Các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới đều đẩyy mạnh phát triển kinh tế,… của đất nước mình, để đạt được điều đó nhiều quốc gia không ngại tàn phá, đánh đổi rất nhiều thứ mà mẹ thiên
Trang 1MỤC LỤC
BẢN TÓM TẮT 3
LỜI NÓI ĐẦU 6
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 7
DANH MỤC BẢNG BIỂU 8
A PHẦN MỞ ĐẦU 11
B NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 17
CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 17
1.1 Cơ sở lí luận 17
1.1.1 Khái niệm biến đổi khí hậu 17
1.1.2 Các dấu hiệu nhận biết biến đổi khí hậu 17
1.1.3 Nguyên nhân hình thành và cơ chế hoạt động của biến đổi khí hậu 26 1.2 Cơ sở thực tiễn 32
1.2.1 Biến đổi khí hậu toàn cầu 32
1.2.2 Biến đổi khí hậu ở Việt Nam 36
CHƯƠNG II : BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 43
2.1 Khái quát về Đồng bằng sông Cửu Long ( ĐBSCL ) 43
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 44
2.1.2 Kinh tế- xã hội-văn hóa 52
2.2 Diễn biến của biến đổi khí hậu ở Đồng Bằng sông Cửu Long 57
2.3 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu ở ĐBSCL 70
2.3.1 Ảnh hưởng đến tự nhiên 70
2.3.2 Ảnh hưởng đến kinh tế, xã hội 72
CHƯƠNG III : GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ VÀ GIẢM THIỂU TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÙNG ĐBSCL DỰ BÁO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở ĐBSCL TRONG TƯƠNG LAI 75
3.1 Giải pháp tạm thời 75
3.2 Giải pháp lâu dài 76
Trang 23.3 Dự báo về biến đổi khí hậu của ĐBSCL trong tương lai 79
3.1.1 Dự báo biến đổi khí hậu ở ĐBSCL theo kịch bản biến đổi khí hậu 79
3.3.2 Kịch bản về khô hạn và các vấn đề khác 85
C KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 89
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Trang 3Việt Nam là một trong những quốc gia sẽ chịu ảnh hưởng nhiều của biến đổi khí hậu, đặc biệt là khu vực đồng bằng sông Cửu Long Với diện tích 40.000 k㎡ đồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa lớn, cung cấp lương thực cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu, với 700 km đường bờ biển, 360.000 k㎡ vùng đặc quyền kinh tế
và sự phát triển của nhiều ngành kinh tế biển ( du lịch, giao thông , đánh bắt bắt khai thác khoáng sản, thuỷ sản, quốc phòng) Biến đổi khí hậu hiện nay có thể làm đồng bằng Sông Cửu long sẽ chịu nhiều tổn thất : mất mùa, mất đất, dịch bệnh
Như vậy, việc cấp thiết hiện nay là làm thế nào để bảo vệ ĐBSCL, cần phải
có các cuộc nghiên cứu, tìm hiểu về biến đổi khí hậu, tác động, ảnh hưởng của nó,
để từ đó có các biện pháp phòng tránh và hạn chế tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu đến khu vực ĐBSCL, đảm bảo ổn định sản xuất và đời sống cho người dân nơi đây
2 Mục đích nghiên cứu/mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu về thực trạng biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Cửu Long Qua đó giúp mọi người nhận ra và hiểu được nguyên nhân và hậu quả của biến đổi khí hậu tại đồng bằng sông Cửu Long Từ đó đề xuất một số biện pháp thích hợp nhằm hạn chế, giảm thiểu và ứng phó với tác động mà biến đổi khí hậu gây ra tại nơi đây
Trang 43 Nhiệm vụ/nội dung nghiên cứu/câu hỏi nghiên cứu
-Tìm hiểu về các nguyên nhân hình thành, cơ chế hoạt động của biến đổi khí hậu , các loại hình biến đổi khí hậu
- Phân tích và đánh giá diễn biến của biến đổi khí hậu ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long và thu thập các số liệu chứng minh sự phát triển ngày càng khó kiểm soát của biến đổi khí hậu
- Phân tích và đánh giá ảnh hưởng của biến đổi đến các điều kiện tự nhiên vùng đồng bằng Sông Cửu Long
-Đề xuất các giải pháp cấp thiết và lâu dài để hạn chế và phòng tránh những tác động của biến đổi khí hậu vùng ĐBSCL Nâng cao ý thức bảo vệ môi trưởng của người dân để giảm bớt tác hại của biến đổi khí hậu
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra thu thập, xử lí thông tin các tài liệu Việc thu thập là phương pháp đầu tiên để có được các thông tin cơ bản tổng quát và chuyên sâu về biến đổi khí hậu tại ĐBSCL Tài liệu được thu thập từ nhiểu nguồn bởi nhiều tác giả cũng như các nhà nghiên cứu về các vần đề của đề tài và các vấn đề liên quan khác Từ đó, xử lý, chọn lọc các tài liệu thông tin quan trọng, cần thiết cho đề tài Ngoài ra cũng cần thu thập các tài liệu liên quan với biến đổi khí hậu ( các thiên tai,
sự thay đổi của biến đổi khí hậu qua từng giai đoạn, các cơ chế khách quan…)
- Phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp : Từ các tài liệu , thông tin thu thập được , ta phân tích các nội dung quan trọng , xử lí các số liệu , thông tin và chọn ra các dữ kiện có giá trị , cần thiết , sau đó thống kê , tổng hợp lại một các cụ thể để đưa ra được các kết luận , các giải pháp cấp thiết nhằm phòng tránh và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu
- Phương pháp bản đồ, biểu đồ : là phương pháp truyền thống của ngành Khoa học Địa Lí Dựa vào các số liệu, kí hiệu trong bản đồ , biểu đồ, để đánh giá, nghiên cứu về hiện tượng, đề tài nghiên cứu Đây là cách dễ lấy thông tin tổng quát nhất, nhưng lại thiếu sự chi tiết và đầy đủ, phải nghiên cứu nhiều loại bản đồ , biểu
đồ của nhiều thành phần tự nhiên, kinh tế - xã hội khác nhau
Trang 5- Phương pháp khảo sát thực địa : Cũng là phương pháp truyền thống của khoa học địa lí , được sử dụng để thu thập tài liệu của về sự nguyên nhân, đặc điểm, diễn biến, và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến khu vực đồng bằng sông Cửu Long Đây là phương pháp tốt nhất , duy nhất để thu được khối lượng thông tin cần thiết, đáng tin cậy trong việc xây dựng hệ thống tư liệu cho các phương pháp nghiên cứu khác
5 Kết quả nghiên cứu và các sản phẩm
Sau khi nghiên cứu thì kết quả đạt được là việc hình thành nên một hệ thống
tư liệu, kiến thức gửi đến người đọc, có thể dùng nó để tham khảo sử dụng cho quá trình học tập và công việc lien quan
Tập nghiên cứu khoa học này còn được hình thành với nội dung dễ hiểu, đơn giản và cũng đầy đủ các thông tin nhằm giúp nhiều người đọc có thể tiếp cận và đọc hiểu một cách dễ dàng, giúp cho công việc và học tập, đồng thời cũng như trang thông tin nhằm cho mọi người có thể thấy các tác hại xấu của biến đổi khí hậu trong cuộc sống hiện nay để có ý thức hơn trong việc bảo vệ môi trường sống của mỗi người
Đồng thời đưa ra và thống kê nhiều giải pháp cho việc ứng phó với biến đổi khí hậu
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
Cuộc sống chúng ta ngày nay, trong đà phát triển của kinh tế, khoa học và công nghệ Các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới đều đẩyy mạnh phát triển kinh tế,… của đất nước mình, để đạt được điều đó nhiều quốc gia không ngại tàn phá, đánh đổi rất nhiều thứ mà mẹ thiên nhiên đã tạo ra, làm thiên nhiên ngày nay đang dần bị phá hủy và suy thoái, cũng như gây ra các tác động tiêu cực ảnh hưởng ngược lại đến chính chúng ta, một trong những điều mà ta có thể thấy rõ nhất hiện nay đó chính là biến đổi khí hậu
Lượng khí thải CO2 được thải ra từ các hoạt động kinh tế, sản xuất và sinh hoạt của chúng ta đã làm cho hiệu ứng nhà kính với sự ấm lên toàn cầu của nó, một trong những yếu tố chính của biến đổi khí hậu diễn ra ngày càng mạnh mẽ, nó đang dần phá hủy bầu khí quyển của Trái Đất một cách nhanh chóng, làm nhiệt độ hành tinh của chúng ta tăng lên rất nhanh, đồng thời là sự xuất hiện của các hiện tượng khí hậu cực đoan như El Nino, La Nina và thiên tai khó có thể kiểm soát và dự đoán Và Việt Nam chúng ta một quốc gia đã và đang chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, đặc biệt là vùng Đồng bằng sông Cửu Long nơi dễ bị tổn thương nhất nếu biến đổi khí hậu ngày càng có nhiều diễn biến phức tạp hơn Với diện tích 40.000km², đây chính
là vựa lúa lớn nhất, cung cấp lương thực, thực phẩm cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu, với 700km đường bờ biển, 360.000km² vùng đặc quyền kinh tế và có nhiều ngành kinh tế biển phát triển Cho nên biến đổi khí hậu theo thời gian ngày càng mạnh mẽ và phức tạp sẽ làm đồng bằng sông Cửu Long chịu nhiều tổn thất nặng nề như : mất mùa, mất đất, dịch bệnh, hạn hán, hạn mặn,…
Như vậy việc cấp thiết hiện nay là làm thế nào để bảo vệ Đồng bằng sông Cửu Long trước những nguy cơ có hại và ảnh hưởng nặng nề trên, cần có các cuộc nghiên cứu, tìm hiểu, thảo luận về biến đổi khí hậu, các tác động và ảnh hưởng của
nó, để có hướng xử lí, biện pháp phòng tránh hợp lí, đảm bảo cho ổn định sản xuất và đời sống người dân nơi đây
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 BDKH : Biến đổi khí hậu
2 ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long
3 ĐNÁ : Đông Nam Á
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Danh mục biểu đồ
Chương I
Biểu đồ 1 1 Biểu đồ thể hiện sự gia tăng nhiệt độ thế giới từ năm 1880 – 2000 18
Biểu đồ 1 2 Biểu đồ thể hiện sự gia tăng nồng độ khí Cacbon dioxit trên toàn cầu từ năm 2006 –2016, đơn vị ppm 20 Biểu đồ 1 3 Biểu đổ thể hiện sự gia tăng mực nước biển thế giới từ 1995 – 2015, đơn vị mm 21 Biểu đồ 1 4 Biểu đồ thể hiện nguồn cacbon dioxit toàn cầu thải ra từ việc sử dụng nguyên nhiên liệu hóa thạch từ năm 1900 – 2010 30 Biểu đồ 1 5 Diễn biến của mực nước biển tại trạm hải văn Hòn Dấu 41
Chương II
Bảng 2 1 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa vàng ĐBSCL, giai đoạn 2005-2014.
52
Trang 9Chương III
Bảng 3 1 Các kịch bản về BĐKH [2] 80 Bảng 3 2 Diễn biến mực nước max 7 vùng địa lý theo kịch bản nước dâng 65cm ở ĐBSCL [2] 81 Bảng 3 3 Diễn biến mực nước max 7 vùng địa lý theo kịch bản nước dâng 75cm ĐBSCL [2] 82
Bảng 3 4 Diễn biến mực nước max 7 vùng địa lý theo kịch bản nước dâng 100cm ĐBSCL [2] 83 Bảng 3 5 Mức tăng nhiệt độ trung bình năm (°C) so với thời kì 1980 – 1999 theo kịch bản phát thải thấp (B1) 85 Bảng 3 6 Mức tăng nhiệt độ trung bình năm (°C) so với thời kì 1980 – 1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2) 85 Bảng 3 7 Mức tăng nhiệt độ trung bình năm (°C) so với thời kì 1980 – 1999 theo kịch bản phát thải cao (A2) 86 Bảng 3 8 Mức thay đổi lượng mưa năm (%) so với thời kì 1980 – 1999 theo kịch bản phát thải thấp (B1) 86 Bảng 3 9 Mức thay đổi lượng mưa năm (%) so với thời kì 1980 – 1999 theo kịch bản phát trung bình (B2) 86 Bảng 3 10 Mức thay đổi lượng mưa năm (%) so với thời kì 1980 – 1999 theo kịch bản phát thải cao (A2) 87 Bảng 3 11 Xu thế thay đổi khí hậu và các thiên tai khác ở ĐBSCL trong 3 thập kỉ tới [2] 87
Danh mục hình
Chương I
Hình 1 1 Năm đới khí hậu chính trên thế giới 23
Hình 1 2 Hoàn lưu khí quyển trên Trái Đất 23
Hình 1 3 Ảnh hoạt động của xoáy thuận nhiệt đới, tạo ra các cơn bão, áp thấp nhiệt đới 25
Trang 10Hình 1 4 Ảnh minh họa quá trình hình thành hiệu ứng nhà kính trênTrái Đất 32
Chương II Hình 2 1 Lược đồ tự nhiên đồng bằng Sông Cửu Long 44
Hình 2 2 Lược đồ phân bố các nhóm đất chính ở ĐBSCL 49
Hình 2 3 Bảy vùng sinh thái của Đồng bằng Sông Cửu Long 50
Hình 2 4 Xâm nhập mặn vùng ĐBSCL 62
Hình 2 5 Lược đồ thể hiện các vùng có nguy cơ ngụp cho sụp lún và nước biển dâng ở đồng bằng sông Cửu Long 67
Trang 11A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tổng quan đề tài
Biến đổi khí hậu trong suốt nhiều năm qua luôn là một vấn đề nóng mà rất nhiều nhà khoa học , nhà nghiên cứu, nhiều tổ chức và nhiều người quan tâm tìm hiểu và nghiên cứu
Ba mươi năm trước James Lovelock, đã nghiên cứu trong lĩnh vực nghiên cứu Trái Đất và khả năng cân bằng tự nhiên và môi trường trong duy trì sự sống, ông phát hiện ra rằng loài người đối xử rất tệ bạc và khai thác thiên nhiên một cách tàn phá, phí phạm không bảo vệ hay phục hồi Điều đó gây ra hậu quả nghiêm trọng đối với môi trường sống của chính chúng ta và khí hậu cũng thay đổi, sự sống của Trái Đất không thể trở lại trạng thái cân bằng, kết quả nghiên cứu đó của ông mau chóng được thừa nhận
Ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) đã nghiên cứu và tổ chức 4 lần báo cáo đánh giá tình hình BĐKH toàn cầu:
- Báo cáo đánh giá lần thứ nhất (1990) là cơ sở để Liên Hợp Quốc quyết định thành lập Ủy ban Hiệp thương liên Chính phủ về một Công ước khí hậu tiến tới Công ước Khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu, được ký kết vào tháng 6 năm 1992
-Báo cáo đánh giá lần thứ hai (1994) là cơ sở để thảo luận và thông qua Nghị định thư Kyoto tại Hội nghị lần thứ 3 các Bên Công ước (1997)
-Báo cáo đánh giá lần thứ ba (2001), sau 10 năm thông qua Công ước Khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu
-Báo cáo đánh giá lần thứ tư (2007), sau 10 năm thông qua Nghị định thư Kyoto và một năm trước khi bước vào thời kỳ cam kết đầu tiên theo Nghị định thư (2008 - 2012), để chuẩn bị cho việc thương lượng về thời kỳ cam kết tiếp theo
Trang 12Trong nước có thể đến Đặng Duy Lợi và Đào Ngọc Hùng với giáo trình về biến đổi khí hậu của mình, trong đó có đầy đủ các thông tin của biến đổi khí hậu cũng như là một cơ sở tài liệu cho chúng ta tham khảo,
Và nghiên cứu về biến đổi khí hậu khu vực đồng bằng sông Cửu Long ta có thể kể đến PGS.TS Nguyễn Kim Hồng (2014), với cuốn “Đồng bằng sông Cửu Long, Biến đổi khí hậu và an ninh lương thực Đã nêu rõ lên được những tác động
mà BĐKH gây ra tại ĐBSCL, những ảnh hưởng nặng nề đó đang khiến cho tình trạng an ninh lương thực vùng và cung cáp cho cả nước và xuất khẩu trong tương lai có thể bị suy giảm và khủng hoảng Đồng thời cũng đưa ra các giải pháp rất thiết thực nhằm giảm bớt ảnh hưởng BĐKH tại nơi đây
Bên cạnh đó cũng còn rất nhiều bài báo khoa học, những bài nghiên cứu, bài tham luận tại những hội thảo lớn bàn luận về BĐKH tại ĐBSCL mà ta có thể kể đến như : “ Tác động kép của BĐKH tại ĐBSCL” của GS.TS Nguyễn Ngọc Trân ( 2010 ), trình bày tại Hội thảo khoa học ” Khoa học Địa lí và vấn đề BĐKH : nghiên cứu
và giảng dạy”, “Giải pháp phát triển nông nghiệp tại Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh BĐKH” và còn rất nhiều tài liệu khác
2 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, Trái đất đang bị ảnh hưởng nặng nề do các tác động tiêu cực từ thiên tai Trong đó, vấn đề nhứt nhối mà toàn nhân loại đang phải đối mặt là biến đổi khí hậu Lượng khí CO2 (cac1bon dioxit ) tạo ra khí thải nhà kính vô cùng lớn đang phá huỷ mạnh mẽ bầu khí quyển, làm nhiệt độ Trái đất ngày càng nóng lên và xuất hiện các hiện tượng thời tiết cực đoan khó có thể kiểm soát và dự đoán
Việt Nam là một trong những quốc gia sẽ chịu ảnh hưởng nhiều của biến đổi khí hậu, đặc biệt là khu vực đồng bằng sông Cửu Long Với diện tích 40.000 k㎡ đồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa lớn, cung cấp lương thực cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu, với 700 km đường bờ biển, 360.000 k㎡ vùng đặc quyền kinh tế
và sự phát triển của nhiều ngành kinh tế biển ( du lịch, giao thông , đánh bắt bắt
Trang 13khai thác khoáng sản, thuỷ sản, quốc phòng) Biến đổi khí hậu hiện nay có thể làm đồng bằng Sông Cửu Long sẽ chịu nhiều tổn thất : mất mùa, mất đất, dịch bệnh,
Như vậy, việc cấp thiết hiện nay là làm thế nào để bảo vệ ĐBSCL, cần phải
có các cuộc nghiên cứu, tìm hiểu về biến đổi khí hậu, tác động, ảnh hưởng của nó,
để từ đó có các biện pháp phòng tránh và hạn chế tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu đến khu vực ĐBSCL, đảm bảo ổn định sản xuất và đời sống cho người dân
3 Mục tiêu đề tài
Mục tiêu chung : Thu thập các tài liệu thông tin về biến đổi khí hậu ở
ĐBSCL, từ đó phân tích ,đánh giá Từ đó đưa ra các kết luận , hướng giải quyết có giá trị thiết thực nhằm phòng tránh và giảm ảnh hưởng mà biến đổi khí hậu gây ra Mục tiêu cụ thể :
- Tìm hiểu về các nguyên nhân hình thành, cơ chế hoạt động của biến đổi khí hậu , các loại hình biến đổi khí hậu
- Phân tích và đánh giá diễn biến của biến đổi khí hậu ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long và thu thập các số liệu chứng minh tình hình ngày càng khó kiểm soát của biến đổi khí hậu
- Phân tích và đánh giá ảnh hưởng của biến đổi đến các điều kiện tự nhiên vùng đồng bằng Sông Cửu Long
- Đề xuất các giải pháp cấp thiết và lâu dài để hạn chế và phòng tránh những tác động của biến đổi khí hậu vùng ĐBSCL Nâng cao ý thức bảo vệ môi trưởng của người dân để giảm bớt tác hại của biến đổi khí hậu
Trang 14+ Phạm vi không gian : Nghiên cứu biến đổi khí hậu tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt tại các khu vực chịu ảnh hưởng nhiều nhất, dễ tổn thương ( các vùng chịu ảnh hưởng của biển xâm nhập , hạn hán, như Bến Tre, Bạc Liêu, , ) + Phạm vi thời gian : Các tài liệu , số liệu sẽ được dẫn chứng được thu thập trong vòng 10 năm gần đây (2005-2016)
5 Quan điểm nghiên cứu
+ Quan điểm hệ thống :
Biến đổi khí hậu khu vực Đồng bằng sông Cửu Long không chỉ là biến đổi khí hậu của chỉ vùng này mà nó còn mang tính chất ảnh hưởng đến cả nước Việt Nam và là một phần của hệ thống những biến đổi khí hậu toàn cầu, trong nội tại biến đổi khí hậu ĐBSCL lại có những biến đổi đặc trưng của các hệ thống nhỏ hơn bao gồm các vùng, các tỉnh,….Vì vậy khi nghiên cứu BĐKH ở vùng ĐBSCL cần tìm hiểu kĩ và xác định kĩ các thành phần, các mối quan hệ giữa các hệ thống,các biểu hiện của chúng để có thể thấy rõ được biến đổi tác động qua lại của chúng vơi nhau
+ Quan điểm tổng hợp :
Biến đổi khí hậu là sự tổng hợp của nhiều nguyên nhân, biểu hiện bao gồm các yếu tố tự nhiên lẫn kinh tế xã hội gây ra Các yếu tố này tác động qua lại với nhau gây ra BĐKH Do đó ta cần phải xác định được các yếu tố đó và tác động ảnh hưởng của chúng đến sự BĐKH ở ĐBSCL
+ Quan điểm lãnh thổ :
ĐBSCL với lãnh thổ Việt Nam có mối quan hệ thống nhất với nhau, ĐBSCL cung cấp lương thực thực phẩm đóng góp vào kinh tế Việt Nam, Nhà nước lại xây dựng phát triển kinh tế cho khu vực ĐBSCL, nếu có một sự ảnh hưởng, tác động nào đó đến ĐBSCL cũng gây ra ảnh hưởng lên phạm vi cả nước Vận dụng mối quan hệ đó ta sẽ xem xét được ảnh hưởng của BĐKH ở ĐBSCL và ảnh hưởng lên phạm vi chung cả nước
Trang 15+ Quan điểm lịch sử - viễn cảnh :
Dựa vào quan điểm này ta có thể nghiên cứu, phân tích và đánh giá khách quan về thực trạng BĐKH vùng ĐBSCL giai đoạn từ 2005 đến 2016, và có thể dự đoán được tương lai cũng như đưa gia các giải pháp ứng phó BĐKH trong tương lai
+ Quan điểm phát triển bền vững :
Hiện nay việc sản xuất sinh hoạt cũng như là hoạt động đầu tư, công nghiệp
ở ĐBSCL diễn ra rất mạnh mẽ, tuy nhiên lại không đảm bảo được các yếu tố môi trường, gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường, góp phần làm biến đổi khí hậu và mang nhiều nguy cơ của việc phát triển thiếu bền vững Cho nên cần xem xát và đánh giá được các hoạt động của chúng ta đến môi trường và tác động của BĐKH tại vùng để có hướng phát triển và các giải pháp phòng chống, ứng phó kip6 thời và lạu dài
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra thu thập, xử lí thông tin các tài liệu Việc thu thập là phương pháp đầu tiên để có được các thông tin cơ bản tổng quát và chuyên sâu về biến đổi khí hậu tại ĐBSCL Tài liệu được thu thập từ nhiểu nguồn bởi nhiều tác giả cũng như các nhà nghiên cứu về các vần đề của đề tài và các vấn đề liên quan khác Từ đó, xử lý, chọn lọc các tài liệu thông tin quan trọng, cần thiết cho đề tài Ngoài ra cũng cần thu thập các tài liệu liên quan với biến đổi khí hậu ( các thiên tai,
sự thay đổi của biến đổi khí hậu qua từng giai đoạn, các cơ chế khách quan…)
- Phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp : Từ các tài liệu , thông tin thu thập được, ta phân tích các nội dung quan trọng , xử lí các số liệu , thông tin và chọn ra các dữ kiện có giá trị, cần thiết, sau đó thống kê, tổng hợp lại một các cụ thể
để đưa ra được các kết luận, các giải pháp cấp thiết nhằm phòng tránh và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu
Trang 16- Phương pháp bản đồ, biểu đồ : là phương pháp truyền thống của ngành Khoa học
Địa Lí Dựa vào các số liệu, kí hiệu trong bản đồ , biểu đồ, để đánh giá, nghiên cứu
về hiện tượng, đề tài nghiên cứu Đây là cách dễ lấy thông tin tổng quát nhất, nhưng
lại thiếu sự chi tiết và đầy đủ, phải nghiên cứu nhiều loại bản đồ , biểu đồ của nhiều
thành phần tự nhiên, kinh tế - xã hội khác nhau
- Phương pháp khảo sát thực địa : Cũng là phương pháp truyền thống của
khoa học địa lí , được sử dụng để thu thập tài liệu của về sự nguyên nhân, đặc điểm,
diễn biến ,và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến khu vực đồng bằng sông Cửu
Long Đây là phương pháp tốt nhất , duy nhất để thu được khối lượng thông tin cần
thiết, đáng tin cậy trong việc xây dựng hệ thống tư liệu cho các phương pháp nghiên
cứu khác
7 Nội dung nghiên cứu và Tiến độ thực hiện
+ Nội dung nghiên cứu
CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
CHƯƠNG II : BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
CHƯƠNG III : GIÁI PHÁP ỨNG PHÓ VÀ GIẢM GIẢM THIỂU TÁC ĐỘNG
CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
+ Tiến độ thực hiện
STT Công việc chủ yếu
Thời gian (bắt đầu-kết thúc)
Trang 17B NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Khái niệm biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của hệ thống gồm : khí quyển, thủy quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên (núi lửa phun trào, di chuyển các mảng lục địa,…) và nhân tạo (hoạt động sản xuất, sinh hoạt ) trong một giai đoạn nhất định được tính bằng thập kỷ hay hàng triệu năm[1].Trong cổ địa lí biến đổi khí vốn còn được biết là chu trình băng hà và gian băng Và ngày nay khi nhắc đến biến đổi khí hậu người ta sẽ nghĩ đến sự nóng lên toàn, sự bất thường về khí hậu và nồng độ CO2 ( Cac1bon dioxit ) trong khí quyển tăng nhanh chóng gây ra tác hại sự sống
1.1.2 Các dấu hiệu nhận biết biến đổi khí hậu
a) Sự nóng lên của khí quyển và Trái Đất nói chung
Thống kê những năm gần đây, nhiệt độ trên Trái Đất ngày càng cao và có xu hướng tăng mạnh trong tương lai, theo cơ quan khí tượng Anh, các dữ liệu thu thập cho thấy nhiệt độ trung bình toàn cầu hiện nay đã tăng lên 0,6°C so với thời kỳ tiền công nghiệp (1850-1900) Số ngày nắng, giờ nắng nóng tăng lên ở nhiều khu vực, những đợt nắng nóng và số ngày nắng nóng này kéo dài cũng như diễn ra rõ rệt vào những năm có hiện tượng thời tiết cực đoan El Nino hoạt động Đồng thời nhiệt độ
bề mặt nước biển cũng đã gia tăng kỷ lục trong năm 2014, khi nhiệt độ lớp nước bề mặt đại dương đang dần gia tăng, không thể kiểm soát, nó cũng làm cho nhiệt độ trung bình của khí hậu toàn cầu cũng không ngừng tăng theo Các nhà khoa học dự đoán rằng những đợt nắng nóng và nhiệt độ khí quyển Trái Đất sẽ tăng lên tiếp tục trong tương lại, đến một giai đoạn nào đó nó có thể phá hủy đi môi trường sống của chúng ta và các loài động thực vật, nếu chúng ta không tìm cách khắc phục và các giải pháp để hạn chế sự tăng nhiệt độ này Điền hình như là đợt nắng nóng kỷ lục
Trang 18diễn ra vào tháng 5/2015 tại Ấn Độ xảy ra ở khu vực miền trung, tây bắc, phía đông
và nam nước này gây thiệt mạng cho 1118 người Hai địa phương ảnh hưởng nghiêm trọng nhất (về số người thiệt mạng và mức nhiệt độ cao) là bang Andhra Pradesh Thành phố Khammam, bang Telangana, ngày 23/5/2015 ghi nhận mức nhiệt 48°C Nhiều nơi tại bang này và các vùng lân cận thậm chí nhiệt độ đo được đạt gần 50°C, gây ảnh hưởng nặng nề đến nền nông nghiệp cũng như nền kinh tế Ấn
Độ Hay tại Việt Nam vào những ngày cuối tháng 6 đầu tháng 7/2015 nắng nóng đã xảy ra trên diện rộng ở khu vực Bắc Bộ và các tỉnh ven biển Trung Bộ với nhiệt độ cao nhất phổ biến 36 – 39°C, một số nơi trên 39C như: Hòa Bình 39.5°C, Sơn Tây (Hà Nội) 40.1°C, và Nho Quan (Ninh Bình) 40.0°C Các tỉnh miền Trung cũng ghi nhận nắng nóng dữ dội với Tĩnh Gia (Thanh Hóa) 39.9°C, Sầm Sơn (Thanh Hóa) và
Đô Lương (Nghệ An) 39.5°C
Biểu đồ 1 1 Biểu đồ thể hiện sự gia tăng nhiệt độ thế giới từ năm 1880 – 2000, đã
tăng lên 0,6°C ( Nguồn : NASA)
b) Sự thay đổi của các thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật trên Trái Đất
Như chúng ta đã biết thành phần khí quyển trái đất khá ổn định theo phương nằm ngang và phân dị theo phương thẳng đứng, được giữ lại bởi lực hấp dẫn của Trái Đất, mật độ không khí của bầu khí quyển giảm dần theo độ cao Thành phần khí
Trang 19quyển gồm có nitơ (78,1% theo thể tích) và ôxy (20,9%.), một lượng nhỏ agon (0,9%), CO2 (dao động, khoảng 0,035%), hơi nước và một số chất khí khác Phần lớn khối lượng 5.1015 tấn của toàn bộ khí quyển tập trung ở tầng đối lưu và bình lưu Nhưng hiện nay các thành phần và chất lượng khí quyển đang dần có sự thay đổi theo chiều hướng tiêu cực, sự tăng lên chủ yếu của các loại khí độc hại như : CO2, NO2, Metan trong đó là sự tăng lên của khí CO2 gây ra hiệu ứng nhà kính và nóng lên toàn cầu, đang dần làm cho khí quyển ngày càng nóng lên, nhiệt độ tăng ngày một cao gây tan băng ở các khu vực cực và cận cực làm giải phóng khối lượng lớn khí Metan ( Ví dụ như : Ở khu vực áp cao Tây Xibia thuộc nước Nga nhờ băng
hà đã bao phủ và chôn vùi đi một lượng rất lớn khí Metan có mặt trên Trái Đất, nhưng nếu như nồng độ khí CO2 ngày càng tăng, Trái Đất ngày càng nóng lên như hiện nay thì sẽ làm tan lớp băng bao bọc ở nơi này và giải phóng lượng khí Metan được chôn vùi ở đó, điều đó sẽ làm hành tinh chúng ta nóng một cách nhanh hơn so với những gì mà khí CO2 gây ra, nếu điều này xảy ra, Trái Đất nóng lên một cách không thể kiểm soát và chỉ trong một thời gian ngắn chính thành phần khí Metan này
sẽ thiêu cháy những gì tồn tại trên Trái Đất, tiêu diệt đi con người và sinh vật đang sống tại đây ) Trong năm 2014, lượng khí thải nhà kính bao gồm CO2, khí Mê-tan
và NO2 đã nhanh chóng vượt mức kỷ lục, trong đó nồng độ CO2 trong bầu khí quyển đo được bởi NASA đã đạt tới 397,2 phần triệu (ppm), tăng từ mức 354 phần triệu ppm vào năm 1990 Và trong năm 2016 đã tăng lên mức 405,6 phần triệu ppm
Và hiện nay việc chúng ta có thể thấy và cảm nhận rõ nhất của sự thay đổi các thành phần và chất lượng khí quyển, đó chính là sự suy giảm tầng Ozon Trong tầng bình lưu luôn tồn tại một quá trình hình thành và phá huỷ khí ozon, dẫn tới việc xuất hiện một lớp ozon mỏng với chiều dày trong điều kiện mật độ không khí bình thường khoảng vài chục centimet Lớp khí này có tác dụng ngăn các tia tử ngoại chiếu xuống bề mặt Trái Đất Nhưng từ năm 1979 cho đến năm 1990 lượng ozon trong tầng bình lưu đã suy giảm vào khoảng 5% và vẫn đang tiếp tục trên đà suy giảm và nguyên nhân chủ yếu là do việc sử dụng và sản xuất tạo các hợp chất cacbon, clo và flo ( CFC – chlorofluorocacbons một chất khí không có trong tự nhiên chỉ mới có trong khí quyển do con người sản xuất ra kể từ khi công nghiệp
Trang 20làm lạnh, hóa mỹ phẩm phát triển.) Sự suy giảm ozon đang được quan sát thấy và các dự đoán suy giảm trong tương lai đã trở thành một mối quan tâm toàn cầu Theo kết quả nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học thuộc cơ quan Hàng không Vũ trụ NASA ( Hoa Kỳ ) cho biết lỗ thủng tầng ozon tại Nam Cực đã mở rộng tới 17,6 triệu km2 - mức lớn nhất từ trước tới nay Đồng thời, các nhà khoa học cũng cảnh báo lỗ thủng tầng ozon ở 2 cực của trái đất vẫn đang tiếp tục mở rộng nhưng ở Nam Cực mở rộng hơn Bắc Cực Việc suy giảm lớp ôzôn này tạo đà cho sự xâm nhập mạnh mẽ của tia cực tím ( tia tử ngoại ) có hại vào bầu khí quyển gây ra các bệnh tai biến về mắt, giảm thị lực, nhiễm khuẩn, cườm mắt… và da như : như da sạm nắng, thoái hóa da, ung thư da,… cho con người và các sinh vật
Biểu đồ 1 2 Biểu đồ thể hiện sự gia tăng nồng độ khí Cacbon dioxit trên toàn cầu
từ năm 2006 –2016, đơn vị ppm ( Nguồn :NASA)
c) Sự dâng cao của mực nước biển do tan băng dẫn tới ngập úng các vùng thấp trũng các đảo nhỏ trên biển
Trái Đất đang nóng dần lên với nhiệt độ tăng cao một cách đáng kể, chính điều này đã góp phần khiến biến đổi khí hậu trở nên phức tạp hơn, khó lường hơn, với nhiệt độ bề mặt nước biển ngày càng gia tăng cũng làm cho nhiệt độ trung bình của khí hậu toàn cầu không ngừng tăng theo, sự nóng lên này đang gây ra nguy cơ
vô cùng lớn đối với lớp băng vĩnh cửu tại hai cực nơi dự trữ nguồn nước ngọt khổng
lồ cho nhân loại và những khu vực núi cao tan đi khó kiểm soát, điều đó đã cung cấp một lượng lớn nước vào đại dương, làm mực nước biển toàn cầu dâng lên ngày càng
Trang 21cao, do đó đã gây ảnh hưởng nặng nề dẫn đến tình trạng ngập úng , khó thoát nước ở các quốc gia và vùng lãnh thổ ven biển có địa hình thấp cũng như các quốc gia đảo
và quần đảo : Hà Lan , Philippine, quần đảo Fiji, Bangladesh, Nếu như những khối băng khổng lồ này tan hết, nguy cơ về một trận đại hồng thủy kéo theo đó là khả năng xóa sổ hoặc làm ảnh hưởng tới rất nhiều các quốc gia ven biển, trong đó có Việt Nam là điều có thể xảy ra Mực nước biển toàn cầu đã tăng trung bình gần 7,62
cm kể từ 1992 là hệ quả trực tiếp của việc ấm dần lên và băng tan Đây là kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học NASA mới được công bố Ngay từ 2013, một hội thảo của Liên Hiệp Quốc đã dự đoán rằng mực nước biển sẽ dâng khoảng từ 30cm đến 90cm vào cuối thế kỉ này
Một số tình trạng băng tan tại nhiều nơi có thể cho ta thấy được mối nguy hại
từ sự ấm lên toàn cầu và biến đổi khí hậu đang ngày càng khó lường hơn như : Đảo Greenland một đảo lớn nằm trọn trong vùng Bắc cực nơi có lớp băng vĩnh cửu và nhiều sông băng với lớp băng bao phủ khá dày gần như 90-95% diện tích của đảo , nhiều nơi lớp băng dày lên đến 4300m Nhưng vào ngày 8/7/2012, ba vệ tinh của NASA phát hiện hầu như toàn bộ sông băng trên đảo Greenland bắt đầu tan chảy hiện tượng băng tan diễn ra trên toàn bộ đảo tổng diện tích của những vùng băng tan chảy tăng từ 40% lên 97% trong vòng 4 ngày Khu vực tan chảy chưa bao giờ vượt quá 55% diện tích Greenland trong ba thập niên qua
Biểu đồ 1 3 Biểu đổ thể hiện sự gia tăng mực nước biển thế giới từ năm 1995
– 2015, đơn vị mm ( Nguồn : NASA )
Trang 22d) Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của Trái Đất dẫn đến nguy cơ đe dọa sự sống của các loài sinh vật, hệ sinh thái và hoạt động của con người
Quá trình nóng lên toàn cầu đang có tác động rất xấu, ảnh hưởng mạnh và làm thay đổi đến sự phân bố và tồn tại của các đới khí hậu Như chúng ta đã biết trên Trái Đất tồn tại 5 đới khí hậu chính : 1 Nhiệt đới ( 23°27’ Bắc đến 23°27’ Nam ), 2 Ôn đới ( 23°27’ Bắc đến 66°33’ Bắc và 23°27’ Nam đến 66°33’ ) Nam và 2 Hàn đới ( từ 66°33’ Bắc đến cực Bắc địa cầu và 66°33’ Nam đến cực Nam địa cầu ), Các đới khí hậu này tồn tại đến một vĩ độ nhất định đã kể ở trên và có các đặc điểm khác nhau, ví
dụ : khu vực nhiệt đới có khí hậu nóng lượng mưa nhiều, khu vực ôn đới khí hậu mát
mẻ, khu vực hàn đới có khí hậu lạnh, ít mưa
Tuy nhiên do quá trình nóng lên toàn cầu, điều đó phù hợp với đặc điểm của khí hậu nhiệt đới, khi nhiệt độ ngày càng tăng nó sẽ làm mở rộng phạm vi phân bố của đới khí hậu nhiệt đới này lên vĩ độ cao hơn đồng thời làm thu hẹp phạm vi phân bố khí hậu ôn đới và hàn đới, sự thay đổi này mang lại rất nhiều tiêu cực và tác hại xấu cho
sự sống của hệ động thực vật đang tồn tại trên Trái Đất, khi đó môi trường sống của các loài sống ở khu vực ôn đới và hàn đới bị thu hẹp, nguồn thức ăn của chúng sẽ bị cạn kiệt, hệ sinh thái ở các khu vực này bị phá vỡ, các cánh rừng và hệ thực vật sẽ bị tàn phá, còn ở nhiệt đới khí hậu ở đây sẽ nóng hơn, đe dọa rất lớn đến môi trường
sống và hệ sinh thái động thực vật ở đới này
Trang 23Hình 1 1 Năm đới khí hậu chính trên thế giới( Nguồn Bộ GD-DT)
e) Sự thay đổi hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển ,chu trình tuần hoàn của nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hóa khác, tình trạng thất thường của bão, ấp thấp nhiệt đới và lũ lụt
Hoàn lưu khí quyển là tập hợp các luồng không khí chuyển động thành dòng khép kín với quy mô lớn trên phạm vi toàn cầu
Hình 1 2 Hoàn lưu khí quyển trên Trái Đất( Nguồn Bộ GD-DT)
Trang 24Khi nhiệt độ Trái Đất thay đổi, chủ yếu là ngày càng nóng lên, khí hậu ngày càng nóng sẽ làm khí áp giảm hình thành nhiều áp thấp, các đai áp thấp này mở rộng với phạm vi ngày càng lớn, điều này sẽ hút gió từ vùng áp cao về khu vực áp thấp, khi di chuyển về nơi áp thấp và chịu ảnh hưởng của lực Coriolis (lực lệch hướng do trái đất tự quay) nên hướng gió hút vào tâm áp thấp sẽ bị lệch hướng tạo thành hình thế gió xoáyhình thành các áp thấp nhiệt đới Khi áp thấp nhiệt đới đủ mạnh vì liên tục phát triển đủ năng lượng để thu hút gió và hơi nước mạnh lên sẽ hình thành bão nhiệt đới.Với sự nóng lên toàn cầu như hiện nay thì tình trạng áp thấp nhiệt đới và bão ngày càng nhiều và khó kiểm soát, hướng đi của các con bão cũng khó dự đoán hơn do sự nhiễu động của khí quyển và gió
Và biến đổi khí hậu không chỉ làm thay đổi hoàn lưu khí quyển mà còn ảnh hưởng đến nhiều chu trình sinh địa hóa khác, một ảnh hưởng mà ta có thể thấy đó là một số khu vực các con sông nhận được nguồn cung cấp nước từ băng tan trên núi
và các sông băng, ngày nay nguồn các con sông đấy đang ngày càng cạn kiệt do biến đổi khí hậu làm Trái Đất nóng lên nguồn băng và lưu lượng các con sông băng giảm, diện tích của chúng bị thu hẹp, điều đó gây ra tình trạng nước không đủ cung cấp hoặc nguồn nước băng tan không thể đến gần với địa điểm tồn tại của các dòng sông, điều đó gây ra một hiện tượng được gọi là “ Dòng sông bị đánh cắp “, khi mà nước của các con sông ngày càng cạn kiệt do mất nguồn cung cắp, hoặc hiện tượng chuyển dòng cung cấp cho khu vực khác ( Ví dụ : Con sông Slim tại khu vực phía Tây nước Mỹ hiện nay không còn được cung ấp nước do băng tan từ khu vực núi gần đó nữa, lòng sông gày nay đã khô cạn )
Một chu trình sinh địa hóa khác đó là một số vùng hiện tượng các con sông nguồn nước của chúng tăng cao do nhận được nguồn nước mưa cung cấp lớn hơn, hoặc lượng nước băng tan nhiều hơn gây ra các trận lũ lụt lớn, dẫn đến thiệt hại rất nhiều về người và tài sản Trái ngược lại một số khu vự trước đây màu mở nhưng do quá trình biến đổi khí hậu toàn cầu này mà trở nên khô hạn do thiếu guồn cấp nước
từ sông và các cơn mưa mùa gây ra hạn hán nặng, nhiều nơi đất ở đây bị phá hủy
Trang 25không thể phục hồi, hiện tượng sa mạc hoang mạc hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ Nếu khí hậu càng nóng lên thì các trận mưa nguồn cấp nước lại càng thất thường dễ dàng gây ra lũ lụt hạn hán cho nhiều vùng ảnh hưởng rất nặng nề đến đời sống và kinh tế của con người Và không những chỉ có các chu trình sinh địa hóa trên thay đổi, mà còn nhiều chu trình khác cũng có sự biến đổi như : mực nước các hồ, hệ sinh thái các vùng, các hoạt động hóa học diễn ra mạnh ( ví dụ một số chu trình cần tác động nhiệt độ để phản ứng, và nay nhiệt độ càng tăng như vậy sẽ làm các phản ứng hóa học này phát triển nhanh hơn gây ra các tác động thay đổi tính chất địa hình, thỗ nhưỡng,… nhanh hơn so với thời kì trước )
Hình 1 3 Ảnh hoạt động của xoáy thuận nhiệt đới, tạo ra các cơn bão, áp thấp
nhiệt đới (Nguồn : ảnh Vệ tinh)
f) Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái và dịch bệnh
Khi khí hậu thay đổi một số loài, thay đổi hướng thích nghi của nó một số loài bị rút ngắn mùa sinh sản hoặc bị kéo dài thời kì sinh sản, các loài bị rút ngắn thời kì sinh sản của mình gây ra tình trạng giảm số lượng loài, các con non sinh ra không đủ thời gian để phát triển, còn các loài thời kì sinh sản kéo dài ra sẽ làm tăng
số lượng của loài đó gây ra sự mất cân bằng trong chuỗi thức ăn và hệ sinh thái, các
Trang 26loài bị tăng số lượng, nhưng nguồn thức ăn không đáp ứng đủ, các loài giảm số lượng ngoài việc chết do trở thành thức ăn của loài khác, thì do số lượng ngày càng giảm có thể sẽ tuyệt chủng, qua đó tình trạng mất cân bằng sinh thái xảy ra nặng nề, nhiều chuỗi thức ăn bị thay đổi, nhiều loài chết đi Ngoài ra quá trình này còn làm một số loài sinh vật chết đi và tuyệt chủng do thay đổi khí hậu , nhiệt độ thích hợp, môi trường sống của chúng, nhất là các loài biến nhiệt, nếu nhiệt độ thay đổi vượt quá giới hạn nhiệt mà chúng có thể tồn tại thì chúng sẽ chết
Ngoài ra nhiệt độ nóng lên tạo điều kiện phát triển mạnh cho các loài vi khuẩn, vi sinh vật, virut như : virut H5N1, H1N1, Ecoli, Ebola, Mers, Zika… và các loài mang mầm bệnh như : Ruồi, muỗi, chuột, gián… Sẽ phát triển nhanh chóng phát tán nguồn bệnh Đồng thời biến đổi khí hậu cũng làm phạm vi khí hậu nóng lên
mở rộng tạo điều kiện cho sự lan rộng cho các loài virut, vi khuẩn và các loài truyền bệnh này ra nhiều khu vực, nhiều loài trong số chúng biến tính, phát triển ngày càng mạnh và khó kiểm soát hơn, điều này có thể gây ra những trận dịch bệnh, đại dịch lớn trên diện rộng, ở một khu vực, châu lục thậm chí ảnh hưởng toàn cầu
1.1.3 Nguyên nhân hình thành và cơ chế hoạt động của biến đổi khí hậu a) Nguyên nhân biến đối khí hậu do các quá trình tự nhiên
Quá trình biến đổi khí hậu đã diễn ra từ xa xưa trên Trái Đất nhưng rất chậm
và có tính chu kì hàng trăm đến hàng triệu năm Những yếu tố tự nhiên diễn ra đã làm cho khí hậu thay đổi trước khi có các hoạt động công, nông nghiệp của con người phát triển mạnh như ngày nay chủ yếu như :
- Các quá trình phun trào của núi lửa diễn ra đồng loạt phun ra một lượn lớn khí độc hại SO2 ( Sulfua dioxit ), hơi nước, bụi và tro vào bầu khí quyển Khối lượng lớn khí và tro có thể ảnh hưởng đến khí hậu trong nhiều năm Các hạt nhỏ được gọi là các sol khí được phun ra bởi núi lửa, các sol khí phản chiếu lại bức xạ (năng lượng) mặt trời trở lại vào không gian vì vậy chúng có tác dụng làm giảm nhiệt độ lớp bề mặt trái đất, các vụ cháy rừng do yếu tố tự nhiên, thay đổi cường độ sáng của Mặt trời, xuất hiện các điểm đen Mặt trời (Sunspots), thay đổi đại dương, thay đổi quỹ đạo quay của trái đất.,…thải ra lượng khí CO2 vào bầu khí quyển làm
Trang 27khí hậu trái đất có lúc nóng lên Các hiện tượng băng hà và gian băng trên Trái Đất
do lượng khí Oxi trong bầu khí quyển tăng cao, các tia bức xạ vào Trái Đất có thể phản xạ trở ra dễ dàng, khiến nhiệt độ Trái Đất hạ thấp Một ví dụ điển hình cho thấy tự nhiên làm biến đổi khí hậu là vào năm 1815 núi lửa Tambora hoạt động với chỉ số phun trào là 7 Vụ phun trào xảy ra trên đảo Sumbawa thuộc lãnh thổ Indonesia ngày nay và khiến cả một vùng chìm vào bóng tối Đó là lần phun trào núi lửa mạnh nhất trong lịch sử hiện đại Những dòng sông nham thạch nóng thoát
ra khỏi miệng núi cao khoảng 4.000 m, giết chết ngay lập tức khoảng 10.000 người Núi lửa phun ra một lượng tro, bụi, nham thạch và khí có tổng thể tích vào khoảng
50 tỷ m khối Một lượng khí sulphur dioxide (SO2) khổng lồ cũng bay vào khí quyển Vài chục nghìn người chết bởi dung nham, tro bụi, sóng thần, bệnh tật và đói Thảm họa Tambora còn gây tác động lớn đối với khí hậu thế giới Đám mây bụi từ núi lửa Tambora khiến nhiệt độ toàn cầu giảm từ 0,4 tới 0,7 độ C Một năm sau đó, nhiều khu vực ở châu Âu và Bắc Mỹ không có mùa hè Sương giá khiến mùa màng tại Canada và vùng New England của Mỹ thất bát Châu Âu cũng khốn đốn vì sự suy giảm nhiệt độ Bản thân núi lửa Tambora co lại tới vài nghìn mét, còn đỉnh của nó biến thành một hố lớn
Sự thay đổi bức xạ của mặt trời theo vĩ độ, càng gần xích đạo nhiệt độ và lượng bức xạ nhận được từ mặt trời càng lớn, cũng như chu kì trái Đất quay quanh mặt trời, do quỹ đạo của Trái Đất quanh mặt trời dạng elip có những lúc gần mặt trời làm lượng bức xạ lớn, những lúc xa mặt trời lượng bức xa nhận được ít hơn Ngoài ra còn sự ảnh hưởng của các dòng biển nóng và lạnh
Ngày nay các yếu tố tự nhiên này vẫn đang diễn ra và tiếp tục làm thay đổi tính chất khí hậu, môi trường thế giới nhưng không phải là nhân tố chính làm khí hậu thay đổi mạnh mẽ, nhanh chóng và ngày càng khó lường trong hiện tại Nguyên nhân chính của biến đổi khí hậu hiện nay chủ yếu nằm ở các hoạt động sinh hoạt và sản xuất của con người
b) Nguyên nhân biến đổi khí hậu do con người
Một nguyên nhân chính và chủ yếu của sự biến đổi khí hậu mạnh mẽ và nhanh chóng hiện này là do con người với các hoạt động kinh tế sản xuất để đáp
Trang 28ứng các nhu cầu đời sống của mình, họ cũng đang đồng thời tự hủy hoại môi trường sống và hành tinh này bởi các hoạt động khai thác sản xuất nhưng thiếu bảo vệ môi trường, chỉ quan tâm đến cái lợi trước mắt mà bỏ qua những tác hại lâu dài, hủy hoại đi môi trường sống và sự sống của các loài sinh vật khác, các hoạt động mà con người đã gây ra làm tác động mạnh mẽ đến khí hậu toàn cầu như :
- Trong hoạt động Nông – Lâm nghiệp
Trong hoạt động nông nghiệp từ ngàn xưa cho đến nay con người chúng ta ở
một số khu vực vẫn giữ tập tục, thói quen đốt nương rẫy, rơm rạ chuẩn bị cho việc trồng trọt vụ mùa mới hay việc phá rừng, đốt rừng để lấy đất canh tác điều đó đang gây ra quá trình tăng lượng khí CO2 độc hại vào môi trường gây biến đổi khí hậu và làm giảm khả năng xử lí CO2 của rừng do bị một cách chặt phá bừa bãi Qúa trình khai phá, đốt rừng làm nương nhưng lại không phục hồi và cải tạo lại đất để trồng rừng làm bạc màu đất gây ra tình trạng đất trống đồi trọc nhiều nơi
Ngoài phá rừng để làm nương rẫy con người còn khai thác thác một cách tận diệt tài nguyên rừng như : lấy gỗ phục vụ ngành lâm nghiệp chế biến gỗ, khai thác các rừng đầu nguồn ồ ạt,… Dẫn đến việc phá đi những lá phổi xanh trong việc lọc không khí, bên cạnh đó nhiều quốc gia vẫn chưa mạnh tay hay nghiêm chỉnh trong việc ngăn cắm việc khai thác và buôn bán gỗ lậu, không có các quy hoạch chiến lược trong việc bảo vệ các khu rừng nguyên sinh, dẫn đến các tỉnh trạng khai thác bừa bãi gây ra hiện tượng đất trống đồi trọc ở nhiều vùng núi đồi Khi không có thảm thực vật che phủ giữ nước thì những cơn mưa từ trên núi có thể biến thành những trận lũ nguy hiểm cướp đi sinh mạng của con người nhất là ngày nay khi biến đổi khí hậu ngày càng khó lường
- Trong các hoạt động công nghiệp – xây dựng
Đây là nguyên nhân chủ yếu trong việc góp phần làm cho làm biến đổi khí hậu trở nên ngày càng mạnh mẽ và khó lường trong thời đại ngày nay Kể từ khi các hoạt động công nghiệp bắt đầu phát triển và con người biết sử dụng các nguyên liệu hóa thạch làm năng lượng, Đó chính là thành phần chính trong việc đóng góp vào
Trang 29sự phát triển của các quốc gia cũng là lúc khí hậu bị thay đổi nhiều nhất Các hoạt động công nghiệp của con người cung cấp một lượng CO2 cực lớn vào bầu khí quyển và cả các chất khí độc hại không có trong tự nhiên như CFC vừa là khí nhà kính với tiềm năng làm nóng lên toàn cầu lớn gấp nhiều lần khí CO2, vừa là chất phá hủy tầng ôzôn bình lưu Đầu tiên ta thấy rõ nhất là việc xây các nhà máy sản xuất hàng hóa công nghiệp, chúng góp phần thải vào không khí lượng khí thải lớn không qua xử lí, các hoạt động sản xuất công nghiệp này của nhiều quốc gia vẫn còn chủ yếu chú trọng vào lợi nhuận kinh tế chưa quan tâm nhiều đến tác hại của nó đối với môi trường
Việc khai thác và sử dụng triệt để các nguồn nguyên nhiên liệu hóa thạch như : Than đá, dầu mỏ,… đang càng làm cho biến đổi khí hậu trở nên tồi tệ hơn Dù không thể chối cải rằng nguồn nguyên nhiên liệu hóa thạch rất có ích và tác dụng cao trong việc phục vụ rất nhiều cho các hoạt động của đời sống, từ cung cấp năng lượng cho nhà máy nhiệt điện ( hiện nhiệt điện đang là nguồn cung cấp năng lượng chính cho các hoạt động kinh tế sản xuất), cung cấp năng lượng cho các loại máy móc, động cơ , các chế phẩm từ nguồn này cũng đóng góp rất đáng kể trong sản xuất các loại nhựa, nylong, hóa phẩm, nhựa đường,… Nhưng bởi việc đốt cháy các nguyên nhiên liệu này sẽ sinh ra lượng khí CO2 vô cùng lớn vào bầu khí quyển, cũng như sinh ra nhiều chất khí độc hại khác như SO2, NO2, ( lưu huỳnh dioxit, nito dioxit, ) rất có hại cho môi trường Với vai trò to lớn của mình nguồn nguyên liệu hóa thạch này vẫn là một trong những nguồn cung cấp năng lượng cho các hoạt động sản xuất, công nghiệp và sinh hoạt mà không có loại nguyên liệu nào ít gây hại hoặc không gây hại cho môi trường có thể thay thế được hoàn toàn Do đó con người vẫn chủ yếu sử dụng nguồn nguyên liệu này, và như vậy biến đổi khí hậu lại ngày càng tiêu cực và nguy hiểm hơn
Ngoài ra trong lĩnh vực giao thông vận tải nguồn nguyên liệu hóa thạch này chính là nguồn năng lượng giúp động cơ các loại xe hoạt động và di chuyển, việc gia tăng dân số đồng thời cũng làm cho nhu cầu về các loại xe, phương tiện vận chuyển trở nên bùng nổ, Hoạt động lưu hành của các phương tiện giao thông hàng
Trang 30ngày thải vào khí quyển rất nhiều khói bụi, làm cho các thành phần chất khí trong khí quyển thay đổi hàm lượng một cách rõ rệt nhất là hàm lượng CO2
Biểu đồ 1 4 Biểu đồ thể hiện nguồn cacbon dioxit toàn cầu thải ra từ việc sử dụng nguyên nhiên liệu hóa thạch từ năm 1900 – 2010 ( Nguồn : Cơ quan bảo
vệ môi sinh Hoa Kỳ US EPA )
- Trong hoạt động sinh hoạt đời sống của con người
Ngoài các quá trình kinh tế sản xuất, quá trình hoạt động sinh hoạt của con người cũng là một yếu tố góp phần không nhỏ vào quá trình biến đổi khí hậu hiện nay Việc sử dụng nhiều loại phương tiện giao thông gây ô nhiễm, đốt rác, sử dụng các hệ thống điều hòa khí hậu, … của con người cung cấp một lượng khí CO2 và làm bầu khí quyển nóng lên nhanh chóng
Ngoài ra việc gia tăng và bùng nổ dân số cũng là một điều quan trọng trong việc biến đổi khí hậu hiện nay, Dân số thế giới ngày nay con người ngày càng đông đòi hỏi diện tích sinh sống, trồng trọt và sản xuất phải được mở rộng điều đó đồng nghĩa với việc phá đi những cánh rừng mở rộng diện tích đất sinh sống, làm mất đi nguồn xử lí khí CO2 Không những vậy việc dân số bùng nổ cũng làm cho khối lượng khí CO2 tăng cao bởi quá trình hô hấp của chúng ta, dân số càng đông thì lượng khí CO2 thải ra càng lớn
Trang 31Chính những nguyên nhân trên đang dẫn Trái Đất đến tình trạng ngày càng
nóng lên, gây ra hiệu ứng nhà kính (tác nhân chính của biến đổi khí hậu ) và nhiều
vấn đề tiêu cực khác trong tự nhiên Và cơ chế hoạt động của hiệu ứng nhà kính như sau : Theo quy luật tự nhiên Trái Đất của chúng ta được mặt trời chiếu sáng với lượng nhiệt vừa đủ để cho sự sống được hình thành và phát triển, lượng ánh sáng mặt trời được Trái Đất hấp thụ dưới dạng các tia bức xạ sóng ngắn, các tia sóng này
đủ mạnh để xuyên qua bầu khí quyển và đến Trái Đất Tuy nhiên chỉ có một nửa các tia bức xạ này vào được bên trong hành tinh, nửa còn lại bị phản xạ trở lại bên ngoài không gian bởi tầng khí quyển và Trái Đất Một nửa lượng bức xạ vào được bên trong hành tinh và được mặt đất hấp thụ, giúp sưởi ấm bề mặt của hành tinh Nhưng một phần các tia bức xạ vào được bên trong ấy lại không được Trái Đất hấp thụ và tiếp tục phản chiếu ra bên ngoài dưới dạng các tia bức xạ sóng dài yếu hơn
Và con người chúng ta trong đời sống của mình đã tiến hành các hoạt động công nghiệp, khai thác, và tàn phá thiên nhiên vô tội vạ, đã làm mất đi các lớp phủ thực vật là nhân tố quan trọng trong việc điều hòa khí hậu hấp thụ khí CO2 và thải ra khí Oxi trên hành tinh này, điều đó làm lượng CO2 ngày càng tăng cao, đồng thời các hoạt động công nghiệp, khai thác vẫn ngày càng tăng khiến lượng CO2 này không
có khả năng phân giải hết và tồn tại ngày một dày đặc trong không gian, kết hợp cùng khí thải CFC do con người tạo ra bức màn chắn không cho nhiệt độ ( dưới dạng các tia sóng dài ) thoát ra bên ngoài Trái Đất Khi Trái Đất hấp thụ nhiệt dưới dạng các tia sóng ngắn, các tia này khá mạnh để xuyên vào bầu khí quyển và vượt qua bức màn chắn CO2 ấy, nhưng khi Trái Đất phát xạ trả lại vào không gian lượng nhiệt dưới dạng các tia bức xạ sóng dài khá yếu, những tia này không đủ mạnh để thoát ra bên ngoài tiếp tục phản xạ lại vào bề mặt Trái Đất, ngày càng tích tụ và tồn tại làm Trái Đất ngày càng nóng lên, đồng thời với lượng khí CFC thải ra làm tầng Ozon bị thủng ngày càng lớn, tạo điều kiện cho các tia bức xạ có hại xâm nhập vào hành tinh của chúng ta gây ra nhiều kiểu khí hậu cực đoan, những sự thay đổi xấu trong tự nhiên như đã nói ở phần biểu hiện, ảnh hưởng đến sự sống, việc thích nghi của các sinh vật, nhiều dịch bệnh thiên tai khiến nhiều loài tuyệt chủng, khiến hành tinh này có thể trở thành một hành tinh chết nếu không có biện pháp hạn chế hoặc
Trang 32ứng phó, đây cũng chính là cơ chế của biến đổi khí hậu ngày nay với nguyên nhân chính nằm ở con người của chúng ta
Hình 1 4 Ảnh minh họa quá trình hình thành hiệu ứng nhà kính trênTrái Đất (
nguồn : Địa lí và cuộc sống )
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Biến đổi khí hậu toàn cầu
a) Biến đổi của nhiệt độ
Ngày nay, nhiệt độ trung bình toàn cầu đã trở thành thước đo phổ biến về thực trạng biến đổi khí hậu thế giới Thước đo đó nói lên một điều quan trọng rằng, Trái Đất chúng ta đang nóng dần lên Hiện tượng nóng lên toàn cầu trong hệ thống khí hậu Trái Đất hiện nay với mức tăng nhiệt độ 0.740C trong 100 năm qua ( 1906-2005) là một hiện tượng chưa từng có trong lịch sử loài người Chúng ta biết rằng,
xu thế đó ngày càng phát triển mạnh mẽ: mỗi thập kỉ nhiệt độ toàn cầu lại tăng lên 0,2 0C Nếu tính đến 2012, thì trong giai đoạn 1901-2012 đã tăng 0.89 0C, riêng giai đoạn 1951-2012 đã tăng khoảng 0.72 0
C
Trang 33Nhiệt độ trung bình ở Bắc Cực tăng nhanh gấp 2 lần mức trung bình toàn cầu, diện tích của biển Bắc Cực được bao phủ bởi băng trong mỗi mùa hè đang dần thu hẹp lại, trong khi ở Nam Cực xuất hiện một thời kì nóng 1925-1945
Nhiệt độ cực trị cũng có xu thế phù hợp với nhiệt độ trung bình, kết quả là giảm số đêm lạnh và tăng số ngày nóng và biên độ nhiệt độ ngày giảm đi chừng 0,070C mỗi thập niên
Nhiệt độ ở tầng trên của lớp băng vĩnh cửu ở Bắc Cực đã tăng 30C kể từ năm 1980 đến nay
Giai đoạn 1995-2006, có 11 năm ( trừ 1996) được xếp vào danh sách 12 năm nhiệt độ cao nhất trong lịch sử quan trắc nhiệt độ kể từ năm 1850, trong đó nóng nhất là năm 1998 và năm 2005 Riêng 5 năm (2001-2005) có nhiệt độ trung bình cao hơn 0,440c so với chuẩn trung bình của thời kì 1961-1990
Năm 2010 cũng so sánh tương đương với năm nóng kỉ lục 2005, với nhiệt độ đất liền và bề mặt biển toàn cầu cao hơn 0,620C so với nhiệt độ trung bình 13,90C của thế kỉ XX ( theo cục quản lý đại dương và khí quyển quốc gia Mỹ - National Oceanic and Atmospheric Administration - NOAA )
b) Biến đổi của các yếu tố khí hậu và thời tiết khác
Một trong những ảnh hưởng lớn nhất của biến đổi khí hậu là việc tan chảy của các khối băng trên khắp thế giới
Băng tan ở 2 cực Trái Đất và núi cao: từ năm 1978 diện tích trung bình hằng năm của băng biển Bắc Cực bị thu hẹp 2,7%/1 thập kỷ Riêng mùa hè giảm 7,4%/1 thập niên, theo trung tâm Dữ liệu Băng tuyết quốc gia Hoa Kì, tính đến ngày 16/09/2012, diện tích băng ở Bắc Cực chỉ còn 3,4 triệu km2 Nói cách khác, băng biển Bắc Cực đã bị mất 80% khối lượng của nó ở thời điểm hiện tại Băng ở Nam Cực cũng đang tan, những sông băng lớn ở Tây Nam Cực đang trôi về phía đại dương Năm 1995, tảng băng Larsen A trên bán đảo Nam Cực sụp đổ và bắt đầu tan chảy, những năm sau đó, các tảng băng lớn ở đây cũng sụp đổ theo, dần biến mất
Trang 34Cùng với đó, nhiệt độ ở phía Nam bán cầu tăng khoảng 2,80C đã khiến cho băng mùa hè ở đây tan chảy nhanh gấp 10 lần với 600 năm trước Điều này đã chứng minh rằng, mức độ tan băng ở bán đảo Nam Cực đặc biệt nhạy cảm với sự gia tăng nhiệt độ trong thế kỉ XX Dải băng lớn thứ hai trên thế giới sau Nam Cực-Greenland cũng đang dần biến mất với tốc độ “chóng mặt” Ba vệ tinh của NASA phát hiện ra, gần như toàn bộ sông băng lớn của Greenland đột ngột tan chảy trong tháng 7/2012 Ngay cả trạm Summit – nơi lạnh nhất và cao nhất trên đảo Greenland cũng bắt đầu tan chảy
Xu thế tiếp tục giảm diện tích băng ở Bắc Cực trong thời kỳ 1979-2010 vào tháng 2 là 0,44 triệu km/thập niên( 2,9%), vào tháng 9 là 0,79 triệu km2/ thập niên (11,9%) (Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu, tiếng Anh: Intergovernmental Panel on Climate Change - IPCC, 04/2010)
Mực nước biển trung bình toàn cầu đã tăng với tỉ lệ trung bình 1,8mm/năm trong thời kỳ 1961-2003 và tăng nhanh hơn với tỉ lệ 3,1mm/năm trong thời kỳ 1993-2003 Tổn cộng mực nước trung bình toàn cầu đã tăng lên 0,17m trong khoảng 100 năm gần đây Dự tính đến cuối thế kỉ XXI mực nước trung bình sẽ tăng 0,18-0,59m s với cuối thế kỉ XXI (IPCC, AR4) Tuy nhiên, những biến đổi mới nhất
về mực nước biển và nhiệt độ toàn cầu và những nghiên cứu động lực học của sự tan chảy băng cho thấy phạm vi các kịch bản biến đổi khí hậu trong AR4 về mực nước biển dâng trong thế kỉ XXI là 0,8-1,8m (IPCC,04/2010)
Thiên tai và các hiện tượng thời tiết cực đoan gia tăng ở nhiều nơi, trong đó đáng chú ý là:
Lượng mưa dao động mạnh mẽ theo thời gian và không gian ở nhiều khu vực trên thế giới, các sự kiện mưa lớn tăng lên ở phần lớn diện tích lục địa;
Từ năm 1970, những đợt hạn hán nặng kéo dài xảy ra trên nhiều vùng rộng lớn đặc biệt ở vùng nhiệt đới cận nhiệt đới;
Hoạt động của xoáy thuận nhiệt đới mạnh tăng lên ở Đại Tây Dương và có thể các vùng khác;
Trang 35Hiện tượng El Nino, La Nina xảy ra mạnh mẽ hơn trong những thập kỉ gần đây
Khắp các châu lục của thế giới đang phải đối mặt và chống chọi với các hiện tượng thời tiết cực đoan : lũ lụt, khô hạn, nắng nóng Có khi một khu vực vừa trải qua cơn khô hạn kỉ lục đã phải đối mặt với thiên tai ở một thái cực khác –lũ lụt
Châu Á: hơn 1200 người đã thiệt mạng do trận lở đất kinh hoàng tại tỉnh Cam Túc, Trung Quốc và hơn 500 người mất tích Lũ lụt và lở đất ở Trung Quốc năm 2010 đã giết chết hơn 3000 người và khiến 12 triệu người phải rời bỏ nhà cửa Mùa xuân năm 2009 vùng Tây Nam Trung Quốc cũng đã phải chống trọi một trận khô hạn được coi là tồi tệ nhất trong vòng một thế kỉ và sau đó vùng đất khô hạn này lại bị lũ lụt tàn phá Một đất nước Châu Á khác cũng đang phải gánh chịu những hậu tàn khóc của thiên tai là Pakistan với trận lụt tồi tệ nhất kể từ năm 1929 Cơn mưa dữ dội cuối tháng 7 năm 2010 đã khiến mực nước sông Indus dâng cao, nhấn chìm một vùng lãnh thổ rộng lớn của Pakistan, khiến ít nhất 1600 người bỏ mạng, hơn 2 triệu người mất nhà ở và khoảng 20 triệu người chịu ảnh hưởng Lũ lụt một lần nữa hoành hành trở lại vào tháng 06/2010 ở các bang Alagoas và Pernambuco của Ấn Độ khiến 1000 người mất tích Ở Nga năm 2010 phải chật vật đối phó với tình trạng cháy rừng trên diện rộng do khí hậu khô nóng, gây thiệt hại 200.000 ha rừng
Châu Phi: trận hạn hán tồi tệ mùa hè năm 2010 khiến tình trạng đói nghèo thêm trầm trọng, ảnh hưởng tới 10 triệu người ở 4 quốc gia Tây Phi, tại Niger đất nước bị ảnh hưởng sâu sắc nhất 7,1 triệu người chịu cảnh đói ăn vì mất gia súc và mùa màng trong khi giá ngũ cốc leo thang gấp đôi Trong khi đó, năm 2009 mưa dữ dội đã phá hủy hoa màu và khiến tình hình sản xuất các loại ngũ cốc ở các quốc gia Tây Phi bị ảnh hưởng nghiêm trọng, kể cả nước láng giềng Chad và Nigeria
Châu Mĩ: tháng 04/2010, trận lụt và sạt lở đất đã tấn công Rio de jaaneiro của Brazil sau khi trận mưa như trút nước chưa từng có trong 4 thập kỉ đã khiến 212 người bỏ mạng
Trang 36Châu Âu: các nước miền Trung và Đông Âu như Ba Lan, Đức, Hungary, Slovakia cũng phải chịu đựng trận lũ tồi tệ nhất trong nhiều thập kỉ tháng 5 và tháng
6 năm 2010 Nước Anh thì trải qua 6 tháng đầu năm 2010 khô hạn nhất kể từ năm
1929
Bắc Cực: đầu tháng 08/2010 một khối băng có diện tích 260km2 được phát hiện đã tách khỏi dòng sông băng ở Greenland, phía sát Bắc Cực Đây là đảo băng lớn nhất tách ra ở Bắc Cực trong nữa thế kỉ quan sát Nhiệt độ của một mùa hè nóng nhất trong vòng 150 năm lịch sử
Nam Cực: Nhiệt độ tăng, băng tan chảy nhanh, mưa thay cho tuyết, ô nhiễm không khí Đó là những tác động đáng lo ngại của biến đổi khí hậu tại vùng Nam Cực, theo lời báo động của các nhà khoa học được hãng tin AFP trích dẫn vào ngày 14/01/2017 Ở Nam Cực, trước đây người ta chỉ nhìn thấy một màu trắng xóa của
băng tuyết, nhưng giờ đây đã để lộ những sườn núi và các bờ sông
1.2.2 Biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Việt Nam là một trong quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu toàn cầu (các nơi còn lại là Ai Cập, Suriname, Bahamas, Bangladesh…), các hiện tượng như bão, lũ, hạn hán, ở nước ta ngày càng trở nên ác liệt và diễn biến ngày càng phức tạp Biến đổi khí hậu là nguy cơ hiện hữu cho các mục tiêu xóa đói giảm ngèo, cho việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỉ và sự phát triển bền vững của đất nước Trong những năm gần đây, với hiện tượng nóng lên của thời tiết
đã ảnh hưởng lớn đối với sự sản xuất và phát triển trong nông nghiệp, nguồn nước, sức khỏe của người dân,…Hiện tượng nước biển dâng cao, hàng loạt các khu vực đồng bằng ven biển dần bị biến mất, các cơ sở hạ tầng chịu ảnh hưởng không ít Biến đổi khí hậu đã tác động tiêu cực đến việc sản xuất đời sống người dân, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế và xã hội của đất nước
3 Biến đổi nhiệt độ
Theo số liệu thống kê, trong 70 năm qua, nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam tăng lên khoảng từ 0.50C đến 0.70C Nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn nhiệt
Trang 37độ mùa hè và nhiệt độ ở các vùng khí hậu phía Bắc tăng nhanh hơn ở các vùng khí hậu phía Nam Nhiệt độ trung bình năm của thập kỉ 1991-2000 ở Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh đều cao hơn trung bình của thập kỉ 1931-1940 lần lượt là 0,80C; 0.40C và 0.60C Năm 2017, nhiệt độ trung bình năm ở cả 3 nơi trên đều cao hơn trung bình của thập kỉ 1931-1940 là 0,80C-1,30C và cao hơn thập kỉ 1991-2000
là 0,40C-0,50C ( Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, Bộ Tài nguyên môi trường, 2008)
Các tỉnh miền Bắc nhiệt độ gia tăng nhiều hơn miền Nam đặc biệt trong mùa hè và có biên độ nhiệt lớn hơn
Sự gia tăng nhiệt độ trung bình (1961-1990)
Bảng 1 1 Sự gia tăng nhiệt độ trung bình của một số tỉnh
( Nguồn từ sách: ĐBSCL Biến đổi khí hậu và an ninh lương thực, Nguyễn Kim
Hồng, Nguyễn Thị Bé Ba )
Giai Đoạn 1996-1990, số giờ nắng trung bình hàng năm biến đổi nhiều: số giờ nắng trung bình hàng năm giảm 20 giờ ở Bắc Giang, Hà Nội, Hải Dương, Cần Thơ và Bạc Liêu, giảm 10 giờ nắng ở Nam Định Trong khi đó, số giờ nắng trung bình hàng năm tăng 20 giờ ở Nha Trang, 18 giờ ở Pleiku, 10 giờ ở Buôn Mê Thuột
Trang 38Năm Tây
Bắc
Đông Bắc
Đồng bằng Bắc Bộ
Bắc Trung
Bộ
Nam Trung
Bộ
Tây Nguyên
Lượng mưa trên từng địa điểm, xu thế biến đổi của lượng mưa trung bình năm trong 9 thập niên vừa qua(1911-2000) không rõ rệt theo các thời kỳ và trên các vùng khác nhau: có giai đoạn tăng lên và có giai đoạn giảm xuống
Lượng mưa năm giảm ở các vùng khí hậu phía Bắc và tăng ở các vùng khí hậu phía Nam Tính trung bình trong cả nước, lượng mưa năm trong 50 năm qua(
1958 - 2007 ) đã giảm khoảng 2% (Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, Bộ TNMT, 2008)
Biến đổi về mùa mưa có những đặc điểm sau đây:
Mùa mưa thực tế luôn luôn dao động xung quanh mùa mưa trung bình, xét
về tháng bắt đầu tháng cao điểm cũng như tháng kết thúc
Khoảng thời gian xung quanh tháng bắt đầu,tháng cao điểm và tháng kết thúc của mùa mưa trung bình là 3-6 tháng tùy thuộc vào đặc tính của mùa mưa trên từng vùng khí hậu:
Trên vùng khí hậu Tây Bắc, Đông Bắc, Đông Bắc Bắc Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ khoảng dao động xung quanh tháng bắt đầu và tháng kết thúc thường rất ngắn nhưng khoảng dao động xung quanh tháng cao điểm lại rất dài
Trang 39Trên vùng khí hậu Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ thì khác hơn, dao động xung quanh tháng bắt đầu và tháng kết thúc thường rất dài trong khi dao động xung quanh tháng cao điểm lại rất ngắn
Và một điều nhận thấy cho sự biến đổi khí hậu thể hiện ở lượng mưa là việc mưa diễn biến bất thường thậm chí mưa trái mùa, lượng mưa tănglên Ví dụ điển hình cho khu vực phía nam trong thời gian gần đây nhất là trận mưa lịch sử ở Sài Gòn chiều 26/9/2016 lớn nhất 40 năm qua Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Bộ cho biết chỉ trong khoảng 1 giờ 30 phút, vũ lượng đã đạt đến 204,3 mm, vượt xa tần suất thiết kế hệ thống thoát nước hiện nay Cụ thể: Đối với tuyến cống cấp 3 là mưa 75,88 mm trong 3 giờ; tuyến cống cấp 2 là mưa 85,36 mm; kênh, rạch chính cấp 1 là mưa 95,91 mm trong 3 giờ; đỉnh triều thiết kế là +1,32m Sau trận mưa trên địa bàn thành phố đã xảy ra ngập tại 59 tuyến đường, chiều sâu ngập
từ 0,10 m đến 0,50 m; diện tích ngập từ 100 m2
đến 30.000 m2
c) Không khí lạnh
Số đợt không khí lạnh ảnh hưởng tới Việt Nam giảm đi rõ rệt trong hai thập
kỉ qua Theo số liệu thống kê, thập niên 1971-1980 trung bình mỗi năm nước ta đón nhận 29 đợt không khí lạnh nhưng đến giai đoạn 1994-2007 thì số đợt không khí lạnh chỉ còn 16 đợt mỗi năm
Tuy nhiên, các biểu hiện dị thường lại thường xuất hiện như: đợt không khí lạnh gây rét đậm, rét hại kéo dài 38 ngày trong tháng 1 và tháng 2 năm 2008 ở Bắc
Bộ (Chương trình mục tiếu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, Bộ TNMT, 2008) và gần đây nhất là 25/01/2016 đợt rét được cho là kỷ lục nhất trong khoảng
30 năm qua, xảy ra ở miền Bắc tạo nên những lớp băng tuyết trắng xóa trên các cành cây, mái nhà ở nhiều tỉnh thành trên cả nước Có nơi lần đầu tiên băng tuyết xuất hiện như Hà Nội Nhiều nơi nhiệt độ xuống mức 00C đến -50
C
d) Mực nước biển dâng
- Xu thế biến đổi của mực nước biển
Trang 40Xu thế biến đổi của mực nước biển ở Việt Nam được đánh giá thông qua tốc
độ xu thế của mực nước biển thời kì nghiên cứu ( 1960-2008) và tương quan so sánh giữa thời kì 1961-1990 và thời kì gần đây (1991-2008) về mực nước biển trung
bình
- Tốc độ xu thế của mực nước biển
+ Mực nước biển trung bình năm
Trong thời kì 1996-2008, tốc độ xu thế của mực nước biển trung bình năm 3,88 mm/năm ở trạm Hòn Dấu, tiêu biểu cho vùng biển Bắc Bộ; 3,10 mm/năm ở Sơn Trà, tiêu biểu cho vùng biển Trung Bộ và 3,38 mm/ năm tiêu biểu cho vùng biển Nam Bộ giữa các trạm hải văn tiêu biểu cho ba vùng không có sự khác biệt đáng kể về tốc độ xu thế của mực nước biển trung bình năm
Số liệu quan trắc tại các trạm hải văn dọc ven biển Việt Nam cho thấy tốc
độ dâng lên của mực nước biển trung bình ở Việt Nam hiện nay khoảng3mm/năm (giai đoạn 1993 - 2008), tương đương với tốc độ tăng trung bình trên thế giới Trong khoảng 50 năm qua, mực nước biển tại Trạm hải văn Hòn Dấu dâng lên khoảng 20cm
+ Mực nước biển cao nhất năm
So với mực nước biển trung bình năm, tốc độ xu thế mực nước biển cao nhất
có sự khác nhau đáng kể giữa các trạm tiêu biểu ở trạm Hòn Dấu tốc độ xu thế là 5.60 mm/năm; 1,29 mm/năm ở Sơn Trà và 4,34 mm/ năm ở Vũng Tàu
+ Mực nước biển thấp nhất năm
Mực nước biển thấp nhất năm có tốc độ xu thế là 2,15 mm/ năm ở Hòn Dấu; 3,10 mm/ năm ở Sơn Trà và -0,84 mm/ năm ở Vũng Tàu Sự khác biệt giữa các trạm về tốc độ xu thế mực nước biển thấp nhất rõ rêt hơn nhiều so với mực nước biển trung bình cũng như mực nước biển cao nhất