1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khoá Luận Ủy Quyền Trong Vụ Án Dân Sự Theo Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự Việt Nam-Một Số Vấn Đề Lý Luận Và Thực Tiễn.doc

190 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ủy Quyền Trong Vụ Án Dân Sự Theo Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự Việt Nam – Một Số Vấn Đề Lý Luận Và Thực Tiễn
Tác giả Nguyễn Thị Diễm Quỳnh
Người hướng dẫn Thạc Sĩ Phan Nguyễn Bảo Ngọc
Trường học Trường Đại Học Luật Tp Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại khóa luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Tp Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 190
Dung lượng 27,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu như mục đích ủy quyền trong quan hệ dân sự thông thường là giúpngười được ủy quyền hoàn thành các giao dịch làm xuất hiện, thay đổi và chấm dứtcác quan hệ pháp luật vật chất thì tron

Trang 1

NGUYỄN THỊ DIỄM QUỲNH

ỦY QUYỀN TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ THEO BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ

THỰC TIỄN

KHÓA LUẬN CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ

TP HỒ CHÍ MINH – THÁNG 7 – NĂM 2021

Trang 2

NGUYỄN THỊ DIỄM QUỲNH

ỦY QUYỀN TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ THEO BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ

THỰC TIỄN

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: THẠC SĨ PHAN NGUYỄN BẢO NGỌC

TP HỒ CHÍ MINH – THÁNG 7 – NĂM 2021

Trang 3

tình của Thạc sĩ Phan Nguyễn Bảo Ngọc Các thông tin, dữ liệu, bản án được trích

dẫn đảm bảo tính trung thực và tuân thủ các quy định về chú thích tài liệu thamkhảo Những phân tích, so sánh, bình luận và kiến nghị trong công trình là kết quảcủa quá trình tiếp cận, học hỏi, đầu tư nghiên cứu một cách nghiêm túc của tác giả.Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Nguyễn Thị Diễm Quỳnh

Trang 4

BLDS Bộ Luật Dân sự

BLTTDS Bộ luật Tố tụng dân sự

Trang 5

BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM 6

1.1 Một số vấn đề chung về việc ủy quyền trong tố tụng dân sự Việt Nam 6

1.1.1 Khái niệm 6

1.1.2 Các hình thức ủy quyền trong vụ án dân sự 9

1.1.3 Trình tự, thủ tục xác lập, chấm dứt quan hệ ủy quyền trong vụ án dân sự 17 1.2 Chủ thể quan hệ ủy quyền trong vụ án dân sự 27

1.2.1 Bên ủy quyền 27

1.2.2 Bên được ủy quyền 32

1.3 Đối tượng, nội dung, phạm vi ủy quyền 38

1.3.1 Đối tượng 38

1.3.2 Nội dung và phạm vi ủy quyền trong tố tụng dân sự 38

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 41

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ỦY QUYỀN TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ 42

2.1 Về hình thức của văn bản ủy quyền 42

2.1.1 Bất cập trong thực tiễn xét xử của Tòa 42

2.1.2 Kiến nghị hoàn thiện các quy định về hình thức ủy quyền 48

2.2 Về việc một đương sự có nhiều người đại diện theo ủy quyền các vấn đề liên quan 49

2.2.1 Bất cập trong thực tiễn xét xử của Tòa 49

2.2.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật 56

2.3 Về chủ thể không được làm người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự 57

2.3.1 Bất cập trong quy định của pháp luật 57

2.3.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật 61

2.4 Về vấn đề ký đơn khởi kiện của người đại diện theo ủy quyền 62

2.4.1 Bất cập trong quy định của pháp luật 62

2.4.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật 71

Trang 6

PHỤ LỤC

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chế định ủy quyền là một trong những chế định được hình thành và phát triểnkhá sớm Nếu như mục đích ủy quyền trong quan hệ dân sự thông thường là giúpngười được ủy quyền hoàn thành các giao dịch (làm xuất hiện, thay đổi và chấm dứtcác quan hệ pháp luật vật chất) thì trong tố tụng dân sự, mục đích là đại diện cho lợiích của một chủ thể trong quá trình đó (nghĩa là bảo vệ quyền và lợi ích của người

đó trước cơ quan Tòa án, đồng thời không có sự phát sinh, thay đổi và chấm dứtquan hệ pháp luật) Do đó, trong tố tụng dân sự, hoạt động của người đại diện theo

ủy quyền đóng một vai trò quan trọng đối với các đương sự và cả cơ quan Tòa án.Đây được xem là giải pháp hữu hiệu để các chủ thể trong xã hội bảo vệ quyền và lợiích của mình một cách tốt nhất khi không thể tự mình thực hiện các công việc liênquan trực tiếp đến vụ án vì nhiều lý do khác nhau

Bên cạnh đó, với sự phát triển ngày càng hiện đại của xã hội, các vấn đề pháp

lý ngày càng phức tạp, sự tham gia của người đại diện theo ủy quyền có trình độ tưduy pháp lý cao là một trong những giải pháp cần thiết góp phần thúc đẩy tiến bộ xãhội cũng như bảo vệ nền pháp chế xã hội chủ nghĩa

Xét thấy, ban đầu để người đại diện theo ủy quyền có thể đại diện mình thamgia vào vụ án dân sự thì việc xác lập quan hệ ủy quyền phải dựa trên một quan hệdân sự Vì vậy, Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 vừa tự đưa ra các quy định vừadựa trên cơ sở các quy định pháp lý về chế định ủy quyền của Bộ Luật Dân sự năm

2015 nhằm cụ thể hóa chế định ủy quyền trong tố tụng dân sự Các quy định này thểhiện được tư duy lập pháp tiến bộ, mềm dẻo, xóa bỏ định kiến về quá trình tố tụng làmột quy trình thủ tục rập khuôn, cứng nhắc khi đã ghi nhận sự thỏa thuận về ý chícủa đương sự trong việc tạo lập quan hệ đại diện

Song, cách quy định này lại còn khá chung chung, bộc lộ một số hạn chế dẫnđến nhiều cách hiểu khác nhau về các quy định này Trong khi đó, pháp luật cònthiếu các văn bản pháp luật giải thích, hướng dẫn thi hành Điều này dẫn đến trênthực tế đương sự gặp lúng túng trong quá trình công ch ứng, chứng thực hay nộidung ủy quyền trong văn bản ủy quyền không rõ ràng dẫn đến xác định phạm vi ủyquyền không được thống nhất giữa Tòa án và bên được ủy quyền từ đó làm ảnhhưởng đến quyền và lợi ích của đương sự,

Trang 8

Xuất phát từ những lý do đó, tác giả lựa chọn đề tài khoá luận tốt nghiệp “Ủy quyền trong vụ án dân sự theo Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam - Một số vấn

đề lý luận và thực tiễn” để nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận, những vướng

mắc và thực tiễn về quan hệ ủy quyền trong tố tụng mà cụ thể là trong các vụ án dân

sự, từ đó đề xuất kiến nghị mang tính hoàn thiện cho quá trình sửa đổi và bổ sungpháp luật hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề ủy quyền trong tố tụng dân sự nhận được sự quan tâm lớn từ cácchuyên gia pháp lý Ở mỗi cách tiếp cận và phạm vi nghiên cứu khác nhau, các tácgiả lại có những cách nhìn nhận, đánh giá vấn đề ủy quyền trong tố tụng dân sự mộtcách khác nhau Có thể kể đến các công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:

Sách tham khảo, chuyên khảo

- Học viện Tư pháp (2017), Giáo trình kỹ năng hành nghề công chứng (tập 3),

NXB Tư pháp Trong sách tham khảo này, các tác giả cung cấp những thủ tục côngchứng hợp đồng giao dịch; chứng thực bản sao, chữ kí, bản dịch; hoạt động tư vấnpháp luật của công chứng viên; xác định tư cách pháp lý của chủ thể tham gia hợpđồng, giao dịch; nhận dạng chữ viết, chữ ký, con dấu trong tài liệu, giấy tờ; nhậndạng người trong hoạt động công chứng Trong đó, liên quan đến quan hệ ủy quyền,các tác giả cũng đã cung cấp những kiến thức khái quát về ủy quyền dưới góc độcông chứng viên; một số đặc điểm pháp lý căn bản khi xem xét chứng nhận yêu cầucông chứng liên quan đến ủy quyền

- Tuấn Đạo Thanh (Chủ biên) (2017), Bình luận một số quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 có liên quan trực tiếp đến hoạt động công chứng, NXB Tư pháp.

Cuốn sách này cung cấp cho người đọc một số vấn đề pháp lý liên quan đến cánhân, chủ thể hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân; biệnpháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, Trong đó nội dung “ủy quyền với tư cách là mộthình thức đại diện” được tác giả phân tích, bình luận dựa trên các quy định pháp luậtliên quan đến các hình thức ủy quyền

- Đặng Thanh Hoa (Chủ biên) (2020), Pháp luật tố tụng dân sự - Tình huống

và phân tích: Dành cho giảng viên, học viên, sinh viên luật và những người nghiên cứu, NXB Hồng Đức Các tác giả đưa ra các bài viết về các vấn đề pháp lý còn

nhiều quan điểm trong pháp luật tố tụng dân sự Ở mỗi vấn đề, các tác giả đưa ranhững tình huống thực tế, và phân tích chúng dưới các góc độ pháp lý Trong đó,

Trang 9

các vấn đề như “cá nhân ủy quyền cho cá nhân khác khởi kiện” hay “trường hợpkhông được làm đại diện theo ủy quyền” có liên quan đến vấn đề mà tác giả nghiêncứu, do đó tác giả chỉ tiếp cận ở một góc độ nhất định.

Luận án, Luận văn, Khóa Luận

- Trần Thị Hương (2014), Người đại diện theo ủy quyền của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn thạc sỹ, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.

Luận văn nghiên cứu về chế định “Người đại diện theo ủy quyền” thông qua việcphân tích các quy định pháp luật trong tố tụng dân sự cũng như đưa ra những thựctrạng cụ thể và đề xuất giải pháp với mục đích hoàn thiện pháp luật

- Lê Thị Minh Ngọc (2019), Quyền khởi kiện vụ án dân sự theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, Khoá luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí

Minh Khóa luận đề cập đến một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền khởi kiệntrong tố tụng dân sự, trong đó có đề cập đến vấn đề ủy quyền khởi kiện của cá nhân

- Ngoài các công trình tiêu biểu trên, còn tồn tại những luận văn, khoá luậnkhác có đề cập liên quan đến chế định ủy quyền trong tố tụng dân sự

- Nguyễn Thùy Trang (2017), Vi phạm quy định về ủy quyền trong tố tụng dân

sự, những vướng mắc và đề xuất hoàn thiện pháp luật, Tạp chí Luật học, số 12.

Thông qua việc phân tích một vụ án tranh chấp hợp đồng tại Tòa án, bài viết chỉ ranhững vướng mắc trong việc bổ sung đơn khởi kiện, yêu cầu phản tố, đại diện theopháp luật và đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự, đồng thời đề xuất hoànthiện pháp luật theo hướng ưu tiên quyền lợi cho các đương sự khi có vi phạm trình

tự thủ tục dân sự

- Đinh Duy Bằng (2019), Có được nhận đơn khởi kiện do người đại diện theo

ủy quyền ký tên, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 04 Tác giả đã tiến hành phân tích,

đánh giá hai quan điểm trái ngược nhau trong việc Tòa án có được nhận đơn khởikiện do người đại diện theo ủy quyền ký tên hay không

- Nguyễn Huy Hoàng (2020), Bàn về những trường hợp không được làm người đại diện theo ủy quyền quy định tại Điều 87 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tạp

chí Khoa học Pháp lý Việt Nam, số 01 Bài viết đề cập đến một số bất cập liên

Trang 10

quan đến những chủ thể mà pháp luật không cho phép trở thành người đại diện theo

ủy quyền, từ đó đưa ra những kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 87 Bộluật tố tụng dân sự cho phù hợp

- Ngoài ra, các bài viết pháp lý được đăng tải trên các trang thông tin điện tửcũng là nguồn tham khảo có giá trị giúp cho tác giả có thể phân tích, nghiên cứu đề

tài một cách tốt nhất Có thể kể đến một số bài viết sau: “Một số bất cập về việc ủy quyền trong tố tụng dân sự” của Trương Minh Tấn; “ Trao đổi một số vấn đề về văn bản ủy quyền” của Nguyễn Văn Phi; Huỳnh Minh Khánh với “Cá nhân có được quyền ký vào đơn thay cho người khởi kiện?”.

3 Mục đích nghiên cứu đề tài

Đề tài này được thực hiện với mục đích làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễnliên quan đến chế định ủy quyền trong tố tụng dân sự cụ thể là trong các vụ án dân

sự Thông qua việc phân tích, đánh giá các vấn đề lý luận giúp tác giả phát hiện ranhững mâu thuẫn giữa thực tiễn và quy định pháp luật cũng như những điểm cònhạn chế, chưa hợp lý trong các quy định của pháp luật tố tụng Từ đó, tạo cơ sở chotác giả đưa ra những kiến nghị hoàn pháp luật trong tương lai

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Tác giả tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật liên quan đến vấn đề ủyquyền trong vụ án dân sự Trong đó nghiên cứu xoay quanh các vấn đề lý luận cơbản về việc ủy quyền như khái niệm, hình thức, trình tự thủ tục xác lập, chấm dứt ủyquyền cũng như nghiên cứu các vấn đề lý luận về chủ thể trong quan hệ ủy quyền

- Về phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả tập trung nghiên cứu đối tượng theocác quy định pháp luật hiện hành, cụ thể là Bộ luật Dân sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụngdân sự năm 2015 và các văn bản pháp luật liên quan như Luật Công chứng năm 2014 Bêncạnh đó, tác giả còn phân tích, so sánh đối chiếu với các quy định pháp luật trên thế giớinhư Bộ luật Dân sự Nhật Bản, Bộ luật Tố tụng dân sự Liên Bang Nga, Bộ luật tố tụng dân

sự Tanzania để làm rõ đối tượng nghiên cứu của đề tài

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, tác giả vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng làm

phương pháp luận chính

Trang 11

Các phương pháp cụ thể được sử dụng để thu thập, phân tích và xử lý thông tin gồm:

- Phương pháp phân tích và tổng hợp là phương pháp được sử dụng xuyênsuốt quá trình nghiên cứu Phân tích hướng đến chia nhỏ, xem xét đối tượng cầnnghiên cứu dưới các góc độ văn bản, quan điểm tác giả, kinh nghiệm nước ngoài.Sau khi phân tích các tài liệu thông tin, tác giả đưa ra quan điểm của mình, kiếnnghị và đề xuất hoàn thiện

- Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết cũng là một trong những phươngpháp đã sử dụng nhằm sắp xếp các tài liệu khoa học thành hệ thống logic chặt chẽ theotừng mặt, từng đơn vị kiến thức, vấn đề khoa học có cùng dấu hiệu bản chất, cùng hướngphát triển để dễ nhận biết, dễ sử dụng theo mục đích nghiên cứu

- Ngoài ra, phương pháp so sánh, cụ thể là quy định của pháp luật Việt Nam vànước ngoài như Liên bang Nga, Nhật Bản, Tanzania để từ đó rút ra những điểmmới, tiến bộ, là cơ sở để Việt Nam học tập, tiếp thu, hoàn thiện

6 Bố cục tổng quát của đề tài

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục thì nội dungnghiên cứu khoá luận chia làm hai chương:

Chương 1: Khái quát về ủy quyền trong vụ án dân sự theo bộ luật tố tụng dân

sự Việt Nam

Chương 2: Những vướng mắc, thực tiễn xét xử của Tòa án liên quan đến quan hệ ủyquyền trong vụ án dân sự

Trang 12

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ ỦY QUYỀN TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ THEO

BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

1.1 Một số vấn đề chung về việc ủy quyền trong tố tụng dân sự Việt Nam

1.1.1 Khái niệm

Để hiểu rõ được thế nào là ủy quyền trong tố tụng dân sự thì trước hết cần tìmhiểu về khái niệm ủy quyền cũng như bản chất của ủy quyền trong các quan hệ phápluật dân sự thông thường Từ đó, tạo cơ sở để có thể phân biệt được sự khác nhaugiữa ủy quyền nói chung và ủy quyền trong tố tụng dân sự nói riêng

a Khái niệm “Ủy quyền”

Khi tiếp cận khái niệm “Ủy quyền” ở những góc độ khác nhau ta sẽ có nhữngđịnh nghĩa khác nhau Theo Từ điển tiếng Việt “Ủy quyền” là một động từ chỉ

“Giao cho người khác thay mình sử dụng một số quyền mà luật pháp dành cho mình (Giấy ủy quyền, Bộ trưởng ủy quyền cho thứ trưởng)”.1 Trong khi đó, từ điển Luật

học đưa ra khái niệm “Ủy quyền” là “Giao cho người khác thay mặt mình sử dụng quyền mà mình có được một cách hợp pháp Ủy quyền được thực hiện bằng văn bản

ủy quyền (Hợp đồng ủy quyền, quyết định ủy quyền)”.2

Từ những khái niệm trên có thể hiểu rằng “Ủy quyền” chính là “Việc một người giao cho người khác nhân danh mình để thực hiện công việc, thực hiện một hoặc một số quyền năng nào đó (và thậm chí cả đối với nghĩa vụ)”.3 Về mặt bảnchất, quan hệ ủy quyền cũng là giao dịch dân sự, được thiết lập giữa hai chủ thể dựatrên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng lẫn nhau

b Khái niệm “Ủy quyền trong tố tụng dân sự” và “Ủy quyền trong vụ án dân sự”

Về khái niệm “Ủy quyền trong tố tụng dân sự”, BLTTDS năm 2015 không đưa

ra một khái niệm cụ thể nào Có lẽ xuất phát từ lý do việc ủy quyền sẽ làm phát sinhquan hệ đại diện, do đó, thay vì đưa ra khái niệm ủy quyền trong tố tụng dân sự thìBLTTDS năm 2015 đưa ra khái niệm người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng

dân sự Theo đó, tại Khoản 4 Điều 84 BLTTDS năm 2015 quy định rằng “Người đại diện theo ủy quyền theo quy định của Bộ luật dân sự là người đại diện theo ủy

1Nguyễn Văn Xô (Chủ biên) (2006), Từ điển Tiếng việt, NXB Thanh niên, tr 837.

2Từ điển Luậ t học (2006), NXB Từ điển Bách khoa – NXB Tư pháp, tr 833.

3Học viện Tư pháp (2017), Nguyễn Xuân Thu, Phạm Thị Thúy Hồng (Chủ biên), Giáo trình kỹ năng hành

nghề công chứng (tập 2), NXB Tư pháp, tr 167.

Trang 13

quyền trong tố tụng dân sự Đối với việc ly hôn, đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng Trường hợp cha, mẹ, người thân thích khác yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì họ là người đại diện”.4

Đây là một trong những quy định rất quan trọng, là cơ sở để tác giả tiến hànhphân tích cũng như nghiên cứu các quy định của pháp luật về chế định ủy quyềntrong vụ án dân sự thông qua việc nghiên cứu các quy định của BLDS năm 2015 vềcùng chế định ủy quyền

Mặt khác, theo khoản 1 Điều 134 BLDS năm 2015 quy định như sau “1 Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và

vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự”.5 Song, sự dẫn giải sang BLDS này vẫn

không làm rõ nghĩa được chế định ủy quyền trong tố tụng dân sự

Từ điển luật học đưa ra khái niệm “Tố tụng dân sự” là:

Trình tự hoạt động do pháp luật quy định cho việc xem xét, giải quyết vụ

án dân sự và thi hành án dân sự.

Mục đích của tố tụng dân sự là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức và lợi ích của nhà nước Tố tụng dân sự bao gồm khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự, thụ lý vụ việc dân

sự, giải quyết vụ việc dân sự theo trình tự sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm và thi hành án dân sự.6

Như vậy, dựa trên khái niệm về ủy quyền và khái niệm về tố tụng dân sự thì cóthể thấy chế định ủy quyền trong tố tụng dân sự là rất rộng Việc ủy quyền xuất hiện

cả trong vụ án dân sự lẫn trong việc dân sự Hay nói rõ hơn, việc ủy quyền trong tốtụng dân sự có thể bắt đầu từ khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự,thụ lý vụ việc dân sự, giải quyết vụ việc dân sự theo trình tự sơ thẩm, phúc thẩm,giám đốc thẩm, tái thẩm Riêng đối với việc ủy quyền trong thi hành án thì thi hành

án không phải là một giai đoạn trong tố tụng dân sự, do đó, chế định ủy quyền trong

tố tụng dân sự không bao gồm chế định ủy quyền trong thi hành án dân sự

4Khoản 4 Điều 84 BLTTDS năm 2015.

5Khoản 1 Điều 134 BLDS năm 2015.

6Từ điển Luậ t học, tlđd (2), tr 785.

Trang 14

Tuy vậy, các quy định của BLTTDS hiện nay lại không thể hiện rõ ràng đượcthời điểm tham gia vào hoạt động tố tụng của người đại diện do đương sự ủy quyền.

Và việc tham gia tố tụng của người đại diện được hiểu là sự tham gia trực tiếp vàoquá trình tố tụng tại Tòa án

Mặt khác, quá trình tố tụng tại Tòa án được xác định bắt đầu từ thời điểm thụ

lý vụ việc dân sự cho đến khi kết thúc bằng việc tuyên các bản án hoặc quyết định

có hiệu lực thi hành.7

Quay trở lại khoản 4 Điều 84 BLTTDS năm 2015, các nhà làm luật đã sử dụngthuật ngữ “Người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự” thay cho thuật ngữ

“Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng dân sự” Về nội hàm, cụm từ “trong

tố tụng dân sự” rộng hơn cụm từ “tham gia tố tụng dân sự”, nó bao hàm tất cả hoạtđộng tố tụng dân sự từ khi bắt đầu khởi kiện (đơn khởi kiện), bao gồm cả thủ tụctiền tố tụng như hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã cho tới khibản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.8 Phải chăng, ý đồ của các nhà làm luật làđang muốn để cho người đại diện theo ủy quyền được nhân danh người được đạidiện ngay từ thời điểm làm đơn khởi kiện, đơn yêu cầu

Từ đó, tác giả đưa ra khái niệm “Ủy quyền trong tố tụng dân sự là sự ủy quyền của một chủ thể (gọi là người được đại diện) cho một chủ thể khác (gọi là người đại diện theo ủy quyền) đủ điều kiện theo pháp luật để nhân danh người được đại diện thực hiện một, một số hoặc toàn bộ công việc từ khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự cho đến việc tham gia vào quá trình tố tụng dân sự phù hợp với nội dung ủy quyền trong văn bản ủy quyền Mục đích của việc ủy quyền nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người được đại diện trước Tòa án.

Về khái niệm “Ủy quyền trong vụ án dân sự”

Theo Điều 1 BLTTDS năm 2015 “Vụ án dân sự” là các tranh chấp về dân sự,

hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động Như vậy, đặc trưng của vụ

án dân sự là có sự tranh chấp giữa các bên tham gia quan hệ dân sự, có sự không

thống nhất về việc thực hiện hay không thực hiện quyền hoặc nghĩa vụ của một

7Trườn g Đạ i học Luậ t Tp Hồ Chí Minh, Giáo trình luật tố tụng dân sự Việt Nam, NXB Hồng Đức-Hội

Luật gia Việt Nam, tr 22.

8Đinh Duy Bằ ng (2019), Có được nhận đơn khởi kiện do người đại diện theo ủy quyền ký tên?, Tạ p chí

dân chủ và pháp luậ t, số 04, tr.53.

Trang 15

trong các bên Khi quyền, lợi ích được cho là bị xâm phạm trong các quan hệ dân

sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, thông qua thủ tục khởikiện một bên đưa ra yêu cầu trước Tòa án buộc bên kia phải thực hiện các nghĩa vụnhất định nhằm mục đích bảo vệ quyền, lợi ích của mình

Liên quan đến vấn đề ủy quyền, trên thực tế có các quan điểm khác nhau vềviệc ủy quyền khởi kiện của cá nhân trong vụ án dân sự Có quan điểm thì cho rằngngười đại diện chỉ được quyền tham gia tố tụng (tức chỉ tham gia từ thời điểm thụ lý

vụ án cho đến khi kết thúc bằng việc tuyên các bản án hoặc quyết định có hiệu lựcthi hành) mà không được quyền ký đơn khởi kiện; cũng có quan điểm cho rằngquyền được ký đơn khởi kiện của người đại diện theo ủy quyền là phù hợp với thựctiễn và quy định của pháp luật.9 Từ đó, câu hỏi đặt ra là ủy quyền trong vụ án dân sựchỉ đơn thuần là ủy quyền tham gia tố tụng hay là bao gồm cả ủy quyền khởi kiện và

ủy quyền tham gia tố tụng khi mà pháp luật còn chưa quy định rõ vấn đề này

Quan điểm của tác giả cho rằng, khái niệm ủy quyền trong vụ án dân sự là baogồm cả ủy quyền ký đơn khởi kiện và tham gia vào quá trình tố tụng Khi được ủyquyền, người đại diện sẽ có quyền ký đơn khởi kiện, tham gia vào bất cứ giai đoạnnào của quá trình tố tụng tùy theo nội dung mà các bên đã thỏa thuận trong văn bản

ủy quyền Điều này cũng phù hợp với nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự được quy định tại Điều 5 BLTTDS năm 2015 Theo đó, đương sự có

quyền quyết định việc khởi kiện, quyền quyết định định đoạt này phải thực hiệntrong trong phạm vi pháp luật cho phép, trong khi đó việc ủy quyền ký đơn khởikiện này trong BLTTDS năm 2015 không hề có quy định nào cấm không được thựchiện Để cụ thể hơn về vấn đề này, tác giả sẽ làm rõ tại mục 2.4 của chương 2

1.1.2 Các hình thức ủy quyền trong vụ án dân sự

a Văn bản ủy quyền

Theo Từ điển tiếng Việt thì “Văn bản” là danh từ chỉ “Bản viết hoặc in, mang nội dung là những gì cần được lưu lại để làm bằng chứng”.10 Từ điển từ và ngữ

Việt Nam thì định nghĩa “Văn bản” là “Giấy ghi nội dung một sự kiện”.11

9Đinh Duy Bằ ng (2019), Tlđd (8), tr 54.

10 Nguyễn Văn Xô, tlđd (1), tr 849.

11 Nguyễn Lân (Chủ biên), Từ điển Từ và ngữ Việt Nam (2004), NXB TP Hồ Chí Minh, tr.2003.

Trang 16

Khi tìm hiểu ở các văn bản quy phạm pháp luật thì khái niệm “Văn bản ủyquyền” không được giải thích cụ thể mặc dù thuật ngữ này xuất hiện khá nhiều trongcác văn bản quy phạm pháp luật Ví dụ điểm c khoản 3 Điều 186 Luật Đất đai năm2013; Điều 144 Luật Doanh nghiệp năm 2020; điểm a khoản 2 Điều 74 Luật Hảiquan năm 2014.

Như vậy, dường như văn bản ủy quyền không phải là một cách thức chyển tảiquan hệ diện theo ủy quyền độc lập mà đơn thuần chỉ biểu đạt quan hệ ủy quyền đóđược thể hiện bằng hình thức văn bản.12 Hay nói cách khác, văn bản ủy quyền là têngọi chung của các hình thức ủy quyền được thể hiện dưới dạng văn bản Trong khi

đó, pháp luật hiện hành cho thấy việc ủy quyền sẽ thực hiện thông qua văn bản ủy

quyền Cụ thể, điều này đã được BLDS năm 2015 quy định gián tiếp “Thời hạn đại diện được xác định theo văn bản ủy quyền” tại khoản 1 Điều 140.

Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng “BLDS lại không có quy định hình thức ủy quyền là như thế nào và cũng không có văn bản hướng dẫn rõ là ủy quyền bằng lời nói hay bằng văn bản và có cần phải công chứng hoặc chứng thực hay không, do đó, dẫn đến việc ủy quyền trong tố tụng dân sự có bắt buộc phải bằng hình thức văn bản hay không”.13 Tương tự, có ý kiến cũng cho rằng không phải trong mọi trường hợp khingười tham gia tố tụng muốn ủy quyền thì Tòa án đều buộc các bên phải thể hiện bằngvăn bản mà tùy tính chất của việc ủy quyền để yêu cầu những hình thức thể hiện việc

ủy quyền phù hợp Ví dụ, tại buổi lấy lời khai, trình bày tại phiên tòa, đương sự trong

vụ việc dân sự đã ủy quyền cho bằng miệng cho chồng thay mặt mình trình bày, đưa racác yêu cầu, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết Thư ký Tòa án ghi nhận sự việc đó vàobiên bản lấy lời khai hoặc biên bản phiên tòa, chứ không đòi hỏi giữa người ủy quyền

và người được ủy quyền phải lập thành văn bản riêng.14

Tác giả cho rằng mặc dù BLDS năm 2015 không có quy định một cách trựctiếp về hình thức ủy quyền dưới dạng một điều luật nhất định nhưng thông qua điềuluật gián tiếp chúng ta có thể biết được rằng việc ủy quyền phải lập thành văn bản

12 Tuấ n Đạ o Thanh (Chủ biên) (2017), Bình luận một số quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015

có liên quan trực tiếp đến hoạt động công chứng, NXB Tư pháp, tr 145.

13 Trươn g M inh Tấn (2020), “Một số bất cập về việc ủy quyền trong tố tụng dân sự”, Tạ p chí tòa án

nhân dân

điện tử,

https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/mot-so-bat-cap-ve-viec-uy-quyen-trong-to-tung-dan-su (truy cập ngày 15/04/2021).

14 Tưởng Duy Lượng, “Hợp đồng ủy quyền theo quy định của Bộ luậ t Dân sự năm 2015”, Tạ p chí tòa án nhân dân, số 14, tr.3.

Trang 17

Hơn nữa, văn bản ủy quyền thể hiện được quyền nghĩa vụ của các bên, là căn

cứ quan trọng giải quyết các tranh chấp phát sinh cho nên không thể nào chỉ thỏathuận bằng lời nói hay dưới dạng một hành động cụ thể khác Chính vì xuất phát từtính chất quan trọng, cần đến sự đảm bảo an toàn về mặt pháp lý, cho nên khi nghiêncứu các quy định của Luật Công chứng năm 2014, liên quan đến vấn đề ủy quyền thìkhoản 1 Điều 2 quy định rằng công chứng viên chỉ có thể chứng nhận việc ủy quyềnnếu được lập thành văn bản

Ngoài ra, theo quy định tại khoản 2 Điều 86 BLTTDS năm 2015 thì “Người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân

sự của đương sự theo nội dung văn bản ủy quyền” Như vậy, một lần nữa thông qua

điều luật gián tiếp, cũng như BLDS năm 2015, BLTTDS năm 2015 cho thấy việc uỷquyền cho người khác tham gia tố tụng phải được lập thành văn bản Việc ủy quyềnbằng miệng tại Tòa án của đương sự mặc dù không được lập thành một văn bảnriêng biệt nhưng trong các biên bản lấy lời khai, biên bản phiên tòa, biên bản ghinhận sự việc có đề cập đến vấn đề ủy quyền và cuối cùng là có chữ ký của đương sự(người ủy quyền) ở cuối các văn bản này Hay nói cách khác, chính bản thân các vănbản chứa đựng nội dung ủy quyền này cũng chính là một dạng của việc ủy quyềndưới hình thức bằng văn bản

Bên cạnh đó, hình thức ủy quyền bằng văn bản cũng là một trong các cơ sởquan trọng cho việc “ủy quyền lại”

Tham khảo BLTTDS Liên Bang Nga năm 2002 (đã được sửa đổi theo Luật liênbang Số 451-FZ ngày 28 tháng 11 năm 2018) thì quyền hạn của người đại diện theo ủyquyền phải được thể hiện dưới dạng văn bản ủy quyền và việc ủy quyền phải thực hiệntheo quy định của pháp luật.15 Điều 49 BLTTDS Liên Bang Nga năm 2002 quy địnhrằng người đại diện trong tố tụng dân sự là người có năng lực hành

vi đầy đủ và có văn bản ủy quyền theo đúng quy định pháp luật.16 Đến BLTTDSsửa đổi, bổ sung năm 2018 không còn quy định trực tiếp việc ủy quyền phải lậpthành văn bản như trước mà chỉ quy định “người đại diện trong tố tụng là người cónăng lực hành vi, quyền hạn tiến hành vụ việc được quy định và xác nhận một cách

15 BLTTDS Liên Bang Nga

Điều 53 “1 Полномочия представителя на ведение дела должны быть выражены в доверенности,

выданной и оформленной в соответствии с законом.”

https://wipolex.wipo.int/en/text/580961 (truy cậ p ngày 23/4/2021).

16 Điều 49 BLTTDS của Cộng hòa Liên Bang Nga, NXB Tư pháp, 2005.

Trang 18

tương ứng, ngoại trừ trường hợp quy định ở Điều 51 của bộ luật này”.17 Tuy nhiên,người đại diện hợp pháp phải trình trước Tòa các văn bản xác nhận tư cách và quyềnhạn của họ.18 Bên cạnh đó, thông qua quy định gián tiếp tại khoản 1 Điều 53 như đãtrình bày thì ta vẫn có thể hiểu rằng việc ủy quyền phải được thể hiện dưới hình thứcvăn bản.

Và hiện nay, trong tố tụng dân sự, văn bản ủy quyền được thể diện chủ yếudưới hai hình thức với hai tên gọi lần lượt là Hợp đồng ủy quyền và Giấy ủy quyền.Như vậy, có thể khẳng định trong tố tụng dân sự việc ủy quyền phải được thể hiệndưới hình thức bằng văn bản và văn bản ủy quyền này có thể là “Hợp đồng ủyquyền” hay “Giấy ủy quyền” là tùy thuộc vào sự thỏa thuận giữa các bên trong quan

hệ dân sự

b Hợp đồng ủy quyền

Như đã phân tích, hợp đồng ủy quyền là một dạng của văn bản ủy quyền Trong cácgiao dịch dân sự cũng xuất hiện các hợp đồng ủy quyền, ví dụ hợp đồng ủy quyền mua bánđất, hợp đồng ủy quyền mua xe, Trong pháp luật tố tụng dân sự, hợp đồng ủy quyền đượccác đương sự sử dụng khá nhiều, tuy vậy nó vẫn có những đặc điểm khác biệt so với nhữnghợp đồng ủy quyền dân sự, thương mại thông thường

Khái niệm “hợp đồng” được BLDS năm 2015 định nghĩa như sau: “Hợp đồng

là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa

vụ dân sự”19

Ở khía cạnh khác, BLDS năm 2015 đưa ra khái niệm “Hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao nếu có thỏa thuận hoặc

pháp luật có quy định”.20 Quy định này đã thể hiện được mối quan hệ giữa hai chủ thể,

đó là, giữa bên ủy quyền với bên được ủy quyền và mối quan hệ phái sinh từ quan

hệ ủy quyền khi người được ủy quyền thực hiện công việc do bên ủy quyền đưa ra

17 BLTTDS Liên Bang Nga

Điều 49 “1 Представителями в суде могут быть дееспособные лица, полномочия которых на ведение

дела надлежащим образом оформлены и подтверждены, за исключением лиц, указанных в статье 51 настоящего Кодекса.”

Trang 19

Tham khảo quy định trong BLDS Cộng hòa Pháp thì BLDS nước này đưa ra

định nghĩa như sau “Hợp đồng ủy quyền là hợp đồng theo đó, một người trao cho một người khác quyền thực hiện một công việc nhân danh và vì lợi ích của người ủy quyền Hợp đồng ủy quyền chỉ được giao kết khi có sự đồng ý của người được ủy quyền”.21 Như vậy, so với quy định của pháp luật dân sự Cộng hòa Pháp về hợpđồng ủy quyền thì pháp luật dân sự Việt Nam cũng có cách tiếp cận tương tự

Từ khái niệm hợp đồng ủy quyền được định nghĩa tại Điều 562 BLDS năm

2015, có thể thấy hợp đồng ủy quyền phải thỏa mãn bốn đặc điểm sau:

Thứ nhất: Bên được ủy quyền thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền

chứ không phải nhân danh chính mình;

Thứ hai: Hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận thống nhất ý chí giữa bên ủy

quyền và bên được ủy quyền;

Thứ ba: Đối tượng ủy quyền ở đây là một công việc cụ thể;

Thứ tư: Bên được ủy quyền có thể được hưởng thù lao hoặc không được

hưởng thù lao

Có thể nói hợp đồng ủy quyền trong tố tụng dân sự là một dạng của hợp đồng

ủy quyền được quy định trong BLDS Khi mà, một hợp đồng ủy quyền trong vụ ándân sự cũng thể hiện có đầy đủ bốn đặc điểm trên Cụ thể, bên được ủy quyền nhândanh bên ủy quyền thực hiện một, một số hoặc toàn bộ công việc của bên ủy quyềntrong hoạt động tố tụng dân sự tại Tòa án, việc ủy quyền này có thể có thù lao hoặckhông có thù lao tùy theo thỏa thuận giữa các bên Đặc điểm chính để thấy sự khácnhau giữa hợp đồng ủy quyền trong tố tụng dân sự so với các loại hợp đồng ủyquyền khác trong giao dịch dân sự thông thường đó là ở nội dung công việc mà bênđược ủy quyền phải thực hiện Ngoài ra, có thể dựa vào chủ thể thứ ba trong mốiquan hệ ủy quyền để thấy được sự khác biệt này Cụ thể, hợp đồng ủy quyền trongdân sự thông thường thì quan hệ giữa người được ủy quyền với bên thứ ba là mộtquan hệ ngang - quan hệ giữa các chủ thể bình đẳng; còn đối với hợp đồng ủy quyềntrong tố tụng dân sự thì thì quan hệ giữa người được ủy quyền với Tòa án (bên thứba) được xem là một quan hệ theo chiều dọc – quan hệ quan hệ công quyền vềquyền lực và sự phục tùng vì Tòa án là cơ quan công quyền

21 Điều 1984 Bộ Luậ t Dân sự Pháp , NXB Tư Pháp, 2005.

Trang 20

c Giấy ủy quyền

Bên cạnh hình thức ủy quyền bằng văn bản dưới dạng hợp đồng, hình thức ủyquyền bằng giấy ủy quyền cũng khá phổ biến Mặc dù hình thức này không đượcBLDS nhắc đến và cũng chưa có quy định nào quy định rõ “Giấy ủy quyền” là mộtdạng hình thức của văn bản ủy quyền, nhưng rải rác trong các văn bản pháp luật vẫn

có nhắc đến sự tồn tại của giấy ủy quyền một cách gián tiếp như là một hình thứccủa văn bản ủy quyền Cụ thể:

Điều 48 Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ vềCông chứng, chứng thực:

1 Việc uỷ quyền có thù lao, có nghĩa vụ bồi thường của bên được uỷ quyền hoặc để chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng bất động sản phải được lập thành hợp đồng.

2 Việc uỷ quyền không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì không phải lập thành hợp đồng uỷ quyền mà có thể được lập thành giấy uỷ quyền và chỉ cần người uỷ quyền ký vào giấy uỷ quyền.

Luật Công chứng năm 2014 không quy định giấy ủy quyền là một hình thứccủa văn bản ủy quyền Tuy nhiên, tại Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bảnchính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng giao dịch có nhắc đến vấn đề ủyquyền bằng “Giấy ủy quyền” dưới hình thức chứng thực chữ ký bên ủy quyền(không phải chứng thực dưới hình thức hợp đồng giao dịch)

Giữa hai hình thức này thì hợp đồng ủy quyền được đánh giá là an toàn và chặtchẽ hơn Bởi lẽ, hình thức này có cơ sở pháp lý vững chắc, nội dung thỏa thuận củacác bên được thể hiện rõ ràng tại các điều khoản cụ thể trong hợp đồng Đây là cơ sởpháp lý để xem xét trách nhiệm của các bên xác lập hợp đồng ủy quyền, là cơ sở đểxác định lỗi và phạm vi bồi thường thiệt hại nếu có tranh chấp xảy ra.22

Ngoài ra, Giấy ủy quyền còn có một nhược điểm đó chính là cơ chế bồithường không rõ ràng trong trường hợp có tranh chấp xảy ra Chính vì lẽ đó, nếu saukhi Giấy ủy quyền được lập xong, người có tên được ủy quyền không thực hiện

22 Đinh Hữu Định (2018), Hợp đồng ủy quyền để xác lập, thực hiện giao dịch bất động sản, Luận

văn Thạ c sỹ, Trường Đạ i học Luậ t Tp Hồ Chí Minh, tr.23.

Trang 21

công việc theo giấy ủy quyền thì bên ủy quyền cũng không có quyền yêu cầu người

có tên được ủy quyền phải thực hiện công việc theo giấy ủy quyền, kể cả việc bồithường thiệt hại.23

Việc xác định rõ bản chất của giấy ủy quyền so với hợp đồng ủy quyền tạo cơ

sở cho đương sự trong việc tiến hành các thủ tục cần thiết để được Tòa án chấpnhận Khi đề cập đến bản chất của “Giấy ủy quyền” có hai quan điểm khác nhau vềvấn đề này

Quan điểm thứ nhất cho rằng “Hành vi pháp lý đơn phương của người ủy quyền đối với người được ủy quyền bằng giấy ủy quyền (bên ủy quyền ký), giao dịch

ủy quyền được xác lập bởi hành vi pháp lý đơn phương có thể được thể hiện bằng việc cá nhân thể hiện ý chí ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân làm đại diện cho mình”.24 Giấy ủy quyền phải có chữ ký của hai bên mới thỏa mãn phạm trù “Hợpđồng ủy quyền”.25

Quan điểm thứ hai thì cho rằng giao dịch ủy quyền khi được chuyển tải bằng

phương thức giấy ủy quyền không phải là một hành vi pháp lý đơn phương, hay nóicách khác, cho dù được giao kết bởi hai bên (bằng phương thức hợp đồng) hay được

ký bởi duy nhất một bên ủy quyền (bằng phương thức giấy ủy quyền), quan hệ ủyquyền vẫn luôn được xác lập dưới hình thức là hợp đồng.26 Chính vì vậy, đã có sựnhầm lẫn khi cho rằng “Giấy ủy quyền” là một dạng của hành vi pháp lý đơnphương mà không cần phải có sự thỏa thuận giữa các bên.27

Về vấn đề này, tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai, đó là, việc ủy quyềndưới hình thức giấy ủy quyền không phải là một hành vi pháp lý đơn phương xuấtphát từ ý chí của một bên mà bản chất của nó vẫn là một quan hệ hợp đồng dựa trên

ý chí cả hai bên và tuân thủ những nguyên tắc tự nguyện, thiện chí trong giao dịch dân sự Bởi vì các lý do sau đây:

23 Nguyễn Văn Phi, Trao đổi một số vấn đề về văn bản ủy quyền, Trang thông tin đ iện tử Viện kiểm

sát nhân dân TP Cần Thơ,

http://vkscantho.vn/vkscantho/index.php/news/Phap -luat-nuoc-Cong-hoa -xa -hoi-chu-nghia

-Viet-Nam/Trao-doi-mot-so-van-de-ve-van-ban-uy-quyen-2508/

24 Cao Hồng Quân (2020), Giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện

theo Bộ Luật dân sự năm 2015, Khóa luậ n tốt nghiệp, Trường Đạ i học Luậ t Thành phố Hồ Chí Minh, tr 19.

25 Lê Thu Hà (2010), Có hay không sự khác nhau khi công chứng hợp đồng ủy quyền và giấy ủy

quyền, Tạ p chí nghề Luậ t, số 4, tr.46.

26 Tuấn Đạ o Thanh (Chủ biên), tlđd (11), tr 156.

27 Học viện Tư pháp (2017), tlđd (3) tr.161.

Trang 22

Thứ nhất, như đã phân tích ở trên, hợp đồng chính là sự thỏa thuận về việc xáclập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự còn hành vi pháp lý đơn phươngđược xác lập dựa trên ý chí của một bên Mặc dù khi tiến hành ủy quyền dưới hìnhthức giấy ủy quyền chỉ có chữ ký của người ủy quyền mà không có chữ ký củangười đại diện nhưng không thể khẳng định được rằng việc ủy quyền chỉ là ý chícủa bên ủy quyền, người được ủy quyền không biết gì về việc ủy quyền này Haynói cách khác, giữa họ đã có sự thống nhất với nhau trước đó, vì các lý do khác nhauchẳng hạn như hai bên không cùng một nơi cư trú và để thuận tiện họ chọn hìnhthức giấy ủy quyền chỉ có chữ ký của bên ủy quyền Hơn nữa, cá biệt tại một số giấy

ủy quyền vẫn có cả chữ ký của người được ủy quyền và người ủy quyền.28

Thứ hai, cho đến nay chưa có quy định pháp luật nào xác định giấy ủy quyềnthuộc về dạng hành vi pháp lý đơn phương

Trong tố tụng dân sự, có thể nói bên cạnh hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụngthì giấy ủy quyền tham gia tố tụng là hình thức phổ biến nhất và được tòa án các cấpchấp nhận Tùy thuộc vào ý chí , thỏa thuận mà đương sự trong vụ án dân sự có thể

ủy quyền cho chủ thể khác đại diện mình tham gia vào vụ án bằng hình thức giấy ủyquyền hay hợp đồng ủy quyền đều được

Từ những phân tích trên, tác giả đưa ra khái niệm “Giấy ủy quyền là một hình thức của văn bản ủy quyền Trong đó, ghi nhận việc một bên được phép nhân danh người được ủy quyền thực hiện một hoặc một số công việc nhất định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình theo quy định của pháp luật Việc ủy quyền này phát sinh hiệu lực kể từ khi bên được ủy quyền bắt đầu thực hiện một hành vi cụ thể được ghi nhận trong nội dung ủy quyền.”

Bên cạnh đó, hiện nay các Tòa án vẫn chấp nhận các loại văn bản ủy quyềncủa các cơ quan, tổ chức với những tên gọi như: Quyết định ủy quyền, Văn bản ủyquyền, Thông báo ủy quyền, 29 Tuy vậy, về bản chất những loại văn bản trên vẫnđược xem là giấy ủy quyền cho dù chúng được thể hiện với các tên gọi khác nhau

Ủy quyền trong vụ án dân sự cho dù là dưới hình thức nào thì văn bản đó phảiđảm bảo được nội dung chính sau: Bên ủy quyền, bên được ủy quyền; nội dung ủyquyền; thời hạn ủy quyền, có hay không có thù lao ủy quyền Ngoài ra, tùy theo ý

28 Xem phụ lục 1

29 Xem phụ lục 1

Trang 23

chí các bên mà trong văn bản ủy quyền sẽ có thêm các điều khoản như: Quyền và nghĩa vụ các bên, phương thức giải quyết tranh chấp, lệ phí công chứng,

1.1.3 Trình tự, thủ tục xác lập, chấm dứt quan hệ ủy quyền trong vụ án dân sự

a Trong việc xác lập quan hệ đại diện theo ủy quyền

BTLLDS năm 2015 không đưa ra quy định nào về quy trình ủy quyền củađương sự trong vụ án Trong quá trình nghiên cứu, tác giả nhận thấy việc ủy quyềnđược thực hiện trong ba trường hợp sau thì sẽ có yêu cầu khác nhau để văn bản ủyquyền có hiệu lực và được Tòa án chấp nhận

Trường hợp thứ nhất đó là việc ủy quyền được thực hiện ngoài Tòa án nhưng trong lãnh thổ Việt Nam.

Khi rà soát toàn bộ các điều khoản trong BLTTDS 2015, chỉ có duy nhất mộtđiều luật quy định là bắt buộc phải công chứng, chứng thực văn bản uỷ quyền (hoặcbắt buộc phải lập tại Toà án) trong trường hợp uỷ quyền thực hiện việc kháng cáo

Cụ thể, khoản 6 Điều 272 BLTTDS (Đơn kháng cáo) quy định:

6 Việc ủy quyền quy định tại các khoản 3, 4 và 5 Điều này phải được làm thành văn bản có công chứng, chứng thực hợp pháp, trừ trường hợp văn bản ủy quyền đó được lập tại Tòa án có sự chứng kiến của Thẩm phán hoặc người được Chánh án Tòa án phân công Trong văn bản ủy quyền phải có nội dung đương sự ủy quyền cho người đại diện theo ủy quyền kháng cáo bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ

án của Tòa án cấp sơ thẩm.

Như vậy, có thể khẳng định pháp luật tố tụng không bắt buộc văn bản ủyquyền tham gia tố tụng của đương sự phải công chứng, chứng thực (trừ văn bản ủyquyền kháng cáo) Thế nhưng, hầu hết các Tòa án hiện nay đều yêu cầu công chứng,chứng thực đối với hợp đồng ủy quyền và với giấy ủy quyền tham gia giải quyết vụán

Nguyên nhân dẫn đến sự thận trọng trên của Toà án (buộc các đương sự phảicông chứng, chứng thực văn bản uỷ quyền) có thể xuất phát từ lý do văn bản uỷquyền có thể bị làm giả mạo, dẫn đến ý chí được xác lập trong văn bản uỷ quyềnkhông phải là của đương sự

Trang 24

Cần chú ý rằng, đối với các cơ quan nhà nước, hay pháp nhân thì văn bản uỷquyền chỉ cần có chữ ký của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân và cóđóng dấu của pháp nhân là được Toà án chấp nhận, không cần phải công chứng,chứng thực như văn bản uỷ quyền của cá nhân Sự xuất hiện con dấu của pháp nhân,được cho là cơ sở để chính pháp nhân đó chịu trách nhiệm với việc ủy quyền Bêncạnh đó, nếu người nước ngoài muốn ủy quyền cho công dân Việt Nam trở thànhngười đại diện thay mình tham gia tố tụng thì cần phải hợp pháp hóa lãnh sự đối vớivăn bản ủy quyền đó thì mới được Tòa án chấp nhận.

Đối với hợp đồng ủy quyền

Về cách thức, việc công chứng hợp đồng ủy quyền có thể tiến hành tại tổ chứchành nghề công chứng (văn phòng công chứng hoặc phòng công chứng) Trong hợpđồng ủy quyền luôn phải có xác nhận của cả bên ủy quyền và bên được ủy quyền vìthế mà cần có sự có mặt của cả hai bên tại tổ chức công chứng để việc công chứngđược tiến hành Tuy nhiên, không phải trường hợp nào cũng bắt buộc các bên cómặt tại tổ chức hành nghề công chứng Trong trường hợp bên ủy quyền và bên được

ủy quyền không thể cùng đến tổ chức hành nghề công chứng thì bên ủy quyền yêucầu tổ chức hành nghề công chứng nơi họ cư trú công chứng hợp đồng ủy quyền;bên được ủy quyền yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng nơi họ cư trú công chứngtiếp vào bản gốc hợp đồng ủy quyền này, hoàn tất thủ tục công chứng hợp đồng ủyquyền.30

Về trình tự công chứng hợp đồng ủy quyền được Luật công chứng năm 2014quy định tại các Điều 40 và Điều 41 luật này Lưu ý rằng, người ủy quyền cần phảichứng minh được rằng mình có quyền ủy quyền cho người khác tham gia tố tụngbằng cách cung cấp các chứng cứ liên quan đến vụ án dân sự như giấy triệu tập,hoặc thông báo thụ lý vụ án, biên bản nộp tiền tạm ứng án phí,

Sau khi hoàn tất thủ tục công chứng, đương sự hoặc người đại diện có thể liên

hệ Tòa án để nộp hợp đồng ủy quyền này miễn là đảm bảo trước khi kết thúc quátrình giải quyết vụ án Khi đó, ngoài văn bản ủy quyền thì người đại diện theo ủyquyền cần phải có những giấy tờ cần thiết khác như hộ khẩu, chứng minh nhân dân,giấy khai sinh, để chứng minh mình là người đại diện theo ủy quyền của đươngsự

30 Khoản 2 Điều 55 Luậ t Công chứng năm 2014.

Trang 25

Đối với Giấy ủy quyền

Luật Công chứng năm 2014 không quy định về hình thức Giấy ủy quyền Tuynhiên, theo Điều 77 Luật Công chứng năm 2014 và khoản 4 Điều 5 Nghị định số23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về về cấp bản sao từ sổ gốc, chứngthực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịchcho phép công chứng viên có quyền và trách nhiệm chứng thực trong các giấy tờvăn bản Do đó, trên thực tế Giấy ủy quyền vẫn được sử dụng và cũng được côngchức, chứng thực như Hợp đồng ủy quyền Bên cạnh đó, cũng không ít trường hợpGiấy ủy quyền được chứng thực tại Ủy ban nhân dân cấp xã nhưng không được Tòachấp nhận.31

Về trình tự chứng thực giấy ủy quyền được quy định tại Điều 24 Nghị định23/2015/NĐ-CP Cũng có ý kiến cho rằng bản chất Giấy ủy quyền vẫn thuộc về chếđịnh hợp đồng cho nên trình tự thủ tục công chứng giấy ủy quyền không khác gì sovới hợp đồng ủy quyền và áp đụng Điều 55 Luật Công chứng để chứng nhận việcthụ ủy

Trường hợp thứ hai, quan hệ đại diện được xác lập ngoài lãnh thổ Việt Nam.

Về cách thức, theo Điều 78 Luật Công chứng năm 2014 thì Cơ quan đại diệnngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

ở nước ngoài được công chứng di chúc, văn bản từ chối nhận di sản, văn bản ủyquyền và các hợp đồng, giao dịch khác theo quy định của Luật này Mặc khác, Luậtcác cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài tạikhoản 7 Điều 8 có quy định:

Điều 8 Thực hiện nhiệm vụ lãnh sự

[ ] 7 Thực hiện nhiệm vụ công chứng, chứng thực phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam và Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và quốc gia tiếp nhận là thành viên [ ]

Như vậy, khi ủy quyền được xác lập ở nước ngoài, các bên có thể lựa chọn chứng thực, công chứng hợp đồng ủy quyền hoặc giấy ủy quyền tham gia tố tụng tại

31 Chứng minh tạ i mục 2.4

Trang 26

các cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan đại diện lãnh sự và các cơ quan khác được

ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài

Mặt khác, theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị định 111/2011/NĐ-CP thìhợp pháp hóa lãnh sự là việc cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam chứng nhận condấu, chức danh trên giấy tờ, tài liệu của nước ngoài để giấy tờ, tài liệu đó được côngnhận và sử dụng tại Việt Nam Tức là các giấy tờ, tài liệu của nước ngoài để đượccông nhận và có giá trị sử dụng tại Việt Nam cần phải thực hiện hợp pháp hóa lãnh

sự Do đó, hợp đồng ủy quyền, giấy ủy quyền tham gia tố tụng trong vụ án dân sựnếu muốn được Tòa án chấp nhận thì cần phải hợp pháp hóa lãnh sự

Theo đó, nếu đương sự chọn hợp pháp hóa lãnh sự ở nước ngoài thì các cơquan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự hoặc cơ quan khác được ủy quyền thựchiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài sẽ thực hiện luôn thủ tục hợppháp hóa Nếu đương sự muốn hợp pháp hóa lãnh sự tại Việt Nam thì Cục Lãnh sự

và Sở Ngoại vụ Thành phố Hồ Chí Minh là cơ quan được giao thẩm quyền hợp pháphóa lãnh sự trong nước Ngoài ra, các Sở/Phòng/Bộ phận Ngoại vụ các tỉnh, thànhphố trực thuộc trung ương cũng được Bộ Ngoại giao ủy quyền thực hiện hợp pháphóa lãnh sự.32

Cuối cùng là quan hệ đại diện được xác lập tại chính Tòa án, nơi vụ án dân sự được thụ lý giải quyết.

Ởtrường hợp này, như đã trình bày, khi nghiên cứu BLTTDS năm 2015, phápluật chỉ đưa ra Điều luật quy định đối với trường hợp kháng cáo bản án, quyết địnhcủa Toàn án thì mới ghi nhận việc ủy quyền lập tại tòa án Tuy vậy, thực tế tại Tòa

án các cấp vẫn cho phép đương sự ủy quyền trực tiếp tại Tòa trong quá trình thamgia tố tụng Sự linh động này của Tòa án các cấp giúp mở rộng khả năng ủy quyềncủa đương sự rất nhiều

Theo đó, nếu đương sự muốn ủy quyền tại Tòa thì văn bản ủy quyền khôngcần phải công chứng, chứng thực Sự chứng kiến của Thẩm phán hoặc người đượcChánh án Tòa án phân công là một trong những cơ sở để văn bản ủy quyền này cóhiệu lực Quan hệ ủy quyền có thể xác lập tại các buổi làm việc với Tòa án và nội

32 Xem danh sách này tạ i Cổng thông tin điện tử về công tác lãnh sự của Bộ

Ngoạ i Giao: https://lanhsuvietnam.gov.vn.

Trang 27

dung ủy quyền có thể được thể hiện trong một văn bản ủy quyền riêng biệt có chữ

ký xác nhận của cán bộ toàn án hoặc cũng có thể được thể hiện trong các biên bảnghi nhận sự việc, biên bản lấy lời khai,

b Chấm dứt ủy quyền

Trong chế định ủy quyền nói chung và ủy quyền trong tố tụng dân sự nóiriêng, thời điểm chấm dứt ủy quyền đóng vai trò vô cùng quan trọng Việc chấm dứt

ủy quyền sẽ làm chấm dứt quan hệ pháp luật ủy quyền

Một lần nữa tại Điều 89 của BLTTDS năm 2015 đã dẫn giải sang BLDS năm

2015 khi quy định rằng người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự chấm dứtviệc ủy quyền theo quy định của Bộ luật dân sự

Về căn cứ chấm dứt đại diện theo ủy quyền

Khoản 3 Điều 140 BLDS năm 2015 đưa ra bảy căn cứ sau:

Căn cứ thứ nhất: Theo thỏa thuận.

Ngay từ đầu, bản chất của quan hệ ủy quyền chính là một giao dịch dân sự Do

đó, ý chí của các bên được xem là yếu tố cốt lõi trong trong quan hệ pháp luật này.Khi các bên đạt được sự thỏa thuận, muốn chấm dứt quan hệ ủy quyền thì pháp luậtcho phép chấm dứt miễn là sự thỏa thuận này không trái với đạo đức xã hội hay viphạm Điều cấm

Căn cứ thứ hai: Thời hạn ủy quyền đã hết.

Thời hạn ủy quyền là khoảng thời gian mà người đại diện có quyền nhân danhngười được ủy quyền để thực hiện quyền, nghĩa vụ trong hoạt động tố tụng Thờihạn ủy quyền do các bên xác lập và thể hiện rõ trong văn bản ủy quyền Đây cũng lànội dung cực kì quan trọng trong văn bản ủy quyền Thông thường, trong tố tụngdân sự thời hạn ủy quyền được các đương sự ấn định vào một con số cụ thể như mộtnăm, hai năm thậm chí là vài chục năm Cách quy định này có ưu điểm là xác định

rõ thời hạn một cách cụ thể, không xảy ra tranh chấp về thời hạn, tuy nhiên sẽ gâykhó khăn trong việc thực hiện công việc của người đại diện, nhất là khi thực hiệncông việc bị ảnh hưởng bởi những yếu tố khách quan

Ví dụ, tại Hợp đồng ủy quyền số công chứng số 005854 ngày 06/06/2018 lập tạiVăn phòng công chứng Phú Mỹ Hưng giữa ông Phạm Đức N và bà Trần Mỹ L trongđiều khoản về thời hạn ủy quyền, hai bên ghi nhận trong hợp đồng như sau:

Trang 28

Thời hạn ủy quyền là 50 (năm mươi) năm kể từ ngày hợp đồng ủy quyền này đượcVăn phòng công chứng Phú Mỹ Hưng chứng nhận hoặc hợp đồng ủy quyền chấmdứt theo quy định của pháp luật.

Hoặc các bên cũng có thể chọn việc ủy quyền sẽ chấm dứt khi có văn bản ủyquyền thay thế; cũng có trường hợp các bên lựa chọn việc ủy quyền sẽ chấm dứt đếnkhi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật; hoặc đến khi thực hiệnxong công việc được ủy quyền Cách quy định này chú trọng đến kết quả thựchiện công việc mà không hạn chế việc ủy quyền trong một khoản thời gian cụ thể.Tuy vậy, nhược điểm của cách thỏa thuận này là gây ra cách hiểu khác nhau về thờihạn ủy quyền cho các bên cũng như bên thứ ba mà cụ thể là đối với cơ quan Tòa án.Như vậy, thời hạn ủy quyền do các bên thỏa thuận rất quan trọng để xác địnhthời điểm chấm dứt ủy quyền giữa các bên, do đó, các bên cần đưa ra một thời hạn

cụ thể và rõ ràng để tránh những tranh chấp không đáng có xảy ra

Căn cứ thứ ba: Công việc ủy quyền đã hoàn thành.

Mục đích của việc ủy quyền là để người đại diện mình thực hiện thay côngviệc cho mình Do đó, khi công việc đã hoàn thành thì quan hệ pháp luật về ủyquyền cũng phải chấm dứt Trên thực tế, trong một số văn bản ủy quyền tham gia tốtụng của đương sự ở điều khoản thời hạn ủy quyền ghi nhận nội dung thời hạn ủyquyền là cho đến khi hoàn thành các công việc được nêu trong nội dung ủy quyền

Ví dụ: tại Giấy ủy quyền ngày 25/09/2018 lập tại văn phòng công ty Tư Thương Mại-Dịch Vụ (TV-TM-DV) Địa ốc Hoàng Quân giữa bên ủy quyền là công

Vấn-ty TV-TM-DV Địa ốc Hoàng Quân và bên được ủy quyền là bà Trần Thị Minh Lan,trong nội dung ủy quyền bà Lan được quyền thay mặt Công ty để làm việc với Tòa

án nhân dân Quận Phú Nhuận để giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán nhà giữacông ty TV-TM-DV Địa ốc Hoàng Quân với nguyên đơn ông Lâm Hùng Dũng,được tham gia các buổi làm việc, hòa giải, phiên tòa, cung cấp chứng cứ và quyếtđịnh mọi vấn đề liên quan đến vụ án Mặt khác, tại phần thời hạn ủy quyền ghi nhậnthời hạn ủy quyền cho đến khi hoàn tất các công việc nêu trên Do đó, khi bà Lan đãhoàn tất các công việc được ủy quyền tại Tòa án nhân dân Quận Phú Nhuận thìnghĩa vụ của bà Lan được chấm dứt

Tuy nhiên, để xác định được công việc được ủy quyền đã hoàn thành thì rấtkhó khăn Chẳng hạn, trong ví dụ trên thì “quyết định mọi vấn đề liên quan đến vụ

Trang 29

án” có bao gồm việc kháng cáo bản án, quyết định của tòa án hay không Việc xácđịnh này tùy thuộc vào nhận định mỗi Tòa án, thậm chí ngay cả người đại diện cũng

có cách hiểu khác nhau Người đại diện có thể cho rằng thỏa thuận trên bao gồm cảviệc kháng cáo nhưng tòa án Quận Phú Nhuận thì cho rằng người đại diện không cóquyền kháng cáo bởi vì trong giấy ủy quyền không thể hiện được nội dung “ngườiđại diện được quyết định mọi vấn đề liên quan đến vụ án ở tất cả các cấp tòa baogồm cả việc kháng cáo quyết định hoặc bản án”, do đó, giấy ủy quyền này đã hếtthời hạn ủy quyền và việc người đại diện theo ủy quyền kháng cáo là bà Lan sẽkhông được chấp nhận

Căn cứ thứ tư: Người được đại diện hoặc người đại diện đơn phương chấm dứt thực hiện việc ủy quyền.

Pháp luật đã thừa nhận ý chí của một bên trong việc chấm dứt quan hệ ủyquyền Theo đó, các bên được quyền đơn phương chấm dứt quan hệ đại diện nhưng

sự đơn phương này phải tuân thủ theo quy định tại Điều 569 BLDS năm 2015 Vệcxác lập quan hệ đại diện theo ủy quyền gồm 2 dạng: có thù lao và không có thù lao,

do đó, việc đơn phương chấm ủy quyền cũng căn cứ vào hai yếu tố trên mà chiathành hai trường hợp:

Một là, ủy quyền có thù lao: Bên ủy quyền có quyền đơn phương chấm dứtthực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào, nhưng phải trả thù lao cho bên được ủy quyềntương ứng với công việc mà họ đã thực hiện và bồi thường thiệt hại; bên được ủyquyền cũng có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào vàphải bồi thiệt hại nếu có;

Hai là, ủy quyền không có thù lao: Bên ủy quyền có thể chấm dứt thực hiệnhợp đồng bất cứ lúc nào nhưng phải báo trước cho bên được được ủy quyền mộtthời gian hợp lý; bên được ủy quyền được phép chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứlúc nào nhưng phải báo cho bên ủy quyền biết trước một thời gian hợp lý Mặc dùpháp luật đưa ra quy định nhưng lại không lí giải thời gian hợp lý là trong bao lâu vàviệc chấm dứt được thể hiện dưới hình thức nào thì được Tòa án chấp nhận

Mặc khác, tại Điều 51 Luật công chứng năm 2014 quy định việc công chứngsửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch đã được công chứng chỉ được thựchiện khi có sự thỏa thuận, cam kết bằng văn bản của tất cả những người đã tham giahợp đồng, giao dịch đó

Trang 30

Như vậy, với quy định trên sẽ làm cho việc đơn phương chấm dứt hợp đồng ủy quyền

sẽ khó thực hiện Có chăng, quy định về căn cứ chấm dứt trong trường hợp ủy quyền không

có thù lao trên chỉ phù hợp với hình thức ủy quyền bằng giấy ủy quyền

Căn cứ thứ năm: Người được đại diện, người đại diện là cá nhân chết; người được đại diện, người đại diện là pháp nhân chấm dứt tồn tại

Một khi một trong hai bên (bên ủy quyền, bên được ủy quyền) chết đối với cánhân, chấm dứt sự tồn tại đối với pháp nhân thì việc ủy quyền coi như chấm dứt.Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm được cơ quannhà nước thành lập hoặc cho phép thành lập (nếu pháp nhân phải đăng ký hoạt độngthì thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm ghi vào sổđăng ký) và chấm dứt kể từ thời điểm chấm dứt pháp nhân Như vậy, một khi phápnhân chấm dứt sự tồn tại trong các trường hợp như hợp nhất, sáp nhập, chia, chuyểnđổi hình thức, giải thể, phá sản theo quy định tại Điều 96 BLDS năm 2016 thì phápnhân đó chấm dứt năng lực pháp luật dân sự cũng như chấm dứt luôn cả năng lựchành vi dân sự Do đó, pháp nhân không còn đủ năng lực tham gia vào quan hệ ủyquyền và khi đó, quan hệ pháp luật về ủy quyền sẽ đương nhiên bị chấm dứt

Căn cứ thứ sáu: Người đại diện không còn đủ điều kiện quy định tại khoản 3 Điều 134 BLDS năm 2015

Theo quy định tại khoản 3 Điều 134 BLDS năm 2015 thì người đại diện phải

có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sựđược xác lập, thực hiện Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cánhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự; còn nănglực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng cá nhân có quyền và nghĩa vụ dân sự.Trong đó, năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân là khả năng pháp nhân cócác quyền và nghĩa vụ dân sự theo quy định của pháp luật; năng lực hành vi dân sựcủa pháp nhân là khả năng của pháp nhân thông qua người đại diện theo pháp luậtcủa pháp nhân xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự Năng lực pháp luật dân

sự của cá nhân có từ khi sinh ra và chấm dứt khi người đó chết

Đối chiếu với Điều 134 BLDS năm 2015, ta thấy dường như khái niệm “nănglực pháp luật dân sự” luôn được áp dụng khi người đại diện là pháp nhân còn nănglực hành vi áp dụng cho cá nhân ủy quyền Khi cá nhân không còn đáp ứng điều

Trang 31

kiện về năng lực chủ thể như mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành

vi dân sự thì việc ủy quyền sẽ chấm dứt

Đối với pháp nhân, năng lực pháp luật của pháp nhân có thể bị tạm ngừng hoặc bịtước bỏ dựa trên các căn cứ và thủ tục pháp luật quy định , khi đó, việc đại diện của phápnhân sẽ bị chấm dứt Ngoài ra, việc pháp nhân bị đình chỉ hoạt động cũng làm cho phápnhân đó không còn đủ Điều kiện về năng lực pháp luật dân sự để có thể trở thành đại diệntheo ủy quyền Bởi lẽ, việc tạm ngừng, đình chỉ hoạt động làm cho pháp nhân không thểtiếp tục hoạt động kinh doanh, xác lập giao dịch với chủ thể khác trong thời gian đó trừ cáckhoản thuế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp còn nợ và những nghĩa

vụ đã được xác lập trước đó thì vẫn thực hiện

Căn cứ thứ bảy: Căn cứ khác làm cho việc đại diện không thể thực hiện được

Đây là trường hợp mở mà pháp luật dự liệu Căn cứ này tạo điều kiện cho cácbên tự do thực hiện quyền ủy quyền nhưng cũng phải đặt dưới sự kiểm soát củapháp luật Trên thực tế việc đánh giá thế nào là “không thể thực hiện được” phụthuộc vào sự chứng minh của đương sự và sự đánh giá chủ quan của chính các cơquan chức năng

Ngoài ra, trong hợp đồng ủy quyền nếu đương sự không ghi thời hạn ủy quyềnthì theo quy định của Điều 582 BLDS năm 2015 thời hạn ủy quyền trong trường hợpnày là một năm Sau một năm quan hệ đại diện sẽ chấm dứt kể từ ngày xác lập việc

ủy quyền Quy định này là một trong những quy định quét nhằm đảm bảo việc ủyquyền luôn bị giới hạn về thời gian

Thực tiễn, với hình thức ủy quyền bằng hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụngdân sự khi các bên muốn chấm dứt quan hệ này, hầu hết các bên đều phải côngchứng tại tổ chức hành nghề công chứng Ở một số ít Tòa án khác lại cho rằng chỉ

Trang 32

cần có văn bản của một bên xác định việc đơn phương đình chỉ hợp đồng ủy quyền

là có thể chấp nhận.33

Riêng đối với hình thức ủy quyền bằng giấy ủy quyền đa số Tòa án đều khôngyêu cầu phải công chứng, chứng thực Nếu các bên trong quan hệ ủy quyền muốnthay đổi, chấm dứt ủy quyền thì phải gửi thông báo đến Tòa án Nếu người đại diện

là người nộp văn bản thông báo chấm dứt này thì chỉ cần kèm theo các giấy tờ tùythân như chứng minh nhân dân hoặc căn cước công dân, để cán bộ Tòa án đốichiếu kiểm tra xem mình có đúng là người được đại diện theo ủy quyền hay không.Trong trường hợp muốn ủy quyền cho người khác thì đương s ự phải thể hiện rõtrong Giấy ủy quyền có nội dung “hủy bỏ giấy ủy quyền cũ” Đây cũng là một cáchthức để chấm dứt quan hệ ủy quyền mà trước đó các bên đã lập, thay thế cho vănbản thông báo chấm dứt ủy quyền

Về hậu quả pháp lý của việc chấm dứt quan hệ ủy quyền

Quan hệ đại diện khi chấm dứt dẫn đến những hậu quả pháp lý kéo theo nhấtđịnh Theo quy định của BLTTDS năm 2015 thì chấm dứt đại diện ủy quyền thìđương sự hoặc người thừa kế của đương sự sẽ trực tiếp tham gia tố tụng hoặc ủyquyền cho người khác tham gia tố tụng

Như vậy, trong trường hợp chấm dứt đại diện theo ủy quyền theo đúng căn cứpháp luật được quy định tại khoản 3 Điều 140 BLDS năm 2015 thì đương sự hoặcngười thừa kế của đương sự được trực tiếp tham gia tố tụng hoặc ủy quyền chongười khác tham gia Lúc này, người đại diện không còn tư cách nhân danh bênđược đại diện tham gia tiếp vào quá trình tố tụng nữa

Tuy vậy, trong trường hợp chấm dứt ủy quyền không có căn cứ pháp luật vẫnchưa được pháp luật quy định rõ Đơn cử đối với trường hợp đơn phương chấm dứtđại diện không có thù lao mà bên được ủy quyền cho rằng thời gian thông báo trướckhông hợp lý thì quan hệ đại diện có được tiếp tục hay không hay phải chấm dứt

33 Nguyễn Minh Hằng (2005), Đạ i diện theo uỷ quyền – Từ pháp luậ t nội dung đến Tố tụng dân

sự, Tạ p chí Nghiên cứu và Lập pháp điện tử, http://www.lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?

tintucid=209115 (truy cậ p ngày 11/5/2021).

Trang 33

1.2 Chủ thể quan hệ ủy quyền trong vụ án dân sự

Trong quan hệ ủy quyền luôn xuất hiện hai chủ thể đó chính là bên ủy quyền và bênđược ủy quyền Ngoài ra, như đã khẳng định ủy quyền trong tố tụng dân sự là mộtchế định đặc biệt khác với quan hệ ủy quyền thông thường Sự xuất hiện cơ quancông quyền (Tòa án) – bên thứ ba trong quan hệ ủy quyền được xem là yếu tố cốt lõitạo nên sự khác biệt này Để làm rõ bản chất cũng như mối liên hệ giữa ba chủ thểnày, tác giả khóa luận sẽ tập trung nghiên cứu về hai chủ thể đó là bên ủy quyền vàbên được ủy quyền trong mối quan hệ với bên thứ ba là cơ quan Tòa án

1.2.1 Bên ủy quyền

a Đặc điểm bên ủy quyền

Theo quy định tại Điều 138 BLDS năm 2015 thì “Cá nhân, pháp nhân có thể

ủy quyền cho các nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự”, “các

thành viên hộ gia đình, tổ chức hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân cóthể thỏa thuận cử cá nhân, pháp nhân khác đại diện theo ủy quyền xác lập, thực hiệngiao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của các thành viên hộ gia đình, tổ hợptác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân”

Như vậy, chủ thể được phép ủy quyền có thể là cá nhân, pháp nhân hoặc cácthành viên hộ gia đình, tổ chức hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân.Nếu là cá nhân thì cá nhân đó phải có năng lực hành vi tố tụng dân sự Nănglực hành vi tố tụng dân sự là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụngdân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng Một người có năng lựchành vi tố tụng đầy đủ khi họ từ đủ mười tám tuổi trở lên, không bị mất năng lựchành vi dân sự hoặc pháp luật có quy định khác Điều này đồng nghĩa với việc khiđương sự là người chưa thành niên hoặc người mất năng lực hành vi dân sự thì họkhông thể tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng nên không thể làm văn bản ủyquyền cho người khác tham gia tố tụng, trong trường hợp có nhu cầu thì người đạidiện theo pháp luật của họ sẽ thực hiện công việc ủy quyền

Tuy vậy, trong trường hợp đặc biệt, người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủmười tám tuổi đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sựbằng tài sản riêng của mình thì được tự mình tham gia tố tụng về những việc có liênquan đến quan hệ lao động hoặc quan hệ dân sự đó Do đó, trong trường hợp này,

Trang 34

người từ đủ mười lăm đến dưới mười tám tuổi vẫn có thể ủy quyền cho chủ thể khácnhân danh mình tham gia tố tụng.

Trong khi đó, theo quan điểm các nhà lập pháp Nhật Bản thì vấn đề năng lựchành vi dân sự của người được ủy quyền không nên bị hạn chế, vì đại diện theopháp luật thì pháp luật đã quy định rõ trong từng trường hợp, còn đối với đại diệntheo ủy quyền thì đó là sự tự do lựa chọn của người được đại diện và bản thân họ cótrách nhiệm với sự lựa chọn của mình.34

Nếu là pháp nhân, thì việc ủy quyền được thực hiện thông qua người đại diệntheo pháp luật của pháp nhân đó Đại diện theo pháp luật của pháp nhân là ngườiđứng đầu pháp nhân được quy định trong quyết định thành lập pháp nhân hoặc trongĐiều lệ của pháp nhân Khi người đại diện theo pháp luật của pháp nhân khôngmuốn tham gia tố tụng thì có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác thay mặtmình tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích của pháp nhân Lúc này, trong vănbản ủy quyền người ký vào văn bản ủy quyền chính là người đại diện theo pháp luậtcủa pháp nhân đó Pháp nhân phải chịu trách nhiệm về hành vi của người đại diệntheo ủy quyền

Bên cạnh đó, chủ thể ủy quyền có thể có một hoặc nhiều người và luôn xuất hiện trongvăn bản ủy quyền, tức là luôn ký tên vào hợp đồng ủy quyền và giấy ủy quyền

b Quyền và nghĩa vụ của bên ủy quyền

Trong BLTTDS năm 2015, không đưa ra quy định nào về quyền và nghĩa vụcủa người được đại diện (bên ủy quyền) Tuy nhiên, bản chất của ủy quyền trong tốtụng dân sự giữa người đại diện và người được đại diện là một giao dịch dân sự, do

đó, trong mối quan hệ này quyền và nghĩa vụ của người ủy quyền (người được đạidiện) vẫn chịu sự điều chỉnh bởi các quy định trong BLDS năm 2015 Do đó, xéttrong mối quan hệ dân sự thì bên ủy quyền (người được đại diện) có các quyền vànghĩa vụ sau:

34 Điều 102 BLDS Nhậ t Bả n.

https://elaws.e-gov.go.jp/document?lawid=129AC0000000089 (truy cậ p ngày 1/5/2021).

Trang 35

Về nghĩa vụ:

Thứ nhất, cung cấp thông in, tài liệu và phương tiện cần thiết để bên được ủy

quyền thực hiện công việc.35

Khi bên đại diện muốn nhân danh bên ủy quyền thực hiện thay công việc thì

họ cần phải có được những thông tin, tài liệu cần thiết thì mới thực hiện được Do

đó, để bên đại diện hoàn thành tốt công việc, bên ủy quyền cần phải cung cấp nhữngthông tin, tài liệu liên quan đến vụ án cho bên đại diện

Ngoài ra, khi được tiếp cận các hồ sơ vụ án dân sự, tác giả nhận thấy một khi bên ủyquyền đã muốn giao cho người khác thực hiện thay công việc của mình thì bên ủy quyềncần phải tạo những điều kiện cần thiết tương ứng với nhu cầu của công việc đã ủy quyềncũng như xem xét khả năng thực hiện công việc nhằm bảo đảm bên ủy quyền có khả năngtham gia vào vụ án Pháp luật cần phải quy định thêm trường hợp này để tránh người ủyquyền lợi dụng quan hệ ủy quyền gây khó dễ cho cơ quan chức năng tiến hành giải quyết

vụ án Ví dụ bên ủy quyền ủy quyền cho một người thật xa để đại diện cho mình tham giavào quá trình giải quyết vụ án dân sự, việc ủy quyền như vậy sẽ gây khó khăn cho ngườiđại diện trong việc tham gia vào các buổi làm việc tại Tòa án Cá biệt, trong một số trườnghợp đương sự còn cố tình ủy quyền một người ở thật xa nhằm mục đích kéo dài thời giangiải quyết vụ án

Thứ hai, chịu trách nhiệm về cam kết do bên được ủy quyền thực hiện trong

phạm vi được ủy quyền.36

Thứ ba, thanh toán chi phí hợp lý mà bên ủy quyền đã bỏ ra để thực hiện công

việc được ủy quyền, trả thù lao cho bên được ủy quyền nếu có thỏa thuận về thù lao.37

Trong đó, chi phí phát sinh trong quá trình tham gia v ụ án dân sự có thể lànhững chi phí về phương tiện đi lại, chi phí phô tô công chứng tài liệu, tiền tạm ứngchi phí định giá tài sản, chi phí đo vẽ, thẩm định giá tài sản theo quy định củaBLTTDS

Nếu các bên có thỏa thuận trả thù lao khi thực hiện công việc ủy quyền thì bên

ủy quyền có nghĩa vụ phải trả thù lao, ngược lại, nếu các bên ghi nhận rằng

35 Khoản 1 Điều 567 BLDS năm 2015.

36 Khoản 2 Điều 567 BLDS năm 2015.

37 Khoản 3 Điều 567 BLDS năm 2015.

Trang 36

công việc ủy quyền không trả thù lao thì cho dù người đại diện có làm tốt công việcđến đâu thì cũng không thể yêu cầu bên ủy quyền trả thù lao cho mình.

Về quyền của bên ủy quyền

Thứ nhất, có quyền yêu cầu người đại diện thông báo đầy đủ về việc thực hiện

công việc ủy quyền.38

Bởi vì người đại diện đang nhân danh và thực hiện thay công việc cho bên ủyquyền cho nên quyền được biết tiến độ thực hiện công việc, đã thực hiện như thếnào, những vướng mắc trong quá trình thực hiện, là một trong những quyền chínhđáng mà bên ủy quyền cần có đặc biệt là trong vụ án dân sự Quyền này vừa đảmbảo được việc thực hiện nghĩa vụ của người đại diện vừa đảm bảo lợi ích cho bên ủyquyền, trong trường hợp cần thiết bên ủy quyền sẽ hỗ trợ để công việc được thựchiện tốt nhất

Thứ hai, được bồi thường thiệt hại trong trường hợp người đại diện vi phạm

nghĩa vụ trong quan hệ ủy quyền mà gây thiệt hại cho bên ủy quyền.39 Việc bồithường này được thực hiện theo nguyên tắc bồi thường trong trách nhiệm dân sự,hoặc nếu có khởi kiện ra Tòa án, bên ủy quyền phải chứng minh được rằng bên đạidiện đã vi phạm nghĩa vụ nào và gây thiệt hại đến đâu

Ngoài ra, các bên có thể thỏa thuận cụ thể quyền và nghĩa vụ hoặc bổ sungthêm các quyền và nghĩa vụ khác trong văn bản ủy quyền miễn là không vi phạmđiều cấm hoặc trái đạo đức xã hội

Xét trong mối quan hệ giữa người được đại diện và cơ quan Tòa án, quyền vànghĩa vụ của người đại diện không được pháp luật quy định rõ ràng, dẫn đến phátsinh một số vấn đề làm cho quá trình giải quyết gặp những khó khăn nhất định Điểnhình đó là việc ủy quyền có làm mất đi quyền vốn thuộc về người ủy quyền cũngnhư người ủy quyền còn có nghĩa vụ tham gia vào vụ án khi Tòa án triệu tập haykhông thì vẫn chưa có câu trả lời thống nhất Điều này dẫn đến sự không thống nhấttrong cách giải quyết của các Tòa khi người đại diện cùng tham gia vào vụ án vớingười đại diện theo ủy quyền

38 Khoản 1 Điều 568 BLDS năm 2015.

39 Khoản 3 Điều 568 BLDS năm 2015.

Trang 37

Hiện nay, đa số các Tòa đều cho rằng bên ủy quyền vẫn có quyền tham gia vụ

án dân sự, việc ủy quyền cho người đại diện không làm mất quyền tham gia vào vụ

án của bên ủy quyền Xuất phát từ tính chất, yêu cầu của việc giải quyết vụ việc dân

sự, sau khi ủy quyền cho người đại diện đương sự vẫn có quyền tham gia tố tụng để

bổ sung cho hoạt động của người được ủy quyền.40 Bên ủy quyền có thể tự liên hệvới cơ quan Tòa án để tham gia vào vụ án cùng với đương sự, Tòa án cũng có thểtriệu tập bên ủy quyền tham gia vào vụ án khi cần thiết

Ví dụ: Tại vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 149/TLPT- DS ngày 05/02/2020của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”giữa nguyên đơn là bà Lê Nguyễn Thục Đ và bị đơn là bà Huỳnh Thị Kim C Bà Đ

ủy quyền cho ông Nguyễn Thượng T theo giấy ủy quyền ngày 16/10/2018 lập tạiVăn phòng công chứng Mai Việt Cường, theo đó, trong phạm vi ủy quyền ông Tđược phép tự mình quyết định mọi vấn đề liên quan đến vụ án trong giai đoạn sơthẩm và phúc thẩm, được quyền thay mặt bà Đ liên hệ Tòa án nhân dân các cấp đểthay bà Đ tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện theo ủy quyền cũng như đểnhận các quyết định, bản án của Tòa án Như vậy, căn cứ vào phạm vi ủy quyền thì

bà Đ đã ủy quyền toàn bộ cho ông T tham gia vào vụ án Tuy vậy, trong quá trìnhgiải quyết vụ án phúc thẩm, bà Đ vẫn tham gia vào vụ án với tư cách là nguyên đơncủa vụ án, bằng chứng là tại các buổi làm việc tại Tòa phúc thẩm vẫn có sự có mặtcủa bà Đ và tại buổi xét xử vụ án dân sự phúc thẩm diễn ra vào ngày 18/8/2020 bà

Đ có mặt phiên tòa đồng thời với ông T và trình bày ý kiến của mình Ý kiến của bà

Đ được ghi nhận lại tại bản án số 772/2020/DS-PT ngày 18/8/2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

Tuy vậy, có ý kiến cho rằng trong trường hợp ủy quyền cho người khác thamgia, tòa án chỉ chấp nhận người đại diện theo ủy quyền là đại diện duy nhất củađương sự mà không thể chấp nhận người được đại diện vừa ủy quyền cho ngườikhác vừa tự mình tham gia Bởi vì, theo khoản 2 Điều 90 BLTTDS năm 2015, cóthể hiểu khi đã có văn bản ủy quyền tham gia tố tụng thì người được ủy quyền sẽ làngười trực tiếp tham gia tố tụng, người được đại diện chỉ được tham gia tố tụng trực

40 Trường Đạ i học Kiểm sát Hà Nội, Đạ i diện của đương sự - Một số vấn đề lý luậ n

và thực tiễn, https://tks.edu.vn/thong-tin-khoa -hoc/chi-tiet/81/729 (truy cậ p ngày 1/6/2021).

Trang 38

tiếp khi đã chấm dứt đại diện theo ủy quyền.41 Hơn nữa, quan niệm đương sự đã ủyquyền cho người đại diện nhưng đương sự vẫn có quyền tham gia tố tụng dường nhưmâu thuẫn với bản chất của đại diện là thay mặt đương sự.42 Và thực tế việc Tòa ánkhông chấp nhận người được đại diện và người đại diện cùng tham gia vào vụ án làkhông phải không có, nhất là trong vụ án dân sự mà người đại diện theo pháp luật củapháp nhân đã ủy quyền cho cá nhân khác nhưng vẫn tham gia vào vụ án.

1.2.2 Bên được ủy quyền

a Đặc điểm chung của bên được ủy quyền

Khi xét về vị trí người đại diện trong vụ án dân sự (bên được ủy quyền) thìngười đại diện theo ủy quyền bao gồm người đại diện cho bị đơn, người đại diện chonguyên đơn và người đại diện cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Mặt khác, như đã phân tích ở trên, pháp luật tố tụng dân sự hiện hành quy địnhngười đại diện theo ủy quyền theo quy định của BLDS là người đại diện theo ủyquyền trong tố tụng dân sự

Theo đó, BLDS thì quy định rằng cá nhân và pháp nhân đều có thể trở thànhchủ thể được ủy quyền Vì vậy, xét ở khía cạnh chủ thể thì cá nhân và pháp nhân làhai chủ thể được phép trở thành người đại diện So với BLDS năm 2005 thì đếnBLDS năm 2015 đã thừa nhận khả năng đại diện của pháp nhân Đây là quy địnhtiến bộ, phù hợp với thực tiễn hiện nay cũng như xu hướng pháp luật các nước trênthế giới Cụ thể:

Nếu người được ủy quyền là cá nhân thì người ủy quyền phải thỏa mãn cácĐiều kiện theo quy định của pháp luật Điều kiện đầu tiên để có thể trở thành ngườiđược đại diện là phải có năng lực hành vi dân sự Điều kiện tiếp theo là phải có nănglực pháp luật dân sự

Khoản 3 Điều 134 và khoản 3 Điều 18 BLDS năm 2015 quy định: “Trường hợp pháp luật quy định thì người đại diện phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập, thực hiện” và “Người

từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể là người đại diện

41 Nguyễn Thùy Trang (2017), Vi phạm quy định về ủy quyền trong tố tụng dân sự - Những vướng

mắc và đề xuất hoàn thiện pháp luật, Tạ p chí Luậ t học, số 12, tr 60.

42 Trầ n Thị Hương (2014), Người đại diện theo ủy quyền của đương sự trong tố tụng dân sự Việt

Nam, Luậ n văn thạ c sỹ, Khoa Luậ t - Đạ i học Quốc gia Hà Nội, tr.70.

Trang 39

theo ủy quyền, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ

đủ 18 tuổi trở lên xác lập, thực hiện”.

Mặc khác, theo quy định của BLTTDS năm 2015 thì người đại diện của đương

sự phải có năng lực hành vi tố tụng dân sự (trên 18 tuổi và không bị mất năng lựchành vi dân sự).43 Đây là điểm khác biệt giữa người đại diện trong tố tụng dân sự sovới người đại diện trong giao dịch dân sự, thương mại thông thường

Nếu người được ủy quyền là pháp nhân thì cũng phải đảm bảo đủ Điều kiện thìmới trở thành người được đại diện Một tổ chức được xem là một pháp nhân khi: Tổchức đó được thành lập một cách hợp pháp, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có tài sảnđộc lập, nhân danh mình tham gia vào các quan h ệ pháp luật một cách độc lập.Năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự của pháp nhân phát sinh đồngthời ngay khi pháp nhân được hình thành

Mặt khác, khi đại diện cho cá nhân, pháp nhân khác tham gia vào quan hệ tốtụng thì bản thân pháp nhân phải đủ điều kiện về năng lực hành vi và năng lực phápluật tố tụng Trong đó, xét về năng lực pháp luật tố tụng dân sự thì mọi pháp nhânđều có các quyền và nghĩa vụ tố tụng như nhau Còn đối với năng lực hành vi, vìbản thân pháp thân là một thực thể pháp lý, vì vậy pháp nhân phải thông qua ngườiđại diện hợp pháp với danh nghĩa của pháp nhân thực hiện thay những công việcđược ủy quyền Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến thực tế việc cá nhân, pháp nhân

ủy quyền cho pháp nhân tham gia tố tụng hạn chế và ít được lựa chọn hơn so với ủyquyền cho cá nhân

Mặc dù vậy, việc pháp nhân đại diện cho cá nhân, pháp nhân khác tham giavào quá trình tố tụng là có thật Điển hình là vụ án dân sự do Bà Trần Thị A khởikiện, được Tòa án nhân dân tỉnh Q thụ lý vụ án số: 10/2018/TLDS-ST ngày20/12/2018 về việc “tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất” Sau khi Tòa án thụ lý, ngày 15/01/2019, bà Bà Trần Thị A cógiấy ủy quyền tham gia tố tụng cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên(TNHH MTV) Thương mại - Dịch vụ - Tư vấn làm người đại diện Giấy ủy quyềnđược chứng thực của UBND xã Công ty TNHH MTV Thương mại - Dịch vụ - Tư

43 Khoản 3 Điều 69 BLTTDS năm 2015.

Trang 40

vấn được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy phép hoạt động Tuy nhiên, theo giấyphép đăng ký kinh doanh thì không có lĩnh vực làm đại diện theo ủy quyền.

Từ thực tiễn trên, có ý kiến cho rằng: Để pháp nhân có thể đại diện cho chủ thểkhác thì trong giấy phép kinh doanh của pháp nhân phải thể hiện lĩnh vực được ủyquyền thì mới được phép làm đại diện.44 Quan điểm khác cho rằng bản chất của việc

ủy quyền là sự thỏa thuận ý chí giữa các bên, một khi pháp nhân đủ kiều kiện về mặtchủ thể là đã có thể đại diện cho cá nhân, pháp nhân khác tham gia vào v ụ án Thậtvậy, lĩnh vực ủy quyền trong giấy phép kinh doanh không phải là Điều kiện để phápnhân có năng lực chủ thể, cũng không là Điều kiện để hợp đồng ủy quyền có hiệulực, không cần thiết phải đặt ra sự ràng buộc cứng nhắc lên pháp nhân để được chủthể khác cho phép đại diện

Và dĩ nhiên là không phải chủ thể nào cũng được phép tham gia vào quan hệ

ủy quyền để nhân danh người ủy quyền thực hiện thay công việc của họ Trong phápluật tố tụng dân sự đã đưa ra quy định cấm một số người không được làm đại điệntheo ủy quyền.45

Một là, nếu họ cũng là đương sự trong cùng một vụ việc với người được đại

diện mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ đối lập với quyền và lợi ích hợp pháp củangười được đại diện

Xét thấy, đương sự trong vụ án dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồmnguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.46 Tuy nhiên,BLTTDS không quy định rõ thế nào là quyền, lợi ích hợp pháp đối lập nhau trongchế định ủy quyền Theo Từ điển Tiếng Việt thì đối lập nghĩa là đứng ở phía tráingược lại, có quan hệ chống đối nhau.47 Hiểu trong một nghĩa bao quát chung ápdụng về trường hợp không được làm đại diện, phải xác định bản chất chính là đốilập về quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự với nhau (vì giải quyết vụ án thì mấu

44 Phạm Văn Lợi (2018), Đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự là pháp nhân, Trang thông tin

điện tử Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quả ng Ngãi.

dan-su-la -phap-nhan-1883/ (truy cậ p ngày 1/5/2021).

http://vksquangngai.gov.vn/index.php/vi/news/Trao-doi-phap-luat/Dai-dien-theo-uy-quyen-trong-to-tung-45 Điều 87 BLTTDS năm 2015.

46 Khoả n 1 Điều 68 BLTTDS năm 2015.

47 Chu Bích Thu (Chủ biên), Từ điển Tiếng việt phổ thông, NXB Phương Đông (2013), tr 301.

Ngày đăng: 08/03/2023, 11:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w