Nếu như mục đích ủy quyền trong quan hệ dân sự thông thường là giúp người được ủy quyền hoàn thành các giao dịch làm xuất hiện, thay đổi và chấm dứt các quan hệ pháp luật vật chất thì tr
KHÁI QUÁT VỀ ỦY QUYỀN TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ THEO BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
Một số vấn đề chung về việc ủy quyền trong tố tụng dân sự Việt Nam
1.1.1 Khái niệm Để hiểu rõ được thế nào là ủy quyền trong tố tụng dân sự thì trước hết cần tìm hiểu về khái niệm ủy quyền cũng như bản chất của ủy quyền trong các quan hệ pháp luật dân sự thông thường Từ đó, tạo cơ sở để có thể phân biệt được sự khác nhau giữa ủy quyền nói chung và ủy quyền trong tố tụng dân sự nói riêng a Khái niệm “Ủy quyền”
Khi tiếp cận khái niệm “Ủy quyền” ở những góc độ khác nhau ta sẽ có những định nghĩa khác nhau Theo Từ điển tiếng Việt “Ủy quyền” là một động từ chỉ
“Giao cho người khác thay mình sử dụng một số quyền mà luật pháp dành cho mình
(Giấy ủy quyền, Bộ trưởng ủy quyền cho thứ trưởng)” 1 Trong khi đó, từ điển Luật học đưa ra khái niệm “Ủy quyền” là “Giao cho người khác thay mặt mình sử dụng quyền mà mình có được một cách hợp pháp Ủy quyền được thực hiện bằng văn bản ủy quyền (Hợp đồng ủy quyền, quyết định ủy quyền)” 2
Từ những khái niệm trên có thể hiểu rằng “Ủy quyền” chính là “Việc một người giao cho người khác nhân danh mình để thực hiện công việc, thực hiện một hoặc một số quyền năng nào đó (và thậm chí cả đối với nghĩa vụ)” 3 Về mặt bản chất, quan hệ ủy quyền cũng là giao dịch dân sự, được thiết lập giữa hai chủ thể dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng lẫn nhau b Khái niệm “Ủy quyền trong tố tụng dân sự” và “Ủy quyền trong vụ án dân sự”
Về khái niệm “Ủy quyền trong tố tụng dân sự”, BLTTDS năm 2015 không đưa ra một khái niệm cụ thể nào Có lẽ xuất phát từ lý do việc ủy quyền sẽ làm phát sinh quan hệ đại diện, do đó, thay vì đưa ra khái niệm ủy quyền trong tố tụng dân sự thì BLTTDS năm 2015 đưa ra khái niệm người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự Theo đó, tại Khoản 4 Điều 84 BLTTDS năm 2015 quy định rằng “Người đại diện theo ủy quyền theo quy định của Bộ luật dân sự là người đại diện theo ủy
1 Nguyễn Vă n Xô (Chủ biên) (2006), Từ điển Tiếng việt, NXB Tha nh niên, tr 837
2 Từ điển Luậ t học (2006), NXB Từ điển Bá ch khoa – NXB Tư phá p, tr 833
3 Học viện Tư phá p (2017), Nguyễn Xuâ n Thu, Phạm Thị Thúy Hồng (Chủ biên), Giáo trình kỹ năng hành nghề công chứng (tập 2), NXB Tư phá p, tr 167 quyền trong tố tụng dân sự Đối với việc ly hôn, đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng Trường hợp cha, mẹ, người thân thích khác yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì họ là người đại diện” 4 Đây là một trong những quy định rất quan trọng, là cơ sở để tác giả tiến hành phân tích cũng như nghiên cứu các quy định của pháp luật về chế định ủy quyền trong vụ án dân sự thông qua việc nghiên cứu các quy định của BLDS năm 2015 về cùng chế định ủy quyền
Mặt khác, theo khoản 1 Điều 134 BLDS năm 2015 quy định như sau “1 Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự” 5 Song, sự dẫn giải sang BLDS này vẫn không làm rõ nghĩa được chế định ủy quyền trong tố tụng dân sự
Từ điển luật học đưa ra khái niệm “Tố tụng dân sự” là:
Trình tự hoạt động do pháp luật quy định cho việc xem xét, giải quyết vụ án dân sự và thi hành án dân sự
Mục đích của tố tụng dân sự là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức và lợi ích của nhà nước Tố tụng dân sự bao gồm khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự, thụ lý vụ việc dân sự, giải quyết vụ việc dân sự theo trình tự sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm và thi hành án dân sự 6
Như vậy, dựa trên khái niệm về ủy quyền và khái niệm về tố tụng dân sự thì có thể thấy chế định ủy quyền trong tố tụng dân sự là rất rộng Việc ủy quyền xuất hiện cả trong vụ án dân sự lẫn trong việc dân sự Hay nói rõ hơn, việc ủy quyền trong tố tụng dân sự có thể bắt đầu từkhởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự, thụ lý vụ việc dân sự, giải quyết vụ việc dân sự theo trình tự sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm Riêng đối với việc ủy quyền trong thi hành án thì thi hành án không phải là một giai đoạn trong tố tụng dân sự, do đó, chế định ủy quyền trong tố tụng dân sự không bao gồm chế định ủy quyền trong thi hành án dân sự
6 Từ điển Luậ t học, tlđd (2), tr 785
Tuy vậy, các quy định của BLTTDS hiện nay lại không thể hiện rõ ràng được thời điểm tham gia vào hoạt động tố tụng của người đại diện do đương sự ủy quyền
Và việc tham gia tố tụng của người đại diện được hiểu là sự tham gia trực tiếp vào quá trình tố tụng tại Tòa án
Mặt khác, quá trình tố tụng tại Tòa án được xác định bắt đầu từ thời điểm thụ lý vụ việc dân sự cho đến khi kết thúc bằng việc tuyên các bản án hoặc quyết định có hiệu lực thi hành 7
Quay trở lại khoản 4 Điều 84 BLTTDS năm 2015, các nhà làm luật đã sử dụng thuật ngữ “Người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự” thay cho thuật ngữ
“Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng dân sự” Về nội hàm, cụm từ “trong tố tụng dân sự” rộng hơn cụm từ “tham gia tố tụng dân sự”, nó bao hàm tất cả hoạt động tố tụng dân sự từ khi bắt đầu khởi kiện (đơn khởi kiện), bao gồm cả thủ tục tiền tố tụng như hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã cho tới khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật 8 Phải chăng, ý đồ của các nhà làm luật là đang muốn để cho người đại diện theo ủy quyền được nhân danh người được đại diện ngay từ thời điểm làm đơn khởi kiện, đơn yêu cầu
Từ đó, tác giả đưa ra khái niệm “Ủy quyền trong tố tụng dân sự là sự ủy quyền của một chủ thể (gọi là người được đại diện) cho một chủ thể khác (gọi là người đại diện theo ủy quyền) đủ điều kiện theo pháp luật để nhân danh người được đại diện thực hiện một, một số hoặc toàn bộ công việc từ khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự cho đến việc tham gia vào quá trình tố tụng dân sự phù hợp với nội dung ủy quyền trong văn bản ủy quyền Mục đích của việc ủy quyền nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người được đại diện trước Tòa án
Về khái niệm “Ủy quyền trong vụ án dân sự”
Theo Điều 1 BLTTDS năm 2015 “Vụ án dân sự” là các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động Như vậy, đặc trưng của vụ án dân sự là có sự tranh chấp giữa các bên tham gia quan hệ dân sự, có sự không thống nhất về việc thực hiện hay không thực hiện quyền hoặc nghĩa vụ của một
7 Trườn g Đạ i học Luậ t Tp Hồ Chí Minh, Giáo trình luật tố tụng dân sự Việt Nam, NXB Hồng Đức-Hội Luật gia Việt Na m, tr 22
Chủ thể quan hệ ủy quyền trong vụ án dân sự
Trong quan hệ ủy quyền luôn xuất hiện hai chủ thể đó chính là bên ủy quyền và bên được ủy quyền Ngoài ra, như đã khẳng định ủy quyền trong tố tụng dân sự là một chế định đặc biệt khác với quan hệ ủy quyền thông thường Sự xuất hiện cơ quan công quyền (Tòa án) – bên thứ ba trong quan hệ ủy quyền được xem là yếu tố cốt lõi tạo nên sự khác biệt này Để làm rõ bản chất cũng như mối liên hệ giữa ba chủ thể này, tác giả khóa luận sẽ tập trung nghiên cứu về hai chủ thể đó là bên ủy quyền và bên được ủy quyền trong mối quan hệ với bên thứ ba là cơ quan Tòa án
1.2.1 Bên ủy quyền a Đặc điểm bên ủy quyền
Theo quy định tại Điều 138 BLDS năm 2015 thì “Cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho các nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự”, “các thành viên hộ gia đình, tổ chức hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân có thể thỏa thuận cử cá nhân, pháp nhân khác đại diện theo ủy quyền xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân”
Như vậy, chủ thể được phép ủy quyền có thể là cá nhân, pháp nhân hoặc các thành viên hộ gia đình, tổ chức hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân
Nếu là cá nhân thì cá nhân đó phải có năng lực hành vi tố tụng dân sự Năng lực hành vi tố tụng dân sự là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng Một người có năng lực hành vi tố tụng đầy đủ khi họ từ đủ mười tám tuổi trở lên, không bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc pháp luật có quy định khác Điều này đồng nghĩa với việc khi đương sự là người chưa thành niên hoặc người mất năng lực hành vi dân sự thì họ không thể tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng nên không thể làm văn bản ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng, trong trường hợp có nhu cầu thì người đại diện theo pháp luật của họ sẽ thực hiện công việc ủy quyền
Tuy vậy, trong trường hợp đặc biệt, người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình thì được tự mình tham gia tố tụng về những việc có liên quan đến quan hệ lao động hoặc quan hệ dân sự đó Do đó, trong trường hợp này, người từ đủ mười lăm đến dưới mười tám tuổi vẫn có thể ủy quyền cho chủ thể khác nhân danh mình tham gia tố tụng
Trong khi đó, theo quan điểm các nhà lập pháp Nhật Bản thì vấn đề năng lực hành vi dân sự của người được ủy quyền không nên bị hạn chế, vì đại diện theo pháp luật thì pháp luật đã quy định rõ trong từng trường hợp, còn đối với đại diện theo ủy quyền thì đó là sự tự do lựa chọn của người được đại diện và bản thân họ có trách nhiệm với sự lựa chọn của mình 34
Nếu là pháp nhân, thì việc ủy quyền được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân đó Đại diện theo pháp luật của pháp nhân là người đứng đầu pháp nhân được quy định trong quyết định thành lập pháp nhân hoặc trong Điều lệ của pháp nhân Khi người đại diện theo pháp luật của pháp nhân không muốn tham gia tố tụng thì có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác thay mặt mình tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích của pháp nhân Lúc này, trong văn bản ủy quyền người ký vào văn bản ủy quyền chính là người đại diện theo pháp luật của pháp nhân đó Pháp nhân phải chịu trách nhiệm về hành vi của người đại diện theo ủy quyền
Bên cạnh đó, chủ thể ủy quyền có thể có một hoặc nhiều người và luôn xuất hiện trong văn bản ủy quyền, tức là luôn ký tên vào hợp đồng ủy quyền và giấy ủy quyền b Quyền và nghĩa vụ của bên ủy quyền
Trong BLTTDS năm 2015, không đưa ra quy định nào về quyền và nghĩa vụ của người được đại diện (bên ủy quyền) Tuy nhiên, bản chất của ủy quyền trong tố tụng dân sự giữa người đại diện và người được đại diện là một giao dịch dân sự, do đó, trong mối quan hệ này quyền và nghĩa vụ của người ủy quyền (người được đại diện) vẫn chịu sự điều chỉnh bởi các quy định trong BLDS năm 2015 Do đó, xét trong mối quan hệ dân sự thì bên ủy quyền (người được đại diện) có các quyền và nghĩa vụ sau:
34 Điều 102 BLDS Nhậ t Bả n https://ela ws.e-gov.go.jp/document?lawid9AC0000000089 (truy cậ p ngà y 1/5/2021)
Thứ nhất, cung cấp thông in, tài liệu và phương tiện cần thiết để bên được ủy quyền thực hiện công việc 35
Khi bên đại diện muốn nhân danh bên ủy quyền thực hiện thay công việc thì họ cần phải có được những thông tin, tài liệu cần thiết thì mới thực hiện được Do đó, để bên đại diện hoàn thành tốt công việc, bên ủy quyền cần phải cung cấp những thông tin, tài liệu liên quan đến vụ án cho bên đại diện
Ngoài ra, khi được tiếp cận các hồ sơ vụ án dân sự, tác giả nhận thấy một khi bên ủy quyền đã muốn giao cho người khác thực hiện thay công việc của mình thì bên ủy quyền cần phải tạo những điều kiện cần thiết tương ứng với nhu cầu của công việc đã ủy quyền cũng như xem xét khả năng thực hiện công việc nhằm bảo đảm bên ủy quyền có khả năng tham gia vào vụ án Pháp luật cần phải quy định thêm trường hợp này để tránh người ủy quyền lợi dụng quan hệ ủy quyền gây khó dễ cho cơ quan chức năng tiến hành giải quyết vụ án Ví dụ bên ủy quyền ủy quyền cho một người thật xa để đại diện cho mình tham gia vào quá trình giải quyết vụ án dân sự, việc ủy quyền như vậy sẽ gây khó khăn cho người đại diện trong việc tham gia vào các buổi làm việc tại Tòa án Cá biệt, trong một số trường hợp đương sự còn cố tình ủy quyền một người ở thật xa nhằm mục đích kéo dài thời gian giải quyết vụ án
Thứ hai, chịu trách nhiệm về cam kết do bên được ủy quyền thực hiện trong phạm vi được ủy quyền 36
Thứ ba, thanh toán chi phí hợp lý mà bên ủy quyền đã bỏ ra để thực hiện công việc được ủy quyền, trả thù lao cho bên được ủy quyền nếu có thỏa thuận về thù lao 37
Trong đó, chi phí phát sinh trong quá trình tham gia vụ án dân sự có thể là những chi phí về phương tiện đi lại, chi phí phô tô công chứng tài liệu, tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản, chi phí đo vẽ, thẩm định giá tài sản theo quy định của BLTTDS
Nếu các bên có thỏa thuận trả thù lao khi thực hiện công việc ủy quyền thì bên ủy quyền có nghĩa vụ phải trả thù lao, ngược lại, nếu các bên ghi nhận rằng
37 Khoả n 3 Điều 567 BLDS nă m 2015 công việc ủy quyền không trả thù lao thì cho dù người đại diện có làm tốt công việc đến đâu thì cũng không thể yêu cầu bên ủy quyền trả thù lao cho mình
Về quyền của bên ủy quyền
Thứ nhất, có quyền yêu cầu người đại diện thông báo đầy đủ về việc thực hiện công việc ủy quyền 38
Đối tượng, nội dung, phạm vi ủy quyền
Bản chất của ủy quyền nói chung và ủy quyền trong vụ án dân sự nói riêng là một giao dịch dân sự, người được ủy quyền nhân danh người ủy quyền thực hiện công việc mà lẽ ra công việc đó do người ủy quyền thực hiện Do đó, đối tượng ủy quyền là công việc phải thực hiện chứ không phải là tài sản Trong vụ án dân sự cũng vậy, người đại diện sẽ thực hiện những công việc liên quan đến tố tụng dân sự mà bên ủy quyền đã ủy quyền cho họ theo thỏa thuận trong văn bản ủy quyền
Tuy nhiên, công việc này chỉ được ủy quyền khi pháp luật không cấm Theo khoản 4 Điều 85 BLTTDS năm 2015 thì đối với việc ly hôn, đương sự không được ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng Thông thường trong vụ án ly hôn có 3 vấn đề cùng giải quyết đó là tình cảm vợ chồng; con chung của hai người; tài sản bao gồm nợ chung, tài sản chung (nếu có) Trong đó, về tình cảm vợ chồng không thể ủy quyền cho người khác giải quyết được (vì đây là quyền nhân thân của vợ chồng) Do đó, pháp luật không cho phép người đại diện nhân danh người khác tham gia vào giải quyết việc ly hôn Đối với vấn đề về con chung, tài sản, nghĩa vụ về tài sản trong hôn nhân gia đình thì đương sự có thể ủy quyền bởi việc ủy quyền trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết của Tòa án về vấn đề đó
Ngoài ra, sự tồn tại của đối tượng ủy quyền có mối liên hệ mật thiết đến chủ thể ủy quyền Một khi chủ thể ủy quyền chết, bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì đối tượng ủy quyền sẽ không còn nữa, khi đó việc ủy quyền sẽ chấm dứt 49
1.3.2 Nội dung và phạm vi ủy quyền trong tố tụng dân sự
Có thể nói phạm vi ủy quyền là một mối quan hệ pháp lý tồn tại nội tại bên trong của quan hệ ủy quyền, do đó không có giá trị ràng buộc bên thứ ba, hay nói cách khác nó chỉ có giá trị ràng buộc giữa người ủy quyền và người được ủy quyền
Một trong những căn cứ để xác định phạm vi đại diện theo BLDS năm 2015 đó là nội dung ủy quyền (điểm c khoản 1 Điều 141 BLDS năm 2015) Trong chế định ủy quyền, về nguyên tắc thì người được ủy quyền chỉ được phép thực hiện những công việc đã ghi nhận trong nội dung thỏa thuận của văn bản ủy quyền Hay nói cách khác nội dung của văn bản ủy quyền sẽ chứa đựng những công việc mà
49 Chứng minh tạ i mục 1.1.3 người đại diện theo ủy quyền được phép thực hiện, người đại diện không được vượt quá những quyền hạn này Đây là quy định thể hiện cụ thể tính tự do, tự nguyện thỏa thuận giao kết hợp đồng giữa các chủ thể trong quan hệ dân sự với nhau Nội dung ủy quyền chỉ cần không trái đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm thì sẽ phát sinh hiệu lực, bên đại diện sẽ thực hiện công việc cho bên được đại diện
Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng trong tố tụng nội dung ủy quyền vẫn sẽ bị giới hạn ở phạm vi những công việc được pháp luật tố tụng quy định trực tiếp trong luật (ví dụ: nộp đơn khởi kiện, nộp đơn kháng cáo, tham gia phiên tòa xét xử, )
Có thể thấy, trong văn bản ủy quyền cho dù được thể hiện dưới hình thức
“Hợp đồng ủy quyền” hay “Giấy ủy quyền” đi chăng nữa thì nội dung ủy quyền là nội dung chính và không thể thiếu Trên thực tế, khi tiếp cận các văn bản ủy quyền tham gia tố tụng trong các vụ án dân sự của đương sự tại Tòa án, tác giả nhận thấy tên điều khoản quy định những công việc người đại diện được thực hiện không có sự thống nhất Tên các điều khoản có thể là: Nội dung ủy quyền, phạm vi ủy quyền, nội dung và phạm vi ủy quyền Tuy nhiên, cho dù được đặt tên điều khoản là gì thì trong điều khoản đó đều thể hiện những công việc, quyền hạn mà người đại diện được phép thực hiện Theo đó, thông thường tại điều khoản này có hai dạng thỏa thuận: (1) liệt kê rõ ràng từng công việc (hay còn được gọi là ủy quyền từng phần);
(2) ủy quyền toàn bộ nghĩa vụ tố tụng (hay còn được gọi là ủy quyền toàn phần)
Nội dung ủy quyền phụ thuộc rất nhiều vào ý chí của người ủy quyền, nếu ý chí của người ủy quyền rõ ràng thì công việc thực hiện cũng dễ dàng hơn Ngược lại, nếu ý chí của người ủy quyền không rõ ràng, công việc mang tính chung chung thì gây khó khăn cho người đại diện cũng như cả Tòa án trong việc xác định giới hạn được hành động của người đại diện
Ví dụ, trong Giấy ủy quyền của ông A (nguyên đơn) ủy quyền cho ông B, tại điều khoản quy định nội dung ủy quyền ghi nhận ông B được quyền nhân danh ông
A về quyền và nghĩa vụ tố tụng để giải quyết tất cả các vấn đề liên quan đến vụ án Một vấn đề đặt ra là, liệu rằng ông B được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm thay ông A được hay không? Một số tòa thì cho rằng ông B không được phép kháng cáo bản án sơ thẩm, trong trường hợp này muốn được kháng cáo thì trong giấy ủy quyền ông A phải thể hiện ý chí của mình cho phép ông B được giải quyết tất cả các vấn đề liên quan trong vụ án ở tất cả các cấp tòa hoặc ít nhất trong văn bản ủy quyền phải có nội dung “đương sự ủy quyền cho người đại diện theo ủy quyền kháng cáo” theo đúng quy định tại khoản 6 Điều 272 của BLTTDS năm 2015 Tuy nhiên cũng có Tòa án cho rằng “người đại diện thực hiện tất cả quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn” là bao gồm cả việc kháng cáo và tham gia giải quyết việc kháng cáo 50
Thực tế cho thấy nội dung ủy quyền là một trong những nội dung dẫn đến tranh chấp nhiều nhất trong quan hệ giữa các bên đại diện với Tòa án Vì vậy, khi xây dựng nội dung ủy quyền trong văn bản ủy quyền, các bên cần phải thể hiện ý chí một cách cụ thể, rõ ràng tránh những nội dung chung chung, mơ hồ Khi mà việc đánh giá khả năng có quyền thực hiện công việc ủy quyền trong tố tụng còn phụ thuộc nhiều vào ý chí của cơ quan Tòa án thì thật cần thiết có một văn bản hướng dẫn cụ thể nội dung ủy quyền vụ án dân sự nhằm bảo đảm quyền lợi cho các bên trong quan hệ đại diện trong tố tụng
50 Xem Quyết định số: 23/2019/QĐPT-DS ngà y 14 thá ng 8 nă m 2019 của Tòa á n nhâ n dâ n tỉnh Bình Dương
Căn cứ vào các quy định hiện hành của BLTTDS năm 2015 và BLDS năm
2015 liên quan đến vấn đề ủy quyền trong tố tụng dân sự mà cụ thể là trong các vụ án dân sự, tác giả đã tập trung nghiên cứu các vấn đề về khái niệm, các hình thức ủy quyền hiện hành cũng như các đặc điểm chung của quan hệ ủy quyền này Thông qua đó, tạo cơ sở để phân biệt quan hệ ủy quyền trong tố tụng dân sự với hoạt động ủy quyền trong các giao dịch dân sự thông thường Bên cạnh đó, nhận thấy trong pháp luật còn chưa quy định cụ thể về thủ tục xác lập quan hệ ủy quyền và bằng những hiểu biết trong quá trình nghiên cứu tại các hồ sơ vụ án dân sự được tiếp cận, tác giả đã khái quát được các quy trình xác lập, chấm dứt quan hệ ủy quyền trong những trường hợp cụ thể với mục đích giúp cho đương sự có thể xác lập quan hệ đại diện theo ủy quyền một cách nhanh chóng
Ngoài ra tác giả còn có nghiên cứu, so sánh với pháp luật của một số quốc gia như Nhật Bản, Liên Bang Nga,…để có những đánh giá chung về ưu, nhược điểm của các quy định trong BLDS 2015
Hướng đến việc đi sâu nghiên cứu về những bất cập, hạn chế mà hiện nay pháp luật còn chưa quy định rõ liên quan đến vấn đề ủy quyền trong tố tụng gây vướng mắc cũng như sự không thống nhất trong việc áp dụng của các cơ quan Tòa án dựa trên những nghiên cứu của mình tại chương I, tác giả xin đưa ra một số trường hợp cụ thể và kiến nghị hoàn thiện pháp luật ở chương II.