Đặc biệt, các cơ quan, ban ngành ở Việt Nam đã ban hành nhiều luật, bộ luật, nghị quyết, quyết định có liên quan đến hoạt động khủng bố như: Bộ luật Hình sự 1999sửa đổi, bổ sung năm 2009
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT HÌNH SỰ -* -
SV: LÊ THU THẢO
MSSV: 1055030247
CÁC TỘI PHẠM VỀ KHỦNG BỐ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, không trùng lắp với bất cứ một công trình nào khác.Các số liệu, thông tin được phân tích, tổng hợp, thống kê trong đề tài được thu thập từ các cơ quan chức năng có thẩm quyền, từ các nguồn tài liệu tham khảo đáng tin cậy và chính xác
Người cam đoan
LÊ THU THẢO
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN: Association of Southeast Asia Nations
TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao
TTLT: Thông tư liên tịch
Trang 4TTLT: Thôngtưliêntịch
VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 5MỤC LỤC
Trang DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TộiphạmkhủngbốtheoquyđịnhtrongBộluậtHìnhsựcủamộtsốnướctrênthếgiới 37
Chương 2 QUY ĐỊNH VỀ TỘI PHẠM KHỦNG BỐ TRONG
LUẬTHÌNH SỰ VIỆT NAM - THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ MỘT SỐ
Trang 62.1.3 Tộitàitrợkhủngbố (Điều 230b BộluậtHìnhsự) 55
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Khủng bố là một trong những loại hành vi đặc biệt nguy hiểm, xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của con người và ảnh hưởng đến an ninh, trật tự của các quốc gia và cả cộng đồng quốc tế Trong những năm qua, đặc biệt là sau vụ khủng bố ngày 11/9/2001 tại Mỹ, tình hình khủng bố quốc tế và khu vực diễn biến phức tạp, lan rộng ra khắp các châu lục Mục tiêu mà hoạt động khủng bố hướng tới chủ yếu là tấn công nhằm vào các chính trị gia, các quan chức chính quyền cấp cao, những nơi đông người… với những mưu đồ và mục đích khác nhau Đặc biệt, trong thời gian gần đây, các đối tượng khủng bố có xu hướng liên kết với nhau nhằm tiến hành những hoạt động khủng bố mới với nhiều phương thức tấn công đặc biệt nguy hiểm như khủng bố qua nguồn nước, nguồn thực phẩm, khủng bố sinh hóa…với những thủ đoạn hết sức tinh vi và xảo quyệt.“Theo thống kê chưa đầy đủ, từ đầu năm 2012 đến nay, trên thế giới đã xảy
ra 239 vụ khủng bố ở 20 nước, làm 1.502 người chết, 3.719 người bị thương và gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng khác”[96 - tr.51].Tất cả đãđe dọa nghiêm trọng đến hòa bình, ổn định và để lại những hậu quả nặng nề cho nhiều quốc gia
trên thế giới
Trước những diễn biến phức tạp của tình hình tội phạm khủng bố trên thế giới, Liên Hợp Quốc đã cho thành lập Cơ quan An ninh bảo vệ nhân viên ở 150
nước trên thế giới, đồng thời thông qua Công ước quốc tế về ngăn chặn hành
động khủng bố bằng hạt nhân, đặc biệt ngày 08/09/2006 Đại hội đồng Liên Hợp
Quốc đã thông qua chiến lược toàn cầu về chống khủng bố… Tất cả những việc làm trên đều thể hiện quyết tâm đấu tranh, ngăn chặn hoạt động khủng bố và tội phạm khủng bố của toàn thể nhân loại yêu chuộng hòa bình
Trang 8Ở Việt Nam, mặc dù chưa xảy ra vụ khủng bố nào do các tổ chức khủng bố quốc tế gây ra, tuy nhiên từ năm 2000 đến nay đã có 4 vụ khủng bố do đối tượng phản động lưu vong người Việt câu kết với các đối tượng phản động, đối tượng hình sự khác trong nước thực hiện được phát hiện, điều tra, xử lý Bên cạnh đó,
Cơ quan An ninh đã phát hiện nhiều đối tượng khủng bố quốc tế xâm nhập vào Việt Nam với các mục đích ngụy trang khác nhau, đồng thời cũng đã phát hiện một số đối tượng phản động trong nước có liên lạc, quan hệ với một số tổ chức khủng bố, Hồi giáo cực đoan trên thế giới và khu vực Đông Nam Á để thực hiện các hoạt động có dấu hiệu liên quan tới khủng bố Cơ quan An ninh cũng đã phát hiện hàng trăm đối tượng phản động lưu vong người Việt xâm nhập nội địa, mang theo hàng tấn thuốc nổ, vũ khí và phương tiện kỹ thuật nhằm sử dụng để thực hiện khủng bố, phá hoại Những hoạt động trên đã trực tiếp gây nguy hại cho An ninh quốc gia của Việt Nam, đe dọa đến sự ổn định và vững mạnh của chính quyền nhân dân và sự toàn vẹn của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Là một thành viên của Liên Hợp Quốc, có truyền thống tôn trọng và yêu chuộng hòa bình, với mong muốn góp phần vào việc ổn định an ninh quốc tế, đồng thời với việc nhận thức được tính chất đặc biệt nguy hiểm của tội phạm khủng bố, thời gian qua Việt Nam đã tham gia hầu hết cácĐiều ước quốc tế đa phương của Liên Hợp Quốc về chống khủng bố; ký kết nhiều hiệp định, thỏa thuận song phương về hợp tác phòng, chống khủng bố với hơn 10 hiệp định liên quan đến tương trợ tư pháp, dẫn độ; tích cực nghiên cứu khả năng gia nhập năm Điều ước quốc tế còn lại1 Đặc biệt, các cơ quan, ban ngành ở Việt Nam đã ban hành nhiều luật, bộ luật, nghị quyết, quyết định có liên quan đến hoạt động
khủng bố như: Bộ luật Hình sự 1999(sửa đổi, bổ sung năm 2009),Luật ANQG
năm 2004, Luật phòng chống khủng bố năm 2013, Nghị quyết số 08/NQ-TƯ của
Bộ Chính trị về Chiến lược ANQG… Tất cả đã thể hiện thái độ kiên quyết, nhất
quán của Việt Nam trong phát hiện, ngăn chặn và trừng trị loại tội phạm này
Công ước về đánh dấu vật liệu nổ dẻo để nhận biết, Công ước NewYork về trừng trị khủng bố bằng bom
và Công ước NewYork về ngăn chặn hành vi khủng bố hạt nhân
Trang 9Tuy nhiên, thực tiễn thời gian qua cho thấy, công tác phòng chống, đấu tranh và xử lý với loại tội phạm này tồn tại nhiều khó khăn, vướng mắc cần tháo
gỡ, giải quyết: quy định về tội phạm khủng bố nằm rải rác ở nhiều văn bản pháp luật, chưa có sự thống nhất trong các quy định; một số văn bản luật có liên quan đến tội phạm khủng bố vẫn chưa được quy định và hướng dẫn thực hiện một cách rõ ràng, cụ thể; vẫn còn tồn tại những điểm khác biệt trong quan điểm về khủng bố giữa Bộ luật Hình sự Việt Nam với thế giới… Vì vậy, việc nghiên các tội phạm khủng bố trong luật hình sự Việt Nam có ý nghĩa rất quan trọng cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn.Chính vì lẽ đó, tác giả lựa chọn và nghiên cứu đề tài
“Các tội phạm về khủng bố trong Luật Hình sự Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” để làm khóa luận tốt nghiệp, chuyên ngành Luật Hình sự
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Một số tác giả nước ngoài với công trình tiêu biểu:
- Anthony - H.Cordosman, “Chiến lược phòng thủ quốc gia chống vũ khí sinh học”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội (2002) Nội dung cuốn sách tập trung
phân tích việc sản xuất vũ khí sinh học và chiến lược phòng thủ quốc gia bằng vũ khí sinh học của Mỹ và một số nước, vũ khí này có thể rơi vào tay các tổ chức
khủng bố, đồng thời tác giả đưa ra quan điểm cá nhân đánh giá về vấn đề này
- Năm 2001, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội đã cho xuất bản cuốn sách
mang tên “Chủ nghĩa khủng bố và chính sách đối ngoại của Mỹ” của tác giả Paul
Pillar Với cuốn sách tác giả đã đưa ra một số quan điểm về chủ nghĩa khủng bố, phân tích đánh giá về chính sách đối ngoại hai mặt của Mỹ và việc chính quyền
Mỹ lợi dụng chống khủng bố để lôi kéo đồng minh thực hiện âm mưu bá chủ thế
giới
- Là một cuốn sách hay viết về một trong những vấn đề đang rất được quan
tâm hiện nay,đó chính là an toàn hàng không quốc tế, hai tác giả Stepan Shoan và
Douglas Nelms với tác phấm “Đánh giá chiến lược an toàn hàng không năm
2000 và xa hơn” được Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản vào năm 2002
Cuốn sách đã đề cập tới an ninh hàng không quốc tế, những sơ hở, thiếu sót trong
Trang 10việc kiếm soát an ninh, phòng ngừa hoạt động khủng bố, đồng thời đưa ra một số
nhận định về sự an toàn hàng không trong thời gian tới
- “Chống khủng bố toàn cầu nhưng nguy cơ khủng bố vẫn tăng” là tựa đề
bài báo của tác giả Dương Hồng Tỷ (Trung tâm nghiên cứu thế giới đương đại Trung Quốc, năm 2004).Nội dung bài báo này chủ yếu đề cập đến việc xây dựng
hệ thống hợp tác chống khủng bố, vai trò của LHQ trong chống khủng bố, một số bài học kinh nghiệm rút ra trong cuộc chiến chống khủng bố của cộng đồng quốc
tế
- Cũng là một bài báo viết về vấn đề có liên quan đến khủng bố, nhưng dưới
một góc độ nhìn nhận hoàn toàn mới mẻ, tác giả Tăng Cường (Chuyên viên nghiên cứu các vấn đề quốc tế thuộc Viện nghiên cứu quan hệ quốc tế hiện đại Trung Quốc) đã cho người đọc nhận diện được xung đột dân tộc và mối quan hệ với hoạt động buôn bán vũ khí có liên quan đến hoạt động khủng bố của các tổ chức khủng bố quốc tế ở khu vực Đông Nam Á thông qua bài viết với tựa đề
“Nhãn quan về nghiên cứu xung đột dân tộc” (Năm 2004)
- Với việc phê phán quan điểm, đường lối chính sách phòng, chống khủng
bố của chính quyền Mỹ, tác giả John Gershman (Trung tâm nguồn lực liên bán cầu - IRC, biên tập viên khu vực Châu Á - Thái Bình Dương của Tạp chí
“Foreign Policy in Focus”, năm 2004) đã thể hiện rất rõ ràng quan điểm của
mình thông qua tác phẩm“Cuộc chiến toàn cầu chống khủng bố và những thất
bại trong đường lối của chính quyền Mỹ”
- You Ji (Tạp chí Association for Asia Research - Mỹ, năm 2004) cũng đã có
bài viết “Chiến lược chống khủng bố của Trung Quốc” Nội dung bài báo đề cập
nguồn gốc nảy sinh khủng bố ở Trung Quốc và nỗ lực chống khủng bố ở Trung
Quốc
- Với bài báo tựa đề “Nhận thức của cộng đồng quốc tế về chủ nghĩa khủng bố”, hai tác giả Trương Gia Đồng và Thẩm Đình Lập (Tạp chí kinh tế và chính
trị Trung Quốc, năm 2003) đã tỏ rõ quan điểm khi phê phán một số nước và các
tổ chức quốc tế thiếu nhất quán trong nhận thức về chủ nghĩa khủng bố, phê phán
Trang 11Mỹ và phương Tây lợi dụng cuộc chiến chống khủng bố để thực hiện âm mưu bá
chủ thế giới
- Cũng là một trong những quốc gia đang diễn ra rất nhiều vấn đề phức tạp
liên quan đến tội phạm khủng bố, hơn ai hết Trung Quốc cũng đang có nhiều nỗ lực trong việc cùng với cộng đồng quốc tế nhằm chống lại loại tội phạm nguy
hiểm này Năm 2003, với bài viết “Vai trò của Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc
trong chống khủng bố quốc tế và giữ gìn hòa bình an ninh thế giới”, trợ lý Bộ
Trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc là Thẩm Quốc Phong đã đề cập tới những vấn đề Trung Quốc đang quan tâm như an ninh toàn cầu, vai trò và phương hướng của Hội đồng bảo an LHQ trong gìn giữ hòa bình thế giới Thực chất là thể hiện quan điểm của Trung Quốc về chống khủng bố, Trung Quốc phản đối
Mỹ và phương Tây lợi dụng chống khủng bố đẻ can thiệp vào Trung Quốc, hoặc
lấn át ảnh hưởng, tranh giành lợi ích của Trung Quốc ở khu vực Trung Đông
- Năm 1993, với công trình nghiên cứu mang tên “Đụng độ giữa các nền văn minh và sự sắp xếp lại trật tự thế giới”, nhà nghiên cứu, chuyên gia chính trị
- đối ngoại Hoa Kỳ là Samuel Hunting đã cho thấy quan điểm chủ quan của mình với việc nhận định: Sau Chiến tranh lạnh, thế giới chuyển sang một hệ thống với chủ thể là các nền văn minh khác nhau, khó có thể tránh khỏi việc đụng độ nhau Tác giả đã chia thế giới hiện nay thành hai nền văn minh là văn minh phương Tây và văn minh không phải là phương Tây Cuối cùng, tác giả đưa ra kết luận là nền dân chủ phương Tây sẽ phải đối mặt với chủ nghĩa cực đoan, trào lưu chính thống của các nền văn minh khác và phải chuẩn bị sẵn sàng trước thách thức mới của lịch sử Thực tế Samuel Hunting phủ nhận nguyên nhân về kinh tế và chính trị dẫn đến xung đột, giải thích xung đột và khủng bố là do đối đầu về văn minh -
tôn giáo… “Công trình khoa học mang tính “học thuyết” này phù hợp với quan
điểm chính trị đối ngoại của Chính quyền Mỹ, vì vậy đã được Tổng thống Mỹ G.Bush sử dụng để diễn thuyết về nguyên nhân dẫn đến khủng bố” [80 - tr.11] Mỹ
tiến hành cuộc chiến chống khủng bố là “khách quan”, “sứ mệnh” của Mỹ là tiêu
diệt khủng bố, việc Mỹ và phương Tây viện trợ dân chủ, nhân quyền cho các nước
Trang 12có khủng bố là nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa các nền văn minh, từ đó giải quyết
triệt để chủ nghĩa khủng bố
- Phân tích về hoạt động khủng bố và cuộc chiến chống khủng bố, chủ yếu
là đề cập tới đường lối chống khủng bố của Mỹ, Châu Âu và Nga, vấn đề chiến lược, chính sách của Mỹ với thế giới sau sự kiện 11 tháng 9 năm 2001 cũng như chỉ rõ nguyên nhân dẫn đến xung đột ở một số quốc gia trên thế giới, vạch trần
âm mưu lợi dụng chống khủng bố để thống trị thế giới của Mỹ và phương Tây,
đây là nội dung chính của cuốn sách mang tên “Thế giới sau 11 tháng
9”doEvgheny Primacov (Viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Liên bang Nga, nguyên
Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, nguyên Giám đốc Cơ quan tình báo đối ngoại Nga)
vàođược xuất bản vào năm 2002
Như vậy, ở nước ngoài, tuy đã có một số công trình nghiên cứu về một số khía cạnh về khủng bố hoặc cuộc chiến chống khủng bố, tuy nhiên theo ý kiến chủ quan của tác giả hầu hết những bài viết, bài báo hay công trình nghiên cứu trên vẫn chưa toàn diện, kết quả nghiên cứu chưa thực sự khách quan
Các công trình nghiên cứu ở trong nước:
Thời gian vừa qua, đã có một số nhà khoa học, một số tác giả Việt Nam nghiên cứu về hoạt động khủng bố hoặc chống khủng bố Cụ thể là:
Ở ngoài ngành Công an: Có một số tác giả là cán bộ,nhà khoa học của bộ, ngành, chủ yếu Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, báo chí…có một số bài viết nghiên cứu về khía cạnh luật pháp quốc tế, luật pháp của Việt Nam đề cập tới việc điều chỉnh tội phạm khủng bố; lập trường, quan điểm chính trị, đối ngoại của các nước như Mỹ, phương Tây, Nga, Trung Quốc về cuộc chiến chống khủng bố Phần lớn nội dung những bài viết này là phân tích, bình luận của tác giả hoặc tập hợp các bài bình luận của một số nhà nghiên cứu ở trong và ngoài nước về vấn
đề chính trị, xã hội, luật pháp, ngoại giao, về sự điều chỉnh chiến lược của Mỹ và
các nước sau “sự kiện 11/9/2001”; những toan tính lợi ích của các nước lớn
trong cuộc chiến chống khủng bố; những cố gắng chống khủng bố hoặc một số kinh nghiệm của các nước và khu vực trong cuộc chiến chống khủng bố…Trong
Trang 13đó có liên hệ tới Việt Nam và khẳng định Việt Nam phản đối hoạt động khủng bố của các tổ chức quốc tế dưới bất cứ hình thức nào, phản đối việc lợi dụng cuộc chiến chống khủng bố phục vụ âm mưu chính trị, can thiệp vào nội bộ của nước khác
Ở trong ngành Công an: Với vai trò là lực lượng nồng cốt của Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ bảo vệ ANQG, trực tiếp tổ chức hoạt động phòng, chống khủng bố “Những năm qua, mặc dù ở nước ta chưa xảy ra vụ việc khủng bố quốc tế, nhưng hoạt động khủng bố của các loại đối tượng, mà trước hết và chủ yếu là của các tổ chức phản động người Việt lưu vong đã nhằm vào một số mục tiêu của Việt Nam ở trong nước hoặc ở nước ngoài” [80 - tr.13,14] Trên thực tế, lực lượng Công an đã tổ chức lực lượng, sử dụng biện pháp, công tác nghiệp vụ
để đấu tranh ngăn chặn, vô hiệu hóa, không để cho đối tượng khủng bố gây ra hậu quả tác hại cho Việt Nam Vì thế, trong lực lượng Công an, thời gian qua đã
có một số công trình của một số tác giả là cán bộ lãnh đạo, nhà khoa học hoặc giáo viên trong lực lượng Công an nghiên cứu xoay quanh vấn đề hoạt động khủng bố hoặc chống khủng bố Một số công trình tiêu biểu như:
- Được xem là một trong những tài liệu chuyên ngành quan trọng phục vụ cho quá trình học tập, nghiên cứu của các học viên ở các trường CAND, cuốn
sách “Phòng, chống hoạt động khủng bố” do GS.TS Phạm Ngọc Hiền, PGS.TS
Bùi Trung Thành, TS Phạm Hồng Trường (Học viện ANND) phối hợp biên soạn năm 2008, với nội dung chủ yếu là đưa ra là các biện pháp và một số chiến thuật của lực lượng An ninh trong xử lý hoạt động khủng bố theo Điều 84 -BLHS Tuy nhiên, nội dung rất cô động, chưa đề cập tới những giải pháp chung và giải pháp
cụ thể áp dụng cho toàn ngành Công an trong phòng ngừa, phát hiện và đấu tranh
vô hiệu hóa, ngăn chặn hoạt động khủng bố của tất cả các loại đối tượng
- Năm 2002, đề tài khoa học cấp Bộ mang tên“Những giải pháp cơ bản
phòng, chống khủng bố ở nước ta trong tình hình hiện nay” của nhóm tác giả:
TS Bùi Trung Thành, các ThS Tạ Văn Roan, Trần Cao Phong, Khuất Duy Thanh (Học viện ANND) đã đề cập đến một số giải pháp cơ bản của lực lượng
Trang 14An ninh với loại đối tượng chủ yếu là người Việt phản động lưu vong Mặt khác,
ở vào thời điểm đề tài này nghiên cứu, trên phạm vi quốc gia nói chung và lực lượng Công an nói riêng chưa có sự phân công lực lượng chuyên trách về phòng, chống khủng bố Vì vậy, những giải pháp mà các tác giả đưa ra cũng chỉ mang tính định hình và những giải pháp này chỉ đề cập một số khía cạnh phòng, chống khủng bố của lực lượng An ninh, chưa đề cập tới hoạt động phòng, chống khủng
bố của cả lực lượng Công an (chưa có tính toàn ngành)
- Là một trong những chuyên gia đầu ngành chuyên nghiên cứu về các tội phạm khủng bố, trong nhiều năm qua ThS Tạ Văn Roan (Học viện ANND) đã
có rất nhiều các bài báo được đăng trên các tạp chí chuyên ngành của lực lượng
Công an như bài viết“Nâng cao cảnh giác chủ động phát hiện từ xa hoạt động
khủng bố chống Việt Nam của các thế lực thù địch”, Tạp chí Công an nhân dân
số 4/2004 hay “Một số vấn đề về công tác phòng ngừa hoạt động khủng bố ở Việt
Nam hiện nay” được đăng trên Tạp chí công an nhân dân số 11/2007,…
- Khi nghiên cứu việc hoàn thiện những quy định về các tội phạm khủng bố của luật trong nước thì một trong những vấn đề quan trọng là chúng ta cần có sự xem xét, tìm hiểu, đối chiếu với quy định của một số các quốc gia trên thế giới cũng như cộng đồng quốc tế để có được một cái nhìn khách quan và toàn diện nhất Hiểu rõ được vấn đề trên, tác giả Hoàng Mạnh Chiến (A24, Bộ Công
an)đãđề cập tới quan niệm của Mỹ về “chủ nghĩa khủng bố” và liên hệ pháp luật Việt Nam thông qua bài viết “Nhận dạng chủ nghĩa khủng bố”, Tư liệu khoa học
Công an, số tháng 3/2005
- Cũng với nội dung đề cập về các khái niệm, luật pháp điều chỉnh tội phạm khủng bố của một số nước và Việt Nam như trên, nhưng với một cái nhìn tổng
quát hơn PGS.TS Hoàng Kông Tư (Tổng cục I – Bộ Công an) đã có bài “Về khái
niệm khủng bố và tội phạm khủng bố”được đăng trên Bản tin Phòng, chống
khủng bố, số 5/2005
- “Tìm hiểu về chủ nghĩa khủng bố và tội phạm khủng bố”, đây là bài viết
đề cập tới việc tìm hiểu “Chủ nghĩa khủng bố” và liên hệ tội phạm khủng bố theo
Trang 15BLHS Việt Nam, năm 1999 đã quy định, được đăng trên Bản tin phòng chống khủng bố, số 3/2007 của TS.Trần Văn Trình (V12, Bộ Công an)
- ThS Trần Kim Tuyến (A42, Bộ Công an) cũng đã góp mặt trong Bản tin
phòng chống khủng bố, số 8+9/2007với bài viết “Công tác phòng, chống tội
phạm khủng bố của lực lượng An ninh trong tình hình mới” Qua nội dung bài
viết, tác giả đề cập tới công tác phòng, chống tội phạm khủng bố của lực lượng
An ninh trong tình hình mới, mặc dù có đề cập về phương diện đấu tranh, nhưng chủ yếu dưới dạng báo cáo công tác về một khía cạnh của một số biện pháp đấu tranh ở một đơn vị trinh sát an ninh cụ thể, với một số loại đối tượng cụ thể, chủ yếu là tổ chức phản động người Việt lưu vong
Tổng hợp tình hình nghiên cứu của các công trình có liên quan đến vấn đề khủng bố và chống khủng bố ở trong nước thời gian qua cho thấy, đối với các công trình khoa học của các tác giả ngoài ngành Công an, khi nghiên cứu xoay quanh vấn đề khủng bố hoặc chống khủng bố cho thấy nội dung của các công trình chỉ đề cập tới một khía cạnh ở một lĩnh vực chuyên môn, như luật pháp, chính sách đối ngoại…mà chưa đi vào nghiên cứu toàn diện những vấn đề liên quan đến khủng bố và phòng chống khủng bố theo quan điểm của Việt Nam Đối với các công trình khoa học của các tác giả trong ngành Công an, “mặc
dù có đề cập tới một số nội dung về chống khủng bố, nhưng đó chỉ là một số biện pháp hoặc giải pháp cơ bản của lực lượng An ninh, hoặc kế hoạch xử lý một số tình huống khủng bố khi xảy ra ở một mục tiêu cụ thể của một đơn vị An ninh hoặc Cảnh sát, với vai trò là lực lượng tham gia phòng, chống khủng bố” [80 - tr.17] Vì vậy xét trên phương diện lý luận và thực tiễn, vẫn còn rất nhiều vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu như: quan niệm trên thế giới và của Việt Nam về khủng bố, chủ nghĩa khủng bố, lý giải sự khác nhau trong quan niệm này; những vấn đề có tính lý luận trong quan niệm của Việt Nam về khủng bố; thực trạng về hoạt động khủng bố ở Việt Nam hiện nay; quan điểm tư tưởng chỉ đạo của Đảng
và Nhà nước về đấu tranh bảo vệ ANQG và phòng, chống khủng bố; việc tổ chức lực lượng, biện pháp trong phòng, chống khủng bố của lực lượng Công an như thế
Trang 16nào để đảm bảo hiệu quả; đặc biệt là những giải pháp chung và giải pháp cụ thể về kinh tế, chính trị, pháp luật, nghiệp vụ, ngoại giao…trong phòng, chống khủng bố của lực lượng Công an được áp dụng trên phạm vi toàn lãnh thổ Mặt khác, thực tiễn tổ chức hoạt động phòng, chống khủng bố của lực lượng Công an đang rất cần được nghiên cứu tổng kết để rút ra những bài học kinh nghiệm, giải quyết những vướng mắc nảy sinh trong thực tiễn phòng, chống khủng bố, đề ra những giải pháp mới trong tình hình hiện nay Vì vậy, cần phải nghiên cứu một cách tổng thể, chi tiết cả về lý luận, thực tiễn hoạt động khủng bố và phòng, chống khủng bố, giải pháp của lực lượng Công an (toàn ngành) trong phòng, chống khủng bố ở Việt Nam hiện nay
Trong phạm vi nguồn tài liệu ở Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, qua tra cứu tác giả thấy có 2 công trình nghiên cứu về Tội phạm khủng bố trong Luật Hình sự Việt Nam, đó là:
- Lê Quang Đạo, Tội khủng bố trong Luật Hình sự Việt Nam, Luận văn
- Ngô Hữu Phước,Đấu tranh phòng chống khủng bố quốc tế - Lý luận và
thực tiễn, Luận văn Thạc sỹ TP.Hồ Chí Minh, 2004)
- Nguyễn Thị Phương Hoa, Các tội phạm có tính chất quốc tế, Luận văn
Thạc sỹ Luật học TP Hồ Chí Minh, 2000
- Nguyễn Phong Phú, Khủng bố quốc tế - Những vấn đề lý luận và thực
tiễn,Khóa luận tốt nghiệp TP.Hồ Chí Minh, 2002
Như vậy, từ trước đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về các tội phạm khủng bố trong Luật Hình sự Việt Nam, cả trên phương diện
lý luận lẫn thực tiễn.Tuy nhiên, những tài liệu nêu trên đều là những nguồn tham
Trang 17khảo vô cùng quý báu và bổ ích, góp phần quan trọng giúp tác giả hoàn thành tốt khóa luận này
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Các tội phạm về khủng bố trong luật Hình
sự Việt Nam
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục đích của khóa luận tốt nghiệp là nghiên cứu một cách toàn diện và có
hệ thống về các quy định pháp lý liên quan đến các tội phạm khủng bố dưới góc
độ lý luận, đồng thời chỉ ra những bất cập, hạn chế khi cụ thể hóa những quy định này trên thực tế thông qua việc giải quyết các vụ việc, từ đó đề xuất một số giải pháp, kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm khủng bố
Với mục đích trên, tác giả xác định cần thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể sau:
- Tìm hiểu tội phạm khủng bố trong lịch sử lập pháp Hình sự Việt Nam để nhìn thấy được sự thay đổi rõ nét trong việc quy định về loại tội phạm này qua các giai đoạn khác nhau
- Đối chiếu, so sánh các quy định về tội phạm khủng bố trong pháp luật Việt Nam, đặc biệt là các quy định trong BLHS 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) với pháp luật nước ngoài để có được một cái nhìn khái quát và toàn diện nhất về loại tội phạm này cùng những vấn đề khác có liên quan, từ đó tiếp thu một cách có chọn lọc những điểm mới tiến bộ trong pháp luật quốc tế về tội phạm khủng bố, từ đó tạo cơ sở cho việc đưa ra những giải pháp, kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện BLHS Việt Nam trong tương lai theo xu hướng hiện đại hóa và hợp tác quốc tế
- Phân tích để làm rõ những vấn đề lý luận chung về các tội phạm khủng
bố, bao gồm: phân tích cấu thành tội phạm của các tội khủng bố, phân biệt các tội phạm khủng bố với một số tội phạm dễ gây nhầm lẫn khác trong BLHS
Trang 18- Nghiên cứu và đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định về tội phạm khủng
bố, chỉ ra được ưu, nhược điểm và nguyên nhân từ kết quả của tình hình xử lý các vụ việc
- Đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm năng cao hơn nữa hiệu quả của việc áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam trên thực tế trong việc xét xử các tội phạm này cũng như nâng cao hơn nữa công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm khủng bố
5 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Tác giả không đi sâu tìm hiểu về các nguyên nhân làm phát
sinh tội phạm khủng bố cũng như những đặc điểm của loại tội phạm này, mà ở
đây đề tài chủ yếu xem xét “khủng bố” dưới góc độ pháp lý - một tội phạm nguy
hiểm cần phải bị loại trừ ra khỏi đời sống nhân loại, đặc biệt là nghiên cứu các tội phạm khủng bố được quy định trong BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)
Về văn bản pháp luật nghiên cứu: Tác giả tìm hiểu các quy định trong
BLHS của một số nước trên thế giới cũng như quy định trong các công ước quốc
tế liên quan đến tội phạm khủng bố, đặc biệt tác giả tập trung nghiên cứu sâu các tội phạm khủng bố được quy định trong BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) cùng các văn bản hướng dẫn thi hành có liên quan
Nguồn tài liệu tham khảo: Tác giả nghiên cứu các tài tài liệu mang tính học
thuật và có độ tin cậy cao, bao gồm: BLHS, BLTTHS, các quyển Giáo trình, Bình luận BLHS, một số khóa luận tốt nghiệp, Luận án Thạc sỹ có đề tài nghiên cứu liên quan đến tội phạm khủng bố và tác giả cũng cố gắng sưu tầm và tìm hiểu thêm những tài liệu do các chuyên gia trong lực lượng Công an nhân dân biên soạn như TS Tạ Văn Roan, GS TS Nguyễn Ngọc Anh hay TS, Thượng tá Bùi Trung Thành,… Ngoài ra, nội dung của khóa luận cũng được tham khảo từ nhiều nguồn tài liệu khác như: Tạp chí Khoa học và pháp lý, Tạp chí Công an nhân dân, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Tạp chí Khoa học và Chiến lược, Tạp chí Khoa học và Giáo dục An ninh, Tạp chí Kiểm sát,… và nhiều bài viết có liên quan trên các trang Webside chính thống cũng được sử dụng và cập nhật như:
Trang 19Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp, Báo Pháp luật Việt Nam điện tử hay Trang Thông tin Điện tử của lực lượng cảnh sát phòng, chống tội phạm,… Đây chính là những nguồn tài liệu hết sức quan trọng và quý báu đã giúp cho tác giả rất nhiều trong việc tìm hiểu và nghiên cứu về các tội phạm khủng bố cùng nhiều vấn đề
có liên quan nhằm hoàn thiện tốt Khóa luận tốt nghiệp này
6 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin về nhà nước và pháp luật về tội phạm và quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về đấu tranh phòng, chống tội phạm Ngoài ra, tác giả còn sử dụng thêm một số phương pháp khác như: phương pháp lịch sử, tổng hợp, so sánh, phân tích nhằm để làm rõ thêm vấn đề cần nghiên cứu
- Phương pháp tổng hợp: Tác giả sử dụng phương pháp này nhằm tổng hợp
kiến thức, thông tin từ nhiều nguồn tài liệu tham khảo khác nhau và đây đều là những nguồn tài liệu có độ tin cậy cao như: BLHS các nước, giáo trình của các trường đào tạo Luật, các bài báo khoa học pháp lý có liên quan,…
- Phương pháp lịch sử: Đã giúp cho tác giả tìm hiểu rõ hơn về bản chất,
cũng như quy luật hình thành và phát triển các quy định của BLHS về tội phạm khủng bố qua các giai đoạn trong quá khứ và hiện tại, từ đó là cơ sở căn bản cho việc định hướng hoàn thiện pháp luật trong tương lai
- Phương pháp so sánh: Tác giả sử dụng phương pháp này nhằm so sánh
các quy định về tội phạm khủng bố theo quy định của pháp luật Việt Nam, đặc biệt là quy định trong BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) với BLHS của một số nước trên thế giới cũng như quy định trong các Công ước quốc tế liên quan đến tội phạm này, nhằm tiếp thu có chọn lọc những ưu điểm trong các quy định này để giúp cho việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam, đồng thời phương pháp này cũng giúp tác giả so sánh quy định về tội phạm khủng bố qua các giai đoạn lịch sử, cũng như so sánh số liệu liên quan đến tội phạm này qua các năm
- Phương pháp phân tích: phương pháp này được sử dụng nhằm phân tích
các định nghĩa về khủng bố được quy định trong pháp luật quốc tế cũng như
Trang 20pháp luật Việt Nam, đặc biệt phương pháp này còn giúp tác giả phân tích cấu thành tội phạm của các tội khủng bố được quy định trong BLHS 1999 (sửa đổi,
bổ sung năm 2009) nhằm giúp tác giả có được cái nhìn cụ thể nhất về các quy định về tội phạm này trong pháp luật Việt Nam hiện hành
Nội dung của khóa luận tốt nghiệp được trình bày trên cơ sở nghiên cứu một số văn bản pháp luật quốc tế, các văn bản pháp luật của nước ta và một số tài liệu pháp lý khác
7 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng
Đây là công trình khoa học nghiên cứu có hệ thống và chuyên sâu về tội phạm khủng bố được quy định trong pháp luật Việt Nam, đặc biệt là trong BLHS
1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) Tội phạm khủng bố trong khóa luận tốt nghiệp dưới góc độ pháp lý hình sự được tác giả nghiên cứu dưới cả hai góc độ
lý luận và thực tiễn đã giúp cho người đọc có được một cái nhìn toàn diện nhất
về tội phạm này
Những kết quả nghiên cứu của tác giả được dùng là nguồn tài liệu tham khảo cho hoạt động học tập, nghiên cứu Luật học của sinh viên, giáo viên ở các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp; đặc biệt trong giai đoạn cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay, khóa luận còn có thể là tài liệu tham khảo cho các hoạt động lập pháp
8 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, danh mục các từ viết tắt, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, khóa luận được xây dựng thành 2 chương:
Chương 1: Lý luận chung về khủng bố
Chương 2: Quy định về tội phạm khủng bố trong Luật Hình sự Việt Nam - Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật
Trang 21Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHỦNG BỐ 1.1 Khái niệm khủng bố
1.1.1 Một số quan niệm trên thế giới về khủng bố
Trong lịch sử xã hội, hoạt động khủng bố đã có từ lâu, nhưng thế kỷ XVIII nhìn chung vẫn chỉ giới hạn trong phạm vi quốc gia Thế kỷ XIX, hoạt động khủng bố bắt đầu vượt ra khỏi biên giới quốc gia Từ những năm 1940 đến năm
1960, khủng bố bắt đầu diễn ra ở quy mô lớn, từ năm 1990 đến nay đã phá hoại nghiêm trọng hòa bình, ổn định và sự phát triển trên thế giới Mặc dù hoạt động khủng bố đã diễn ra trong một thời gian dài, nhưng đến nay vẫn chưa có một
định nghĩa thống nhất trên phạm vi toàn cầu về “khủng bố” cũng như “chủ nghĩa
khủng bố”
Cuối thế kỷ XVII, ở Châu Âu xuất hiện thuật ngữ “khủng bố” (terror) chỉ
hành vi đe dọa, làm cho người khác sợ hãi để đạt được ý đồ và người có hành vi gây ra sự khiếp sợ, kinh hoàng cho người khác được gọi là kẻ khủng bố (terorist)
“Việc sử dụng thuật ngữ “khủng bố”, “kẻ khủng bố” này được ghi nhận lần đầu
tiên vào năm 1795, liên quan đến chính quyền Terreur (chính quyền cách mạng tại Pháp trong giai đoạn cách mạng Pháp diễn ra từ tháng 9/1793 đến tháng 7/1794)” [80 - tr.19,20] Để tấn công thù trong giặc ngoài, chính quyền Pháp do
Ủy ban an ninh công cộng lãnh đạo đã thiết lập một chế độ độc tài (rất nhiều người đã bị Tòa án cách mạng kết án tử hình) và tiến hành các biện pháp kinh tế
hà khắc “Tuy nhiên, việc sử dụng thuật ngữ “kẻ khủng bố” theo nghĩa là kẻ
chống chính quyền chỉ được sử dụng từ năm 1878 - 1881 bắt đầu từ nước Nga Sa hoàng rồi lan ra Châu Âu và Mỹ Khái niệm này được người ta dùng để chỉ những kẻ chống chính quyền với triết lý và lý tưởng vô chính phủ, phủ nhận nhà nước, các đạo luật do nhà nước ban hành và tài sản của công dân” [36- tr.3,4]
Như vậy, thuật ngữ “khủng bố” ban đầu được nhân loại nói chung sử dụng
để chỉ hành vi đàn áp của chính quyền, của chế độ thực dân hay xâm lược Sau
Trang 22này, người ta sử dụng nó để chỉ cả các hành vi của các nhóm đối lập chống chính quyền
Trên thực tế, hầu hết các nhà nghiên cứu đều tin rằng không bao giờ người
ta đạt được một định nghĩa khách quan và toàn diện nhất để từ đó được quốc tế chấp nhận về khủng bố Vụ khủng bố ngày 11/9/2001 chỉ như khơi lại một vấn
đề tưởng chừng đã bị chìm đi trong cơn lốc toàn cầu hóa kinh tế Khi vụ khủng
bố này xảy ra, người Mỹ và nhân loại đã bừng tỉnh khi nhận ra cùng với toàn cầu hóa về kinh tế, bạo lực (trong đó có khủng bố) cũng được toàn cầu hóa, ngày càng có những diễn biến phức tạp và khó lường
Trên phạm vi toàn thế giới hiện có tới 13 điều ước phổ cập và 7 điều ước khu vực trực tiếp liên quan đến khủng bố nhưng không có văn kiện nào đưa ra được một định nghĩa thống nhất về khủng bố, đây vẫn là một vấn đề lý luận đã và đang đặt ra nhiều yêu cầu cấp bách cần nghiên cứu giải quyết đối với tất cả quốc gia và dân tộc do đó việc cộng đồng quốc tế chưa thể đi đến một ĐƯQT toàn diện về chống khủng bố một mặt phản ánh sự khó khăn của việc định nghĩa nhưng mặt khác quan trọng hơn nó phản ánh nhu cầu cần phải có một định nghĩa thống nhất để công tác phòng, chống khủng bố có thể đạt hiệu quả cao hơn
Có thể nói rằng khủng bố là một vấn đề xã hội đã xuất hiện từ rất lâu và được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Mặc dù vậy, hiện nay vẫn chưa có một văn bản nào đưa ra một định nghĩa thống nhất về khủng bố Vấn đề này xuất phát từ những quan điểm khác nhau giữa các quốc gia, dân tộc trên thế giới từ khi có hoạt động khủng bố đến nay Hiện nay, trên thế giới có khoảng hơn 100 khái niệm về hoạt động khủng bố Vấn đề này đã gây bất đồng giữa các quốc gia với nhau và cũng gây không ít khó khăn trong hợp tác, phòng chống khủng bố và việc tổ chức triển khai các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh với các tổ chức khủng bố cũng như các hoạt động của chúng Hiện có không ít quốc gia đã đưa ra quan niệm về khủng bố và hoạt động khủng bố, tiêu biểu là:
- Theo quan niệm của Mỹ, với lập luận “không có khái niệm khủng bố nào
nhận được sự thừa nhận rộng rãi”, Bộ Ngoại giao Mỹ đã lấy khái niệm trong
Trang 23Mục 22 Bộ luật Liên Bang đoạn 2656f(d) về khủng bố như sau: “là hành vi bạo lực có chủ ý và mục đích chính trị nhằm vào các mục tiêu không tham chiến do một nhóm vô chính phủ - tiểu quốc gia hoặc các tổ chức bí mật tiến hành và luôn nhằm mục đích gây ảnh hưởng tới những người chứng kiến”, “khủng bố quốc tế
là khủng bố nhằm vào công dân hoặc lãnh thổ từ hai quốc gia trở lên”, nhóm
khủng bố được coi là “nhóm thực hiện hoặc có những nhóm nhỏ quan trọng thực
hiện hành động khủng bố”[36 - tr.6]
- Theo quan niệm của Anh, “Khủng bố là việc sử dụng hay đe dọa sử dụng:
(a) bạo lực nhằm vào con người hay gây thiệt hại nghiêm trọng đối với tài sản hay gây nguy hiểm đối với tính mạng của người khác ngoài người thực hiện hành động
đó hay gây nguy hại hay an toàn của công chúng ; (b) sử dụng hoặc đe dọa sử dụng nhằm gây ảnh hưởng với một chính quyền hay để hăm dọa công chúng hoặc một bộ phận công chúng ; và (c) sử dụng hoặc đe dọa sử dụng nhằm mục đích thúc đẩy mục tiêu tư tưởng hay tôn giáo hay chính trị” - Luật chống khủng bố, năm 2000 [36 - tr.5]
- Khái niệm của LHQ: Xét về mặt pháp lý, LHQ là cơ quan có khả năng đưa ra được một khái niệm khách quan về khủng bố hơn bất kỳ chủ thể nào khác Nhưng Tổng thư ký LHQ cũng đã phải thừa nhận việc đưa ra một khái niệm về khủng bố là một trong những vấn đề khó khăn nhất đối với tổ chức quốc tế này nhưng đó là một khó khăn bắt buộc phải vượt qua Trên thực tế, trong suốt hơn
30 năm qua, LHQ đã có nhiều nỗ lực để có được một khái niệm chung về khủng
bố, nhưng cũng chưa mang lại kết quả khả quan nào do sự bất đồng chính trị giữa các quốc gia về việc phân biệt giữa khủng bố và các phong trào giải phóng dân tộc Gần đây nhất, trong báo cáo của Nhóm hoạch định chính sách của LHQ về
khủng bố, đã đưa ra một khái niệm khá chung về khủng bố: “khủng bố là thực
hiện hoặc có ý đồ thực hiện hành vi xâm phạm các nguyên tắc pháp luật, trật tự, quyền con người và nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế vốn là nền tảng tạo lập nên thế giới”[35 - tr.21] Khái niệm này xuất phát từ góc độ coi
khủng bố là mối hiểm họa đe dọa tấn công vào các nguyên tắc nền tảng và sứ
Trang 24mệnh chính của LHQ.Tuy nhiên, chính những người đưa ra khái niệm này cũng
công nhận là họ “không cố gắng đi đến một khái niệm toàn diện về khủng bố”
[36 - tr.6]
Qua một số quan niệm trên của cộng đồng quốc tế về tội phạm khủng bố ta
có thấy rõ một điều là mặc dù hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có chung nhận thức về tính chất nguy hiểm cũng như sự cần thiết hợp tác đấu tranh ngăn ngừa và trừng trị các hành vi khủng bố quốc tế, nhưng một vấn đề tồn tại lớn hiện nay là vẫn chưa ra được một khái niệm chung như thế nào là tội phạm khủng bố Điều này xuất phát từ chính sự khác biệt về chế độ chính trị, các quan niệm pháp lý, đặc điểm lịch sử, vị trí và sự ảnh hưởng của mỗi quốc gia trên thế giới và trong khu vực…và còn xuất phát từ chính tính chất nhạy cảm của vấn đề khủng bố liên quan đến các lợi ích quốc gia và dân tộc của mỗi nước khi đặt ra vấn đề khủng bố và chống khủng bố “Không ngoại trừ trong nhiều trường hợp,
“chống khủng bố” đã trở thành một chiêu bài chính trị, bị một số thế lực trên thế
giới lợi dụng, bóp méo xuyên tạc để đạt được các tham vọng chính trị cũng như những quyền lợi kinh tế, và trong trường hợp đó, chống khủng bố sẽ trở thành cái
cớ để tiến hành chiến tranh xâm lược hoặc can thiệp trái phép vào công việc nội
bộ của các quốc gia khác hoặc của khu vực; điều đó cũng thể hiện rõ trong Công ước ASEAN dẫn chiếu đến các ĐƯQT phổ cập để quy định về hành vi khủng bố”[40 -tr.10]
Qua việc nghiên cứu quan điểm về tội phạm khủng bố của một số quốc gia trên thế giới nói riêng cũng như của cộng đồng quốc tế nói chung, theo tác giả đối với Việt Nam để có một cái nhìn toàn diện nhất về loại tội phạm này để từ đó
đưa ra được một khái niệm cụ thể nhất về định nghĩa như thế nào là “khủng bố”
cần phải dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, coi khủng bố là một hiện tượng chính trị, xã hội phức tạp và đặt nó trong một điều kiện, hoàn cảnh, thời điểm lịch sử hiện tại, phải dựa trên lợi ích quốc gia, dân tộc, trên cơ sở xem xét đến lợi ích chung của toàn thể nhân loại Đồng thời việc đưa ra định nghĩa cần có sự tính toán đến phạm vi điều chỉnh cho tất cả các hành vi khủng bố của tất
Trang 25cả các đối tượng đã, đang và sẽ diễn ra ở Việt Nam và trên thế giới, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức hoạt động phòng, chống khủng bố của Việt Nam phù hợp với bối cảnh tình hình hiện nay Theo đó, riêng đối với ý kiến của bản
thân, tác giả đồng tình nhất với định nghĩa “khủng bố” được quy định trong BLHS
của Liên bang Nga Bởi lẽ với định nghĩa này, Tội khủng bố mặc dù được quy định thành một tội danh độc lập nhưng vẫn có mối liên hệ với các tội danh khác có liên quan Theo đó, khủng bố là hành vi không những xâm phạm đến tự do, thân thể, xâm phạm tự do dân chủ của con người mà ngoài ra nó còn xâm phạm đến các
quan hệ về tài sản; ngoài ra “khủngbố” trong BLHS Liên bang Nga không đòi hỏi mục đích chống chính quyền nhân dân, mà với bất kỳ mục đích nào mà thỏa mãn
đầy đủ các cấu thành tội phạm được quy định trong điều luật thì đều cấu thành tội
phạm “khủng bố” - đây là những quy định khá phù hợp với quan điểm của cộng
đồng quốc tế nói chung hiện nay
Qua việc nghiên cứu một số quan niệm trên thế giới về khủng bố, ta có thể thấy rõ rằng các quan niệm trên là hoàn toàn không giống nhau, điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, song xét đến cùng thì một hành vi nếu muốn được
xem là “khủng bố” thì phải có những đặc điểm nhất định Cụ thể như sau:
Một là, khủng bố là sự thống nhất biện chứng giữa tư tưởng bạo lực cực đoan với hoạt động diễn ra trên thực tế [80- tr.34]
Chúng ta đều biết rằng khủng bố hay chủ nghĩa khủng bố nảy sinh từ tư tưởng bạo lực cực đoan, thường là tư tưởng bạo lực cực đoan về chính trị, dân tộc hay tôn giáo, vvv… Tư tưởng này chi phối các hành động diễn ra trên thực tế Nếu một người nào đó có tư tưởng bạo lực cực đoan nhưng không bộc lộ ra bên ngoài bằng hoạt động bạo lực, chưa đe dọa sử dụng bạo lực hoặc chưa tiến hành bất cứ một hoạt động phá hoại nào khác, chưa gây ra sự khiếp sợ hay hoảng loạn trong xã hội thì cho dù tư tưởng đó cực đoan đến mức độ nào đi chăng nữa cũng không thể kết luận và truy cứu trách nhiệm hình sự với người đó về tội khủng bố (mặc dù có thể truy tố họ về các tội phạm thông thường khác) Nhưng nếu bộc lộ
tư tưởng bạo lực cực đoan ra bên ngoài, mang tư tưởng đó áp đặt hoặc áp dụng
Trang 26vào thực tiễn bằng các hành vi như tổ chức, chỉ đạo, tài trợ, tham gia hoặc trực tiếp thực hiện hoạt động bạo lực, đe dọa sử dụng bạo lực hoặc có các hoạt phá hoại khác… thì có nghĩa là vi phạm quy tắc của xã hội Vì vậy bị coi là khủng bố hoặc chủ nghĩa khủng bố Nếu xác định được vấn đề này thì sẽ không bị nhầm lẫn, có thể loại trừ việc lợi dụng khủng bố, chủ nghĩa khủng bố để quy kết các quốc gia, tổ chức, con người là khủng bố, chủ nghĩa khủng bố nhằm thực hiện
âm mưu chính trị của các thế lực muốn can thiệp vào quốc gia khác
Hai là, phương thức bạo lực của hoạt động khủng bố là bất hợp pháp, phi nghĩa, đi ngược lại với những quy tắc đã được xã hội loài người công nhận [85-
tr.11]
Nếu như một phương thức hoạt động bạo lực nào đó phù hợp với Hiến pháp của một quốc gia, Hiến chương của LHQ đã quy định thì không bị coi là bạo lự bất hợp pháp, phi nghĩa… Chẳng hạn, luật pháp cho phép công dân được sử dụng bạo lực để ngăn chặn hành vi phạm tội, sử dụng bạo lực tập thể để chống lại sự xâm lược… đây là hoạt động bạo lực hợp pháp, không thể là bạo lực của khủng
bố Nhưng nếu phương thức hoạt động bạo lực đó vi phạm luật pháp, chẳng hạn
có hoạt động bạo lực tấn công không phân biệt vào mục tiêu dân sự, đi ngược lại nguyên tắc quy định về quyền sinh tồn, chủ nghĩa nhân đạo như giết hại dân thường, giết người vô tội sẽ bị coi là bạo lực bất hợp hợp pháp và phi nghĩa Như vậy, nếu vi phạm những quy tắc đã được cả xã hội công nhận thì phương thức hoạt động bạo lực vừa bị coi là bất hợp pháp, vừa bị coi là phi nghĩa, sẽ thuộc
Trang 27nay sẽ là không phù hợp Do đó ngoài bạo lực, đe dọa sử dụng bạo lực nhằm vào con người, khủng bố còn bao gồm cả hoạt động mang tính phá hoại khác, chẳng hạn như phá hoại cơ sở vật chất kỹ thuật làm cho mọi người nhận thức được sự nghiêm trọng đang diễn ra dẫn đến sự lo sợ, hoảng loạn buộc phải hành động theo ý đồ của đối tượng Mặt khác, mục đích thực sự của hoạt động khủng bố không chỉ là sát thương và phá hoại mà nó nhằm vươn tới cái đích là ép buộc nhà nước, chính phủ, cán bộ công chức, công dân phải hành động theo phương thức của phần tử khủng bố yêu cầu Do đó nếu chỉ xem xét về thủ đoạn thì không thể xác định được sự khác nhau giữa hoạt động khủng bố với các loại tội phạm thông thường khác, không phân biệt được bạo lực khủng bố với bạo lực khác
Bốn là, khủng bố có thể vì mục đích chính trị của bản thân, nhóm người, một tổ chức nhất định hoặc mục đích khác nhưng không vì lợi ích của cá nhân
[88- tr.82]
Nhìn chung, mục đích chính trị là tiêu chí chủ yếu để phân biệt hoạt động khủng bố với các loại tội phạm khác Nhưng cùng với sự phát triển của xã hội, đã xuất hiện hoạt động khủng bố có khuynh hướng chính trị không rõ ràng, chẳng hạn như khủng bố vì mục đích liên quan đến vấn đề môi trường sống, vì động cơ kinh tế, cuồng tín tôn giáo hoặc lo sợ văn hóa dân tộc hay tâm linh tôn giáo bị xâm hại… Nhưng nếu vì mục đích khác ngoài mục đích chính trị thì các hoạt động này phải có đặc trưng là không vì lợi ích riêng của một cá nhân, do đó nên quy vào phạm trù khủng bố và chủ nghĩa khủng bố.“Nếu vì lợi ích riêng thì có thể bị coi là khủng bố cá nhân chứ không phải chủ nghĩa khủng bố” [80 - tr.37]
1.1.2 Quan điểm của Việt Nam về khủng bố
Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Việt Nam cho rằng khủng
bố là một hiện tượng chính trị - xã hội hết sức phức tạp Với mục đích chung là ngăn chặn và phòng ngừa hoạt động khủng bố nhưng do cách tiếp cận, mục tiêu nghiên cứu cũng như phương pháp nghiên cứu… khác nhau nên ở Việt Nam cũng tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về khủng bố Khi nghiên cứu về vấn đề này, quan niệm của Việt Nam được thể hiện như sau:
Trang 28Theo Từ điển Bách khoa Công an nhân dân (năm 2005), Việt Nam cho rằng: “Khủng bố là hành động bạo lực cá nhân của một tổ chức, một nhà nước
hoặc liên minh nhà nước để đe dọa, cưỡng bức đối phương, khiến họ khiếp sợ mà phải chịu khuất phục Các hình thức khủng bố thường là bắt cóc, ám sát, đánh bom… Khủng bố được giới cầm quyền một số nước đế quốc và thế lực phản động quốc tế coi như là một quốc sách hoặc một chiến lược chống các quốc gia tiến bộ
và phong trào đòi độc lâp dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Khủng bố bị nhân dân thế giới lên án và là một tội ác có tính chất quốc tế Chống khủng bố đã trở thành mục tiêu chung của các quốc gia tiến bộ” [36 - tr.7]
Theo Từ điển Anh - Việt của Viện Ngôn ngữ học thuộc Trung tâm Khoa học
xã hội và nhân văn quốc gia Việt Nam năm 1993, quy định: “Khủng bố là sự sử
dụng bạo lực và đe dọa bạo lực, nhất là cho những ý đồ chính trị” [62 - tr.32]
Nếu theo như theo quan niệm trên thì khái niệm khủng bố được quy định khá đơn giản, chưa nêu ra được những dấu hiệu pháp lý cụ thể của tội phạm này, vì vậy sẽ rất khó khăn cho chúng ta trong công tác phòng, chống khủng bố
Trên khía cạnh pháp lý về mặt hình sự, BLHS đầu tiên của nước CHXHCN
Việt Nam được ban hành năm 1985 đã quy định tội khủng bố tại Điều 78 nằm
trong chương Những tội xâm phạm ANQG Quy định của tội danh này vẫn được
giữ nguyên trong BLHS 1999 tại Điều 84 Theo điều luật này thì tội khủng bố chỉ bao hàm những hành vi xâm hại đến những người cụ thể (xâm hại tính mạng, sức khỏe, danh dự) với mục đích chống chính quyền nhân dân hoặc nhằm gây khó khăn cho quan hệ quốc tế của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, theo quy định của BLHS 1999 các hành vi chỉ cấu thành tội phạm khủng bố nếu được thực hiện nhằm mục đích chống chính quyền nhân dân hoặc nhằm gây khó khăn cho quan
hệ quốc tế của nước CHXHCN Việt Nam Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội khủng bố nói riêng, BLHS năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung vào ngày 19/6/2009 tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XII, theo đó, BLHS hiện hành quy định ba tội danh về tội phạm
Trang 29khủng bố, đó là Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân (điều 84), Tội khủng bố (Điều 230a) và Tội tài trợ cho khủng bố (Điều 230b)
Bên cạnh việc quy định các tội phạm về khủng bố, BLHS Việt Nam còn có
các điều luật quy định về các tội phạm khác có liên quan như Các hành vi phạm
tội trong lĩnh vực an toàn và an ninh hàng không dân dụng (có 03 Điều luật được
BLHS quy định về vấn đề này); Các hành vi phạm tội trong lĩnh vực an toàn và
an ninh hàng hải (BLHS có 04 điều luật quy định về các tội phạm có liên quan
đến lĩnh vực này); Các hành vi phạm tội trong lĩnh vực quản lý vũ khí, vật liệu nổ (BLHS có 09 Điều luật quy định có liên quan); Các hành vi khác được sử dụng
cho mục đích khủng bố (có 06 tội được quy định trong BLHS) Nếu theo các
Công ước quốc tế, việc thực hiện các tội phạm trên được coi như là biểu hiện của khủng bố quốc tế thì theo pháp luật Việt Nam các hành vi trên lại được quy định thành những tội danh độc lập trong BLHS, tuy nhiên trên thực tế, Cơ quan ANĐT có thể vận dụng các điều luật có liên quan này để tiến hành hợp tác quốc
tế trong điều tra vụ án khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân cho phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế, không để phía nước ngoài lấy lý do chính trị để
từ chối hợp tác
Ngoài ra, để đáp ứng yêu cầu thực tiễn công tác phòng, chống khủng bố trong tình hình mới, tại Kỳ họp thứ 5, Quốc hội Khóa XIII đã thảo luận và thông
qua Luật phòng chống khủng bố gồm 8 chương và 51 điều, trong đó đã giành
riêng một chương (Chương V) với 3 điều, từ Điều 33 đến Điều 35 quy định về Chống tài trợ khủng bố.Ngoài ra các khái niệm liên quan đến tội phạm này cũng
được quy định ở các điều luật khác, theo đó Luật phòng, chống khủng bố 2013 đã
đưa ra khái niệm khủng bố dưới hình thức liệt kê các hành vi cụ thể:
“Khủng bố là một, một số hoặc tất cả hành vi sau đây của tổ chức, cá nhân nhằm chống chính quyền nhân dân, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế, gây khó khăn cho quan hệ quốc tế của nước CHXHCN Việt Nam hoặc gây ra tình trạng hoảng loạn trong công chúng:
Trang 30a) Xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tự do thân thể hoặc đe dọa xâm phạm tính mạng, uy hiếp tinh thần của người khác;
b) Chiếm giữ,làm hư hại, phá hủy hoặc đe dọa phá hủy tài sản; tấn công xâm hại, cản trở, gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet,thiết bị số của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
c) Hướng dẫn chế tạo, sản xuất, sử dụng hoặc chế tạo, sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán vũ khí, vật liệu nổ, chất phóng xạ, chất độc, chất cháy và các công cụ, phương tiện khác nhằm phục vụ cho việc thực hiện hành vi quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này;
d) Tuyên truyền, lôi kéo, xúi dục, cưỡng bức,thuê mướn hoặc tạo điều kiện, giúp sức cho việc thực hiện hành vi quy định tại các điểm a,b,c khoản 1 Điều này;
đ) Thành lập,tham gia tổ chức, tuyển mộ, đào tạo, huấn luyện đối tượng nhằm thực hiện hành vi quy định tại các điểm a, b, c, d khoản 1 Điều này;
e) Các hành vi khác được coi là khủng bố theo quy định của ĐƯQT về phòng, chống khủng bố mà nước CHXHCN Việt Nam là thành viên” [9 - tr.8,9]
Với quy định trên, có thể thấy Luật phòng, chống khủng bố 2013 đã đưa ra
khái niệm khủng bố vừa mang tính khái quát, vừa mạng tính cụ thể Tính khái quát
của khái niệm này thể hiện ở chỗ lấy dấu hiệu mục đích “nhằm chống chính quyền
nhân dân, ép buộc chính quyền nhân dân, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế, gây khó khăn cho quan hệ quốc tế của nước CHXHCN Việt Nam hoặc gây ra tình trạng hoảng loạn trong công chúng”[9- tr.4] làm dấu hiệu chung để xác định
khủng bố Tính cụ thể của khái niệm thể hiện ở chỗ liệt kê các hành vi được coi là khủng bố để dễ nhận diện về khủng bố, đó là các hành vi được nêu từ điểm a đến điểm e Theo đó, với quy định này khái niệm khủng bố đã vừa bảo đảm được tính
kế thừa từ các quy định có liên quan, mặt khác nó còn phù hợp của các văn bản pháp luật hiện hành, nội luật hóa các ĐƯQT về chống khủng bố mà Việt Nam là thành viên và cũng đáp ứng được yêu cầu từ thực tiễn hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm khủng bố trong tình hình hiện nay
Trang 31Từ việc nghiên cứu những quan niệm cơ bản của Việt Nam về khủng
bố, tác giả rút ra một số kết luận sau:
Một là, ở Việt Nam, dưới nhiều góc độ nghiên cứu và ở vào những thời
điểm khác nhau, các nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra nhiều khái niệm về vấn đề
này.Theo quan niệm của các nhà Tội phạm học, “Khủng bố là những hành vi đe
dọa đến trật tự kinh tế, chính trị của xã hội” Theo quan niệm của các nhà nghiên
cứu ở Viện thông tin Khoa học xã hội “Khủng bố là hành vi bạo lực không tuyên
bố nhằm vào các mục tiêu không được trang bị các phương tiện quân sự hoặc không được báo trước để tự bảo vệ mình nhằm gây sức ép đối với nhà cầm quyền
về mặt chính trị” [99 - tr.82]
Hai là,theo quan niệm chính thống, định nghĩa về khủng bố của Việt Nam
được quy định tại Điều 84 BLHS năm 1999 và Từ điển Bách khoa Công an nhân
dân năm 2005 cho thấy đây là dạng định nghĩa “khủng bố truyền thống” [80 -
tr.31], trong khi đó thực tế hoạt động khủng bố hiện nay đã có những thay đổi, điều chỉnh nhất định, vì vậy định nghĩa của chúng ta vừa thiếu, vừa thừa Cụ thể
là:
- Theo định nghĩa về khủng bố theo Điều 84 BLHS thì tội phạm khủng bố
có phạm vi hẹp hơn, tránh được việc quy kết, nhầm lẫn giữa khủng bố với các phong trào yêu nước, giải phóng dân tộc…Trong khi ở các nước, khi định nghĩa
họ đã quy kết tất cả các hành vi bạo lực hoặc đe dọa sử dụng bạo lực nhằm gây ra
sự khiếp sợ là khủng bố Nếu quan niệm như nước ngoài phạm vi hoạt động khủng bố quá rộng, có thể quy kết, dễ nhầm lẫn trong điều tra, xét xử; khi áp dụng các biện pháp chống khủng bố trên phạm vi quốc tế thì sẽ dễ bị thế lực nước ngoài lợi dụng để mưu cầu lợi ích riêng, làm ảnh hưởng xấu tới trật tự an
ninh thế giới, can thiệp vũ trang vào nước khác
Tuy nhiên, quan niệm của Việt Nam về tội phạm khủng bố vẫn có một số hạn chế nhất định, đó là không phân biệt được khủng bố với chủ nghĩa khủng bố
Có những định nghĩa tương tự như việc thể hiện quan điểm, đường lối chống khủng bố Định nghĩa theo Điều 84 BLHS đã giới hạn căn bản các hành vi mà
Trang 32cộng đồng quốc tế coi là khủng bố, do đó sẽ gây khó khăn cho công tác điều tra
xử lý, phối hợp quốc tế, dẫn độ tội phạm khủng bố, có thể bị các thế lực thù địch nước ngoài lợi dụng để dung túng cho các tổ chức phản cách mạng có hoạt động khủng bố chống Việt Nam
- Cũng theo Điều 84 BLHS, khủng bố là “Người nào nhằm chống chính
quyền nhân dân mà xâm phạm tính mạng của cán bộ, công chức hoặc công dân…”[1 - tr.93, 94] Có nghĩa là chỉ những hành vi nào xâm phạm đến tính mạng
của cán bộ, công chức hoặc công dân với mục đích chống chính quyền nhân dân mới coi là khủng bố Trên thực tế tội phạm khủng bố phức tạp cả về mục đích, động cơ phạm tội, tính chất hành vi, hình thức và thủ đoạn tiến hành Chẳng hạn, hành vi bắt giữ con tin, uy hiếp nghiêm trọng tinh thần của cán bộ, viên chức, làm ảnh hưởng đến uy tín, quyền lực của chính quyền nhà nước hoặc vì sự thù hận cá nhân, đối tượng đã mang bom, mìn tấn công bằng cách gây nổ ở trụ sở cơ quan quyền lực nhà nước, tuy chưa gây thiệt hại đến tính mạng của cán bộ, nhưng đã uy hiếp nghiêm trọng tinh thần nhiều cán bộ khác; thậm chí, có vụ việc, đối tượng không cần xâm phạm đến tính mạng cán bộ, công chức nhà nước hoặc giết hại quần chúng, chúng chỉ cần sử dụng thông tin để tuyên truyền, kích động, tung tin thất thiệt gây hoang mang dao động, gây khiếp sợ trong quần chúng… Một số vụ việc khác đối tượng sử dụng các thủ đoạn khác nhau không cần sử dụng bạo lực
mà vẫn có thể uy hiếp được tinh thần cán bộ, quần chúng, ép buộc họ phải hành động theo yêu cầu của kẻ khủng bố…
- Mặt khác, việc chúng ta quy định hành vi“khủng bố người nước ngoài
nhằm gây khó khăn cho quan hệ quốc tế của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [1 - tr.94], như khoản (d) trong điều luật cũng trở nên quá chung chung,
không cụ thể
Theo Từ điển Bách khoa Công an nhân dân, định nghĩa về khủng bố cũng rơi vào tình trạng vừa thiếu, vừa thừa, mang tính liệt kê về hành vi khủng bố, tổ chức tiến hành hoạt động khủng bố Tuy nhiên, chúng ta không thể nào liệt kê hết các hành vi khủng bố, thủ đoạn khủng bố và tổ chức khủng bố, mặt khác định
Trang 33nghĩa này có thể gây cho người khác sự nhầm lẫn giữa hoạt động khủng bố với chiến tranh xâm lược
Cùng với việc hiện thực hóa những quy định về tội phạm khủng bố được quy định trong các ĐƯQT mà Việt Nam đã tham gia ký kết cũng như việc nội luật hóa các cam kết quốc tế, pháp luật hình sự Việt Nam nói chung mà đặc biệt
là BLHS 1999 nói riêng đã được sửa đổi, bổ sung sao cho ngày càng hoàn thiện hơn, Luật sửa đổi, bổ sung BLHS đã đáp ứng được một số yêu cầu nảy sinh trong thực tiễn công tác phòng, chống khủng bố cũng như hợp tác quốc tế về chống khủng bố, cùng với việc bổ sung thêm hai điều luật quy định về tội phạm khủng bố: Điều 230a - Tội khủng bố và Điều 230b - Tội tài trợ khủng bố, mục đích và đối tượng tác động của hành vi khủng bố đã được bổ sung để phù hợp với quan niệm về khủng bố của cộng đồng quốc tế Với quy định cụ thể trên đã góp phần không nhỏ vào việc hoàn thiện những cơ sở pháp lý, từ đó góp phần xử lý một cách nghiêm khắc các hành vi có liên quan đến hoạt động khủng bố xảy ra trên thực tế
Tuy nhiên, để có được một định nghĩa thống nhất về khủng bố cũng như chủ nghĩa khủng bố, quan điểm của riêng bản thân tôi không những phải dùng những từ ngữ có tính học thuật mà còn phải dựa trên kết quả nghiên cứu đầy đủ của hiện thực khách quan Cần tránh việc định nghĩa mang tính chất mô tả, liệt
kê số lượng đánh giá tính chất, mức độ hành vi bạo lực, sau đó lại sử dụng chính những hành vi bạo lực để chứng minh cho định nghĩa Nếu định nghĩa như vậy sẽ rất dễ bị nhầm lẫn, sẽ bị chủ nghĩa đế quốc lợi dụng khủng bố và chống khủng bố
để thực hiện mưu đồ chính trị của họ
1.2 Tội phạm khủng bố trong lịch sử lập pháp Hình sự Việt Nam
1.2.1 Giai đoạn trước năm 1999
Ngay từ những năm đầu mới giành được chính quyền cho tới trước ngày BLHS năm 1985 có hiệu lực, để bảo vệ sự bền vững, ổn định và phát triển của chính quyền nhân dân, nhà nước Việt Nam đã lần lượt ban hành các văn bản
Trang 34pháp luật Hình sự làm cơ sở pháp lý cho cuộc đấu tranh chống các tội xâm phạm
ANQG
Trong Luật Hình sự Việt Nam, khủng bố được quy định là tội phạm trước khi có BLHS đầu tiên (BLHS năm 1985).Khi đó, tội phạm này được quy định là
một tội phản cách mạng trong Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng năm
1967.Trong BLHS năm 1985 và BLHS 1999, khủng bố đều được quy định là tội
phạm thuộc Chương “Các tội xâm phạm ANQG”
Trước tình hình lịch sửđất nước bị chia cắt (1945- 1975) và thời gian đầu đất nước mới thống nhất (1976- 1985), bọn phản cách mạng luôn tìm mọi cách tiến hành hành động chống phá, làm suy yếu chính quyền nhân dân non trẻ nên chính quyền Việt Nam trong giai đoạn này đã ban hành hai văn bản pháp luật làm cơ sở trừng trị bọn phản cách mạng chống lại nhà nước và nhân dân Việt
Nam: Pháp lệnh “trừng trị các tội phản cách mạng” ban hành ngày 30/10/1967
áp dụng ở Miền Bắc và Sắc lệnh 03 ban hành ngày 15/03/1976 áp dụng ở miền
Nam Như vậy, tội khủng bố trong thời gian này đã được quy định cụ thể trong hai văn bản pháp luật trên Hai văn bản pháp luật này tuy được áp dụng ở hai miền đất nước khác nhau nhưng cả hai đều thống nhất về mặt nội dung trong đó bao gồm các nguyên tắc chung, quy định về tội phạm và hình phạt Tuy nhiên,
cách thể hiện hình thức phạm tội thì Sắc lệnh 03 có tính chất đơn giản hơn, chỉ
nêu tội danh mà không miêu tả các dấu hiệu của tội phạm và một số tội danh thì
giống các tội danh nêu trong Pháp lệnh 1967 như Tội phản bội tổ quốc(Điều 3),
Tội gián điệp (Điều 5),…, một số tội danh khác thì lại quá chung chung, một tội
danh có thể bao gồm rất nhiều hình thức phạm tội cụ thể mà Pháp lệnh 1967 đã quy thành những tội riêng biệt Cụ thể, tại Điều 3 điểm c Sắc lệnh 03 các tội phá hoại gồm nhiều tội khác nhau như “phá hoại khối đoàn kết và thống nhất dân
tộc, phá hoại quốc phòng, phá hoại trật tự an ninh,…” [31 - tr.235]; trong Tội
phá hoại trật tự an ninh lại gồm những tội như Tội vũ trang bạo loạn, Tội hoạt động phỉ, Tội ám sát cán bộ, bộ đội, Tội bắt cóc cán bộ, bộ đội [31 - tr.242, 243]
Trang 35Trong khi đó, Tội bạo loạn lại được quy địnhtại Điều 7, Tội hoạt động phỉ cũng
được quy định chi tiết tại Điều 8 của Pháp lệnh 1967
Chính vì vậy, tội khủng bố được quy định tại hai văn bản này có sự khác
biệt về tên gọi Theo Điều 10 Pháp lệnh 1967, tội khủng bố được gọi là tội “giết
người, đánh người, gây thương tích, bắt giữ người, dọa giết người vì mục đích phản cách mạng” với nội dung cụ thể như sau:
“1 Kẻ nào vì mục đích phản cách mạng mà giết cán bộ, nhân viên nhà nước, bộ đội, công an hoặc giết nhân dân thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến tù chung thân hoặc bị xử tử hình
2 Kẻ nào vì mục đích phản cách mạng mà đánh đập, gây thương tích, bắt giữ cán bộ, nhân viên nhà nước, bộ đội, công an hay là nhân dân thì bị phạt tù từ
ba năm đến mười lăm năm
3 Kẻ nào vì mục đích phản cách mạng mà dọa giết cán bộ, nhân viên nhà nước, bộ đội, công an trong khi họ thi hành nhiệm vụ thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm” [107 - tr.12]
Theo Sắc lệnh số 03 ban hành ngày 15/3/1976 tội khủng bố lại được quy định tại Điều 3 điểm c Sắc lệnh 03 các tội phá hoại, tội khủng bố lúc này là tội “ám sát
cán bộ, bộ đội” và “bắt cóc cán bộ, bộ đội” thuộc nhóm tội phá hoại (hành vi ám
sát, bắt cóc dân thường vì mục đích phản cách mạng cũng bị xét xử theo hai tội trên)
Sau ngày đất nước thống nhất, pháp luật được thi hành đồng bộ trong cả nước đã tạo ra sự thay đổi xã hội về mọi mặt và quản lý nhà nước bằng pháp luật
là một đòi hỏi cấp thiết lúc bấy giờ Ngày 18/12/1980, Quốc hội thông qua Hiến pháp mới, tạo điều kiện cho việc ra đời một loạt văn bản pháp luật quan trọng, trong đó có BLHS 1985 mà nội dung là thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược của giai đoạn cách mạng lúc bấy giờ: xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và cho đến ngày 27/6/1985 Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã thông qua BLHS và trải qua bốn lần sửa đổi, bổ sung, tội
Trang 36khủng bố được quy định tại Điều 78 BLHS 1985 với tên gọi “tội khủng bố” nằm
trong nhóm các tội xâm phạm ANQG, theo đó, tội khủng bố được quy định như sau:
“1 Người nào xâm phạm tính mạng của nhân viên Nhà nước, nhân viên tổ chức xã hội hoặc công dân nhằm chống chính quyền nhân dân thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình
2 Phạm tội trong trường hợp xâm phạm tự do thân thể, sức khỏe thì bị phạt
tù từ năm năm đến mười lăm năm
3 Phạm tội trong trường hợp đe dọa xâm phạm tính mạng hoặc có những hành vi khác uy hiếp tinh thần thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm
4 Khủng bố người nước ngoài nhằm gây khó khăn cho quan hệ quốc tế của nước CHXHCN Việt Nam thì cũng bị xử phạt theo Điều này”[67 - tr.91]
Bên cạnh tội khủng bố, BLHS năm 1985 cũng quy định các tội khác có liên quan như: Tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy (Điều 87); Tội phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về ANQG (Điều 94); Tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ (Điều 96), đây là các tội phạm được ghi nhận tại các công ước quốc tế về chống khủng
bố và yêu cầu các quốc gia thành viên phải nội luật hóa
Trải qua một thời gian dài áp dụng, BLHS 1985 đã không còn phù hợp với tình hình đất nước, chính vì lẽ đó, ngày 21/12/1999 Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã thông qua BLHS 1999 và một lần nữa tội khủng bố được quy định
tại Điều 84 Chương XI các tội xâm phạm ANQGvới tên gọi là “Tội khủng bố
nhằm chống chính quyền nhân dân”
Tóm lại, ngay từ những ngày đầu thống nhất đất nước, xã hội Việt Nam đã
có nhiều thay đổi trên mọi lĩnh vực, trong đó có cả lịch sử lập pháp Hình sự.“Nhiều tội danh đã không còn tồn tại như: các tội chống Nhà nước xã hội chủ nghĩa anh em, tội lạm dụng gia súc…”[85 - tr.32] nhưng nhiều tội danh vẫn tồn tại do hành vi của nó gây nguy hiểm đến xã hội, đe dọa đến sự ổn định, phát triển
xã hội và con người Khủng bố cho đến ngày nay vẫn đe dọa sự bền vững của
Trang 37chính quyền nhà nước và môi trường sống an toàn cho con người Điều này giải thích vì sao tội phạm khủng bố luôn được ghi nhận trong các văn bản pháp luật hình sự qua các giai đoạn lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam, làm cơ sở pháp lý cho cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm khủng bố
1.2.2 Tội phạm khủng bố trong BLHS hiện hành
BLHS năm 1999 được Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 21/12/1999 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2000 là công cụ sắc bén của Nhà nước, của nhân dân, đã phát huy vai trò, tác dụng to lớn trong công cuộc bảo vệ những thành quả của cách mạng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ ANQG và trật
tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, đấu tranh chống
và phòng ngừa tội phạm, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam, tội khủng bố trong BLHS
năm 1999 được quy định tại Điều 84 và nằm trong chương “Các tội xâm phạm
ANQG” Mặc dù BLHS năm 1999 chưa đưa ra được định nghĩa pháp lý của khái
niệm tội khủng bố, nhưng theo quy định tại điều 84 Bộ luật này, có thể thấy dấu hiệu cơ bản của tội này chính là mục đích nhằm chống chính quyền nhân dân của người phạm tội Như vậy, so với tội giết người, đánh người, gây thương tích, bắt
giữ người, dọa giết người vì mục đích phản cách mạng được quy định trong Pháp
lệnh trừng trị các tội phản cách mạng ngày 30/10/1967, thì mặt khách quan của
tội khủng bố rộng hơn ở hành vi uy hiếp tinh thần cán bộ, công chức và công dân Tội khủng bố được coi là hoàn thành từ thời điểm gây ra cái chết cho người khác (hành vi xâm phạm tính mạng), gây thương tích cho người khác hoặc gây tổn hại cho sức khỏe (hành vi xâm phạm sức khỏe), bắt giữ gười trái pháp luật (hành vi xâm phạm tự do thân thể), đe dọa giết người hay bằng ác hành vi khác
uy hiếp tinh thần cán bộ, công chức hoặc công dân được thực hiện với mục đích chống chính quyền nhân dân
Từ sự phân tích ở trên cho thấy, trong Luật Hình sự Việt Nam, đối với các tội xâm phạm ANQG nói chung và tội khủng bố nói riêng, việc chứng minh dấu
Trang 38hiệu mục đích chống chính quyền nhân dân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Song mục đích phạm tội nói chung, mục đích chống chính quyền nhân dân nói riêng là vấn đề thuộc phạm trù chủ quan của tội phạm, cho nên việc chứng minh rất phức tạp Lý luận và thực tiễn của cuộc đấu tranh phòng, chống tội khủng bố cho thấy,
để xác định được mục đích chống chính quyền nhân dân của người phạm tội khủng bố, phải phân tích các tình tiết thuộc về nhân thân người phạm tội.Chỉ trên
cơ sở xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện hai loại tình tiết này thì mới có thể xác định được mục đích chống chính quyền nhân dân một cách đúng đắn
Có thể thấy, BLHS năm 1999 đã góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần không nhỏ vào công tác đấu tranh phòng, chống khủng bố Tuy nhiên, qua gần 10 năm thi hành, BLHS năm 1999 đã bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế, đòi hỏi phải sớm khắc phục và cùng với nhiều nguyên nhân khác nhau đòi hỏi BLHS 1999 cần phải có sự sửa đổi, bổ sung sao cho phù hợp nhất Cụ thể như sau:
Thứ nhất,Nghị quyết 08-NQ/TW năm 1999 của Bộ Chính trị về Chiến lược
ANQG nêu rõ “Chủ động xây dựng phương án bảo vệ an ninh, trật tự, phương án
phòng, chống đich xâm nhập, phá hoại, gây rối, bạo loạn, chống khủng bố…”,
Nghị quyết 40-NQ/TW năm 2004 của Bộ Chính trị về Nâng cao chất lượng và
hiệu quả công tác công an trong tình hình mới cũng khẳng định “Nguy cơ khủng
bố và lợi dụng chống khủng bố đe dọa nghiêm trọng an ninh thế giới vẫn tiếp tục gia tăng; phòng, chống khủng bố đang trở thành vấn đề quốc tế lớn đòi hỏi các nước đều phải quan tâm”; Chỉ thị số 25/2007/CT-TTg ngày 15/11/2007 của Thủ
tướng chính phủ; Hướng dẫn số 02/2008/HD-BCA(A11) và Kế hoạch số 15/2008/KH-BCA(A11) ngày 07/3/2008 của Bộ Công an về công tác phòng, chốngkhủng bố trong tình hình mới Chính vì lẽ đó, việc sửa đổi, bổ sung BLHS
1999 là một việc làm hết sức cần thiết nhằm hiện thực hóa những quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước trên thực tế
Trang 39Thứ hai, Tội khủng bố theo quy định của BLHS 1999 đòi hỏi dấu hiệu bắt
buộc trong cấu thành tội phạm là mục đích chống chính quyền nhân dân, đây là
một quy định cứng nhắc gây ra nhiều khó khăn trong việc xử lý loại tội phạm này trên thực tế, thể hiện rõ nét nhất ngay trong vấn đề dẫn độ - đây là một vấn đề rất quan trọng liên quan đến việc tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với các quốc gia khác trên thế giới
Điển hình như trường hợp dẫn độ Nguyễn Hữu Chánh, tên cầm đầu tổ chức
phản động “Chính phủ Việt Nam tự do” và là tên khủng bố nguy hiểm mà Tòa án
Hàn Quốc từ chối dẫn độ Nguyên nhân của vấn đề này chính là do phía Việt
Nam yêu cầu dẫn độ Nguyễn Hữu Chánh về tội “khủng bố”, đây là một trong những tội danh được Tòa án Hàn Quốc coi là “tội phạm mang tính chất chính
trị”, nên thuộc trường hợp bị từ chối dẫn độ theo quy định của luật pháp quốc tế
và quy định trong Hiệp định về dẫn độ giữa CHXHCN Việt Nam và Đại Hàn Dân Quốc Đây chính là bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc dẫn độ loại tội phạm mang tính chất chính trị này
Thứ ba, Theo dấu hiệu bắt buộc quy định trong cấu thành tội phạm của tội
khủng bố như đã phân tích ở trên thì có những hành vi xảy ra trên thực tế giống với các hành vi khách quan được quy định tại Điều 84 BLHS 1999, tuy nhiên với việc thực hiện các hành vi này, người phạm tội không nhằm mục đích chống chính quyền nhân dân mà lại nhằm gây ra sự hoảng sợ trong quần chúng nhân dân Với những trường hợp như thế này sẽ rất khó khăn cho các cơ quan có thẩm trong vấn đề xử lý, bởi lẽ nếu không xử thì sẽ dẫn đến việc bỏ lọt tội phạm, còn nếu xử lý thì sẽ trái với Luật định khi không cho phép truy cứu trách nhiệm hình
sự với tội phạm tương tự mà “Chỉ người nào phạm một tội đã được BLHS quy
định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” [1 - tr.47]
Thứ tư, do được ban hành từ năm 1999 trong bối cảnh nước ta chưa hội
nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, nhiều ĐƯQT chúng ta chưa có điều kiện gia nhập nên BLHS chưa phản ánh được những đặc điểm và yêu cầu đấu tranh chống tội phạm trong điều kiện hội nhập quốc tế, nhất là các tội phạm mang tính chất
Trang 40quốc tế như: khủng bố, buôn bán người, rửa tiền, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia; chưa tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, thuận lợi cho việc thực hiện các nghĩa vụ mà Việt Nam đã cam kết trong các ĐƯQT về phòng, chống tội phạm cũng như việc thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự giữa nước ta với các nước
Thứ năm, là một quốc gia yêu chuộng hòa bình trong suốt thời gian qua
Việt nam đã luôn thể hiện rõ quan điểm của mình trong việc kiên quyết đấu tranh tiến đến loại bỏ dần các tội phạm đặc biệt nguy hiểm, trong đó có tội phạm khủng bố Cụ thể hóa vấn đề này trên thực tế, Việt Nam đã gia nhập và ký kết hàng loạt các ĐƯQT song phương và đa phương, chính việc làm này đã giúp cho Việt Nam có điều kiện tiếp thu có chọn lọc những điểm mới trong pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới để từ đó hoàn thiện hơn BLHS của nước mình và cũng chính hoạt động này cũng đã giúp Việt Nam góp phần không nhỏ cùng với cộng đồng quốc tế trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm quốc tế nói chung và tội phạm khủng bố nói riêng
Từ những lý do nêu trên, việc sửa đổi, bổ sung BLHS là một đòi hỏi khách quan và cấp thiết trong điều kiện phát triển về kinh tế và xã hội hiện nay của nước ta, nhằm góp phần khắc phục một bước những bất cập, hạn chế nói trên, đáp ứng yêu cầu bức xúc của thực tiễn và bảo đảm hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, trong đó có tội phạm khủng bố; đồng thời đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế Trước những đòi hỏi và yêu cầu bức thiết đó, ngày 19 tháng 6 năm 2009, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS Ngày 29 tháng 6 năm 2009 Chủ tịch nước
ký Lệnh công bố Luật này (Lệnh số 13/2009/L- CTN) có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2010
Theo đó, BLHS 1999 đã bổ sung thêm một số điều, trong đó quy định nhóm các tội phạm về khủng bố Ngoài Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 84 BLHS 1999), giờ đây được bổ sung thêm hai điều luật mới: Điều 230a - Tội khủng bố và Điều 230b - Tội tài trợ khủng bố với những đặc điểm pháp lý cụ thể và rõ ràng hơn