mặc kín đáo như áo cánh, áo tứ thân, quần lửng (hay còn gọi là quần què), khăn, yếm… Trước kia người làng Đường lâm tự tay dệt được hầu hết các loại trang phục này, tự tay đo cắt theo độ rộng phù hợp để đối phó với khí hậu nóng ẩm Việt Nam
Trang 2121
Áo có nhiều loại: Áo cánh, áo cánh cộc, áo mớ ba, áo tứ thân, yếm
Tùy từng hoàn cảnh, công việc, người dân làng Việt cổ lại lựa chọn cho mình trang phục phù hợp Khi cưới, người phụ nữ
sẽ mặc áo mớ ba gồm có 3 lớp: Ngoài cùng là áo màu nâu, giữa màu đỏ, trong cùng màu mỡ gà Còn với cuộc sống và sinh hoạt thường ngày, phụ nữ Đường Lâm mặc áo tứ thân, áo cánh để thuận tiện cho hoạt động Trang phục lễ hội cũng có nhiều loại đặc trưng như: mũ, giày, áo, trang phục khiêng kiệu Cũng theo nghiên cứu của các chuyên gia, trang phục lễ hội
cổ xưa còn lưu giữ ở Đường Lâm so với trang phục được phục chế gần đây thì mức độ cầu kỳ, tỉ mỉ đã bị giản lược đi nhiều
Về kỹ thuật nhuộm trang phục thì thường được nhuộm bởi hai màu cơ bản là màu nâu và đen với chất liệu bùn và củ nâu Nếu nhuộm màu nâu (chủ yếu là áo) thì chỉ cần củ nâu mài ra và lấy dung dịch trộn lẫn với nước; nhuộm màu đen (chủ yếu
quần, khăn) thì nhuộm màu nâu, sau đó bôi bùn trực tiếp vào trang phục
II.CỘNG TRÌNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI( VIỆT NAM)
1.Địa điểm
- Trường ĐH bách khoa tọa lạc tại số 1 Đại Cồ Việt, Hai Bà Trưng, Hà Nội, Việt Nam
2 Vùng khí hậu
Vùng đông hoàng liêm sơn và dẫy núi thấp ( dưới 900) của phía đông bắc bộ, thanh hóa, nghệ tĩnh
Vùng này có mùa lạnh rỏ rệt nhiệt độ trung bình tháng dưới 20O C , nhiệt độ trung bình thấp nhất là 28OC
Trang 22Mùa nóng bức: nhiệt độ trung bình tháng trên 25oC, nhiệt độ trung bình cao nhất trên 30OC kéo dài 5 tháng ở Hà Nội
-Tổng lượng bức xạ ngày: tháng cao nhất là tháng 5 với 469(cal/cm2 ngày), tháng thấp nhất là tháng 3 với 222(cal/cm2 ngày)
- các tháng đông xuân rất ít nắng( tháng 3 chỉ có 1,5 giờ nắng mỗi ngày), còn các tháng hè thu lại nhiều nắng nhất trong năm , nhưng cũng không quá 6- 7 giờ mỗi ngày
-khu vực HN các thời gian có khí hậu tiên nghi và không tiện nghi trong ngày như sau:
Tháng 1,tháng 2, tháng 12 khí hậu lạnh hoàn toàn
Tháng 3, có khoảng thời gian tiện nghi từ hơn 10h – 20h
Tháng 4,tháng 10, tháng 11, hầu như suốt thời gian trong ngày có chế độ nhiêt tiện nghi
Tháng 5 tháng 9 có khoảng thời gian nóng từ 11h- 18h
Tháng 6, tháng 8 có thời gian nóng từ 10h-19h
Tháng 7 có thời gian nóng từ 9h – 20h
Tháng 8 có khoảng thời gian nóng từ 12h- 18h
Kết quả này cho ta thấy mùa hè ở điều kiện hà nội có thời gian giũa tháng 4 đến giữa tháng 9 và tháng nóng nhất là tháng 7
3.cơ chế thích ứng với khí hậu và người sử dụng của công trình
3.1.Vị trí (hướng, chuyển động biểu kiến của mặt trời,…)
Xác định hướng nhà tối ưu:
Cường độ bức xạ mặt trời chiếu trên các hướng khác nhau của nhà ở khu vực hà nội trong tháng 6, tháng 7, và tháng 8
Trang 2323
Trên các mặt nhà ở hướng nam và bắc, bức xạ mặt trời chiếu vào ít nhất các mặt tường ở
hướng động và tây thì bức xạ mặt trời chiếu vào lớn nhất Đặc biết là hướng tây bức xạ mặt
trời cao lại trùng với nhiệt độ không khí cao nhất trông ngày (14 -15 giờ), nên thường
hướng tây chiệu tác động nhiệt lớn nhất
Ở Hà Nội hướng nhà tốt nhất là quay về hướng đông nam trong giới hạn 145 -180-độ- C
Tiêu chuân che năng ở khu vực:
Ở Hà Nội trong điều kiện trường học vào tháng 7 khi nhiệt độ không khí tk =28,4oC, cửa sổ
phải được che nắng hoàn toàn
Trang 243.2.Hình khối (tỉ lệ, diện tích, hình dáng…)
Tổ hợp trường ĐH Bách khoa hà nội được thiết kế với cơ cấu 5 khoa: Cơ khí, xây dựng mõ địa chất, năng lượng, công nghệ hóa học Các khoa nay đào tạo sinh viên cho 15 ngành chuyên môn riêng
Số sinh viên dược tính toán là 2400 Số nghiên cứu sinh là 45
Tổng khối tích các nhà học đã được xây dựng của tổ hợp vượt quá 170.000m3.-năm 2003
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội có tổng diện tích phục vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học và hội họp rộng 26,2 hecta Trường có hơn 200 giảng đường, phòng học, hội trường lớn và hệ thống phòng hội thảo; gần 200 phòng thí nghiệm, trong
đó có 8 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia và khoảng 20 xưởng thực tập, thực hành Các hệ thống cơ sở vật chất phục
vụ bộ môn giáo dục thể chất và phong trào thể thao của sinh viên đầy đủ và hiện đại với 1 sân bóng tiêu chuẩn quốc gia, 1 nhà thi đấu đa năng tiêu chuẩn Đông Nam Á, 1 bể bơi tiêu chuẩn quốc gia, sân tennis tiêu chuẩn quốc gia Trường có một khu ký túc xá với 420 phòng, đủ khả năng đáp ứng chỗ ở cho khoảng trên 4200 sinh viên Tổng diện tích đất sử dụng của Trường: 252.857,8 m2, nơi làm việc 15.252m2, nơi học78.846m2, nơi vui chơi giải trí: 29.321 m2, 1 nhà câu lạc bộ sinh viên với 350 chỗ được trang bị âm thanh hiện đại và 1 trung tâm y tế.- năm 2012
Việc xây dựng các nhà học của trường được bắt đầu từ năm 1961 theo thiết kế của Giprovuz(lien xô) và dược hoàn chỉnh xây dựng vào năm 1965
Thành phố Hà nội, thủ đô của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam nằm ở phía bắc Nhiệt dộ trung bình hàng năm ở
Hà nội là 23,6-độ-C ĐỘ ẩm trung bình hàng năm 84,9% và độ ẩm tối đa trung bình 96,8% Lượng mưa hàng năm 2741mm Số ngày mưa trong năm là 140 Gió chủ đạo: mùa hè gió đông nam;mùa đông gió đông bắc, vận tốc trung bình của gió 2,5m/s
Trang 2525
3.3.Cơ chế vận hành (nhiệt, gió, nước, năng lượng…)
Tổng thể đại học Bách Khoa Hà Nội theo google
Những đặc điểm khí hậu mùa hè đồi hỏi phải đảm bảo yêu cầu chống nóng cho các phòng học và để hở tối đa các công trình
để đạt hiệu quả thông gió xuyên phòng và loại trừ sự ứ động không khí ẩm trong phòng, còn về mùa đông yêu cầu chiếu sáng cho các phòng học từ môi trường bên ngài và sử dụng đúng các thiết bị che nắng
Việc nghiên cứu thực tiễn xây dựng địa phương và việc kiểm tra bằng phương pháp thí nghiệm trên mô hình các thiết bị che nắng tối ưu tại viện nghiên cứu vật lý kiến trúc liên xô cho phép kết luận rằng dối với điều kiện Hà nội hướng nhà tốt nhất
là bắc nam
Trang 26Bởi vậy tất cả các phòng học trong tổ hợp Trường ĐH Bách Khoa
điều được thiết kế hướng về phía bắc, còn trong nhưng trường hợp
không cho phép định hướng tốt hơn đều có áp dụng các thiết bị che
nắng
Thực tiễn xây dựng ở vùng nhiệt đới nóng ẩm và những yêu cầu về
của chế độ vệ sinh cho các phòng trong đó người ta phải làm việc
nhiều giờ trong điều kiện khí hậu này chỉ rõ rằng các thiết bị che nắng
không ngăn được toàn bộ các tia mặt trời chiếu vào phòng mà chỉ trừ
sự gia tăng nhiệt độ các tia nắng chiếu trực tiếp
Trang 27Việc bố trí các nhà học chính: chúng đều được định hướng nam- bắc (trừ hội trường và thư viên)
Nhà C1 Đại Học Bách Khoa Hà Nội- mặt chính hướng nam
Trang 28Nhà hội trường và thư viên liên hệ với các nhà học bằng các hành lang cầu, có mái che Chúng quay mặt chính ra phía bắc quốc lộ 1 và mặt sau vào sân trong
4.3.Công trình- hình khối, vật liệu
Trong nhà học chính 4 tầng bố trí tất cả các bộ môn chung, cơ quan hiệu bộ và bộ phận quản lý, phòng thí nghiệm khoa năng lượng và các giảng đường
Nhà các khoa có 3 tầng, các nhà thí nghiêm chuyên ngành( thủy lợi, thủy công, nhiệt điện) 2 tầng và các xưởng thực nghiệm một tầng
Nhà học C2 và C3