1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu đến cực trị dòng chảy trên lưu vực sông nhuệ đáy thuộc thành phố hà nội

21 719 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá biến động của dòng chảy cực đoan dưới tác động của biến đổi khí hậu
Tác giả Nguyễn Ý Như Trường
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Thanh Sơn
Trường học Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Thủy văn
Thể loại Luận văn ThS
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 404,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu đến cực trị dòng chảy trên lưu vực sông Nhuệ Đáy Abstract: Tổng quan các vấn đề cần nghiên cứu: Giới thiệu tình hình nghiên cứu tài nguyên nước

Trang 1

Nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu đến cực trị dòng chảy trên lưu vực sông Nhuệ Đáy

Abstract: Tổng quan các vấn đề cần nghiên cứu: Giới thiệu tình hình

nghiên cứu tài nguyên nước trên thế giới liên quan tới biến đổi khí hậu; Khái quát điều kiện địa lý tự nhiên – kinh tế xã hội lưu vực sông Nhuệ - Đáy thuộc địa phận thành phố Hà Nội Lựa chọn kịch bản biến đổi khí hậu

và mô hình mô phỏng khí hậu – dòng chảy Đánh giá biến động của dòng chảy cực đoan dưới tác động của biến đổi khí hậu: Cơ sở dữ liệu; Áp dụng

mô hình cho khu vực nghiên cứu; Đánh giá biến động cực trị dòng chảy

Keywords: Thủy văn học; Sông Nhuệ; Biến đổi khí hậu; Lưu vực sông;

Sông Đáy

Content

Lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy không phải là một lưu vực lớn, nhưng có vị trí địa

lý đặc biệt, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của cả nước nói chung, của vùng đồng bằng sông Hồng nói riêng Sông Nhuệ và sông Đáy là hai con sông cung cấp nguồn nước ngọt quan trọng cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dân sinh cho cộng đồng dân cư, đang chịu áp lực mạnh mẽ của sự gia tăng dân số, quá trình đô thị hoá, cũng như các hoạt động kinh tế xã hội (KT – XH) diễn ra trên lưu vực Trước những yêu cầu lớn đặt ra với nguồn nước của lưu vực này để đáp ứng nhu cầu sử dụng nước ngày càng cao

về số lượng do sự phát triển dân sinh KT - XH cũng như đòi hỏi nguồn nước để duy trì hệ sinh thái, hạn chế ô nhiễm nguồn nước, trong xu thế tài nguyên nước đang suy giảm cả về chất và lượng, dưới tác động của các yếu tố tự nhiên và hoạt động của con người và cả tác động của biến đổi khí hậu Đối với lưu vực vấn đề đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến các cực trị dòng chảy trên lưu vực sông Nhuệ Đáy thuộc địa bàn thành phố Hà

Trang 2

Nội nhằm tạo tiền đề cho việc xây dựng các giải pháp giảm thiểu những tác hại do biến đổi khí hậu, giúp các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách xác định chiến lược phát triển kinh tế bền vững và đảm bảo an sinh xã hội là vấn đề có ý nghĩa khoa học và thực tiễn Luận văn được bố cục thành 3 chương, ngoài mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo như sau:

Biến đổi khí hậu có khả năng ảnh hưởng đến rất nhiều lĩnh vực trong đó có tài nguyên nước Trong khoảng 10 – 15 năm qua đã có nhiều nhà thủy văn trên thế giới nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu đối với tài nguyên nước Trong những nghiên cứu này vận dụng nhiều cách tiếp cận các mô hình khác nhau

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC

Trang 3

Việt Nam là một trong 5 quốc gia trên thế giới bị tác động nhiều nhất của BĐKH mà cụ thể là hiện tượng nước biển dâng cao - hậu quả của sự tăng nhiệt độ làm bề mặt Trái Đất nóng lên do phát thải khí nhà kính (KNK) Đã có rất nhiều chương trình nghiên cứu nhằm đưa ra các giải pháp giảm nhẹ và ứng phó với BĐKH trên các quy mô khác nhau

1.3 MỘT SỐ THẢO LUẬN

Từ việc tổng quan các tài liệu nghiên cứu có thể đưa ra các kết luận rằng:

1/ Chưa có sự thống nhất trong các phương pháp đánh giá tài nguyên nước dưới tác động của biến đổi khí hậu Phần lớn các nhà nghiên cứu đều sử dụng phương pháp hạ quy mô

để thực hiện bài toán

2/ Hầu hết các công trình khoa học đã công bố rộng rãi ở Việt Nam gần đây chỉ mới tập trung sự thích ứng này ở đại lượng dòng chảy trung bình và chỉ mới tập trung vào những lưu vực có quy mô lớn hệ thống sông Hồng – Thái Bình hay sông Mê Công mà chưa có những nghiên cứu cho các lưu vực nhỏ, như lưu vực sông Nhuệ - Đáy, một lưu vực đóng vai trò đặc biệt với Thủ đô Hà Nội, nơi tập trung đông dân cư và quá trình đô thị hóa diễn

ra mạnh

Đề tài luận văn Nghiên cứu tác động của Biến đổi khí hậu đến cực trị dòng chảy trên lưu vực sông Nhuệ Đáy thuộc địa bàn Thành phố Hà Nội đã được hình thành, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc Tiếp theo, luận văn đi vào tổng quan các đặc điểm địa lý tự nhiên và tài nguyên nước của lưu vực sông Nhuệ - Đáy trong phần tiếp theo

1.4 ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN – KINH TẾ XÃ HỘI LƯU VỰC SÔNG NHUỆ ĐÁY THUỘC ĐỊA PHẬN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

1.4.1 Điều kiện địa lý tự nhiên

Lưu vực sông Đáy trên địa bàn thành phố Hà Nội có diện tích là 1900km2, lưu vực sông Nhuệ có diện tích khoảng 603km2 Mạng lưới sông ngòi khu vực nghiên cứu tương đối phát triển, mật độ lưới sông đạt 0,7 - 1,2km/km2 Lưu vực có dạng dài, hình nan quạt, gồm Sông Đáy nguyên là một phân lưu lớn đầu tiên ở hữu ngạn sông Hồng, đến năm

1937, sau khi xây dựng xong đập Đáy nước sông Hồng không thường xuyên vào sông Đáy qua cửa đập Đáy trừ những năm phân lũ, vì vậy phần đầu nguồn sông (từ km 0 đến

Ba Thá dài 71km) sông Đáy coi như đoạn sông chết và Sông Nhuệ lấy nước từ sông Hồng qua cống Liên Mạc để tưới cho hệ thống thủy nông Đan Hoài Sông Nhuệ còn tiêu nước cho thành phố Hà Nội, thị xã Hà Đông và chảy vào sông Đáy tại thành phố Phủ Lý

Trang 4

Nước sông Tô Lịch thường xuyên xả vào sông Nhuệ với lưu lượng trung bình từ 17m3/s, lưu lượng cực đại đạt 30m3/s Ngoài 2 sông chính ra có rất nhiều các chi lưu như: sông Tích, sông Bùi, sông Thanh Hà

11-Dòng chảy trên lưu vực sông phân bố không đều theo không gian và thời gian Theo không gian, dòng chảy lớn nhất là ở núi Ba Vì, phần hữu ngạn lưu vực có dòng chảy lớn hơn phần tả ngạn Sự phân bố theo thời gian thể hiện rõ nét thông qua phân phối dòng chảy trong năm Phân phối dòng chảy năm phụ thuộc vào sự phân phối theo mùa của lượng mưa năm nên dòng chảy trong năm cũng phân phối không đều và thể hiện hai mùa

rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa từ tháng V đến tháng X chiếm 80-85% lượng mưa cả năm Mùa khô từ tháng XI đến tháng IV năm sau

1.4.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Dân cư Tốc độ tăng lao động nhanh không phù hợp với tốc độ tăng trưởng của nền kinh

tế, nên số người thất nghiệp và thiếu việc làm ở đây khá cao, tác động xấu đến môi trường tự nhiên, môi trường xã hội Sự phân bố nguồn nhân lực và tốc độ tăng trưởng nguồn nhân lực giữa các vùng, các địa phương cũng rất khác nhau, không tương ứng với nguồn tài nguyên thiên nhiên như đất, nước, rừng và khoáng sản cũng như không phù hợp với tốc độ tăng của nền kinh tế Điều đó dẫn đến những luồng di chuyển dân cư lao động từ vùng này sang vùng khác, cũng là nguyên nhân gây mâu thuẫn, xung đột trong việc khai thác, sử dụng tài nguyên trong vấn đề tìm kiếm việc làm

Tình hình phát triển kinh tế Lưu vực sông Nhuệ - Đáy có nền kinh tế - xã hội phát triển liên tục từ rất lâu đời, cho đến ngày nay đây vẫn là một vùng kinh tế - xã hội phát triển nhất đồng bằng sông Hồng Ngoài ra, vùng còn có nhiều thị trấn, huyện lỵ với qui mô dân

số mỗi thị trấn, huyện lỵ khoảng 3000 - 5000 người Những năm qua các cơ sở hạ tầng của các khu đô thị đang phát triển mạnh, nhưng chưa được đầu tư thích đáng và chưa đáp ứng được nhu cầu phất triển Trong tương lai định hướng phát triển đô thị vùng được bố trí theo cụm hay theo chùm

1.4.3 Hiện trạng tài nguyên nước

Lưu vực sông Đáy Lưu vực sông Đáy trên địa bàn thành phố Hà Nội với chiều dài 114

km Các chi lưu của sông Đáy: sông Tích, sông Bùi, sông Thanh Hà Nói chung 85% lượng dòng chảy trên lưu vực sông Đáy trên địa bàn thành phố Hà Nội có nguồn gốc từ sông Hồng chuyển sang, chỉ 15% còn lại bắt nguồn từ lưu vực

Trang 5

Trong mùa mưa, mực nước và lưu lượng các sông suối lớn thay đổi nhanh, tốc độ dòng chảy đạt từ 2- 3 m/s, biên độ mực nước trong từng con lũ thường 4- 5 m Mực nước và lưu lượng lớn nhất năm có có khả năng xuất hiện trong tháng VII, VIII, hoặc IX, nhưng phổ biến vào tháng VIII

Lưu vực sông Nhuệ Sông Nhuệ là một con sông nhỏ dài 74 km, nhận nước từ sông Hồng

và lượng mưa trên toàn lưu vực khống chế của sông Nhuệ cuối cùng đổ vào sông Đáy qua cống Lương Cổ ở khu vực thành phố Phủ Lý Về mùa kiệt cống Liên Mạc luôn mở

để lấy nước sông Hồng vào sông Nhuệ, còn về mùa lũ chỉ mở khi mực nước sông Hồng dưới báo động cấp I và trong đồng có nhu cầu cấp nước Cống Lương Cổ về mùa lũ luôn luôn mở để tiêu nước và chỉ đóng lại khi có phân lũ qua đập Đáy Nước sông Tô Lịch thường xuyên xả vào sông Nhuệ với lưu lượng trung bình từ 11-17m3/s, lưu lượng cực đại đạt 30m3/s

1.4.4 Một số nghiên cứu tiêu biểu trong lưu vực sông Nhuệ - Đáy

Như đã được trình bày trên, lưu vực sông Nhuệ- sông Đáy là một khu vực đông dân cư và

có vị trí quan trọng đặc biệt là bao hàm thủ đô Hà Nội Điều đó có nghĩa là các nguồn thải ô nhiễm vào môi trường nói chung, đặc biệt là môi trường nước nói riêng sẽ gia tăng mạnh mẽ, và hệ quả tất yếu là chất lượng nước ở đây suy giảm, ảnh hưởng nghiêm trọng tới hệ sinh thái phong phú và cuộc sống của dân cư trong khu vực này Chính vì vậy lưu vực sông Nhuệ Đáy được lựa chọn làm đối tượng nghiên cứu của rất nhiều đề tài Đây cũng là nguyên nhân chính của việc hầu hết các nghiên cứu đều tập trung vào khía cạnh chất lượng nước của lưu vực

Trong thời gian gần đây, những nghiên cứu trên lưu vực liên quan đến khía cạnh biến đổi khí hậu đã được chú ý nhiều hơn Như vậy các nghiên cứu thực hiện trên lưu vực Nhuệ Đáy mặc dù đã có mở rộng về hướng nghiên cứu, kết quả đạt được mới chỉ ở bước đầu nhưng đã đặt ra những thách thức đối với các nhà quản lý tài nguyên nước và cho thấy tính cấp thiết của việc xây dựng một bức tranh đầy đủ và đáng tin cậy hơn để cung cấp cơ

sở khoa học cho các nhà quy hoạch và hoạch định chính sách

Trang 6

Từ tổng quan ở chương 1 có thể thấy tồn tại một số giới hạn quan trọng liên quan đến kết quả kịch bản kéo theo những tác động đối với kết quả đánh giá của mô hình thủy văn Thứ nhất, mô hình thủy văn yêu cầu số liệu dạng điểm (số liệu trạm) thay vì số liệu quy

mô lưới Thứ hai, khả năng đáp ứng về độ chính xác trong dữ liệu đầu ra các mô hình khí tượng làm đầu vào của mô hình thủy văn Trên cơ sở đó luận văn sẽ đề cập chi tiết đến kịch bản phát thải cũng như những công cụ được sử dụng nghiên cứu

2.1.1 Lựa chọn kịch bản biến đổi khí hậu

Trên cơ sở kết hợp với các yếu tố xã hội, tốc độ phát triển kinh tế cũng như những chiến lược nhằm giảm thiểu tác động của BĐKH toàn cầu, kịch bản phát thải trung bình A1B

và kịch bản phát thải cao A2 đã lựa chọn xây dựng kịch bản biến đổi khí hậu khu vực Việt Nam, kịch bản A1B có khả năng xảy ra cao nhất, A2 là kịch bản tiêu cực nhất có thể xảy ra

2.1.2 Một số công cụ được sử dụng xây dựng kịch bản

Với mục đích cải thiện kết quả dự tính khí hậu cho phạm vi quy mô khu vực, từ ban đầu các nhà nghiên cứu đã thực hiện theo 2 hướng độc lập: hạ quy mô động lực hay mô hình hóa khí hậu khu vực, và phương pháp hạ quy mô thống kê

Mỗi phương pháp đều có những ưu, nhược điểm riêng do đó việc kết hợp hạ quy mô động lực và thống kê, vừa tính toán đến những thay đổi trong quá trình vật lý của hệ thống khí hậu khu vực, vừa mô phỏng quá trình thực (thể hiện qua số liệu quan trắc), là cách tiếp cận tốt nhất và được lựa chọn thực hiện trong nghiên cứu Từ đó số liệu hạ quy

mô từ mô hình động lực RegCM3 với độ phân giải ngang 36km sẽ được đưa vào hạ quy

mô thống kê Tuy nhiên như đã được đề cập ở trên, các mô hình thủy văn yêu cầu số liệu điểm (tại trạm quan trắc) Vì thế trước khi hạ quy mô thống kê, đầu ra từ mô hình khí hậu khu vực được đưa vào phép toán nội suy từ quy mô lưới về điểm

2.1.3 Phương pháp nội suy

Sử dụng phương pháp nội suy song tuyến tính là hàm nội suy mở rộng của nội suy tuyến tính 2 biến trên lưới đều Ý tưởng chính của phương pháp là thực hiện nội suy tuyến tính theo một hướng, sau đó lặp lại bước đó ở hướng khác

2.1.4 Hệ số chỉnh sai

Cách tiếp cận tốt nhất là kết hợp cả hai phương pháp hạ quy mô thống kê và động lực Trên cơ sở đó, luận văn đã thực hiện bước chỉnh sai giữa số liệu kịch bản và số liệu quan

Trang 7

trắc dựa vào phương pháp hạ quy mô thống kê theo phương pháp thay đổi tỉ lệ Phương pháp này có ưu điểm là dễ thực hiện và là một phương pháp phổ biến của hiệu sai kịch bản biến đổi khí hậu từ mô hình khí tượng vào mô hình thủy văn

2.2 CÁC MÔ HÌNH KHÍ HẬU – DÒNG CHẢY

2.2.1 Giới thiệu một số mô hình khí hậu – dòng chảy

Trong vài thập kỷ qua, một số lượng lớn các mô hình mưa – dòng chảy được sử dụng phục vụ cho bài toán đánh giá tác động của BĐKH toàn cầu đến các quá trình thủy văn trên lưu vực, và mỗi mô hình được sử dụng phổ biến và thành công ở một lĩnh vực nhất định Trong phần này tác giả sẽ giới thiệu tóm tắt các mô hình được sử dụng phổ biến cho bài toán BĐKH, nhấn mạnh vào khía cạnh của mô hình phản ánh tác động của BĐKH

Mô hình thủy văn được lựa chọn cần phải đáp ứng được yêu cầu: 1) đánh giá được những thay đổi thủy văn trong lưu vực sông Nhuệ Đáy dưới điều kiện BĐKH, 2) phải phù hợp với việc phân tích những thay đổi trong phân bố dòng chảy năm, và 3) phản ánh được những thay đổi trong yếu tố cực trị

So với mô hình cân bằng nước và mô hình thông số phân bố, mô hình thông số tập trung

có khả năng đánh giá chi tiết hơn cường độ, thời gian của phản ứng thủy văn đối với BĐKH, đồng thời cũng giảm được những biến động sinh ra do dữ liệu đầu vào Hơn nữa hầu hết các nghiên cứu về BĐKH ở Việt Nam đều sử dụng mô hình NAM làm công cụ đánh giá, do đó nó được lựa chọn làm công cụ thực hiện bài toán

2.3 MÔ HÌNH THỦY VĂN CHO LƯU VỰC NGHIÊN CỨU

2.3.1 Cấu trúc của mô hình NAM

NAM là mô hình mưa - dòng chảy thuộc nhóm phần mềm của Viện Thủy lực Đan Mạch (DHI), là một phần của mô hình MIKE 11 Nó được xem như là mô hình dòng chảy tất định, tập trung và liên tục cho ước lượng mưa - dòng chảy dựa theo cấu trúc bán kinh nghiệm Mô hình NAM có thể sử dụng để mô phỏng mưa trong nhiều năm, hoặc cũng có thể thay đổi bước thời gian để mô phỏng trận mưa nhất định

Để đánh giá những thay đổi thuộc tính thủy văn trên lưu vực, lưu vực chia thành nhiều lưu vực con khép kín Quá trình diễn toán thực hiện bởi mô dun diễn toán thủy động lực trong kênh của MIKE 11 Phương pháp này cho phép các tham số khác nhau của NAM ứng dụng trong mỗi một lưu vực con, do đó được xem là mô hình phân bố

Trang 8

• Giáng thủy – Số liệu đầu vào Trong đó mô đun tuyết được tính toán thông qua chỉ

số nhiệt độ

• Bốc thoát hơi, bao gồm cả phần bị giữ lại bởi thực vật– Số liệu đầu vào

• Dòng chảy mặt – biến đổi tuyến tính theo lượng ẩm tương đối của đất, và tính theo

Tóm lại, mô hình NAM được sử dụng để xác định đường quá trình lưu lượng tại mặt cắt cửa ra của lưu vực từ số liệu mưa và bốc hơi thông qua bài toán xác định một bộ thông số phù hợp với đặc điểm của lưu vực nghiên cứu Để xác định được các thông số cần thiết

đó, số liệu lưu lượng thực đo một vài năm được yêu cầu để hiệu chỉnh và kiểm định mô hình Chương sau sẽ trình bày chi tiết số liệu, thiết lập cũng như thực hiện tính toán bằng

3.1.1 Số liệu đầu vào mô hình NAM

Số liệu vào của mô hình bao gồm số liệu không gian và số liệu thuộc tính Số liệu khí tượng, thủy văn được sử dụng với bước thời gian ngày để cho phép nghiên cứu dòng chảy một cách chi tiết theo thời gian trên lưu vực Chuỗi số liệu mưa, bốc hơi và dòng chảy đồng bộ 1971 – 1974, 1976 – 1980 của 7 trạm được sử dụng cho bài toán hiệu chỉnh

và kiểm định

3.1.2 Số liệu sử dụng đánh giá biến đổi

Trang 9

Số liệu mưa và bốc hơi quan trắc giai đoạn 1970 – 1999 tại 7 trạm được sử dụng để xác định hệ số hiệu sai Bước hiệu sai được thực hiện tại từng trạm cho từng yếu tố mưa, bốc hơi ngày đạt được từ phép nội suy song tuyến tính giá trị ở ô lưới 36km So sánh độ lệch chuẩn chuỗi số liệu sau khi hiệu sai với số liệu quan trắc cho thấy mức độ phù hợp tốt với

cả giá trị quan trắc của yếu tố mưa và bốc hơi

Chuỗi số liệu mưa và bốc hơi kịch bản A1B và A2 được hiệu sai qua hệ số a cho từng tháng và được sử dụng làm đầu vào cho mô hình NAM nhằm mục đích tính toán dòng chảy với bước thời gian ngày cho 40 năm giai đoạn 2010-2049 Từ chuỗi số liệu đầu ra, thống kê tổng hợp lũ, kiệt và chế độ dòng chảy trong lưu vực sông Nhuệ Đáy được thực hiện dưới điều kiện khí hậu khác nhau theo hai kịch bản A1B và A2

3.2 ÁP DỤNG MÔ HÌNH CHO KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Bản đồ độ cao số hóa DEM kết hợp với bản đồ mạng lưới sông suối, mạng lưới trạm khí tượng thủy văn được đưa vào AVSWAT để xác định các đặc điểm địa hình và xác định các thông số thủy văn của lưu vực như độ dốc lưu vực, hướng dòng chảy nhằm mục đích phân chia lưu vực cơ sở cho việc phân tích, tính toán dòng chảy trên lưu vực sông Nhuệ Đáy Lưu vực nghiên cứu tính trên địa phận thành phố Hà Nội gồm 4 lưu vực cơ sở và mỗi lưu vực cơ sở được coi là một đơn vị thủy văn tương đối đồng nhất Đồng thời số liệu diện tích khống chế bởi trạm thủy văn đo lưu lượng được sử dụng để kiểm tra lại diện tích lưu vực đã phân chia từ công cụ SWAT Bản đồ lưu vực cơ sở được xuất ra dạng shape hoặc txt làm đầu vào mô hình NAM

Bảng 3 1 Trạm đo mưa và trọng số theo phương pháp đa giác Thiessen được sử dụng để tính toán dòng chảy cho các tiểu lưu vực thuộc lưu vực Nhuệ Đáy

Trang 10

Hạ lưu sông Đáy

3.2.1 Chỉ tiêu đánh giá hoạt động mô hình

Luận văn sử dụng chỉ tiêu của Nash – Sutcliffe (1970) để đánh giá kết quả tính toán của

mô hình Chỉ tiêu Nash xác định tỉ lệ tổng chênh lệch giữa chuỗi quan trắc và tính toán 3.2.2 Hiệu chỉnh và kiểm định mô hình mưa dòng chảy NAM

Quy trình hiệu chỉnh tự động được sử dụng để trợ giúp tối ưu hóa chỉ tiêu NSE (hệ số Nash–Sutcliffe) trong khi giữ sai số tổng nước tích lũy thấp Do dòng chảy từ các lưu vực

cơ sở hạ lưu và trung lưu không được đo đạc một cách độc lập, hay nói cách khác trên lưu vực sông Nhuệ Đáy chỉ có Ba Thá được xây dựng để thực hiện quan trắc lưu lượng,

vì thế không có hiệu chỉnh riêng của mô hình NAM được thực hiện cho từng lưu vực cơ

sở này Bộ thông số hiệu chỉnh và kiểm định tại lưu vực ND1 được áp dụng cho các lưu vực còn lại

Ngoại trừ một vài đỉnh lũ tính toán chênh lệch (lớn hơn hoặc nhỏ hơn) so với quan trắc, nhìn chung các giai đoạn đều thể hiện mức độ phù hợp tương đối tốt giữa chuỗi dòng chảy quan trắc và tính toán Kết quả hiệu chỉnh và kiểm định đều đạt chỉ tiêu Nash khoảng 85%, thuộc loại khá, và hệ số tương quan cao do đó có thể sử dụng bộ thông số trong mô hình vừa hiệu chỉnh và kiểm định tại trạm Ba Thá (bảng 3 3) để tính toán dòng chảy đến cho các lưu vực con thuộc lưu vực sông Nhuệ Đáy (ND) Đồng thời qua giai đoạn hiệu chỉnh và kiểm định cho thấy giả thiết về điều kiện lưu vực không thay đổi đáng

kể trong tương lai là hoàn toàn chấp nhận được

Bảng 3 3 Bộ thông số tối ưu cho lưu vực sông Nhuệ Đáy

Ngày đăng: 10/02/2014, 20:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w