VKSND có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chứ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CHỨC NĂNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ THEO BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2015
Ngành: LUẬT KINH TẾ
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Bành Quốc Tuấn
Sinh viên thực hiện : Trần Phúc Bảo
TP Hồ Chí Minh, 2018
Trang 2Tp Hồ Chí Minh lời chào trân trọng, lời chúc sức khỏe và lời cảm ơn sâu sắc Với
sự quan tâm, dạy dỗ, chỉ bảo tận tình chu đáo của thầy cô, đến nay tôi đã có thể
hoàn thành bài Khóa luận tốt nghiệp của mình với tên đề tài là: “Chức năng của
Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015” một cách tốt đẹp và đúng tiến độ theo yêu cầu của khoa
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bành Quốc Tuấn đã quan tâm giúp đỡ và tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành tốt Khóa luận tốt nghiệp này trong thời gian qua
Với điều kiện thời gian cũng như kinh nghiệm còn hạn chế, bài Khóa luận tốt nghiệp này không thể tránh được những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thầy cô để tôi có điều kiện bổ sung, nâng cao kiến thức của mình, phục vụ tốt hơn cho công tác thực tế sau này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trần Phúc Bảo
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên Trần Phúc Bảo, sinh viên lớp 14DLK09, MSSV 1411270554 thuộc niên khóa 2014 – 2018
Tôi xin cam đoan Khóa luận là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, thông tin sử dụng trong Khóa luận này được thu thập từ nguồn thực tế, trên các sách báo khoa học chuyên ngành (có trích dẫn đầy đủ và theo đúng quy định) Tôi
đã hoàn thành tất cả các môn học và thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Công Nghệ Tp Hồ Chí Minh
Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Khóa luận
Tôi xin chân thành cảm ơn !
NGƯỜI CAM ĐOAN
Trần Phúc Bảo
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Kết cấu Khóa luận 4
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHỨC NĂNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 5
1.1 Khái niệm về Viện kiểm sát nhân dân và công tác thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực tố tụng dân sự 5
1.1.1 Khái niệm về Viện kiểm sát nhân dân 5
1.1.2 Khái niệm về công tác thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực tố tụng dân sự của Viện kiểm sát nhân dân 6
1.2 Địa vị pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 6
1.2.1 Tổng quan về địa vị pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 6
1.2.2 Vị trí, vai trò, phạm vi của Viện kiểm sát nhân dân khi kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực dân sự theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 8
1.2.3 Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự 10 1.3 Quá trình xây dựng và phát triển của pháp luật về Viện kiểm sát nhân dân Việt Nam 11
1.3.1 Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1980 12
1.3.2 Giai đoạn từ năm 1980 đến năm 2004 14
1.3.3 Giai đoạn từ năm 2005 đến 2015 16
1.3.4 Giai đoạn từ năm 2015 đến nay 17
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 19
Trang 5CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT CÁC VỤ, VIỆC DÂN SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT
NHÂN DÂN 20
2.1 Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự 20
2.1.1 Viện kiểm sát nhân dân tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự theo thủ tục sơ thẩm 20
2.1.2 Viện kiểm sát nhân dân tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự theo thủ tục phúc thẩm 25
2.1.3 Viện kiểm sát nhân dân tham gia tố tụng dân sự trong thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 28
2.2 Thực trạng thực hiện chức năng kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân trong các giai đoạn xét xử tại phiên tòa dân sự 30
2.2.1 Một số ưu điểm và thành tựu đạt được của Viện kiểm sát nhân dân trong quá trình kiểm sát giải quyết vụ việc trong các giai đoạn xét xử tại phiên tòa dân sự 30
2.2.2 Những hạn chế và vướng mắc của Viện kiểm sát nhân dân trong công tác kiểm sát giải quyết vụ việc trong các giai đoạn xét xử tại phiên tòa dân sự 32
2.3 Một số giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện chức năng kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự 37
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 43
KẾT LUẬN 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLTTDS Bộ Luật Tố tụng dân sự KSV Kiểm sát viên
THA Thi hành án VKSND Viện Kiểm sát nhân dân VKSNDTC Viện Kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Viện kiểm sát là hệ thống cơ quan trong bộ máy nhà nước, được hình thành gắn liền với nhiệm vụ cách mạng của Nhà nước trong mỗi giai đoạn nhằm bảo vệ lợi ích dân tộc, chế độ xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa Trong lịch sử lập hiến Việt Nam, chế định Viện kiểm sát lần đầu tiên được ghi nhận trong Hiến pháp 1959 và ngày càng hoàn thiện trong Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 và Hiến pháp 2013.1
Trong tố tụng dân sự, chức năng của Viện kiểm sát đã và đang từng bước được khẳng định là cơ quan tiến hành tố tụng và thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự Trong đó, có thể nói chức năng thực hiện các hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự là một nội dung hết sức quan trọng về lý luận và thực tiễn, có liên quan
và ảnh hưởng đến nhiều nội dung khác của Bộ luật Tố tụng dân sự Việc xác định đúng đắn chức năng của Viện kiểm sát nhân dân có ý nghĩa quan trọng không chỉ góp phần vào việc xây dựng hệ thống lý luận về hoạt động tư pháp nói chung và tổ chức, hoạt động của Viện kiểm sát nói riêng, mà còn góp phần vào việc xây dựng các văn bản pháp luật về Viện kiểm sát, về tố tụng dân sự cũng như hướng dẫn, chỉ đạo của ngành Kiểm sát nhân dân
Chính vì vậy, để góp phần làm sáng tỏ chức năng của Viện kiểm sát trong tố
tụng dân sự, tác giả chọn tên đề tài của Khóa luận tốt nghiệp là “Chức năng của
Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015” làm Khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Chức năng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong
tố tụng dân sự là vấn đề không chỉ được ngành Kiểm sát mà còn được cả xã hội quan tâm Do yêu cầu và đòi hỏi khách quan nêu trên, đã có nhiều bài viết trên các Luận văn thạc sĩ, tạp chí chuyên ngành, sách chuyên khảo, chuyên đề tổng kết rút
1
Lê Thị Thanh Loan (2017), Luận văn thạc sĩ luật học “Địa vị pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự”, Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội – 2017
Trang 8kinh nghiệm của các ngành Kiểm sát, Tòa án… liên quan đến nội dung, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong tố tụng dân sự Có thể kể đến như:
Sách “Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự theo yêu cầu cải cách tư pháp”, tác giả Khuất Văn Nga chủ biên (2008), NXB Tư Pháp, Hà Nội -
2018
Luận văn thạc sĩ Luật học “Viện kiểm sát tham gia tố tụng dân sự theo bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam năm 2015”, tác giả Nguyễn Thị Hằng, Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội – 2015
Luận văn thạc sĩ Luật học “Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự Việt Nam”, tác giả Phùng Thanh Hà, Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội – 2016
Luận văn thạc sĩ Luật học “Địa vị pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân trong
tố tụng dân sự”, tác giả Lê Thị Thanh Loan, Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội –
2017
Luận văn thạc sĩ Luật học “Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự”, tác giả Phạm Thị Hoàn, Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội – 2014
Bên cạnh đó, trong thời gian qua, số lượng đề tài nghiên cứu về “Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự” là rất ít, chỉ có thể kể đến đề tài khoa học cấp Bộ của Trường Đại học Kiểm sát, trước đó là trường Cao đẳng Kiểm sát: “Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự” (năm 2000) Đề tài nghiên cứu cấp Bộ của trường Đại học Kiểm sát được thực hiện đã lâu Hiện tại, quan điểm lý luận cũng như quy định của pháp luật về chức năng của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự đã có nhiều thay đổi Vì lẽ đó, việc nghiên cứu Khóa luận này với mong muốn tiếp cận các quy định cụ thể về chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự, phân tích những tồn tại, vướng mắc của quy định pháp luật hiện hành nhằm góp phần hoàn thiện quan điểm
lý luận là việc làm cần thiết
Trang 9Ngoài ra, còn có một số bài viết đăng trên các sách, báo, tạp chí trong nước xung quanh vấn đề vị trí, chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân
sự Ở một góc độ nào đó, những bài viết, công trình nghiên cứu này đã đề cập đến những khía cạnh nhất định về chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Khóa luận này là nhằm làm sáng tỏ các quy định về chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự Để đạt được mục đích trên, Khóa luận có nhiệm vụ nghiên cứu các đối tượng và phạm vi nghiên cứu như sau:
Nghiên cứu một số vấn đề cơ bản về chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong lĩnh vực dân sự bao gồm: công tác thực hiện chức năng kiểm sát giải quyết các vụ, việc dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động (sau đây gọi tắt là vụ, việc dân sự)
Phân tích lịch sử hình thành và phát triển trong quá trình kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự theo quy định của pháp luật nước ta từ khi thành lập Ngành kiểm sát năm 1960 đến nay
Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về công tác kiểm sát các hoạt động tại phiên tòa dân sự của Viện kiểm sát nhân dân ở nước ta thời gian vừa qua Đồng thời làm sáng tỏ về mặt lý luận, chỉ ra những điểm bất cập, thiếu sót về mặt xây dựng pháp luật trong lĩnh vực kiểm sát giải quyết vụ, việc dân sự từ đó đóng góp hoàn thiện các quy định về công tác thực hiện chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện hoàn thành quá trình nghiên cứu, Khóa luận chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu, phân tích, so sánh, sưu tầm tài liệu, tổng hợp Đồng thời
sử dụng nguồn tài liệu trong các văn bản pháp luật chuyên ngành và được thực hiện qua hai bước nghiên cứu: nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức
Trang 10Nghiên cứu sơ bộ gồm các bước là tiến hành đọc, phân tích, tổng hợp những
tài liệu cần thiết cho việc nghiên cứu như Sắc lệnh, Bộ Luật, Luật, Sách tham khảo,
đề tài nghiên cứu khoa học chuyên ngành, Những tài liệu này cung cấp những gợi
ý giúp xác định chính xác vấn đề và hình thành cơ sở lý luận cho bài nghiên cứu Khóa luận tốt nghiệp
Nghiên cứu chính thức là sử dụng phương pháp tham khảo ý kiến trực tiếp
của các Kiểm sát viên, Điều tra viên và các chuyên gia nghiên cứu luật học lĩnh vực Tòa án và Kiểm sát, về thực trạng áp dụng có hiệu quả các quy định của pháp luật
về chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự để đưa ra các giải pháp hoàn thiện cũng như áp dụng có hiệu quả các quy định của pháp luật trong lĩnh vực tố tụng dân sự của Viện kiểm sát nhân dân Sau đó tổng kết lại quá trình nghiên cứu đưa ra các giải pháp, kiến nghị góp phần hoàn thiện, nâng cao hiệu quả của việc thực thi pháp luật về chức năng thực hiện các hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân tại phiên tòa dân sự Cuối cùng là một số kết luận rút ra từ quá trình nghiên cứu và hướng phát triển
5 Kết cấu Khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và các tài liệu tham khảo, bài Khóa luận có kết cấu 2 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về chức năng của Viện kiểm sát nhân dân
trong tố tụng dân sự
Chương 2: Thực trạng và một số giải nhằm nâng cao hiệu quả kiểm sát giải
quyết các vụ, việc dân sự của Viện kiểm sát nhân dân
Trang 11CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHỨC NĂNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1 Khái niệm về Viện kiểm sát nhân dân và công tác thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực tố tụng dân sự
1.1.1 Khái niệm về Viện kiểm sát nhân dân
Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam VKSND có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.2 Theo đó, hai chức năng của VKSND được quy định như sau:
Chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân 3 là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy
tố, xét xử vụ án hình sự
động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành
án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật
Trang 121.1.2 Khái niệm về công tác thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực tố tụng dân sự của Viện kiểm sát nhân dân
Theo điểm e khoản 2 Điều 6 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm
2014, công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự là một trong những công tác thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VKSND Khi thực hiện công tác này, Viện kiểm sát sử dụng các quyền năng pháp lý được pháp luật quy định để kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án nhân dân, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự, bảo đảm cho việc giải quyết các vụ việc dân sự có căn cứ, kịp thời, đúng pháp luật
Như vậy, công tác kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự
là tổng hợp những hành vi theo luật định mà Kiểm sát viên của VKSND kiểm tra, giám sát về việc tuân theo pháp luật của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ việc
dân sự theo các thủ tục do luật định Bên cạnh đó, hoạt động tố tụng của VKSND
tại phiên tòa dân sự là việc VKSND tham gia với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng trong tố tụng dân sự nhằm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án và những người tham gia tố tụng đảm bảo cho pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh, thống nhất trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án
1.2 Địa vị pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
1.2.1 Tổng quan về địa vị pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
Trong cuộc sống hàng ngày, khi phát sinh tranh chấp cá nhân hay tổ chức có thể phải yêu cầu Toà án giải quyết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Để giải quyết tranh chấp đó, Toà án và những người tham gia sẽ phải tiến hành những hành vi nhất định gọi là tố tụng Tố tụng để giải quyết một tranh chấp dân sự được gọi là tố tụng dân sự Tương tự như vậy có tố tụng hình sự, tố tụng hành chính… Tố tụng dân sự được hiểu theo nghĩa rộng đó là toàn bộ trình tự được tiến hành để giải quyết một số tranh chấp dân sự, bao gồm cả trình tự hoà giải (ngoài Toà án) và trọng tài Quan niệm này được nhiều nước trên thế giới công nhận và được thể hiện trong Bộ luật Tố tụng dân sự của họ Cũng như nhiều chế định pháp
Trang 13lý khác ở nước ta, địa vị pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân nói chung, trong hoạt động giải quyết các vụ án dân sự nói riêng được quy định rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau Trước hết phải nói đến là Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 Điều 107 Hiến pháp 2013 quy định “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp”, góp phần đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong phạm vi trách nhiệm do luật định
Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm
2014 đã quy định một cách khái quát về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự.5 Đến khi Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015 ra đời, địa vị pháp lý của VKSND trong tố tụng dân sự được quy định rất cụ thể trong Bộ luật này và kịp thời hoàn thiện hơn về mặt nội dung các quy định của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân cho phù hợp hơn với thực tiễn xã hội Sự ra đời của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đánh dấu một bước pháp điển hoá cao trong kỹ thuật lập pháp của nước ta, phần nào đã tập trung được những nội dung cơ bản nhất, quan trọng nhất thể hiện cụ thể và rõ nét nhất địa vị pháp lý của VKSND trong lĩnh vực tố tụng dân sự
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ pháp lý thì địa vị pháp lý nói chung một cách thông dụng là “Tổng thể các điều kiện pháp lý mà pháp luật đòi hỏi để xác định cho một chủ thể có khả năng tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập”.6Như vậy, địa vị pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân và của cơ quan Nhà nước nói chung được xác định bởi vị trí, vai trò của nó trong hệ thống các cơ quan nhà nước, tính chất quyền lực và chức năng nhà nước mà cơ quan đó được giao, mức độ phạm
vi tham gia của nó vào quá trình thực hiện các chức năng nhà nước đó Có thể khái
quát rằng: “Địa vị pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự là tổng thể các quy định của pháp luật về vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của
Phùng Thanh Hà (2016), Luận văn thạc sĩ luật học “Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong
tố tụng dân sự Việt Nam”, Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội - 2016
Trang 141.2.2 Vị trí, vai trò, phạm vi của Viện kiểm sát nhân dân khi kiểm sát hoạt
động tư pháp trong lĩnh vực dân sự theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
Về vị trí, vai trò:
Ở Việt Nam, VKSND là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp (Điều 107 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014), Viện kiểm sát có vị trí và vai trò tương đối đặc biệt trong tố tụng dân sự Theo quy định của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm
2014, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Viện kiểm sát không chỉ là cơ quan bảo
vệ lợi ích xã hội và trật tự công cộng mà còn là cơ quan kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực tố tụng dân sự Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự đã bị thu hẹp đi nhưng những quyền đặc thù như tham gia phiên toà (trong một số trường hợp luật định), kháng nghị bản án, quyết định dân sự của Toà án theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm… vẫn tiếp tục được quy định
Trên cơ sở các quy định của pháp luật nêu trên, đã có nhiều ý kiến cho rằng trong tố tụng dân sự, VKSND không thực hiện quyền công tố mà chỉ thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp nên VKSND là cơ quan kiểm sát việc giải quyết
vụ việc dân sự mà không phải là cơ quan tiến hành tố tụng cũng như không phải là
cơ quan tham gia tố tụng Một số ý kiến khác cho rằng, VKSND là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp nên VKSND là cơ quan tiến hành tố tụng Cũng có ý kiến cho rằng, trong tố tụng dân sự VKSND thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn kiểm sát hoạt động tư pháp, không trực tiếp tiến hành các hoạt
Theo quy định tại khoản 1 Điều 107 của Hiến pháp năm 2013, thì VKSND thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp Chức năng kiểm sát hoạt
động tư pháp của VKSND; nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi kiểm sát việc giải
mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật tiếp tục được quy
định tại Điều 4 và Điều 27 của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014
Chính vì vậy, có ý kiến cho rằng theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ
8
http://congly.vn/, bài viết “Xác định vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự”
Trang 15chức VKSND năm 2014 thì cần xác định lại chức năng của VKSND trong tố tụng dân sự là cơ quan kiểm sát việc giải quyết vụ án dân sự với lý do: Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã có những thay đổi nhất định cũng như đã kế thừa và phát huy những ưu điểm từ Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011),
đó là bỏ quy định về quyền khởi tố vụ án dân sự của VKSND mà trước đây có quy định và hiện hành chỉ quy định VKSND có quyền kiến nghị khởi kiện vụ án dân sự
Vì vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành, VKSND không thực hành quyền công tố, không khởi tố vụ án dân sự, không chủ trì thực hiện bất kỳ một giai
chứng cứ, hòa giải, ra các quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ việc giải quyết vụ án, trưng cầu giám định…), mà chỉ kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng dân sự, thể hiện rõ được cơ chế phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực theo Hiến pháp năm
2013 giữa TAND và VKSND
Về phạm vi:
Phạm vi kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ việc dân sự và các việc khác theo quy định của pháp luật bắt đầu từ khi Toà án thông báo thụ lý vụ, việc dân sự đến khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật không bị kháng cáo, kháng nghị hoặc không bị yêu cầu, kiến nghị, đề nghị xem xét lại theo khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
Trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu thì Viện kiểm sát thực hiện việc kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu Trường hợp phát hiện những vụ việc Tòa án trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu không đúng với quy định tại Điều 192, 364 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Viện kiểm sát có trách nhiệm kiến nghị với Chánh án Tòa án cùng cấp đã trả lại đơn khởi kiện hoặc Chánh
án Tòa án cấp trên một cấp theo quy định tại Điều 194, Điều 364 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để khắc phục
Trang 161.2.3 Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự
Tác giả đồng quan điểm với Lê Thị Thanh Loan9 khi cho rằng nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự có thể xác định trên hai phương diện:
Phương diện thứ nhất, theo quy định của Điều 2 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 về nhiệm vụ chung của toàn ngành Kiểm sát nhân dân thì VKSND có nhiệm vụ góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân, bảo đảm để mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đều phải được xử lý theo pháp luật và theo quy định của Điều 6 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 về mục đích hoạt động kiểm sát việc giải quyết các vụ
án dân sự, kinh tế, hành chính, lao động… thì Kiểm sát viên của VKSND kiểm sát việc giải quyết các vụ án nhằm bảo đảm việc giải quyết các vụ án đúng pháp luật, kịp thời Trên các cơ sở quy định pháp luật đó, có thể xác định nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự là:
Thứ nhất, bảo đảm việc giải quyết các vụ án dân sự ở Toà án các cấp nhanh
chóng, khách quan, toàn diện, đầy đủ và kịp thời
Thứ hai, bảo đảm mọi bản án, quyết định dân sự của Toà án có căn cứ và
đúng pháp luật
Trên phương diện thứ hai, nhiệm vụ của VKSND trong tố tụng dân sự được hiểu là trách nhiệm, là nghĩa vụ pháp lý hay là một công việc mà pháp luật quy định Kiểm sát viên phải tiến hành trong hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật Là trách nhiệm, là nghĩa vụ, nhiệm vụ luôn đi đôi cùng với quyền hạn (quyền năng pháp lý mà pháp luật quy định cho VKSND để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự)
Về nguyên tắc, nhiệm vụ và quyền hạn của VKSND một mặt phải được xác định đầy đủ trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân trong tố
9
Lê Thị Thanh Loan (2017), Luận văn thạc sĩ Luật học “Địa vị pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự”, Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội – 2017
Trang 17tụng dân sự, mặt khác chúng phải được pháp luật quy định cụ thể, rõ ràng và chặt chẽ Có như vậy mới đảm bảo cho Kiểm sát viên hoàn thành có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ của mình, đồng thời ngăn chặn sự tuỳ tiện hay lạm dụng chúng trong thực tiễn áp dụng Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự được thực hiện thông qua hoạt động của các chức danh pháp lý cụ thể, đó là Viện trưởng, Phó Viện trưởng và Kiểm sát viên VKSND các cấp
Mặc dù nội dung cũng như phạm vi áp dụng nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự của Viện công tố các nước và Viện kiểm sát nhân dân ở Việt Nam rất khác nhau tuỳ theo pháp luật của mỗi quốc gia, nhưng dưới góc độ kỹ thuật lập pháp, nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát nước ta hay Viện công tố các nước có đặc điểm chung là đều được quy định cả trong các văn bản pháp luật về hình thức và văn bản pháp luật về nội dung Ví dụ: ở nước ta, nhiệm vụ quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự được ghi nhận chủ yếu trong Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Ở Cộng hoà Pháp, quyền khởi kiện của Viện công tố đối với những vụ án dân sự liên quan đến lợi ích công được quy định trong Bộ luật dân sự, còn những nhiệm vụ quyền hạn khác của Viện công tố trong tố tụng dân sự lại được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự… Ở Liên bang Nga cũng vậy, nhiệm vụ quyền hạn của Viện kiểm sát Liên bang Nga trong tố tụng dân sự được ghi nhận trong Luật Tổ chức Viện kiểm sát Liên bang, trong Bộ luật Dân sự, trong Bộ luật
Tố tụng dân sự, trong Luật về môi trường…
Nói tóm lại, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự là nhiệm vụ quyền hạn do pháp luật quy định Nhiệm vụ, quyền hạn này được xác định trên cơ sở vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân
sự và được ghi nhận trong các văn bản pháp luật khác nhau, nhưng chủ yếu là trong Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm
Trang 18sử nhưng vẫn tồn tại và phát triển ngày một hoàn thiện hơn, đảm bảo thực hiện chức năng của VKSND luôn luôn tuân theo Chỉ thị của Đảng trong công tác bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, không phụ lòng tin của Đảng và Nhà nước đã giao phó trách nhiệm
1.3.1 Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1980
Sự ra đời của hệ thống cơ quan VKSND được khởi đầu bằng việc ban hành Hiến pháp 1959 và các luật về tổ chức Nhà nước, trong đó có Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1960 Trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật ấy, các cơ quan công tố được chuyển thành hệ thống các cơ quan nhà nước mới (Viện kiểm sát nhân dân) Khi đó công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự đã được xác định là một trong những khâu công tác nghiệp vụ cơ bản trong hệ thống tổ chức bộ máy của VKSND
Ngày 31/12/1959, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã thông qua Hiến pháp 1959 Liên quan đến chế định VKSND, Điều 105 Hiến pháp 1959 đã quy định: “VKSND tối cao nước Việt Nam dân chủ cộng hòa kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan Nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan Nhà nước và công dân Các VKSND địa phương và Viện kiểm sát Quân sự có quyền kiểm sát trong phạm vi do luật định” Liên quan đến vai trò của VKSND trong tố tụng dân sự, Điều 3 (điểm g) và Điểu 17 (điểm b) của Luật Tổ chức VKSND năm 1960 quy định VKSND các cấp có quyền: khởi tố, hoặc tham gia tố tụng trong những vụ án dân sự quan trọng liên quan đến lợi ích của Nhà nước và của nhân dân Công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, lúc đầu là kiểm sát xét xử dân sự, thực hiện theo quy định của Luật Tổ chức VKSND năm 1960
Trong giai đoạn đầu, khi mới thành lập ngành Kiểm sát nhân dân, trong hoàn cảnh cả nước ta thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là tiến hành cách mạng xã hội ở miền Bắc và giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị đế quốc Mỹ và bọn tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước VKSND đã có một chức năng hiến định hoàn toàn mới so với Viện công tố trước đó
Trang 19là kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan Nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan Nhà nước và công dân Do tầm quan trọng của công tác kiểm sát, góp phần bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền dân chủ của nhân dân Cũng trong giai đoạn này, VKSND luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo của Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương và các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước
Trong suốt một thời gian dài, thẩm quyền của Kiểm sát viên VKSND trong
tố tụng dân sự thể hiện cụ thể tại nhiều văn bản dưới luật khác nhau Tuy nhiên, để thể chế hóa chủ trương của Đảng, những thẩm quyền của VKSND cũng đã được thể hiện tương đối thống nhất và rõ ràng theo các quy định pháp luật Có thể nói, pháp luật tố tụng dân sự thời kỳ này đã giữ nguyên một số thẩm quyền của Viện công tố trước đây và bổ sung, phát triển một số thẩm quyền mới của VKSND, trong đó đáng lưu ý một số thẩm quyền sau đây: thẩm quyền khởi tố vụ án dân sự và tham gia tố tụng Đã có những quy định rất rõ ràng về thẩm quyền này ngay sau khi Luật
Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1960 được ban hành Những loại việc mà VKSND tham gia tố tụng rất đa dạng nhưng có thể phân thành hai loại: một là những việc dân sự mà một trong các bên đương sự khó hoặc không có điều kiện để tự bảo vệ được quyền lợi chính đáng của mình trong các tranh chấp dân sự Loại việc thứ hai
mà Kiểm sát viên VKSND cần phải tham gia tố tụng là những loại việc có liên quan đến quyền, lợi ích của Nhà nước, có ảnh hưởng xã hội lớn, liên quan đến việc thực hiện chính sách lớn Đó là những việc kiện đòi nhà, việc kiện có liên quan đến quyền lợi của Việt kiều, Ngoại kiều,10 khi Tòa án xét xử việc tiêu hôn (trái pháp luật).11 Nếu tham gia tố tụng, Kiểm sát viên có thể tham gia bất cứ khi nào và nếu không tham dự phiên tòa, Kiểm sát viên VKSND phải gửi các bản kết luận viết
Theo các văn bản pháp luật có liên quan, những loại việc trên đều là những loại việc VKSND có quyền khởi tố vụ án dân sự nếu các bên không tự khởi kiện Nếu VKSND khởi tố, VKSND có các quyền và trách nhiệm như một bên đương sự như phải cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh và Tòa án phải xác minh như
Trang 20đối với các đương sự tham gia vụ kiện.12 Đối với những vụ án mà VKSND trực tiếp khởi tố thì Tòa án không tiến hành hòa giải giữa đại diện VKSND và bị đơn trong
vụ kiện.13
Trong giai đoạn 1960-1980, những chủ trương của Đảng và pháp luật có liên quan đến vị trí, vai trò của VKSND trong tố tụng dân sự đã khẳng định sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đến việc đảm bảo sự tuân thủ pháp luật trong xét xử dân sự, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự, và việc thực hiện chức năng của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự Những chủ trương, quy định pháp luật này không chỉ tạo tiền đề cho việc thực hiện chức năng kiểm sát xét xử dân sự trong giai đoạn này mà còn cho các các giai đoạn tiếp sau
1.3.2 Giai đoạn từ năm 1980 đến năm 2004
Với việc ban hành Hiến pháp 1980 và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
1981, vị trí vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trong tố tụng dân sự của VKSND được tiếp tục khẳng định tại các Điều 12 đến Điều 17 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1981 Trong những năm 1980, VKSND trong tố tụng dân sự không có sự thay đổi lớn về mặt nội dung vẫn thực hiện vai trò chính là cơ quan kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử, giải quyết các vụ án dân
sự của Tòa án Riêng quyền yêu cầu Tòa án nhân dân chuyển hồ sơ để phục vụ hoạt động kiểm sát, nếu như trước đây không được quy định có hệ thống thì nay Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1981 đã bổ sung khoản 3 Điều 13 về thẩm quyền này của VKSND, giúp cho VKSND có vai trò như một cơ quan tiến hành tố tụng trong
tố tụng dân sự Đối với quyền khởi tố vụ án dân sự, có hai bổ sung mới: VKSND có quyền trực tiếp khởi tố và có quyền yêu cầu các cơ quan khác đứng ra khởi tố.14VKSND có quyền trực tiếp khởi tố vụ án dân sự khi thấy cần thiết trong quá trình kiểm sát việc thi hành án.15 Quy định này khẳng định quyền khởi tố dân sự là một hoạt động quan trọng của VKSND trong tố tụng dân sự đồng thời cho thấy rằng mặc dù các cơ quan khác cũng có vai trò này nhưng VKSND là cơ quan có trách
Trang 21nhiệm chủ yếu không chỉ trực tiếp đứng ra khởi tố mà còn có trách nhiệm yêu cầu, đốc thúc các cơ quan khác thực hiện hoạt động này
Trong giai đoạn này, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1992 được ban hành, đã cụ thể hóa những quy định về VKSND trong Hiến pháp 1992 - Hiến pháp của giai đoạn đổi mới và cũng là Hiến pháp đầu tiên ghi nhận VKSND có 2 chức năng: kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hành quyền công tố; vị trí, vai trò VKSND trong tố tụng dân sự được tiếp tục khẳng định một cách rõ ràng hơn, cụ thể hơn và đầy đủ hơn Có những quy định rõ ràng hơn, đầy đủ hơn về thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân bao gồm: giới hạn những loại việc mà Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền khởi tố vụ án dân sự, lao động, hành chính được quy định tại Điều 17 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1992, Điều 28 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự và Điều 28 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động; kiểm sát lập hồ sơ các vụ án dân sự, hành chính, lao động được quy định tại Điều 13a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân1988, Điều 17 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1992; yêu cầu Tòa án nhân dân áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của luật được quy định cụ thể tại Điều 41 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Điều 41, 42 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Điều 43 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động, khoản 2 Điều 42 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, khoản 2 Điều 44 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, khoản 2 Điều 46 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động; tham gia tố tụng tại phiên tòa căn cứ tại quy định khoản 2 Điều 17 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1992; kháng nghị các bản án, quyết định của Tòa án theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm được quy định tại khoản 4 Điều 17 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1992 và các điều 58-70, Điều 71-73, 76, 78-80 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, các điều 59-68, Điều 74-77, 79, Điều 81-83 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, điều 60-69, Điều 73-75, Điều 77 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động; kiểm sát việc thi hành án dân
sự được quy định tại Điều 16 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1988, Điều 19-21 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
1992, Điều 9, 28, 45 Pháp lệnh Thi hành án dân sự 1993
Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2002 ra đời với một sự thay đổi bước ngoặt Trong lịch sử hơn 40 năm hình thành và phát triển, VKSND không thực hiện
Trang 22chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội (chức năng kiểm sát chung) mà thực hiện chức năng cơ bản là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2002
đã có những thay đổi đáng kể về việc mở rộng hơn, rõ nét hơn về phạm vi kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự được quy định tại Điều 3 và các điều luật tại Chương IV Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2002, đặc biệt là quy định bổ sung mới tại Điều 21 khoản 1 về thẩm quyền của VKSND kiểm sát việc thụ lý vụ
án của Tòa án nhân dân, chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND được thực hiện trong mọi giai đoạn của tố tụng dân sự, từ khi Tòa án thụ lý đơn kiện cho đến khi thi hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án để kiểm tra, giám sát hành vi tố tụng của Tòa án và những người tham gia tố tụng khác, nhằm đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Hai là, Luật tiếp tục quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của VKSND trong việc khởi tố các vụ án dân sự và bổ sung rõ hơn về thẩm quyền của VKSND trong việc tham gia tố tụng tại phiên tòa Một điểm mới đáng chú ý theo Điều 22 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2002, khi thực hiện kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân
sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật, nếu phát hiện thấy dấu hiệu tội phạm của những người tiến hành
tố tụng, người tham gia tố tụng và những người khác thì VKSND có quyền khởi tố
về hình sự
1.3.3 Giai đoạn từ năm 2005 đến 2015
Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 đã được ban hành và có hiệu lực từ 01/01/2005 Đây là Bộ luật Tố tụng dân sự đầu tiên của nước ta, thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp, nhất là cải cách chính sách tố tụng dân sự và bộ máy các cơ quan tư pháp Với sự ra đời của Bộ luật Tố tụng dân sự 2004, vị trí, vai trò của VKSND trong tố tụng dân sự có sự thay đổi đáng kể xuất phát từ những chủ trương mới của Đảng về nâng cao tính “chủ động thu thập chứng cứ, chứng minh” của đương sự trong tố tụng dân sự,16 giảm bớt sự can thiệp của các cơ quan nhà nước vào các quan hệ tố tụng dân sự, đổi mới phương thức kiểm sát của VKSND trong giai đoạn mới
16
Nghị quyết 49-NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, ngày 02/6/2005
Trang 23Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 ra đời trên cơ sở kế thừa truyền thống tư pháp dân sự đã được xác lập, pháp điển hóa các văn bản pháp luật như Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (năm 1989), Pháp lệnh công nhận và thi hành tại Việt Nam các bản án và quyết định của Tòa án nước ngoài (năm 1993), Pháp lệnh thi hành án dân sự (năm 1993), Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (năm 1994), Pháp lệnh công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài (năm 1995), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động (năm 1996), các quy định cụ thể về thẩm quyền và trách nhiệm của VKSND và Tòa án nhân dân trong Luật Tổ chức VKSND và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (năm 2002) Bộ luật cho phép áp dụng chung một thủ tục cho các loại việc dân sự, kinh tế và lao động
mà trước đây có các thủ tục riêng rẽ đối với từng loại việc với sự khác biệt không nhỏ về trình tự, thẩm quyền, trách nhiệm và thời hạn; Bô luật đã quy định hai loại thủ tục để giải quyết vụ án dân sự và việc dân sự, theo đó việc giải quyết việc dân
sự được tiến hành nhanh gọn với thủ tục đơn giản hơn nhiều so với việc giải quyết các vụ án dân sự
Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 tiếp tục khẳng định chức năng, vị trí pháp lý của
cơ quan VKSND là cơ quan tiến hành tố tụng, thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự mà một trong những phương thức hoạt động chủ yếu là phải tập trung kiểm sát các bản án, quyết định giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án để góp phần đảm bảo các quyết định này có căn cứ và hợp pháp; trong trường hợp phát hiện có vi phạm pháp luật, VKSND được thực hiện các quyền: quyền yêu cầu, quyền kiến nghị và quyền kháng nghị nhằm đảm bảo việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật
1.3.4 Giai đoạn từ năm 2015 đến nay
Lịch sử hơn nửa thế kỷ thực hiện các chủ trương của Đảng và pháp luật liên quan đến việc thực hiện chức năng kiểm sát dân sự ghi nhận sự trưởng thành và phát triển vượt bậc của công tác này hòa cùng sự phát triển chung của ngành Kiểm sát nhân dân
Trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước ta đang thực hiện công cuộc đổi mới
và hội nhập quốc tế toàn diện, các tranh chấp dân sự phát sinh càng nhiều với tính chất ngày càng phức tạp, thì vấn đề về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các
Trang 24bên đương sự, việc đảm bảo việc giải quyết các vụ án dân sự kịp thời và đúng pháp luật, trở thành các yêu cầu quan trọng cần phải được giải quyết trong quá trình thực hiện công cuộc cải cách tư pháp Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng về cải cách tổ chức và hoạt động của VKSND và hoàn thiện chính sách pháp luật dân sự
và thủ tục tư pháp, vấn đề vị trí và vai trò của VKSND đã và đang được nghiên cứu đổi mới dựa trên cơ sở kế thừa và phát huy những thành tựu của công tác kiểm sát dân sự qua các thời kỳ cùng với yêu cầu mới từ thực tiễn đời sống xã hội
Khi Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 ra đời thì một số thẩm quyền được quy định tại Luật Tổ chức VKSND năm 2014 đã có những chuyển biến rõ rệt Sau hơn ba năm thi hành, có thể nói Bộ luật Tố tụng dân sự đã góp phần quan trọng trong việc bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức Cho đến nay, nhiều quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự vẫn còn phù hợp và đang phát huy tác dụng tích cực Tuy nhiên qua tổng kết thực tiễn cho thấy cũng có nhiều quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự đã bộc lộ những hạn chế, bất cập; không đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người dân trong việc giải quyết các tranh chấp nảy sinh trong đời sống dân sự; tăng cường quyền và trách nhiệm của VKSND để họ chủ động trong thực thi nhiệm vụ, bảo vệ được quyền và lợi ích của các đương sự; bảo đảm các quyền, lợi ích chính đáng của cơ quan, tổ chức, cá nhân; góp phần vào sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa như: VKSND không kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án của Tòa án; VKSND không thực hiện thẩm quyền khởi tố (khởi kiện) vụ án dân sự; VKSND không yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và không thực hiện quyền phản đối bằng văn bản đối với biên bản hòa giải thành của Tòa án đối với đương sự; theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì VKSND chỉ tham gia phiên tòa trong một số trường hợp nhất định: Đối với những vụ án do Tòa án thu thập chứng cứ mà đương sự có khiếu nại về việc thu thập chứng cứ đó, các việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, các
vụ, việc dân sự mà VKSND kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án hoặc đã tham gia phiên tòa sơ thẩm vụ án đó, trường hợp sau phiên tòa sơ thẩm mà đương sự có khiếu nại về việc thu thập chứng cứ của Tòa án cấp phúc thẩm; phiên tòa xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm
Trang 25KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong Chương 1, tác giả đã tập trung phân tích, luận giải một số vấn đề lý luận về chức năng của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự như khái niệm, địa vị pháp lý, phạm vi cũng như nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự Việc nghiên cứu những vấn đề lý luận nêu trên giúp luận giải được vai trò của VKSND trong tố tụng dân sự, từ đó rút ra được chức năng của cơ quan này trong từng giai đoạn tố tụng, cụ thể là:
Thứ nhất, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự là một trong
những nội dung của kiểm sát hoạt động tư pháp và được quy định xuyên suốt trong lịch sử hình thành, phát triển của VKSND Kiểm sát viên thực hiện hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự thông qua các hoạt động khác nhau, ở các giai đoạn tố tụng khác nhau Qua thời gian, phạm vi kiểm sát hoạt động
tố tụng dân sự của VKSND có thể mở rộng hay thu hẹp nhưng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự luôn được coi là nguyên tắc của tố tụng dân sự
và ngày nay đã được quy định tương đối cụ thể trong Bộ luật Tố tụng dân sự
Thứ hai, những vấn đề đã được nghiên cứu về chức năng của Viện kiểm sát
nhân dân trải qua lịch sử hình thành và phát triển về lĩnh vực kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng dân sự từ khi thành lập Ngành năm 1960 đến nay giúp cho ta có cái nhìn toàn diện hơn và cụ thể hơn về chức năng của Viện kiểm sát nhân dân tại phiên tòa dân sự Và nó cũng là cơ sở, tiền đề cho việc phân tích và đánh giá những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân, từ đó đưa ra được giải pháp, phương hướng nhằm hoàn thiện những
thiếu sót của pháp luật cũng như việc thi hành pháp luật trên thực tiễn sao cho hiệu
quả
Như vậy, với những nội dung được trình bày ở Chương 1 sẽ là cơ sở, tiền đề cho việc phân tích, đánh giá luật thực định, thực tiễn về các chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự và đề xuất các giải pháp áp dụng có hiệu quả các quy định của pháp luật nhằm hoàn thiện các quy định này
Trang 26CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT CÁC VỤ, VIỆC DÂN SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT
NHÂN DÂN 2.1 Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự
2.1.1 Viện kiểm sát nhân dân tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự theo thủ tục sơ thẩm
Chức năng thực hiện hoạt động kiểm sát việc thông báo thụ lý việc dân sự của Viện kiểm sát nhân dân được xác định từ khi Toà án gửi văn bản thông báo thụ
lý cho Viện kiểm sát Kiểm sát thông báo thụ lý việc dân sự là kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Toà án trong việc thông báo thụ lý việc dân sự Để thực hiện khâu này, khi nhận được thông báo thụ lý việc dân sự, Viện kiểm sát nhân dân cần phải phân biệt các trường hợp sau:
Một là, những việc dân sự được quy định tại khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 9, 10
Điều 27; khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 10, 11 Điều 29; khoản 1, 2, 3, 6 Điều 31, khoản
1, 2, 5 Điều 33 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 về việc kiểm sát việc thông báo thụ lý việc dân sự được áp dụng những quy định tương tự như hoạt động kiểm sát thụ lý
vụ án dân sự Theo đó, khi nhận được thông báo thụ lý việc dân sự, Kiểm sát viên phải vào sổ để theo dõi, kiểm tra văn bản thông báo thụ lý việc dân sự có đảm bảo hình thức và các nội dung chính như qui định tại khoản 2 Điều 196 Bộ luật Tố tụng dân sự và qui định tại Điều 6 Quy chế kiểm sát dân sự bao gồm những nội dung
sau: Ngày, tháng, năm làm văn bản thông báo; tên, địa chỉ Toà án thụ lý việc dân sự; tên, địa chỉ người yêu cầu; những vấn đề yêu cầu Toà án giải quyết; danh sách tài liệu, chứng cứ người yêu cầu nộp kèm theo yêu cầu, thời hạn người được thông báo phải có ý kiến bằng văn bản nộp cho Toà án đối với yêu cầu của người yêu cầu, hậu quả pháp lý của việc người được thông báo không nộp cho Toà án văn bản về ý kiến của mình đối với yêu cầu của người yêu cầu
Hai là, những việc dân sự tại khoản 5 Điều 27, khoản 9 Điều 29, khoản 4, 5
Điều 31; khoản 3, 4 Điều 33 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Viện kiểm sát áp dụng
Trang 27những quy định về thụ lý hồ sơ việc dân sự tại Điều 436, Điều 455 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (đã có sự thay đổi về thời gian thụ lý hồ sơ dân sự theo hướng tăng thời hạn) để kiểm sát thông báo thụ lý việc dân sự;
Ba là, những việc dân sự tại 2 Điều 31, Điều 414 Bộ luật Tố tụng dân sự
2015, Viện kiểm sát áp dụng những quy định về thụ lý việc dân sự tại khoản 1 Điều
71 Luật Trọng tài Thương mại năm 2010 để kiểm sát việc thông báo thụ lý việc dân
sự
Trong quá trình kiểm sát hoạt động thụ lý việc dân sự của Tòa án nếu phát hiện có vi phạm thì Kiểm sát viên lập phiếu theo dõi vi phạm để tổng hợp kiến nghị với Tòa án các vi phạm về thời hạn gửi thông báo, nội dung, hình thức thông báo; theo dõi quyết định chuyển việc dân sự của Tòa án Kiểm sát viên báo cáo lãnh đạo Viện kiểm sát ra văn bản kiến nghị yêu cầu Tòa án khắc phục theo qui định tại khoản 1 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự
Giống như hoạt động kiểm sát thụ lý vụ án dân sự, nếu Viện kiểm sát thực hiện tốt hoạt động kiểm sát việc thụ lý việc dân sự góp phần đảm bảo giải quyết việc dân sự nhanh chóng, đáp ứng yêu cầu nguyện vọng của người yêu cầu, cũng như đảm bảo quyền lợi cho họ Khi Toà án mở phiên họp giải quyết việc dân sự thì Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải tham gia tất cả các phiên họp đó Trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt thì Toà án phải hoãn phiên họp giải quyết việc dân sự
Kiểm sát hoạt động chuẩn bị giải quyết việc dân sự của Tòa án nhân dân
Hoạt động chuẩn bị xét đơn yêu cầu được thực hiện trong một thời gian nhất định theo qui định pháp luật như: không quá 30 ngày đối với yêu cầu Tòa án tuyên
bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, yêu cầu tuyên bố một người là đã chết và yêu cầu Tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu (theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 không còn quy định
về thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu); 20 ngày đối với yêu cầu thông báo tìm người vắng mặt tại nơi cư trú và yêu cầu tuyên bố một ngưới mất tích kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu.17 Trong quá trình chuẩn bị xét đơn yêu cầu, Tòa án có thể ra các
17
Điều 377, Điều 382, Điều 383, Điều 385, Điều 388 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015