Bien doi khi hau o vung trung du mien nui bac bo
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
- Biến đổi khí hậu (BĐKH) toàn cầu với các biểu hiện rõ rệt của nhiệt độ tăng,lượng mưa biến động, nước biển dâng, thiên tai ngày càng dị thường và khốc liệt tác độngtrực tiếp đến đời sống kinh tế - xã hội (KT – XH) trên phạm vi toàn cầu:
+ Nhiệt độ không khí trung bình toàn cầu trong thế kỉ XX đã tăng lên 0,740C (0,20C), sang nửa đầu thế kỉ XXI, nhiệt độ Trái Đất tiếp tục tăng và tốc độ tăng trong 50năm gần đây gấp đôi so với 50 năm trước [15]
+ Lượng mưa cũng có những biến đổi đáng kể, tăng 5- 10% trong 100 năm qua trênlục địa bán cầu Bắc và giảm ở một số nơi, tuy xu thế không rõ rệt như nhiệt độ
+ Mực nước trung bình của các đại dương cũng tăng lên trung bình 1- 2 mm/năm,trong 100 năm qua [22], do băng tan và giãn nở nhiệt đại dương
Nguyên nhân chủ yếu do hậu quả hoạt động của con người
- Ở Việt Nam, nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,10C/thập kỉ, nhiệt độ mùa hè
có xu thế tăng rõ rệt, mùa đông nhiệt độ giảm đi trong các tháng đầu mùa và tăng lêntrong các tháng cuối mùa Xu thế biến đổi của lượng mưa không nhất quán giữa các khuvực và các thời kì, cường độ mưa tăng lên rõ rệt [43], ngày mưa phùn giảm ở miền Bắctrong 30 năm qua Các đợt không khí lạnh ảnh hưởng đến Việt Nam cũng giảm đáng kểtrong 2 thập kỉ gần đây Bão có cường độ, tần suất mạnh hơn, hướng di chuyển và thờigian xuất hiện cũng như hoạt động dị thường hơn
Theo đánh giá của Liên Hợp Quốc, Việt Nam là một trong những nước chịu ảnhhưởng nặng nề nhất của BĐKH toàn cầu Trong trường hợp nhiệt độ toàn cầu tăng thêm
20C/100 năm tới sẽ làm nước biển dâng khoảng 1m, làm cho ¾ Đồng Bằng Sông CửuLong và Đồng Bằng Sông Hồng bị ngập Ảnh hưởng nghiêm trọng đến cư trú, sản xuấtnông - lâm - ngư nghiệp … Mặt khác, BĐKH còn làm gia tăng hơn nữa tình trạng hạnhán, lụt lội cục bộ và dị thường ở nhiều nơi, đe dọa nghiêm trọng môi trường sống
Trang 2Vùng trung du và miền núi Bắc Bộ là vùng kinh tế rộng nhất cả nước đang trên đàphát triển Đồng thời đây cũng là vùng địa đầu tổ quốc, là nơi giao thương buồn bán vớiLào và Trung Quốc Không những vậy vùng tập trung đông các đồng bào dân tộc thiểu sốvới trình độ dân trí còn chưa cao Vì vậy vùng trung du miền núi Bắc Bộ là vùng có ýnghĩa rất quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa và an ninh quốc phòng
Vùng trung du và miền núi Bắc Bộ (TDMNBB) đang trong quá trình công nghiệphóa (CNH) - hiện đại hóa, là vùng đang được nhà nước đầu tư phát triển nhằm khai thácnhững thế mạnh của vùng một cách hiệu quả Tuy nhiên vùng trung du và miền núi Bắc
Bộ đang phải chịu những ảnh hưởng của BĐKH toàn cầu với những biến đổi dị thường vềchế độ nhiệt, ẩm … do những tác động từ hoạt động KT - XH Sự biến động đó ảnhhưởng rất lớn tới tổ chức đời sống sinh hoạt, sản xuất và phát triển bền vững (PTBV) củavùng
Khí hậu là một dạng tài nguyên đặc biệt, tham gia vào sản xuất, ảnh hưởng tới tổchức hoạt động đời sống sinh hoạt, tới sức khỏe con người Vì vậy, nghiên cứu sự BĐKHvùng trung du và miền núi Bắc Bộ sẽ là cơ sở quan trọng cho quy hoạch khai thác tối ưunhững thế mạnh của vùng, cũng như làm cơ sở để nghiên cứu sâu hơn tác động củaBĐKH đối với các địa phương trong vùng
Vì tất cả những lí do trên, tác giả chọn đề tài “Nghiên cứu biến đổi khí hậu vùng trung du và miền núi Bắc Bộ thời kì 1970 - 2010” làm đối tượng nghiên cứu trong khóa
luận tốt nghiệp
2 Mục đích, nhiệm vụ và giới hạn của đề tài
2.1 Mục đích
- Phân tích quá trình biến đổi các yếu tố: nhiệt độ, lượng mưa, XTNĐ, đồng thời làm
rõ nguyên nhân của những biến đổi trên và kiến nghị một số giải pháp giảm thiểu, thíchứng với BĐKH vùng TDMNBB
Trang 32.2 Nhiệm vụ của đề tài
- Đề tài cần thực hiện những nhiệm vụ sau:
+ Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của BĐKH TDMNBB
+ Phân tích, đánh giá BĐKH TDMNBB Xây dựng hệ thống bảng số liệu thống kê,biểu đồ về những thay đổi các yếu tố khí hậu (nhiệt độ, lượng mưa, XTNĐ)
+ Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến BĐKH TDMNBB
+ Đánh giá, cảnh báo các nguy cơ BĐKH Đề xuất chiến lược thích ứng với BĐKHTDMNBB
2.3 Giới hạn của đề tài
- Nội dung nghiên cứu: Tập trung làm rõ mức độ BĐKH ở TDMNBB qua các đặctrưng cơ bản: nhiệt độ, lượng mưa, XTNĐ
- Lãnh thổ nghiên cứu: vùng trung du và miền núi Bắc Bộ
- Thời gian: thời kì khảo sát từ 1970 - 2010
3 Lịch sử nghiên cứu
3.1 Thế giới
BĐKH là vấn đề thời sự, thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều nhà khoa học,nhiều quốc gia Trong đó tiêu biểu nhất là những kết quả nghiên cứu của IPCC (Ủy banliên quốc gia về BĐKH), các chuyên gia nước ngoài như: Aneniuyt, F Frech, GS.Callendar, Simsong… [20] và GS TSKH Nguyễn Đức Ngữ, GS TS Nguyễn TrọngHiệu, GS TS Trần Thục … đã đưa ra những nhận định về BĐKH, nguyên nhân, tác độngvới môi trường tự nhiên và hoạt động KT - XH của thế giới nói chung và Việt Nam nóiriêng Đồng thời với sự hỗ trợ của công nghệ kĩ thuật hiện đại, các tác giả cũng xây dựngcác kịch bản BĐKH và nước biển dâng cho tương lai
Quá trình ĐTH đã và đang diễn ra nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu và có nhữngtác động không mong đợi tới môi trường tự nhiên cũng như KT - XH Nhận thức được
Trang 4thành phố ở Châu Âu và các kết quả nghiên cứu không ngừng được hoàn thiện Năm
1883, trong “Khí hậu Luân Đôn”, Gouard L nhận xét rằng hiệu số trung bình nhiệt độkhông khí giữa thành phố và ngoại vi Luân Đôn là 10C, đồng thời chỉ ra hiệu số này trongmùa đông lớn hơn mùa hạ Tác giả cũng khẳng định sự tồn tại nguồn nhiệt nhân tạo trongthành phố là do đốt nhiên liệu trong các lò và sự tăng nhanh của dân cư, đồng thời do sựgiảm đi của tốc độ gió và độ ẩm không khí [16]
Năm 1855, Rơnu cũng phát hiện ở Pari có nhiệt độ cao các vùng lân cận Năm 1886,Kemxen cũng nêu ra sự khác biệt của nhiệt độ ở Bec - lin và ngoại vi Năm 1885, Herner
đã so sánh nhiệt độ của thành phố và ngoại vi của chúng ở các địa điểm khác nhau nằmtrong đới khí hậu khác nhau và cũng có kết luận tương tự [16]
Gần đây, Brian Stone đã nghiên cứu nhiệt độ ở 50 thành phố của Hoa Kì và tínhđược nhiệt độ không khí trung bình tăng 0,230C (thời kì 1856 - 2005), trong đó có nhiều
đô thị tăng trên 0,50C, gấp nhiều lần khu vực nông thôn (tăng 0,150C, thời kì 1856- 2005).Cuối cùng ông đi đến kết luận: 50% sự gia tăng nhiệt độ là do sự thay đổi sử dụngđất[33]
Tuy nhiên, việc sử dụng những kết quả nghiên cứu ở các đô thị thuộc những nướcphát triển, vùng khí hậu ôn đới khó có thể áp dụng cho đô thị ở các nước đang phát triển,vùng nhiệt đới như Việt Nam do đặc điểm nền khí hậu, cấu trúc đô thị cũng như hoạtđộng KT - XH mỗi vùng là khác nhau
3.2 Việt Nam
Trước hiện tượng nóng lên toàn cầu và nước biển dâng, tác động ngày càng rõ ràngđến thành phố Cần Thơ, tác giả Kì Quang Vinh đã khảo sát chuỗi số liệu 30 năm (1978 -2007) và đi đến kết luận: nhiệt độ không khí trung bình của thành phố Cần Thơ có xu thếtăng nhanh (0.560C), lượng mưa có nhiều biến đổi nhưng không có xu thế rõ ràng; tìnhtrạng nước biển dâng, xâm nhập mặn gia tăng và ngày càng nghiêm trọng Trên cơ sở đó,tác giả xây dựng kịch bản tổn thương do BĐKH phục vụ công tác quy hoạch thành phốCần Thơ [31]
Trang 5Trong công trình [30], tác giả Lương Văn Việt đã chỉ ra: Nhiệt độ trung bình ở thànhphố Hồ Chí Minh đã tăng 0.020C/năm trong thời kì 1960- 2000 và 0.0330C/năm trong thời
kì 1991- 2005, độ ẩm lại giảm 0.081%/năm và 0.21%/năm trong hai thời kì tương ứng.Lượng mưa tăng không rõ nét cả về thời gian và không gian Đồng thời, tác giả cũng chỉ
ra ba nguyên nhân ảnh hưởng đến khí hậu thành phố Hồ Chí Minh là: tốc độ tăng tỉ lệ sửdụng đất xây dựng, độ cao của các công trình và phát thải bụi, khí Tuy nhiên, những biếnđổi của các yếu tố khí hậu cũng như những nguyên nhân khác từ KT - XH chưa được làm
rõ, do đó chưa đưa ra được những giải pháp cụ thể, đồng bộ cho PTBV đô thị
Như vậy, những công trình nghiên cứu trên là cơ sở khoa học quan trọng cho đề tài.Tuy nhiên, chưa có một nghiên cứu cụ thể nào về mức độ BĐKH ở vùng trung du vàmiền núi Bắc Bộ, đặc biệt là diễn biến của BĐKH trong những năm gần đây Vì vậy, đềtài này mong muốn sẽ góp phần làm cơ sở để có những đề tài nghiên cứu cụ thể, chi tiếthơn về BĐKH vùng trung du và miền núi Bắc Bộ
4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1 Quan điểm nghiên cứu
Trang 6Khí hậu là một bộ phận của môi trường tự nhiên, tác động qua lại với các hoạt động
KT - XH Vì vậy, khi nghiên cứu BĐKH phải đứng trên quan điểm hệ thống, đánh giámối quan hệ qua lại với các thành phần tự nhiên khác, dự đoán được biến đổi nội tại vàảnh hưởng tới mục tiêu phát triển của vùng TDMNBB
4.1.2 Quan điểm lãnh thổ
Mọi sự vật, hiện tượng địa lí đều tồn tại và phát triển trong một không gian nhấtđịnh Hơn nữa, vỏ cảnh quan không đồng nhất về mặt không gian nên có sự phân chiathành các hệ thống lãnh thổ tương đối độc lập Vì vậy trong suốt quá trình khảo sát,nghiên cứu không thể tách dời lãnh thổ mà chúng tồn tại Đồng thời lãnh thổ đó luôn có
sự phân hóa thành những lãnh thổ nhỏ hơn và phụ thuộc lẫn nhau Mặt khác lãnh thổ luôn
có mối liên hệ với lãnh thổ lớn hơn, môi trường xung quanh ở cả phương diện tự nhiêncũng như KT - XH
Quán triệt quan điểm này, đề tài nghiên cứu làm rõ sự phân hóa theo lãnh thổ củacác yếu tố khí hậu, tính chất địa phương trên nền khí hậu cả nước Đồng thời thấy đượcBĐKH ở vùng TDMNBB là xu hướng và ảnh hưởng chung của BĐKH cả nước cũng nhưtoàn cầu
4.1.3 Quan điểm phát triển bền vững.
PTBV là sự phát triển nhằm thỏa mãn các nhu cầu hiện tại của con người nhưngkhông làm tổn hại tới sự thỏa mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai Nó là phương hướngđược tất cả các quốc gia, lãnh thổ trên thế giới hiện nay tiến tới
PTBV được đánh giá bằng những tiêu chí nhất định về bền vững kinh tế, bền vững
xã hội, bền vững tài nguyên thiên nhiên và bền vững môi trường sinh thái Đó là điều kiệncần và đủ để đảm bảo môi trường PTBV, nếu một trong ba mục tiêu trên bị đổ vỡ haykhông được chú trọng đều có nguy cơ tiến xa sự PTBV
Khí hậu là một tài nguyên thiên nhiên đặc biệt, phục vụ và ảnh hưởng lớn tới pháttriển kinh tế, tổ chức đời sống xã hội Sự BĐKH theo hướng dị thường sẽ tác động tiêucực không chỉ tới KT - XH mà còn làm ảnh hưởng tới môi trường tự nhiên Do vậy,
Trang 7nghiên cứu BĐKH khí hậu ở vùng TDMNBB sẽ góp phần trực tiếp đảm bảo mục tiêu bềnvững môi trường sinh thái và khai thác, sử dụng hiệu quả khí hậu, phục vụ phát triển kinh
tế, ổn định đời sống xã hội
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp xử lí số liệu thống kê
Trên cơ sở nguồn số liệu khí tượng, KT XH thu thập được trong thời kì 1970
-2010 của vùng TDMNBB, tác giả sử dụng phương pháp toán xác suất thống kê để chỉnh
lí, tính toán sự biến động của các chỉ số cơ bản Phân tích, kiểm nghiệm và ước lượng xuthế biến đổi của một số yếu tố khí hậu, nhân tố KT - XH, tạo cơ sở cho những kết luận vềBĐKH vùng và mối quan hệ của nó với các hoạt động KT - XH
4.2.2 Phương pháp bản đồ, biểu đồ và ứng dụng công nghệ thông tin
Sử dụng phương pháp này để thành lập các bản đồ chuyên đề, biểu đồ phục vụ quátrình nghiên cứu và thể hiện các số liệu KT - XH trong thời kì 1970 - 2010 Trong phươngpháp này, hệ thống thông tin địa lí (GIS) với phần mềm ứng dụng MapInfo là công cụ cơbản
Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để vẽ các biểu đồ cũng như sử dụng các hàmxác suất thống kê trong việc nghiên cứu biểu hiện của biến đổi khí hậu Cụ thể trong khóaluận có sử dụng excel để thành lập các biểu đồ xu thế diễn biến nhiệt độ và lượng mưatrong thời kỳ nghiên cứu 1970 – 2010
4.2.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Từ nguồn tài liệu thu thập và đã qua xử lí, tác giả vận dụng phương pháp này đểphân tích sự phát triển các yếu tố khí hậu và so sánh với giá trị trung bình, các vùng lãnhthổ xung quanh rút ra những kết luận chung về hiện trạng, mức độ BĐKH vùng Mặtkhác, xác lập mối quan hệ giữa BĐKH với hoạt động KT - XH của vùng, tạo cơ sở đềxuất các giải pháp giảm thiểu, ứng phó với BĐKH
Trang 85 Cơ sở nguồn số liệu
Đề tài nghiên cứu sử dụng hai loại số liệu chủ yếu: số liệu khí tượng và số liệu KT
-XH của vùng TDMNBB
- Các số liệu khí tượng cơ bản như: Nhiệt độ, lượng mưa, bão và áp thấp nhiệt đớiđược thu thập ở 4 trạm ( Thái Nguyên, Lạng Sơn, Điện Biên, Sìn Hồ - Lai Châu), trongthời kì được lựa chọn nghiên cứu là 40 năm (1970- 2010) do Viện khoa học khí tượngthủy văn và môi trường cung cấp
- Hệ thống số liệu KT - XH được Cục thống kê Hà Nội, Tổng cục thống kê cungcấp, thu thập từ các ấn phẩm thống kê và kế thừa các công trình nghiên cứu đáng tin cậylàm cơ sở cho việc tính toán và đưa ra những luận cứ khoa học quan trọng
6 Cấu trúc khóa luận
Khóa luận dài 99 trang, gồm phần mở đầu, nội dung, kết luận và tài liệu tham khảo.Trong đó phần nội dung gồm 3 chương 27 Bảng, 17 hình và 2 bản đồ
- Chương 1: (18 trang): Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc nghiên cứu BĐKH vùng TDMNBB thời kì 1970 - 2010.
- Chương 2 (39 trang): Biến đổi khí hậu ở vùng TDMNBB thời kì 1970 - 2010.
- Chương 3 (27 trang): Tác động của BĐKH và biện pháp ứng phó với BĐKH vùng TDMNBB.
Trang 9Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU BĐKH
VÙNG TDMNBB THỜI KỲ 1970 - 2010 1.1 Cơ sở lí thuyết
1.1.1 Các khái niệm, thuật ngữ biến đổi khí hậu
a Khái niệm khí hậu và hệ thống khí hậu
Có nhiều quan điểm khác nhau về khí hậu:
- Khí hậu là trạng thái trung bình nhiều năm của thời tiết (thường là 30 năm) tại mộtkhu vực nhất định [11]
- Theo Tổ chức khí tượng thế giới (WMO): “ Khí hậu là tổng hợp các điều kiện thờitiết ở một khu vực nhất định đặc trưng bởi các thống kê dài hạn các biến số của trạng tháikhí quyển ở khu vực đó”.[14]
- Theo quan niệm của Alixop: Khí hậu của một nơi nào đó là chế độ thời tiết đặctrưng nhiều năm, được tạo nên bởi bức xạ Mặt trời, đặc tính của mặt đệm và hoàn lưu khíquyển.[26]
Như vậy, khí hậu là trạng thái của khí quyển ở một nơi nào đó, được đặc trưng bởicác trị số trung bình nhiều năm về nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, lượng bốc hơi, lượng mây,gió khí hậu có tính chất ổn định, ít thay đổi
Hệ thống khí hậu là toàn thể khí quyển, đại dương, đất liền, băng quyển, sinh quyển
và những tương tác giữa chúng.[14]
b Thời tiết
Thời tiết là trạng thái khí quyển tại một địa điểm nhất định được xác định bằng tổhợp các yếu tố: nhiệt độ, áp suất, độ ẩm, tốc độ gió, mưa,… [5]
Trang 10c Biến đổi khí hậu
Có nhiều quan điểm khác nhau về BĐKH:
- Theo Công ước khí hậu, sự thay đổi của khí hậu được quy trực tiếp hay gián tiếp là
do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và đóng gópthêm vào biến động khí hậu tự nhiên trong các thời gian có thể so sánh.[7]
- BĐKH là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình theo một xu thế nhấtđịnh, hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vàithập kỉ hoặc dài hơn.[11]
- BĐKH là “những ảnh hưởng có hại của BĐKH”, là những biến đổi trong môitrường vật lí hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khảnăng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lí hoặc đến hoạtđộng của các hệ thống KT - XH hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người (theo Côngước chung của Liên hợp quốc về BĐKH).[13]
Như vậy Biến đổi khí hậu là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bìnhvà/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập
kỷ hoặc dài hơn Biến đổi khí hậu có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc cáctác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khíquyển hay trong khai thác sử dụng đất
d Kịch bản biến đổi khí hậu
Kịch bản biến đổi khí hậu là giả định có cơ sở khoa học và tính tin cậy về sự tiếntriển trong tương lai của các mối quan hệ giữa KT-XH, GDP, phát thải khí nhà kính, biếnđổi khí hậu và mực nước biển dâng Lưu ý rằng, kịch bản biến đổi khí hậu khác với dựbáo thời tiết và dự báo khí hậu là nó đưa ra quan điểm về mối ràng buộc giữa phát triển vàhành động [14]
Trang 11e Khí nhà kính – hiệu ứng nhà kính
Tại những vùng lạnh lẽo của Trái Đất, người ta sử dụng những ngôi nhà bằng kính(hoặc vật liệu trong suốt) để trồng cây và rau Kính có tác dụng cho ánh sáng đi vàonhưng không cho nhiệt thoát ra bên ngoài
Trái Đất có một lớp hỗn hợp các loại khí trong bầu khí quyển của mình có khả nănggiữ nhiệt từ ánh sáng mặt trời (như nhà kính) và vì thế làm cho Trái Đất không bị lạnh đi,các khí đó được gọi là các khí nhà kính Có nhiều khí nhà kính, gồm CO2, CH4, CFC,SO2, hơi nước Khi ánh sáng mặt trời chiếu vào Trái Đất, một phần được Trái Đất hấpthu và một phần được phản xạ vào không gian Các khí nhà kính có tác dụng giữ lại nhiệtcủa mặt trời, không cho nó phản xạ đi, nếu các khí nhà kính tồn tại vừa phải thì chúnggiúp cho nhiệt độ Trái Đất không quá lạnh nhưng nếu chúng có quá nhiều trong khíquyển thì kết quả là Trái Đất nóng lên Vai trò gây nên hiệu ứng nhà kính của các chất khíđược xếp theo thứ tự sau: CO2 => CFC => CH4 => O3 =>NO2
Hiệu ứng giữ nhiệt ở tầng thấp của khí quyển bởi các khí nhà kính hấp thụ bức xạ từmặt đất phát ra và phát xạ trở lại mặt đất làm cho lớp khí quyển tầng thấp và bề mặt Tráiđất ấm lên tựa như vai trò của một nhà kính và được gọi là hiệu ứng nhà kính.[10]
Hình 1 Hiệu ứng nhà kính [10]
1.1.2 Biểu hiện BĐKH ở Việt Nam
Ở Việt Nam, kết quả phân tích các số liệu khí hậu cho thấy biến đổi của các yếu tố khíhậu và mực nước biển có những điểm đáng lưu ý sau:
Trang 12- Nhiệt độ: Trong 50 năm qua (1958 – 2007), nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam tănglên khoảng 0,50C đến 0,70C Nhiệt độ mùa đông tăng lên nhanh hơn nhiệt độ mùa hè vànhiệt độ ở các vùng khí hậu phía Bắc tăng nhanh hơn các vùng khí hậu phía Nam (Hình5a) Nhiệt độ trung bình năm của 4 thập kỷ gần đây (1961 – 2000) cao hơn trung bìnhnăm của 3 thập kỷ trước đó (1931 – 1960) Nhiệt độ trung bình năm của thập kỷ 1991 –
2000 ở Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh đều cao hơn trung bình của thập kỷ
1931 – 1940 lần lượt là 0,8; 0,4 và 0,60C Năm 2007, nhiệt độ trung bình năm ở cả 3 nơitrên đều cao hơn trung bình của thập kỷ 1931 – 1940 là 0,8 – 1,30C và cao hơn thập kỷ
1991 – 2000 là 0,4 – 0,50C (Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, Bộ TNMT, 2008).
- Lượng mưa: Trên từng điểm, xu thế biến đổi của lượng mưa trung bình năm trong 9 thập
kỷ vừa qua (1911 – 2000) không rõ rệt theo các thời kỳ và trên các vùng khác nhau: cógiai đoạn tăng lên và có giai đoạn giảm xuống Lượng mưa năm giảm ở các vùng khí hậuphía Bắc và tăng ở các vùng khí hậu phía Nam (Hình 5b) Tính trung bình trong cả nước,
lượng mưa năm trong 50 năm qua (1958 – 2007) đã giảm 2% (Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, Bộ TNMT, 2008).
- Không khí lạnh: Số đợt không khí ảnh hưởng tới Việt Nam giảm đi rõ rệt trong hai thập
kỷ qua Tuy nhiên, các biểu hiện dị thường lại thường xuất hiện mà gần đây nhất là đợtkhông khí lạnh gây rét đậm, rét hại kéo dài 38 ngày trong tháng 1 và tháng 2 năm 2008 ở
Bắc Bộ (Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, Bộ TNMT, 2008).
- Bão: những năm gần đây, bão có cường độ mạnh xuất hiện nhiều hơn Quỹ đạo bão códấu hiệu dịch chuyển dần về phía nam và mùa bão kết thúc muộn hơn, nhiều cơn bão có
đường đi (Hình 6) dị thường hơn (Thông báo đầu tiên của Việt Nam cho công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu, Bộ TNMT, 2003).
- Mực nước biển: Số liệu quan chắc tại các trạm hải văn dọc ven biển Việt Nam cho thấytốc độ dâng lên của mực nước biển trung bình ở Việt Nam hiện nay khoảng 3mm/năm(giai đoạn 1993 – 2008), tương đương với tốc độ tăng trung bình trên thế giới Trongkhoảng 50 năm qua, mực nước biển (Hình 7) tại trạm hải văn Hòn Dấu dâng lên khoảng
20cm (Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, Bộ TNMT, 2008).
Trang 13Hình 2 Diến biến của nhiệt độ (a) và lượng mưa (b) ở Việt Nam trong 50 năm qua.
Trang 141.1.3 Phương pháp nghiên cứu biểu hiện biến đổi khí hậu
a Các yếu tố cơ bản
- Nhóm các yếu tố hoàn lưu: áp thấp nhiệt đới, bão
- Nhóm các yếu tố mặt đất: nhiệt độ, lượng mưa
- Thời tiết cực đoan: lũ quét
b Phương pháp nghiên cứu chủ yếu
- Nghiên cứu mức độ biến đổi
Biến đổi của các đặc trưng yếu tố khí hậu bao gồm nhiều loại trong đó có hai loại cơbản nhất:
1 Biến đổi (của trị số ngày) từ ngày này qua ngày khác trong quá trình năm
2 Biến đổi (của trị số năm) từ năm này qua năm khác trong quá trình lịch sử
Nội dung chủ yếu của vấn đề BĐKH hiện tại ở TDMNBB thuộc loại biến đổi thứ hai,
đó là biến đổi của các đặc trưng chủ yếu từ năm này qua năm khác, trong nhiều thập kỉgần đây
Để thuận lợi cho việc tính toán, phân tích và nghiên cứu BĐKH người ta thường lậpchuỗi thời gian Đó là tập hợp các trị số quan trắc khí hậu của từng năm xếp theo thứ
tự trước sau Đối với yếu tố X có nhiều năm, chuỗi khí hậu được kí hiệu {Xt}
{Xt}: x1, x2, , xn-1, xn (1.1)Việc tính toán các đặc trưng cơ bản đều dựa trên chuỗi thời gian Ngoài ra, chuỗi khíhậu cũng là công cụ nghiên cứu mối liên hệ có thể có giữa các thành viên trong chuỗi.Một chuỗi số liệu khí hậu chịu ảnh hưởng của ba tính chất biến đổi cơ bản sau:
Tính ngẫu nhiên: với biến đổi có tính ngẫu nhiên các trị số trong chuỗi tăng lên haygiảm đi một lượng nào đó, sự tăng lên hay giảm đi thường xen kẽ nhau, góp phần làmcho trị số khí hậu dao động xung quanh một mức nhất định, mức này có thể là trị sốtrung bình của chuỗi nếu như chuỗi đó không có tính xu thế
Tính xu thế: với biến đổi mang tính xu thế, trị số của năm sau cao hơn năm trước (xuthế tăng) hoặc thấp hơn năm trước (xu thế giảm) Trong chuỗi có xu thế tăng (hoặc
Trang 15giảm) rõ rệt trị số đầu tiên đồng thời là cực tiểu (hoặc cực đại) và trị số cuối cùng đồngthời là cực đại (hoặc cực tiểu).
Tính chu kì: với BĐKH mang tính chu kì, các trị số cùng chung nhau đặc tính (cao,thấp ) được lặp lại sau một số năm nhất định Trong chuỗi mang biến đổi chu kì cónhiều cực đại, cực tiểu và khoảng cách giữa các cực đại hay cực tiểu gần như là hằngsố
Trong một trường hợp cần thiết có thể thay chuỗi {Xt} bằng chuỗi trình tự {x* t}
{x* t}: x * 1, x * 2, , x * n-1, x * n (1.2)Trong đó:
x* 1 < x * 2 < < x * n-1 < x *Như vậy, chuỗi trình tự bao gồm n thành viên của chuỗi thời gian được sắp xếp theothứ tự từ bé đến lớn
- Để xem xét khả năng xuất hiện sự kiện người ta thường dùng ba đại lượng: tần suất
sự kiện, thời gian lặp lại sự kiện và các đặc trưng phản ánh trạng thái trung gian - trungbình số học
Trong đó tần suất sự kiện được hiểu là xác suất sự kiện xuất hiện và được tính theocông thức:
( )
T s
P s
Là thời gian cần thiết để lặp lại hiện tượng S
Trung bình số học được kí hiệu và và được xác định bởi:
1
1 n t t
Trang 16- Chuẩn sai được kí hiệu là ∆xt và nó chính là hiệu giữa các thành phần của chuỗi vàgiá trị trung bình.
2 1
1
1
n t t
= được gọi là biến suất hay hệ số biến động
- Kiểm nghiện tính xu thế và sử dụng phương trình xu thế
- Để xác định xu thế biến đổi của một số đặc trưng yếu tố khí hậu X, cần phải thựchiện hai khâu:
1 Kiểm nghiệm xem X có tính xu thế không
2 Lập phương trình xu thế sau khi chấp nhận X có tính xu thế Việc kiểm nghiệm tính
xu thế được thực hiện theo nguyên kì sau: Từ chuỗi ban đầu {Xt} lập chuỗi trình tự{Yi}: Y1, Y2, , Yn-1, Yn với Y1 < Y2 < < Yn-1 < Yn
Khi đó một x bất kì có thứ tự thời gian t trong chuỗi {Xt} sẽ được xếp thứ i trong chuỗitrình tự bé - lớn {Yi} Bản thân {Yi} là chuỗi có xu thế (tăng dần) cho nên khi số thứ
tự thời gian t trong {Xt} bằng hoặc gần bằng thứ tự bé - lớn i trong {Yi}
Chuỗi thời gian {Xt} được coi là có xu thế Vấn đề là phải xác nhận sự bằng nhau haykhác nhau giữa t và i theo quan điểm thống kê toán học
Để giải quyết vấn đề này, chúng tôi sử dụng kiểm nghiệm Spearman đối với độ lớncủa đại lượng rs
Trang 17( )
n t t n
t
y y t t b
Từ chuỗi ban đầu {Xt},{Xt}= x1, x2, , xn-1, xn, biến đổi mỗi trị số thành các trị số của
m thành phần liên tiếp
Trị số trung bình trượt {xm t} của một năm t bất kì với m lẻ là:
1 2
1 2
1 t m
m
m t
m
+
-
Như vậy trong chuỗi trung bình trượt không có trị số của 1
2
m năm đầu, 1
-2
m nămcuối và do đó thời kì quan trắc của chuỗi trung bình trượt ít đi m - 1 thành viên so vớichuỗi ban đầu
-1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Đặc điểm chung về tự nhiên của vùng trung du và miền núi Bắc Bộ
Vùng trung du và miền núi Bắc Bộ gồm 14 tỉnh: Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai,Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Yên Bái, Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Giang, LaiChâu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình Vùng trung du và miền núi Bắc Bộ có diện tíchhơn 95338.8 km² lớn nhất cả nước, chiếm 28.8 % diện tích cả nước Dân số hơn 11.17triệu người (năm 2010) chiếm khoảng 12.9% dân số cả nước
Trung du và miền núi Bắc Bộ là khu vực có vị trí khá đặc biệt Phía bắc giáp với
3 tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam của Trung Quốc, phía tây giáp Lào, phía
Trang 18đông và nam giáp Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ
Trung du và miền núi Bắc Bộ được chia thành 2 tiểu vùng là Tây Bắc (gồm 4tỉnh phía tây) và Đông Bắc (gồm 10 tỉnh còn lại)
a Địa chất - địa hình
Tiểu vùng Đông Bắc có lịch sử phát triển rất lâu dài cách đây khoảng hơn 2 tỉnăm Có cấu trúc địa chất của một miền địa máng Đông Dương với những khu vựcuốn nếp điển hình có hướng cấu trúc sơn văn chính theo hướng tây bắc – đông nam.Phần lớn địa hình ở tiểu vùng Đông Bắc có độ cao trung bình Dọc theo biên giới Việt– Trung của tiểu vùng Đông Bắc có sơn nguyên đá Đồng Văn – Lũng Cú Nhiều dãynúi cao trên 1500m như: Tây Côn Lĩnh (2419m), Kiều Liêu Ty (2402m), Mẫu Sơn(1541m), Nam Châu Lãnh (1506m), Tam Đảo (1591m); các dãy núi hình cánh cung:Sông Gâm, Ngân Sơn, Bắc Sơn, Đông Triều Một số cánh đồng giữa núi có diện tíchrộng, tương đối bằng phẳng, dân cư đông đúc, nông nghiệp trù phú như Văn Chấn,Nghĩa Lộ (Yên Bái), Hoài An ( Cao Bằng), Đại Từ (Thái Nguyên)
Tây Bắc là khu kiến tạo Inđôxini được nâng mạnh trong đại Tân sinh, có cấu tạođịa chất được hoạt hóa nhiều lần và hoạt động tân kiến tạo nâng lên mạnh nhất ở ĐôngDương Khu vực này gồm một hệ thống các phức nếp lồi và phức nếp lõm dạng dải,hẹp ngang sắp xếp xen kẽ nhau theo hướng tây bắc – đông nam Đại bộ phận diện tíchlãnh thổ Tây Bắc là địa hình núi cao và chia cắt sâu Đó là các cao nguyên Tả Phình,Sín Chải, Sơn La, Mộc Châu và những dãy núi dọc theo biên giới Việt – Trung, Việt –Lào với đỉnh cao từ 1500m trở lên: Pu Si Lung (3076m), Khoan La San (1853m), PuSam Sao (1897m), Pu Luông (1880m); Phanxipăng là đỉnh núi cao nhất Việt Nam(3143m) Lưu vực sông Đà chiếm đại bộ phận Tây Bắc với nhiều thác gềnh có nguồnthủy năng dồi dào Tuy nhiên Tây Bắc cũng có những cánh đồng giữa núi chiếm diệntích lớn như cánh đồng Mường Thanh, Tuần Giáo, Bình Lư
b Khí hậu
Trung du và miền núi Bắc Bộ có khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm với nhiệt độ trungbình năm 20 – 220C, lượng mưa 1800 – 2000mm Do ảnh hưởng của vị trí địa lí (nằmsát chí tuyến Bắc), lại chịu sự chi phối của độ cao và hướng địa hình, đồng thời ảnhhưởng của gió mùa đồng bắc mà thời tiết địa phương thường lạnh và ít mưa về mùađông, khí hậu có tính pha trộn cận nhiệt và ôn đới núi cao
Trang 19Vùng trung du và miền núi Bắc Bộ có sự
phân hóa khí hậu theo đai cao rất điển
hình:
- Từ 0 – 600m là đai nội chí tuyến chân
núi với đặc điểm là mùa hè nóng, nhiệt
độ trung bình tháng 250C, tổng nhiệt trên
75000C, thích hợp với các loại sinh vật
nhiệt đới Có thể phân đai này thành ba á
đai: Á đai thấp đến 100m: chỉ có mùa
đông lạnh (nhiệt độ trung bình tháng
<180C) Á đai 100 đến 300m: có nơi đã
có mùa đông rét (nhiệt độ trung bình
tháng <150C) Á đai 300 đến 600m:
nhiều nơi đã có mùa đông rét
- Từ 600 – 2600m: là đai á nhiệt đới từ ẩm đến ẩm ướt trên núi, với tổng nhiệt độ
trên 45000C và mùa hè mát với nhiệt độtrung bình tháng dưới 250C Trong đainày có ba á đai:
+ Á đai 600m – 1000m: đây là á đai
có tính chất chuyển tiếp từ nội chí tuyếnchân núi lên á đai nhiệt đới trên núi.+ Á đai 1000m – 1600m: Á đai nàymang tính chất á nhiệt đới rõ rệt
+ Á đai 1600m – 2600m: đây là áđai mang tính chất chuyển tiếp lên đai ônđới do tháng nóng nhất không quá 200C,nghĩa là có mùa nóng tương đương vớimùa hè ôn đới Ở đây mùa đông chưalạnh bằng mùa đông ôn đới, chưa có băng tuyết thường xuyên
- Từ 2600m trở lên: là đai ôn đới từ ẩm đến ẩm ướt trên núi với tổng nhiệt xuốngdưới 45000C, quanh năm rét dưới 150C, mùa đông cần phân ra các á đai vì đai ôn đới
Trang 20Sự phân hóa khí hậu cũng thể hiện ở sự khác biệt giữa hai tiểu vùng Đông Bắc vàTây Bắc lấy dãy Hoàng Liên Sơn làm ranh giới tự nhiên Khí hậu vùng Đông Bắcmang tính chất nhiệt đới ẩm có mùa đông lạnh, còn Tây Bắc khí hậu nhiệt đới có mùađông lạnh vừa do bức chắn địa hình
c Thủy văn
Vùng trung du và miền núi Bắc Bộ là khu vực có hệ thống sông ngòi khá dày đặcvới nhiều con sông lớn và lượng nước phong phú Vùng có 5 hệ thống sông chính là hệthống sông Hồng, sông Thái Bình, sông Kì Cùng – Bằng Giang, sông Mã và hệ thốngsông ven biển Quảng Ninh Trong đó trừ hệ thống sông ven biển Quảng Ninh thì bốn
hệ thống sông trên nằm trong 9 hệ thống sông lớn nước ta
Tiểu vùng Đông Bắc có lưu lượng khá lớn, môđun dòng chảy trung bình hàngnăm đạt 20 – 30 l/s/km2 Cao nhất là môđun dòng chảy tại khu vực thượng nguồn sôngchảy, sông Lô ở Hà Giang và khu vực ven biển Quảng Ninh, thường lên tới 40 – 50l/s/km2 Chế độ dòng chảy trên các con sông trong năm chia thành hai mùa rõ rệt Mùa
lũ thường kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, trong đó 3 tháng lũ cao nhất là 6, 7, 8 Mùacạn trên các lưu vực sông thường ở tiểu vùng này thường diễn ra từ tháng 11 đến tháng
4, trong đó tháng 2, tháng 3 thường đạt trị số thấp nhất Sự chênh lệch giữa lưu lượngnước thấp nhất và cao nhất đã làm cho tiểu vùng này thường xảy ra tình trạng thiếunước tưới vào mùa cạn
Đối với tiểu vùng Tây Bắc thì phần lớn các sông chảy theo hướng sơn văn, cácsông suối nhỏ thường đổ thẳng góc vào sông chính Lưu vực hẹp, tốc độ đào lòngmạnh, ít bãi bồi, lắm thác ghềnh Mùa lũ thường từ tháng 6 đến tháng 10, chiếm phầnlớn lượng nước trong năm Mùa cạn bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào tháng 5.Môđun dòng chảy trung bình dao động từ 30 – 60 l/s/km2 Môđun xuất hiện lớn nhất ởvùng núi cao phía bắc, khoảng 40 – 60 l/s/km2 Sông Đà là con sông lớn nhất trongtiểu vùng này đóng góp 47% lượng nước cho sông Hồng
d Thổ nhưỡng
Trong cơ cấu thổ nhưỡng của vùng trung du và miền núi Bắc Bộ, đất feralit đỏvàng chiếm tỉ lệ lớn về diện tích thích hợp trồng rừng và cây công nghiệp Đát feralitphát triển trên đá vôi phong hóa chiếm diện tích đáng kể ở các tỉnh Đông Bắc Do đặcđiểm khí hậu và địa hình đặc biệt nên lớp phủ thổ nhưỡng ở đây mang sắc thái riên
Trang 21biệt và phân bố phức tạp Rõ rệt nhất là sự phân hóa thổ nhưỡng theo đai cao Tại đâytồn tại các loại đất từ mùn thô (trên đỉnh Hoàng Liên Sơn), đất mùn alit trên núi đếnđất feralit có mùn và đất feralit đỏ vàng, tích tụ oxit sắt – nhôm tõ tại các bậc thềm vàvùng đồi Trên các cao nguyên đá vôi có các loại đất nâu đỏ và đất dốc tụ phì nhiêu.Tại các thung lũng, lòng chảo như Điện Biên, Nghĩa Lộ, Than Uyên…có các loại đấtdốc tụ, được cải tạo thành các cánh đồng trồng lúa.
e Sinh vật
Do có những điều kiện thuận lợi về khí hậu và địa hình, vùng trung du và miềnnúi Bắc Bộ có hệ thống sinh vật rất phong phú và đa dạng Tiểu vùng Đông Bắc ngoàiđai rừng chí tuyến chân núi nóng và ẩm phát triển mạnh các cây họ Dầu, mà tiêu biểu
là Chò nâu, Táu còn rất phát triển đai rừng nhiệt đới trên núi với các loài như: Tán,Sồi, Dẻ và các loài lá kim như Vân sam, Kim giao, Pơmu Ngoài ra khu vực ven biểnĐông còn có các hệ sinh thái biển rất đặc sắc Còn tiểu vùng Tây Bắc, bên cạnh cácloài nhiệt đới ẩm còn thấy nhiều loài chịu khô hạn, dụng lá như các loài thuộc họBàng, Gạo, Dầu rụng lá vào mùa đông Đặc biệt ở Hoàng Liên Sơn có các loài Trúclùn, Đỗ quyên, Vân sam, Thiết sam Phân bố theo địa hình và điều kiện khí hậu, tiểuvùng tồn tại các kiểu hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, rừng nửarụng lá hơi ẩm đến hơi khô miền núi
Vùng trung du và miền núi Bắc Bộ có rất nhiều vườn quốc gia và các khu bảotồn thiên nhiên với các loài động thực vật phong phú, đa dang như: Vườn quốc gia Ba
Bể (Bắc Cạn), Tam Đảo nằm trên địa phận của 3 tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, TháiNguyên Ngoài ra còn có vườn quốc gia Hoàng Liên (Lào Cai) và khu bảo tồn thiênnhiên Mường Nhé (Lai Châu), Sốp Cộp, Xuân Nha, Nậm Dôn (Sơn La) cũng có rấtnhiều các loài động thực vật quý hiếm
f Khoáng sản
Trung du và miền núi Bắc Bộ là vùng giàu tài nguyên khoáng sản bậc nhất nước ta
- Khoáng sản nhiên liệu các mỏ than khác như than nâu Na Dương (Lạng Sơn),than mỡ (Thái Nguyên)
- Khoáng sản kim loại thì có thiếc ở Tĩnh Túc (Cao Bằng), chì – kẽm ở Chợ Điền(Bắc Kạn), đồng – vàng ở Sinh Quyền (Lào Cai), đồng – niken ở Tạ Khoa (Sơn La),sắt ở Trại Cau (Thái Nguyên), Quý Sa (Yên Bái), Tùng Bá (Hà Giang), bôxit ở Cao
Trang 22Bằng và Lạng Sơn.
- Phi kim loại và vật liệu xây dựng thì có Apatit (Cam Đường – Lào Cai) trữlượng trên 2 tỷ tấn, Pirit Phú Thọ, Photphorit ở Lạng Sơn Đá vôi, cao lanh, đá quý ởYên Bái
1.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội vùng trung du và miền núi Bắc Bộ
a Dân cư – xã hội
Năm 2010 dân số toàn vùng đạt 11.17 triệu người, tăng gần 9.5% so với năm
2000 Mật độ dân số: 117 người/km2, tuy nhiên có sự chênh lệch lớn về mật độ dân sốgiữa Tây Bắc và Đông Bắc, tương ứng là 74 và 149 người/km2 Tây Bắc là vùng cómật độ thấp nhất so với các vùng khác trong cả nước, trong đó Lai Châu có mật độthấp nhất toàn quốc (42 người/km2) Trung du và miền núi Bắc Bộ có tỷ lệ nữ giớichiếm 50.0%, mức sinh khá cao: 2.20 con/phụ nữ Cơ cấu độ tuổi của vùng trung du
và miền núi Bắc Bộ có tỷ trọng trong độ tuổi lao động 15 – 59 cao: 61.2%, vừa là mộtlợi thế, đồng thời cũng tạo ra áp lực lớn trong vấn đề giải quyết việc làm[24]
Đại bộ phận dân số của vùng sống ở nông thôn Tỷ lệ dân sống ở khu vực thànhthị rất thấp 16.2% so với trung bình cả nước là 30.2% (2010) Trong những năm gầnđây tỷ lệ dân cư thành thì có tăng lên cùng với quá trình phát triển công nghiệp và dịchvụ
Một số tỉnh có tỷ lệ dân thành thị cao hơn trung bình toàn vùng như Thái Nguyên(26%), Lào Cai (21.3%), Yên Bái (19.5%) nhưng một số tỉnh có tỷ lệ thị dân rất thấpnhư Bắc Giang có tỷ lệ dân thành thị dưới 10%, Lai Châu và Sơn La trong khoảng14%
Về quần cư, vùng trung du và miền núi Bắc Bộ có hai dạng chủ yếu: quần cư đôthị và quần cư nông thôn Tính đến 31/12/2010 toàn vùng có 10 thành phố trực thuộctỉnh, 8 thị xã, 142 thị trấn Thành phố Thái Nguyên là trung tâm công nghiệp gangthép, cơ khí; thành phố Việt Trì là trung tâm công nghiệp hóa chất, dệt; thành phố HạLong là trung tâm công nghiệp than, du lịch và dịch vụ biển Trong xu thế kinh tế mởcửa, các đô thị cửa khẩu như thành phố Lạng Sơn, Hà Giang, Cao Bằng, Sơn La, ĐiệnBiên cũng như các thị trấn huyện lị biên giới được quy hoạch khang trang, dân cưđông đúc, hoạt động kinh tế cửa khẩu nhộn nhịp
Trang 23Quần cư nông thôn miền núi Bắc Bộ tuy đa dạng nhưng có thể quy về hai loạihình chủ yếu: quần cư nông thôn truyền thống và quần cư nông thôn thời kỳ đổi mới.Quần cư nông thôn truyền thống phản ánh đặc điểm văn hóa cư trú của cộng đồng cácdân tộc thường cư trú thành các bản dựa theo địa hình sườn núi có nguồn nước vàđồng bằng thung lũng.
Vùng trung du và miền núi Bắc Bộ được cả nước biết đến như một vùng địa lídân tộc học độc đáo Trong số 4 ngữ hệ chủ yếu ở nước ta thì cộng đồng các dân tộctrong vùng có các đại diện của 3 ngữ hệ:
- Hán Tạng: các nhóm Hán – Hoa, Tạng – Miến, Mông, Dao
- Nam Á: các nhóm Việt - Mường, Môn Khơ Me
- Tày Thái: các nhóm Tày – Thái, Ka Đai
Trong số hơn 30 dân tộc thiểu số cư trú xen kẽ từ lâu đời nơi đây, một số dân tộc
có số dân đông ở tiểu vùng Đông Bắc là Tày, Nùng…; ở Tây Bắc là Thái, Mường…Các dân tộc Mông, Dao cư trú trên rẻo cao của cả Đông Bắc và Tây Bắc, nhưng tậptrung khá đông ở các vùng cao biên giới Việt – Trung, nhất là ở các tỉnh Hà Giang,Cao Bằng, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên
Nhờ thành tựu của công cuộc đổi mới, đời sống của các dân tộc ngày càng đượcnâng cao Nhiều dự án phát triển điện, đường, trường, trạm, nước sạch nông thôn đượctriển khai rộng rãi theo khuôn khổ Chương trình 135 Cơ sở hạ tầng xã hội nông thônđược cải thiện đáng kể Nhiều làng bản đã có điện, đường sá đến trung tâm xã; nôngthôn bắt đầu được quy hoạch lại Mô hình kinh tế nông – lâm kết hợp làm cơ sở kinh
tế sinh thái cho các trang trại và cac hộ gia đình, mô hình RVAC ngày càng phổ biếnrộng rãi Nhà cửa khang trang, lợp ngói mới hoặc dùng tấm lợp, có điện thắp sáng,dùng nước sạch hoặc nước giếng khoan Hầu hết trung tâm xã đã có trường tiểu học,trung học cơ sở xây dựng mới, màu sắc sống động, đẹp mắt Hầu hết các xã biên giớiđều có trung tâm phát thanh truyền hình
Các bản dân tộc định canh, định cư, nhất là vùng tái định cư của các dự án xâydựng thủy điện Tuyên Quang, thủy điện Sơn La được quy hoạch gọn gàng đẹp mắt,vừa giữ gìn được nét đẹp văn hóa của các dân tộc vừa đảm bảo được đời sống và sảnxuất của dân bản
Trang 24b Kinh tế
Trong thời kỳ đổi mới, cơ cấu kinh tế của trung du và miền núi Bắc Bộ có sự chuyểnbiến tích cực theo hướng giảm dần tỷ trọng nông, lâm, ngư nghiệp và tăng dần tỷ trọngkhu vực công nghiệp – dịch vụ, mặc dù so với tình hình chung cả nước tốc độ chuyểndịch còn khiêm tốn, quá trình phân công lao động theo ngành và theo lãnh thổ diễn rachậm chạp, nền kinh tế vẫn trong tình trạng chậm phát triển
Bảng 1.1 Cơ cấu kinh tế ở trung du và miền núi Bắc Bộ qua các năm (%)
Năm Nông – lâm – ngư nghiệp Công nghiệp – xây dựng Dịch vụ
Nguồn: Viện chiến lược phát triển
Hơn nữa sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa hai tiểu vùng Đông Bắc và Tây Bắc,giữa các địa bàn trung du và miền núi, giữa các tỉnh diễn ra tương đối khác nhau.Sản xuất nông nghiệp trong vùng đã có nhiều chuyển biến tích cực trong nhữngnăm gần đây Trong ngành trồng trọt cây lương thực vẫn chiếm vị trí hàng đầu nhằmphục vụ nhu cầu trong vùng
Bảng 1.2 Lương thực có hạt bình quân đầu người qua các năm (kg/người)
Nguồn: Niên giám thống kê các năm 2005, 2010, NXB Thống kê
Ngoài ra vùng đã hình thành được một số vùng chuyên canh cây công nghiệp sảnxuất hàng hóa có giá trị kinh tế như:
- Vùng chuyên canh chè: có vị trí đặc biệt trong cơ cấu cây công nghiệp và đượccoi là thế mạnh của vùng Tập trung ở Thái Nguyên, Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang,Tuyên Quang, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình
- Vùng chuyên canh thuốc lá: Lạng Sơn, Cao Bằng
- Vùng chuyên canh mía huyện Cao Lộc, Lộc Bình (Lạng Sơn), Văn Yên và TrấnYên (Yên Bái)
Trang 25- Vùng chuyên canh cà phê chè Lạng Sơn, khu phụ cận Thái Nguyên (PhúLương, Đại Từ, Đồng Hỷ), Tuyên Quang, Yên Bái, Cao Bằng
- Vùng chuyên canh cây ăn quả Bắc Hà (Lào Cai), Ngân Sơn (Cao Bằng), vùng
na Chi Lăng – Lạng Sơn, vùng hồng Lạng Sơn, vùng cam quýt bưởi, hồng Lục Yên,Yên Bình, vùng vải thiều Lục Ngạn (Bắc Giang)
Chăn nuôi của vùng có thế mạnh chăn nuôi bò sữa (Mộc Châu) do điều kiện sinhthái rất thích hợp Tây Bắc là vùng chăn nuôi bò sữa lớn nhất nước ta Vùng chăn nuôilợn tập trung là Phú Thọ
Nhìn chung ngành nông nghiệp của vùng vẫn chưa khai thác hiệu quả tiềm năng
về đất đai và khí hậu vừa mang tính nhiệt đới, cận nhiệt và ôn đới để phát triển các câytrồng có giá trị kinh tế cao thỏa mãn nhu cầu trong nước và xuất khẩu
Nghề trồng rừng từng bước trở thành ngành kinh tế sinh thái, đem lại lợi ích kinh
tế và góp phần tạo nguồn sinh thủy cho các nhà máy thủy điện Hòa Bình, Thác Bà,Tuyên Quang, Sơn La và nhiều công trình thủy lợi, thủy điện địa phương khác
Bảng 1.3 Tình hình sản xuất lâm nghiệp ở trung du và miền núi Bắc Bộ
2000 2005 2010
Giá trị sản xuất lâm nghiệp (tỉ đồng) 2480.9 2559.0 3012.4Sản lượng gỗ khai thác (nghìn m3) 734.6 1050.9 1432.7Diện tích rừng trồng tập trung (nghìn ha) 82.3 65.6 132.6
Nguồn: Niên giám Thống kê năm 2005, 2010
Nhờ có mạng lưới sông suối, hồ chứa nước vùng trung du và miền núi Bắc Bộ cóthế mạnh phát triển nghề nuôi trồng và đánh bắt thủy sản Sản lượng khai thác và sảnlượng nuôi trồng đều tăng trong thời gian qua
Về giá trị sản lượng một số tỉnh đạt trên 30 tỉ đồng giá trị thủy sản là: Phú Thọ(152.9), Bắc Giang (168.5), Thái Nguyên (44.9), Sơn La (49.9), Yên Bái (45.2), HòaBình (33.4) Mô hình VAC và các trang trại nuôi cá lồng , cá bè trên sông, suối, hồnước thủy lợi, thủy điện ở nhiều địa phương góp phần quan trọng cho việc cung cấpthực phẩm cho thị trường tiêu dùng
Cơ cấu công nghiệp trong vùng đã có nhiều biến chuyển Số xí nghiệp côngnghiệp nặng có quy mô lớn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cả nước như khai thác nănglượng, luyện kim, cơ khí, hóa chất…Ngành khai thác năng lượng (than) cung cấp tới98% than đá cho nhu cầu trong nước và chiếm tỷ trọng 26.7% trong giá trị gia tăng
Trang 26công nghiệp của cả nước; công nghiệp hóa chất chiếm 78.5%; công nghiệp vật liệu xâydựng chiếm 13.8%
Trong vùng đã hình thành các vùng lãnh thổ tập trung công nghiệp chuyên mônhóa như: khu công nghiệp luyện kim đen Thái Nguyên, khu công nghiệp hóa chất LâmThao – Việt Trì, khu công nghiệp sản xuất phân bón Bắc Giang Nhiều khu côngnghiệp trở thành hạt nhân hình thành các đô thị và giữa vai trò trung tâm tác động đến
sự phát triển chung của toàn vùng Ngoài ra, một số ngành công nghiệp nhẹ cũng pháttriển trên cơ sở khai thác nguồn nông lâm sản của vùng như công nghiệp giấy (BãiBằng), công nghiệp mía đường, ép dâu…
Nhờ những nỗ lực nói trên, trong thời kỳ đổi mới, sản xuất công nghiệp ở trung
du và miền núi Bắc Bộ đã tăng trưởng khá
Bảng 1.4 Giá trị sản xuất công nghiệp ở trung du và miền núi Bắc Bộ
qua các năm (tỉ đồng, giá so sánh năm 1994)
Nguồn: Niên giám thống kê năm 2005, 2010
Dẫn đầu về giá trị sản xuất công nghiệp của vùng là các tỉnh: Phú Thọ, TháiNguyên Tuy nhiên sản xuất công nghiệp tăng trưởng không đều, tập trung chủ yếu ởtiểu vùng Đông Bắc do có các cơ sở công nghiệp nặng; sản xuất công nghiệp ở tiểuvùng Tây Bắc và các tỉnh miền núi, nhất là các tỉnh biên giới vẫn còn nhiều khó khăn.Nhìn chung cơ cấu công nghiệp thay đổi chậm, không đều Tỷ trọng công nghiệp trongGDP còn thấp
Vùng trung du và miền núi Bắc Bộ có hệ thống giao thông bộ, đường sắt kháphát triển, nối các tỉnh với thủ đô Hà Nội, cảng Hải Phòng và các cửa khẩu biên giới.Các tuyến đường sắt Hà Nội – Lạng Sơn, Hà nội – Lào Cai, Hà Nội – Thái Nguyêncùng với các tuyến quốc lộ 1A, 2, 3, 6 từ Hà Nội tỏa về các tỉnh tạo thành mạng lướigiao thông đường bộ hình quạt, chụm về thủ đô và hướng về các cửa khẩu biên giớiViệt – Trung, Việt – Lào Hướng đông tây được bổ sung bằng các quốc lộ số 4, 279,cụm cảng Quảng Ninh, đặc biệt là cảng Cái Lân với tuyến quốc lộ 18 và đường sắtLưu Xá – Kép – Bãi Cháy
Trang 27Hoạt động xuất nhập khẩu cũng bắt đầu phát triển với một số mặt hàng truyềnthống như than, khoáng sản, lâm sản Apatit Lào Cai là mặt hàng xuất khẩu chủ lực,đem lại nguồn ngoại tệ khá lớn
Vùng trung du và miền núi Bắc Bộ còn có nhiều tiềm năng phát triển du lịch.Tiêu biểu cho tiềm năng du lịch sinh thái là: vịnh Hạ Long, Sa Pa, hồ Ba Bể; cho dulịch lịch sử văn hóa là Pác Bó, Tân Trào, Điện Biên Phủ Du lịch là mặt mạnh tại cáctỉnh có các cửa khẩu biên giới Việt – Trung do lượng khách du lịch từ các tỉnh QuảngTây, Vân Nam (Trung Quốc) vào Việt Nam ngày càng đông
Như vậy, vùng trung du và miền núi Bắc Bộ là vùng khu vực khá rộng lớn với sựphân hóa về tự nhiên rõ rệt thành hai tiểu vùng Đông Bắc và Tây Bắc Tự nhiên củavùng ngày càng chịu sự tác động mạnh mẽ của con người Trước sự gia tăng khôngngừng của dân số và quá trình đô thị hóa Các hoạt động kinh tế của vùng cũng đangngày càng được trú trọng và từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.Tuy nhiên song song với quá trình phát triển không ngừng về kinh tế - xã hội đó lànguy cơ BĐKH toàn cầu tại vùng trung du và miền núi Bắc Bộ ngày càng gia tăng vàphát triển theo chiều hướng không mấy tích cực
Chương 2: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VÙNG TRUNG DU VÀ MIỀN NÚI BẮC BỘ
THỜI KÌ 1970 - 2010 2.1 Biểu hiện của BĐKH ở TDMNBB qua các yếu tố khí hậu cơ bản
2.1.1 Biến đổi của nhiệt độ
Bảng 2.1 Nhiệt độ trung bình tháng I qua các thập kỉ tại các trạm khí tượng của
vùng trung du và miền núi Bắc Bộ, thời kì 1970 - 2010
Trang 28- Thập kỷ 1970 – 1979, nhiệt độ trung bình tháng I tại các trạm Điện Biên, vàThái nguyên ở mức >150C, trong khi đó trạm Lạng Sơn chỉ là 12.70C và Sìn Hồ là9.80C Trong hai thập kỷ 1980 – 1999, các trạm đều tăng nhiệt độ trung bình tháng I,trong đó trạm Điện Biên tăng nhiều nhất và là trạm có nhiệt độ cao nhất (17.30C).Thập kỷ gần đây nhất, riêng Lạng Sơn tăng 0.10C và Thái Nguyên giữ nguyên con sốcủa thập kỷ trước còn các trạm khác đều giảm.
- Tốc độ tăng nhiệt độ trung bình tháng I tại các trạm cũng rất khác nhau Chuẩnsai nhiệt độ trung bình tháng I tại tất cả các trạm đều đạt âm trong hai thập kỷ 1970 –
1989 và đổi dấu trong hai thập kỷ tiếp theo
Bảng 2.2 Chuẩn sai nhiệt độ trung bình tháng I qua các thập kỷ của bảy trạm khí
tượng của Đông Bắc, thời kì 1970 – 2010
Trang 29- Trong thời kỳ 1970 – 2010, Biến suất của nhiệt độ trung bình tháng I tại trạmLạng Sơn 12%, thấp nhất là trạm Điện Biên 7.1%, các trạm khác dao động 7.8 –11.7%.
- Trạm khí tượng Điện Biên có phương trình xu thế của nhiệt độ trung bình tháng
I là: yt = 70.958 + 0.0441t Nghĩa là tại trạm Điện Biên, nhiệt độ trung bình tháng Ităng trung bình 0.04410C/năm, tương đương với 0.440C/thập kỷ cao nhất so với cáctrạm còn lại: Thái Nguyên 0.310C/thập kỷ, Sìn Hồ là 0.300C/thập kỷ, và thấp nhất làLạng Sơn 0.240C/thập kỷ
Như vậy có thể thấy nhiệt độ trung bình tháng I ở vùng trung du và miền núi Bắc
Bộ trong thời kỳ 1970 – 2010 có xu thế gia tăng nhưng tại mỗi thập kỷ và tại mỗi trạm
có tốc độ ra tăng khác nhau
Trang 30Hình 2.1 Biến trình năm, trung bình trượt và đường xu thế
của nhiệt độ tháng I, thời kì 1970 – 2010.
Hình 2.2 Biến trình năm, trung bình trượt và đường xu thế của nhiệt độ tháng I, thời kì 1970 – 2010 (tiếp)
b Nhiệt độ tháng VII
Trong tháng VII, tháng tiêu biểu cho mùa hè, nhiệt độ trung bình các thập kỷkhông khác nhau nhiều như trong mùa đông do nhiệt độ mùa hè ít biến đổi hơn
Trang 31- Trong thời kỳ 1970 – 2010, nhiệt độ trung bình tháng VII tại trạm khí tượngthuộc tiểu vùng Đông Bắc cao hơn so với Tây Bắc, trong đó trạm Thái Nguyên là caonhất 28.580C, sau đó là Lạng Sơn 27.10C (thấp hơn 1.50C), Điện Biên 25.90C (thấp hơn2.730C), thấp nhất là Sìn Hồ 19.90C (thấp hơn 8.720C).
Bảng 2.3 Nhiệt độ trung bình tháng VII qua các thập kỷ tại các trạm khí tượng
vùng trung du và miền núi Bắc Bộ, thời kì 1970 - 2010
- Giống như tháng I, nhiệt độ trung bình tháng VII tại các trạm có tốc độ tăng rấtkhác nhau Tất cả các trạm đều có chuẩn sai nhiệt độ trung bình tháng VII âm trongthập kỷ 1970 – 1979 và đổi dấu trong thập kỷ tiếp theo Nhưng đến thập kỷ 1990 –
1999, 3/4 trạm lại trả về dấu âm, riêng trạm Sìn Hồ vẫn có chuẩn sai dương Sang thập
kỷ gần đây nhất thì chỉ có trạm Lạng Sơn là chuẩn sai âm, các trạm khác đều mang giátrị dương
Bảng 2.4 Chuẩn sai nhiệt độ trung bình tháng VII tại các trạm khí tượng
vùng trung du và miền núi Bắc Bộ, thời kì 1970 - 2010
Trang 33Hình 2.3 Biến trình năm, trung bình trượt và đường xu thế
của nhiệt độ tháng VII, thời kì 1970 – 2010
Hình 2.4 Biến trình năm, trung bình trượt và đường xu thế của nhiệt độ tháng VII, thời kì 1970 – 2010 (tiếp)
Phương trình xu thế của nhiệt độ trung bình tháng VII trong thời kỳ 1970 – 2010tại các trạm khí tượng vùng trung du và miền núi Bắc Bộ đều có hệ số b không lớn,cao nhất là Sìn Hồ và Điện Biên 0.0150C/năm nghĩa là trung bình nhiệt độ tháng VII
Trang 34tăng trung bình 0.150C/thập kỷ, Thái Nguyên là 0.140C/thập kỷ, thấp nhất là Lạng Sơntăng 0.060C/thập kỷ.
Như vậy, nhiệt độ trung bình tháng VII vùng trung du miền núi Bắc Bộ cũng có
xu hướng tăng nhưng tốc độ tăng không lớn lắm
c Biến đổi nhiệt độ theo mùa.
- Nhiệt độ trung bình tháng mùa hạ (tháng V- IX, theo quan niệm của GS.TSNguyễn Trọng Hiệu và GS TS Lê Đình Quang), trong thời kỳ 1970 – 2010, các trạmkhí tượng Đông Bắc cao hơn Tây Bắc, trong đó cao nhất là Thái Nguyên với 27.90Ccao hơn, Lạng Sơn +1.670C, Điện Biên +2.290C và thấp nhất là Sìn Hồ thấp hơn TháiNguyên 8.360C
Bảng 2.5 Nhiệt độ trung bình mùa hạ tại các trạm khí tượng
vùng trung du và miền núi Bắc Bộ, thời kì 1970 - 2010
là Sìn Hồ (19.60C), Điện Biên tăng mạnh nhất 0.40C, Lạng Sơn là 0.20C chỉ tăng nhẹ0.10C Thập kỷ 1990 – 1999, nhiệt độ trung bình mùa hạ tại các trạm có nhiều biếnđộng Trạm Lạng Sơn chững lại ở 26.30C, Điện Biên giảm 0.10C, trong khi TháiNguyên và Sìn Hồ tăng nhẹ (0.10C)
- Nhiệt độ trung bình mùa đông (XI – III) thời kỳ 1970 – 2010 ở các trạm có sựkhác nhau Giống mùa hạ cao nhất là ở trạm Thái Nguyên 18.50C và Điện Biên 18.40C,Lạng Sơn là 15.80C và thấp nhất là Sìn Hồ 12.30C
Trang 35Bảng 2.6 Nhiệt độ trung bình mùa đông tại các trạm khí tượng
vùng trung du và miền núi Bắc Bộ, thời kì 1970 - 2010
và cao nhất vẫn là Thái Nguyên, thấp nhất vẫn là Lạng Sơn 18.70C và Sìn Hồ 12.50C.Thập kỷ gần đây nhất, nhiệt độ tại các trạm Thái Nguyên và Lạng Sơn tăng (19.10C,16.10C), các trạm còn lại đều giữ nguyên con số của thập kỷ trước
Như vậy, có thể thấy nhiệt độ trung bình mùa của vùng trung du và miền núi Bắc
Bộ có xu hướng tăng trong thời kỳ 1970 – 2010 Mức độ thay đổi nhiệt độ ở hai tiểuvùng: Đông Bắc và Tây Bắc là tương đương nhau
d Nhiệt độ trung bình năm.
- Khảo sát chuỗi số liệu thời kì 1970 - 2010 cho thấy, dù nhiệt độ trung bình năm
là 21,40C nhưng rất khác biệt ở các trạm khí tượng Cụ thể, trong bốn thập kỷ qua TháiNguyên là trạm có nhiệt độ trung bình năm luôn cao nhất (23.40C), sau đó là ĐiệnBiên (22.20C), Lạng Sơn (21.30C) và thấp nhất là Sìn Hồ (16.10)
Bảng 2.7 Nhiệt độ trung bình năm tại các trạm khí tượng vùng trung du và miền núi Bắc Bộ, thời kì 1970 - 2010
Trang 36- Trong thập kỷ 1970 – 1979, nhiệt độ trung bình năm tại Thái Nguyên là 230C,thấp nhất là Sìn Hồ 15.70C, Lạng Sơn và Điện Biên ở mức 210C Sang thập kỷ 1980 –
1989, Lạng Sơn duy trì ở mức 21.10C còn các trạm khác đều tăng 0.2 – 0.60C Trongthập kỷ tiếp theo, nhiệt độ trung bình năm tại các trạm đều tăng nhẹ và nhiệt độ tạiThái Nguyên vẫn cao nhất 23.50C, thấp nhất vẫn là ở Sìn Hồ 16.30C Thập kỷ gần đâynhất, nhiệt độ trung bình tại các trạm đều tăng riêng chỉ có Sìn Hồ là giữ nguyên mức16.30C
- Độ lệch chuẩn của nhiệt độ trung bình năm tại cả 5 trạm đều nhỏ hơn so với độlệch chuẩn của nhiệt độ trung bình tháng Giá trị độ lệch chuẩn của nhiệt độ trung bìnhnăm cũng không có mấy chênh lệch giữa các trạm Thái Nguyên là 0.50C, các trạm cònlại đều là 0.40C
- Biến suất của nhiệt độ trung bình năm ở các trạm thuộc Đông Bắc ít chênh lệchgiữa các trạm hơn so với các trạm thuộc Tây Bắc Cao nhất là Sìn Hồ 2.3%, TháiNguyên là 2.1%, Lạng Sơn 2.0%, thấp nhất là Điện Biên 1.9%
- Trong thập kỷ 1970 – 1979, chuẩn sai nhiệt độ trung bình năm của cả 4 trạmkhí tượng đều âm: Thái Nguyên -0.380C, Lạng Sơn -0.170C, Điện Biên -0.490C, Sìn
Hồ -0.380C Ở thập kỷ tiếp theo các trạm khí tượng thuộc Tây Bắc đã đổi dấu còn cáctrạm Đông Bắc vẫn mang dấu âm Hai thập kỉ sau, chuẩn sai trung bình năm có giá trịdương Cao nhất là thập kỷ 2000 - 2009, chuẩn sai nhiệt độ trung bình năm đều đạtđỉnh: Thái Nguyên 0.430C, Lạng Sơn 0.290C, Điện Biên 0.200C và Sìn Hồ 0.210C
- Phương trình xu thế của nhiệt độ trung bình năm tại các trạm: Thái Nguyên: yt
= 33.425 + 0.0286t, Điện Biên: yt = 29.048 + 0.0258t, Lạng Sơn: yt = 15.263 +0.0184t, Sìn Hồ: yt = 20.336 + 0.0138t
Như vậy có thể thấy nhiệt độ trung bình năm vùng trung du và miền núi Bắc Bộ
có xu hướng tăng trong thời kỳ 1970 – 2010 Tuy nhiên từng giai đoạn khác nhau tốc
độ gia tăng nhiệt độ cũng nhau Nhiệt độ tại các trạm khí tượng cũng có những khácbiệt, các trạm Đông Bắc gia tăng nhiều hơn nhưng mức độ chênh lệch giữa các trạmkhông lớn như các trạm Tây Bắc
Trang 37Hình 2.5 Biến trình năm, trung bình trượt và đường xu thế
của nhiệt độ trung bình năm, thời kì 1970 – 2010
Trang 38Hình 2.6 Biến trình năm, trung bình trượt và đường xu thế của nhiệt độ trung bình năm, thời kì 1970 – 2010 (tiếp)
2.1.2 Biến đổi lượng mưa
a Lượng mưa trung bình nhiều năm.
- Trong thời kỷ 1970 – 2010, lượng mưa trung bình nhiều năm tại các trạm khítượng vùng trung du và miền núi Bắc Bộ dao động trong khoảng từ 1323 – 2727 mm.Sìn Hồ là trạm có lượng mưa trung bình nhiều năm lớn nhất 2727 mm, đứng thứ hai làThái Nguyên 1932 mm, thấp hơn nữa có Điện Biên 1577 mm và thấp nhất là Lạng Sơn
1323 mm Rõ ràng lượng mưa trung bình nhiều năm tại các trạm khí tượng vùng trung
du miền núi Bắc Bộ có mức chênh lệch khá lớn
Bảng 2.8 Lượng mưa trung bình nhiều năm tại các trạm vùng trung du và
miền núi Bắc Bộ, thời kì 1970 - 2010
Trang 39- Tương quan giữa các trạm trong mỗi thập kỷ sẽ làm sáng tỏ mức độ chênh lệch
về lượng mưa trung bình nhiều năm Trong thập kỷ 1970 – 1979, lượng mưa trungbình nhiều năm của trạm Sìn Hồ đạt mức 2846 mm, cao hơn Thái Nguyên 710 mm,Điện Biên 1297 mm và hơn Lạng Sơn tới 1467 mm (cao hơn cả lượng mưa tại LạngSơn) Tình trạng này vẫn tiếp diễn trong cả ba thập kỷ tiếp theo nhưng mức độ chênhlệch có biến động đôi chút Trong thập kỷ 1980 – 1989, trừ Điện Biên có lượng mưatrung bình nhiều năm tăng, các trạm khác đều giảm lượng mưa nhưng tốc độ giảmmạnh hơn các trạm khác nên đã làm giảm mức độ chênh lệch với các trạm khác Tuynhiên mức độ chênh lệch vẫn 742 – 1283 mm Sang thập kỷ tiếp theo, ngoài Điện Biêntiếp tục gia tăng lượng mưa thì Thái Nguyên và Sìn Hồ cũng tăng làm cho mức độchênh lệch giữa các trạm càng lớn, dao động 818 – 1536 mm Thập kỷ gần đây nhất,
2000 – 2009, chỉ có Lạng Sơn tăng lượng mưa trung bình nhiều năm, các trạm khácđều giảm, mức độ chênh lệch trong thập kỷ này dao động 818 – 1380 mm
- Chuẩn sai lượng mưa trung bình nhiều năm rất khác nhau giữa các trạm quatừng thập kỷ, trong thời kỳ 1970 – 2010 Thập kỷ 1970 – 1979, chỉ có Thái Nguyênmang giá trị âm (-28 mm), các trạm khác đều có chuẩn sai dương dao động 57 – 204
mm, sang thập kỷ tiếp theo thì Thái Nguyên và Sìn Hồ lại có chuẩn sai âm (26 mm,
-79 mm), các trạm còn lại dao động 9 – 42 mm Thập kỷ 1990 – 1999, chuẩn sai âm đãchuyển sang trạm Lạng Sơn (-76 mm), các trạm khác có chuẩn sai trong khoảng 33 –
139 mm Thập kỷ gần đây nhất, tất cả các trạm đều có chuẩn sai âm
- Độ lệch chuẩn của lượng mưa trung bình nhiều năm có sự chênh lệch đôi chútgiữa các trạm Cao nhất là Sìn Hồ 374 mm, Thái Nguyên 370 mm, thấp hơn có LạngSơn 267 mm và thấp nhất là Điện Biên 257 mm Độ lệch chuẩn của lượng mưa trungbình có giá trị lớn ở các tháng mùa mưa và nhỏ ở các tháng mùa khô
- Biến suất của lượng mưa trung bình nhiều năm lớn nhất là ở Lạng Sơn 20.1%,thấp hơn là Thái Nguyên 19.2%, Điện Biên 16.3% và thấp nhất là ở Sìn Hồ 13.7%.Biến suất ở các tháng ít mưa (mùa khô) lớn hơn các tháng nhiều mưa (mùa mưa)
- Trong thời kỳ 1970 - 2010, lượng mưa trung bình nhiều năm ở các trạm có sựkhác biệt tương đối rõ:
Trang 40Hình 2.7 Biến trình năm, trung bình trượt và đường xu thế
của tổng lượng mưa năm, thời kì 1970 - 2010