Do đó, tác giả đã chọn đề tài: “Thủ tục rút gọn theo BLTTDS 2015” làmLuận văn tốt nghiệp cho khóa cao học Luật dân sự và Tố tụng dân sự tại Trường Đạihọc Kinh tế - Luật, với mong muốn vi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
PHẠM HOÀNG THU THỦY
Trang 2TP HỒ CHÍ MINH - 2019
Trang 3ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
PHẠM HOÀNG THU THỦY
Trang 4TP HỒ CHÍ MINH - 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi.Các số liệu, bản án, quyết định sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõràng, đã công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi
tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan các quy định của pháp luậtViệt Nam về thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự Nghiên cứu này chưa từng đượccông bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác
TÁC GIẢ
PHẠM HOÀNG THU THỦY
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
2 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 BLTTDS 2015
3 Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao HĐTP TANDTC
5 Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn TAND TP Quy Nhơn
Trang 6MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 3
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 5
3.1 Mục tiêu nghiên cứu 5
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4.1 Đối tượng nghiên cứu 6
4.2 Phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Kết cấu đề tài 7
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC RÚT GỌN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 8
1.1 Khái niệm, đặc điểm của thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự 8
1.1.1 Khái niệm thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự 8
1.1.2 Đặc điểm của thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự
10 1.2 Ý nghĩa của thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự
14 1.3 Nội dung điều chỉnh của bộ luật tố tụng dân sự về thủ tục rút gọn
17 • • 1.3.1 Phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn
17 1.3.2 Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn 18
1.3.3 Điều kiện chuyển vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn sang thủ tục thông thường 22
1.3.4 Quy định về trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn 25
1.3.5 Thành phần xét xử khi giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn 33
Trang 71.3.6 Thời hạn giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn 33 1.3.7 Hiệu lực của bản án, quyết định theo thủ tục rút gọn 35 1.3.8 Khiếu nại, kiến nghị và giải quyết khiếu nại, kiến nghị về quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn 36
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 38 CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC RÚT GỌN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VÀ KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 39 2.1 Thực tiễn áp dụng pháp luật về thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự
39
2.1.1 Tình hình áp dụng pháp luật về thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự của Tòa án 39 2.1.2 Những vấn đề liên quan đến quy định pháp luật về thủ tục rút gọn trong
tố tụng dân sự 39 2.1.2.1 Về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn 39 2.1.2.2 Về thời điểm xác định áp dụng thủ tục rút gọn 45 2.1.2.3 Việc chuyển vụ án từ thủ tục rút gọn sang thủ tục thông thường 49 2.1.2.4 Về thời hạn giải quyết vụ án khi chuyển vụ án từ thủ tục rút gọn sang thủ tục thông thường 54 2.1.2.5 Trình tự thủ tục tại Tòa án sơ thẩm theo thủ tục rút gọn 55 2.1.2.6 Khiếu nại, kiến nghị và giải quyết khiếu nại, kiến nghị theo thủ tục rút gọn 58
2.1.2.7 Phạm vi kháng cáo, kháng nghị 61
Trang 82.2 Kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thủ tục tố tụng dân sự rút gọn 63
2.2.1 Kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật về thủ tục rút gọn trong Bộ luật tố tụng dân sự 2015 63 2.2.2 Kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật đối với thủ tục rút gọn trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 72
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 78 KẾT LUẬN 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9tế Thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự ở Việt Nam cho thấy có nhiều vụ án đơngiản, có chứng cứ rõ ràng nhưng các Tòa án vẫn phải áp dụng thủ tục thông thường
để giải quyết gây kéo dài thời gian và chi phí cho cả Nhà nước và đương sự Thực tếnày đã dẫn đến nhiều áp lực cho công tác xét xử của Tòa án nhân dân các cấp tạiViệt Nam, do đó việc cải cách trình tự, thủ tục xét xử vụ án dân sự nhanh chóng vàlinh hoạt là một yêu cầu cấp thiết
Trên cơ sở nắm bắt và dự liệu được những đòi hỏi của thực tiễn khách quantrong lĩnh vực tố tụng dân sự, nhận thức được sự cần thiết và tầm quan trọng củaviệc xây dựng thủ tục dân sự rút gọn Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hànhtrung ương khóa VIII Đảng ta đã chỉ rõ cần phải “Nghiên cứu áp dụng thủ tục rútgọn để xét xử kịp thời một số vụ án đơn giản, rõ ràng”
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cảicách tư pháp đến năm 2020 đã chỉ ra rằng: “Cải cách tư pháp phải xuất phát từ yêucầu phát triển kinh tế - xã hội.tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của nướcngoài phù hợp với hoàn cảnh của nước ta và yêu cầu chủ động hội nhập quốc tế.”.Nghị quyết cũng chỉ ra những nhiệm vụ trọng tâm trong việc hoàn thiện thủ tục tốtụng tư pháp, đó là cần phải “ Xây dựng cơ chế xét xử theo thủ tục rút gọn đối vớinhững vụ án có đủ một số điều kiện nhất định”
Thể chế hóa chủ trương cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước, Hiến phápnăm 2013 đã quy định: “Việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân có hội thẩm thamgia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn”, “Tòa án nhân dân xét xử tập thể và
Trang 10quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn”1 Với quy định nàycủa Hiến pháp năm 2013 đã mở ra hướng cho phép việc xét xử có thể được tiến hànhtheo thủ tục rút gọn
Cụ thể hóa đường lối chỉ đạo của Đảng và Nhà nước tại Nghị quyết NQ/TW của Bộ chính trị và Hiến pháp năm 2013 Bộ luật tố tụng dân sự được Quốchội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 25/11/2015, có hiệulực thi hành kể từ ngày 01/7/2016 đã dành hai chương riêng là Chương XVIII vàChương XIX thuộc Phần thứ tư để quy định về giải quyết vụ án dân sự theo thủ tụcrút gọn Thủ tục rút gọn là một thủ tục mới được quy định trong pháp luật tố tụngdân sự để giải quyết vụ án dân sự có đủ điều kiện với trình tự đơn giản so với thủ tụcgiải quyết các vụ án dân sự thông thường nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng nhưngvẫn bảo đảm đúng pháp luật Có thể nói đây là sự đổi mới, thể hiện sự tiến bộ trong
49-kỹ thuật lập pháp, là thủ tục cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu tính nhanh chóng, linhhoạt, đơn giản và đem lại hiệu quả kinh tế cao của thủ tục tố tụng dân sự, bảo đảmhài hòa việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, của Nhà nước mà vẫntuân thủ đúng pháp luật Thủ tục này có ý nghĩa pháp lý và xã hội sâu sắc trong tìnhhình hiện nay, là cơ sở bảo đảm để người dân có quyền tiếp cận công lý một cáchnhanh chóng, là cơ sở pháp lý để các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết nhanhchóng, kịp thời các vụ án dân sự đơn giản, rõ ràng, góp phần làm giảm tình trạng giatăng, tồn đọng án, đồng thời cũng tiết kiệm được thời gian và chi phí cho nhữngngười tham gia tố tụng mà vẫn bảo đảm tính pháp chế trong việc giải quyết các vụ ándân sự, đáp ứng đòi hỏi và yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay
Tuy nhiên, đây là một trong những quy định mới trong pháp luật tố tụng dân
sự Việt Nam, quá trình áp dụng vào thực tiễn thời gian qua đã nảy sinh những vướngmắc, bất cập chính trong các quy định của pháp luật về thủ tục rút gọn cũng như cơchế áp dụng, đã xảy ra tình trạng thiếu thống nhất về nhận thức và áp dụng các quyđịnh này Thực tế các quy định về thủ tục rút gọn chưa được áp dụng đúng với bảnchất của nó
1 Khoản 1, khoản 4 Điều 103 Hiến pháp năm 2013.
Trang 11Để những quy định về thủ tục rút gọn thực sự đi vào cuộc sống, việc triểnkhai thực thi áp dụng những quy định này có hiệu quả, thống nhất, các cơ quan tiếnhành tố tụng, người tiến hành tố tụng và cả người tham gia tố tụng phải hiểu, ápdụng đúng, thống nhất thì trước hết cần có nhận thức chung đúng và nhất quán đốivới các quy định này, cần thiết phải có hướng dẫn cụ thể về cách hiểu, cách áp dụng.Mặc khác, các quy định này cần phù hợp với thực tế Chính vì vậy, việc đi sâunghiên cứu các quy định này trên góc độ khoa học pháp lý và thực tiễn áp dụng làđiều cần thiết
Do đó, tác giả đã chọn đề tài: “Thủ tục rút gọn theo BLTTDS 2015” làmLuận văn tốt nghiệp cho khóa cao học Luật dân sự và Tố tụng dân sự tại Trường Đạihọc Kinh tế - Luật, với mong muốn việc nghiên cứu này góp phần hoàn thiện hơnnữa các quy định về thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự đồng thời xây dựng mộtcách hiểu đúng đắn, thống nhất trên phương diện khoa học pháp lý về thủ tục này, đề
ra những giải pháp xây dựng cơ chế để thực thi hiệu quả chế định thủ tục rút gọn, đểthủ tục này thực sự phát huy được vai trò, hiệu quả trong việc giải quyết các vụ ándân sự
- Đề tài khoa học nghiên cứu cấp bộ “Vấn đề xây dựng thủ tục tố tụng dân sựrút gọn theo yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay - Thựctrạng và giải pháp” do TS Trần Anh Tuấn làm chủ nhiệm đề tài thực hiện năm 2014;
- Luận án tiến sĩ luật học “Thủ tục rút gọn giải quyết tranh chấp kinh doanhthương mại trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam” của tác giả Đặng Thanh Hoa
Trang 12sự 2015 Năm 2016, Nguyễn Thanh Tùng có Luận văn thạc sĩ luật học “Thủ tục tốtụng dân sự rút gọn ở Việt Nam” Luận văn này viết sau thời điểm BLTTDS 2015 cóhiệu lực nhưng cũng chỉ nêu lên một số hạn chế khó khăn khi áp dụng thủ tục rútgọn, chưa đề cập hết những bất cập, không hợp lý của các quy định thủ tục rút gọntrong BLTTDS 2015.
Từ khi thủ tục tố tụng dân sự rút gọn được quy định trong BLTTDS 2015 đếnnay có một số bài viết có liên quan:
- Đặng Thanh Hoa (2016), “Một số vấn đề về thủ tục rút gọn quy định tại
BLTTDS 2015”, Tạp chí Tòa án nhân dân;
- Nguyễn Thành Nhân (2016), “Áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết các
vụ án dân sự theo quy định của BLTTDS 2015”, Tạp chí Tòa án nhân dân;
- Nguyễn Thị Hồng Nhung (2017), “Bình luận một số quy định về thủ tục rút
gọn trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp;
- Nguyễn Thị Thu Hà (2017), “Các quy định về thủ tục tố tụng dân sự rút gọn
trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp;
- Nguyễn Thị Kim Loan (2017), “Quy định về thủ tục rút gọn trong Bộ luật tố
tụng dân sự năm 2015”, Tạp chí kiểm sát;
- Nguyễn Vinh Hưng (2016), “ Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong Bộ
luật tố tụng dân sự năm 2015”, Tạp chí kiểm sát;
Các công trình nghiên cứu kể trên đã đề cập đến các vấn đề cơ bản của thủ tụcrút gọn, nhưng do tính chất của một bài viết nghiên cứu, các tác giả chỉ đề cập đến
Trang 13một khía cạnh mà không phân tích toàn diện các khía cạnh của vấn đề này, một sốvấn đề có ý nghĩa về lí luận và thực tiễn chưa được nghiên cứu hoặc có đề cập đếnnhưng chưa được lý giải một cách thỏa đáng Bản thân tác giả đang làm việc tại Việnkiểm sát, có thời gian làm công tác kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự, có cơ hộitiếp xúc với việc giải quyết các vụ án dân sự nên nhìn thấy một số vướng mắc trongquy định của pháp luật và cơ chế áp dụng pháp luật về thủ tục rút gọn
Vì vậy, tác giả cho rằng với đề tài nghiên cứu: “Thủ tục rút gọn theoBLTTDS 2015” là hết sức cần thiết nhằm góp phần cho việc thực thi, áp dụng mộtchế định mới, tiến bộ có hiệu quả cao và thống nhất, tiết kiệm được thời gian, tiềnbạc, công sức cho các đương sự và Nhà nước mà vẫn đảm bảo tính pháp chế trongviệc giải quyết các vụ án dân sự, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu của việc nghiên cứu đề tài trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lýluận, phân tích nội dung của chế định thủ tục rút gọn trong BLTTDS 2015, rút ranhững điểm hợp lý và còn hạn chế để đề xuất hoàn thiện trong thời gian tới
Cuối cùng, dựa trên kết quả đã nghiên cứu được, cùng với việc phân tích thựctiễn giải quyết một số loại tranh chấp tại Tòa án Việt Nam để làm cơ sở định hướnghoàn thiện pháp luật và cơ chế áp dụng pháp luật về thủ tục rút gọn trong giải quyếtcác vụ án dân sự, nâng cao tính khả thi của các quy định này trong thời gian tới
Luận văn tập trung giải quyết một số nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu một số vấn đề lý luận để làm rõ khái niệm, bản chất pháp lý, ýnghĩa của thủ tục tố tụng dân sự rút gọn
- Phân tích nội dung của chế định thủ tục rút gọn trong BLTTDS 2015, phântích thực tiễn áp dụng thủ tục rút gọn, tìm ra những nội dung quy định chưa rõ ràngdẫn đến vướng mắc trong thực tiễn áp dụng đồng thời tìm ra bất cập trong cơ chế ápdụng các quy định về thủ tục rút gọn theo BLTTDS năm 2015 Từ đó đề ra kiến nghịhoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện thủ tục rút gọn trong BLTTDS 2015
Trang 144 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận, quy định của pháp luật
và thực tiễn áp dụng những quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 về thủ tục rútgọn trong giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định về thủ tục rút gọn trong Bộ luật
tố tụng dân sự Việt Nam 2015; Thực tiễn áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyếtcác vụ án dân sự tại Tòa án
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng, duy vậtlịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp tổng hợp, phân tích,phương pháp so sánh, phương pháp chứng minh, phương pháp hệ thống
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu đề tài các tác giả cũng còn sử dụngphương pháp khảo sát thực tiễn từ các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tốtụng và đương sự
Chương 2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự
và kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC RÚT
GỌN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1.1 Khái niệm, đặc điểm của thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự
1.1.1 Khái niệm thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự
Việc nghiên cứu pháp luật tố tụng dân sự của nhiều nước trên thế giới chothấy bên cạnh thủ tục tố tụng thông thường, các nước đều xây dựng và áp dụng thủtục tố tụng dân sự rút gọn để giải quyết một số loại vụ án dân sự đáp ứng một số điềukiện nhất định Xét một cách khái quát thì tuy pháp luật mỗi nước có những đặc thùriêng nhưng nhìn chung thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự được hiểu là một thủ tụcđơn giản hơn thủ tục thông thường về thành phần Hội đồng xét xử, về thời gian tiếnhành tố tụng gắn với các bước chứng minh thu thập chứng cứ được áp dụng đối vớimột số vụ án dân sự nhất định Xét về bản chất thì thủ tục rút gọn là một dạng củathủ tục đặc biệt Đó là sự giản lược, đơn giản hóa một số khâu không cần thiết trongquá trình giải quyết vụ án nhằm xử lý nhanh chóng, kịp thời vụ án nhưng vẫn bảođảm đúng quy định của pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bênđương sự
Trong mối quan hệ giữa xét xử theo thủ tục tố tụng dân sự thông thường vàthủ tục xét xử theo thủ tục rút gọn thì thủ tục tố tụng dân sự thông thường là cơ sởcho việc áp dụng giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn và bản chất của thủ tục rút gọn
là sự lược hóa một số bước của thủ tục tố tụng thông thường Tuy nhiên thủ tục tốtụng dân sự rút gọn không phải là thủ tục phụ thuộc vào thủ tục tố tụng dân sự thôngthường mà thủ tục rút gọn là một thủ tục tố tụng độc lập tương đối so với thủ tục tốtụng thông thường Tính độc lập của thủ tục tố tụng dân sự rút gọn thể hiện trongtrường hợp nếu các điều kiện xét xử theo thủ tục rút gọn không còn đáp ứng thì vụviệc vẫn có thể được giải quyết theo thủ tục thông thường
Theo từ điển thuật ngữ pháp luật Pháp - Việt, thủ tục rút gọn là “Thủ tục tố
tụng theo đó các thủ tục được đơn giản hóa hơn so với thủ tục tố tụng thông thường, được áp dụng trước các Tòa án theo thông luật hoặc trước các Tòa án có thẩm
Trang 16quyền chung trong những trường hợp đặc biệt” 2
Ở Việt Nam, công trình về tố tụng dân sự đầu tiên do cố Giáo sư NguyễnHuy Đẩu thực hiện có bàn tới thủ tục giản lược hay thủ tục không đới tranh Theo đó,
“Thủ tục giản lược là một thủ tục ít nệ thức, đỡ tốn kém, và mau chóng hơn, được nhà lập pháp dự liệu như biệt lệ đối với thủ tục tố tụng thông thường” Thủ tục giản
lược được áp dụng đối với: “ Các việc kiện về đối nhân động sản có chứng khoán
không bị tranh nại, các đơn kiện này không có chứng khoán nhưng dưới 90.000 quan, các tố quyền bất động sản hoa lợi đồng niên dưới 8.000 quan, các đơn thỉnh cầu tạm thời hoặc kiện về tiền thuê nhà, lúa ruộng” 3 Khái niệm trên đã xác định
được điều kiện áp dụng và một vài đặc trưng của thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự
là loại thủ tục có thời gian giải quyết ngắn hơn thủ tục thông thường do giản lượcmột số thủ tục tố tụng đồng thời đưa ra được ý nghĩa của việc áp dụng thủ tục rút gọn
là đỡ tốn kém và nhanh chóng hơn Tuy nhiên nó chưa phản ảnh được đầy đủ bảnchất của thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự Đề cập ở mức độ cụ thể và chi tiết hơn,
TS Trần Anh Tuấn cho rằng: “Thủ tục tố tụng dân sự rút gọn là loại hình thủ tục tố
tụng giản lược, do một Thẩm phán tiến hành giải quyết đối với các vụ kiện dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động có nội dung đơn giản, rõ ràng hoặc có giá trị nhỏ theo một trình tự tố tụng đơn giản, nhanh chóng, phán quyết của Tòa án có hiệu lực ngay hoặc có thể bị phản kháng để giải quyết theo thủ tục sơ thẩm thông thường hoặc theo thủ tục phúc thẩm được giản lược” 4 Dựa trên các đặc
trưng cơ bản của thủ tục rút gọn, TS Trần Thanh Hoa cho rằng: “Thủ tục rút gọn là
một thủ tục đơn giản, gọn nhẹ hơn so với thủ tục tố tụng dân sự thông thường về mặt thành phần, trình tự, thủ tục và thời gian giải quyết tranh chấp, được áp dụng đối với một số tranh chấp đơn giản, đương sự thừa nhận nghĩa vụ hoặc chứng cứ rõ ràng hoặc có giá trị thấp” 5
2 Nhà pháp luật Việt- Pháp (2012), Từ điển thuật ngữ pháp luật Pháp-Việt, NXB từ điển Bách
khoa Hà Nội, tr 706.
3GS Nguyễn Huy Đẩu, Luật dân sự tố tụng Việt Nam, Sài Gòn 1962, tr 503-504.
4 Trần Anh Tuấn (2014), Vấn đề xây dựng thủ tục rút gọn theo yêu cầu cải cách tư pháp và
hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, Đề tài khoa học cấp bộ, tr 40.
5 Đặng Thanh Hoa (2015), Thủ tục rút gọn giải quyết tranh chấp KDTM trong pháp luật tố
Trang 17Khái niệm thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự lần đầu tiên được quy định tại
Điều 316 BLTTDS 2015: “Thủ tục rút gọn là thủ tục tố tụng được áp dụng để giải
quyết vụ án dân sự có đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật này với trình tự đơn giản so với thủ tục giải quyết so với các vụ án dân sự thông thường nhằm giải quyết các vụ án nhanh chóng nhưng vẫn bảo đảm đúng pháp luật” Khái niệm này đã xác
định bản chất, phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn
Từ những phân tích trên, trong phạm vi luận văn có thể đưa ra khái niệm của
thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự như sau: Thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự là
thủ tục tố tụng giản lược về thủ tục và rút ngắn về thời gian so với thủ tục tố tụng dân sự thông thường, do một Thẩm phán tiến hành để giải quyết các vụ án dân sự có
đủ điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nhằm giải quyết vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động, nhanh chóng, kịp thời nhưng vẫn bảo đảm các nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự và quyền lợi hợp pháp của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Thủ tục tố tụng dân sự rút gọn là thủ tục được hình thành trên cơ sở đơn giảnhóa thủ tục tố tụng thông thường nhằm giải quyết một số loại vụ án cụ thể nhanhgọn, hiệu quả và có những đặc điểm sau đây:
- Thủ tục rút gọn chỉ áp dụng đối với một số vụ án nhất định.
Bản chất của thủ tục rút gọn là giản lược về thủ tục và rút ngắn về thời giancũng như thành phần giải quyết và tham gia tố tụng nên không thể là một thủ tục ápdụng chung cho việc giải quyết tất cả các tranh chấp dân sự Đối với những tranhchấp phức tạp, chứng cứ không rõ ràng hoặc các đương sự tranh chấp gay gắt, đưa ranhững tài liệu trái chiều nhau để bác bỏ yêu cầu của bên kia thì quá trình giải quyếtphải mất nhiều thời gian, đòi hỏi Tòa án phải tiến hành nhiều hoạt động tố tụng nhưthu thập chứng cứ, đối chất, giám định và việc xét xử cần thông qua tập thể đểđảm bảo phán quyết đưa ra là đúng đắn Ngược lại, đối với các vụ án đơn giản,chứng cứ rõ ràng thì Tòa án không cần thiết phải tiến hành các hoạt động thu thập
tụng Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Đại học luật TP HCM, tr 41.
Trang 18chứng cứ và phải xét xử vụ án bằng một tập thể mà vẫn bảo đảm vụ án được giảiquyết một cách chính xác, đúng đắn và tiết kiệm được thời gian, chi phí của đương
sự và Nhà nước, đồng thời bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.Chính vì vậy, thủ tục rút gọn là một thủ tục chỉ áp dụng giải quyết cho những tranhchấp đặc thù, đáp ứng các điều kiện cơ bản như tranh chấp đơn giản, chứng cứ rõràng, các đương sự thừa nhận nghĩa vụ hoặc giá trị tranh chấp thấp
Thủ tục rút gọn của một số nước đều có chung tiêu chí xác định loại vụ án ápdụng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự là những tranh chấp tài sản có giá trị thấp
Ví dụ ở Pháp, những tranh chấp có giá trị nhỏ không vượt quá 4.000 EUR được giảiquyết theo thủ tục rút gọn bởi một Thẩm phán tại Tòa sơ thẩm có thẩm quyền hẹphoặc Tòa án cơ sở Ở Nhật Bản quy định các vụ kiện có giá trị dưới 900.000 JPYđược giải quyết theo thủ tục rút gọn6 Như vậy, kinh nghiệm các nước cho thấy chỉcần một tiêu chí giá ngạch thấp là đủ để giải quyết vụ án theo thủ tục giản lược hoặcthủ tục rút gọn Giá ngạch bao nhiêu được coi là thấp phụ thuộc vào quy định củatừng nước và dựa vào tính khả thi của quy định về thủ tục rút gọn
Ngoài tiêu chí giá ngạch thấp, kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy các tranhchấp giản đơn, chứng cứ rõ ràng mà không phụ thuộc vào giá trị tranh chấp cũngđược giải quyết theo thủ tục rút gọn
Theo Điều 1405 BLTTDS Pháp, thủ tục ra lệnh thanh toán nợ là một thủ tụcgiản đơn được thực hiện bởi Tòa án trong những trường hợp có yêu cầu về: khoản nợ
có nguồn gốc từ một hợp đồng hoặc từ một nghĩa vụ theo điều lệ và là một số tiềnnhất định Nếu là do hợp đồng thì được xác định theo các điều khoản của hợp đồng,
kể cả điều khoản phạt (nếu có); Nợ do cam kết nhận hoặc rút hối phiếu, ký nhận một
kỳ phiếu, chuyển nhượng hoặc bảo lãnh các loại tín phiếu ấy hoặc nhận chuyểnnhượng một khoản nợ Theo Điều 1425 BLTTDS Pháp, thủ tục ra lệnh buộc thựchiện một công việc: Nếu giá trị của trái vụ không vượt quá thẩm quyền của Tòa án sơthẩm thẩm quyền hẹp, đương sự có thể làm đơn đề nghị Tòa án sơ thẩm thẩm quyền
6Đặng Thanh Hoa, tlđd, tr.44.
Trang 19hẹp cho thanh toán bằng hiện vật trái vụ phát sinh từ hợp đồng giữa người khôngphải là thương nhân.
Điều 189 BLTTDS Trung Quốc quy định thủ tục yêu cầu thanh toán nợ được
áp dụng khi chủ nợ yêu cầu người mắc nợ thanh toán tiền hoặc một chứng khoán cóthể chuyển nhượng, theo đó chủ nợ có thể nộp đơn lên Tòa án có thẩm quyền yêucầu một lệnh trả nợ nếu đáp ứng được hai yêu cầu sau: Chủ nợ và người mắc nợkhông liên quan đến nghĩa vụ tranh chấp khác và lệnh đòi nợ có thể tống đạt đượcđến người mắc nợ
Điều 382 BLTTDS Nhật Bản quy định việc áp dụng thủ tục rút gọn đối vớithủ tục ra lệnh thanh toán là những yêu cầu thanh toán tiền, những vật thay thế hoặcmột số lượng nhất định chứng khoán có thể chuyển nhượng
- Thủ tục rút gọn, rút gọn về trình tự và các bước tố tụng, về thành phần tiến hành tố tụng, về cấp xét xử.
Việc áp dụng thủ tục rút gọn sẽ đơn giản hóa về trình tự, thủ tục hoặc giaiđoạn tố tụng, giản lược một số thủ tục không cần thiết Điển hình như BLTTDSTrung Quốc quy định đối với vụ án đơn giản đương sự có thể khởi kiện bằng miệng7
Về trình tự tiến hành thủ tục rút gọn tại phiên tòa, các nước theo hệ thống thông luậtcũng có những hình thức giải quyết tranh chấp thông qua phiên tòa nhưng thủ tụcđược rút gọn nhằm giảm chi phí và thời gian giải quyết tranh chấp tương tự như thủtục rút gọn trong hệ thống dân luật Vụ kiện sẽ được giải quyết bằng một Thẩm phán,Thẩm phán có thể bỏ qua các bước không cần thiết và chỉ tuyên phần quyết định củaTòa án về việc giải quyết vụ án, còn phần nội dung vụ án, nhận định của Tòa ánđược ghi ngay trong biên bản phiên tòa
Thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự chỉ do một Thẩm phán tiến hành giảiquyết Về sự tham gia của Viện kiểm sát, phần lớn các nước đều quy định cơ quancông tố không có vai trò trong việc giải quyết vụ án dân sự Ở Việt Nam, chức năngcủa Viện kiểm sát không chỉ là thực hành quyền công tố mà còn kiểm sát hoạt động
tư pháp Vì vậy BLTTDS 2015 quy định Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp
7Đặng Thanh Hoa, tlđd, tr.55.
Trang 20luật trong tố tụng dân sự, Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm trong một sốtrường hợp.8
Về cơ chế kháng cáo phúc thẩm đối với bản án, quyết định sơ thẩm được giảiquyết theo thủ tục rút gọn quy định ở các nước không giống nhau, nhưng nhìn chungpháp luật tố tụng dân sự ở nhiều nước không cho cho phép kháng cáo hoặc cho phépkháng cáo phúc thẩm nhưng nội dung kháng cáo bị hạn chế ở việc chỉ cho phépkháng cáo về áp dụng pháp luật của Tòa án sơ thẩm Ở Pháp, đương sự không cóquyền kháng cáo phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm được giải quyết theo thủ tục rútgọn nếu giá ngạch của vụ án dưới 4.000 EUR hay ở Đức là dưới 6.000 EUR ỞTrung Quốc, đối với các vụ án đơn giản và giá trị tranh chấp thấp dưới 30% lươngbình quân theo năm thì các bên tranh chấp không có quyền kháng cáo9 Ở Thái Lanđương sự không có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm về vấn đề sự kiện của vụ án màchỉ có quyền kháng cáo về vấn đề áp dụng pháp luật10 Trong trường hợp này, Tòa án
ra quyết định kết thúc vụ án theo thủ tục rút gọn và yêu cầu buộc thanh toán sẽ hếthiệu lực ngay, khi đó chủ nợ có thể khởi kiện lại theo thủ tục thông thường
- Thủ tục rút gọn rút ngắn về thời gian tố tụng.
Đặc trưng của thủ tục rút gọn so với thủ tục thông thường là có sự rút ngắn vềthời gian tố tụng Pháp luật quy định một thời hạn tố tụng tối đa để tiến hành các hoạtđộng tố tụng ở các giai đoạn tố tụng nhất định nhằm bảo đảm vụ án giải quyết đượcchính xác kịp thời và đúng pháp luật Tuy nhiên, một số vụ án có các điều kiện nhấtđịnh cho phép việc giải quyết nhanh hơn so với thời hạn thông thường, nếu áp dụngthời hạn chung để giải quyết sẽ gây ra sự lãng phí về thời gian, tiền bạc, công sức củacác đương sự và các cơ quan tiến hành tố tụng Tại Trung Quốc, thời gian giải quyếttranh chấp theo thủ tục rút gọn không quá 3 tháng hay Hàn Quốc là 2,5 tháng so vớithủ tục thông thường là 6 tháng Đối với một số nước như: Nga, Đức, Nhật Bản,
8Khoản 2 Điều 21 BLTTDS 2015.
9Nguyễn Thị Hồng Nhung (2017), “Thủ tục rút gọn trong xét xử các vụ án dân sự theo pháp luật
Trung Quốc”, Tạp chí kiểm sát, số 17-2017, tr 63.
10 Đặng Thanh Hoa, tlđd, tr.58.
Trang 21Trung Quốc, Hàn Quốc thì việc ra lệnh thanh toán, thủ tục này được rút ngắn từ khithụ lý đơn cho đến khi lệnh của Tòa án có hiệu lực thi hành chỉ có vài tuần11.
1.2 Ý nghĩa của thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự
Ý nghĩa to lớn của thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự nằm ngay trong chínhtên gọi của thủ tục này với mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho người dân có thể tiếpcận công lý một cách nhanh chóng Thủ tục tố tụng dân sự rút gọn có ý nghĩa khôngchỉ đối với các đương sự, Tòa án mà còn có ý nghĩa xã hội rộng lớn và sâu sắc
Thứ nhất, thủ tục rút gọn góp phần đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, hội nhập kinh tế quốc tế và là sự hiện thực hóa chiến lược cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước ta.
Trong xu thế hội nhập nền kinh tế quốc tế hiện nay đòi hỏi các thủ tục tố tụngnói chung và thủ tục tố tụng tư pháp dân sự nói riêng phải đáp ứng được yêu cầu về
sự mềm dẻo, linh hoạt, nhanh chóng, thuận tiện để giải quyết kịp thời các tranh chấpphát sinh Việc cải cách thủ tục tố tụng tư pháp, trong đó có thủ tục tố tụng dân sựtheo hướng trên sẽ góp phần thúc đẩy các giao lưu kinh tế, thương mại, dân sự pháttriển mạnh mẽ Thủ tục tố tụng dân sự rút gọn với trình tự giải quyết đơn giản, đặcbiệt là thời gian giải quyết ngắn sẽ đáp ứng được nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
và hiện thực hóa chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 mà Đảng và Nhà nước đã
đề ra12
Thứ hai, thủ tục tố tụng dân sự rút gọn làm giảm đáng kể chi phí tố tụng cho đương sự, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong việc tiếp cận công lý, lựa chọn cách thức giải quyết tranh chấp hiệu quả.
Thông thường pháp luật các nước có quy định về thủ tục tố tụng dân sự rútgọn đều quy định án phí mà đương sự phải chịu thấp hơn so với án phí vụ án giải
11 Đặng Thanh Hoa, tlđd, tr.60.
12 Hồ Nguyễn Quân (2017), một số vấn đề về thủ tục rút gọn trong Bộ luật TTDS năm 2015, xem tại: https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/mot-so-van-de-ve-thu-tuc-rt-gon-trong-bo-luat-to-tung-dn-su- nam- 2015/ , truy cập ngày 09 tháng 01 năm 2019.
Trang 22quyết theo thủ tục tố tụng thông thường Vì vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng, trình
tự thủ tục giải quyết được giản lược, thời gian tiến hành tố tụng được rút ngắn đi rấtnhiều lần hơn so với thủ tục tố tụng dân sự thông thường Tòa án không cần tiếnhành nhiều thủ tục tố tụng mà gần như chỉ cần căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ docác đương sự cung cấp nên không phát sinh các chi phí tố tụng như định giá, thẩmđịnh tại chỗ, giám định.đồng thời các chi phí đi lại, thời gian đến Tòa của đương sự
sẽ giảm đáng kể Mặc khác, thủ tục tố tụng dân sự rút gọn sẽ tạo điều kiện thuận lợi
để đương sự khởi kiện và tham gia tố tụng tại Tòa án để bảo vệ quyền, lợi ích hợppháp của mình Trong các vụ án có nội dung đơn giản, chứng cứ rõ ràng thì cácđương sự đều không trải qua tất cả các thủ tục tố tụng như trong thủ tục thôngthường mà chỉ tiến hành một số thủ tục luật định cần thiết cho việc giải quyết vụ án.Thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự là phương tiện để Thẩm phán có thể chủ động
và linh hoạt trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự Việc xét xử vụ ántheo thủ tục rút gọn cũng khuyến khích cho người dân sử dụng Tòa án như một cáchthức hiệu quả để giải quyết tranh chấp Từ đó hạn chế được các hiện tượng tiêu cựcnhư khiếu kiện kéo dài hoặc người dân thiếu tin tưởng vào tính hiệu quả của hệthống Tòa án nên đã tự mình hành xử bằng cách như bắt nợ, đòi nợ thuê Nhữngđiều này góp phần ngăn chặn, hạn chế những tiêu cực của vụ việc dân sự, góp phần
ổn định các mối quan hệ xã hội
Thứ ba, thủ tục rút gọn góp phần làm giảm áp lực về công việc cho Tòa án, tiết kiệm cho Nhà nước về nguồn lực con người và chi phí.
Thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự với trình tự đơn giản, thời gian rút ngắn
sẽ góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác xét xử, giảm tải áp lực công việc chocán bộ ngành Tòa án, đặc biệt là đối với Thẩm phán khi mà số lượng các vụ án tranhchấp về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động ngày một giatăng Trong khi đó, số lượng Thẩm phán và chất lượng xét xử của Thẩm phán chưađồng bộ Giải pháp đặt ra là nếu chúng ta tăng số lượng Thẩm phán tại các Tòa ánđồng nghĩa với việc tăng kinh phí của Nhà nước gây tốn kém cho Ngân sách Nhànước Cho nên song song với việc khắc phục tình trạng mất cân đối giữa số lượng
Trang 23công việc và Thẩm phán, thì việc áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết án dân sự
là giải pháp tiết kiệm cho Nhà nước cả về nguồn lực con người và chi phí đồng thờigiải quyết tốt các vụ án phát sinh tại Tòa án
Thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự với trình tự, thủ tục đơn giản, thời giangiải quyết ngắn sẽ giúp cho các Thẩm phán nâng cao hiệu quả trong công tác xét xử,chủ động giải quyết được số các vụ án có tình tiết đơn giản, chứng cứ rõ ràng, tất cảcác đương sự thừa nhận nghĩa vụ với nhau, tạo điều kiện cho Tòa án có thể tập trungthời gian và nguồn lực con người vào các vụ án khó khăn, có tính chất phức tạp hơn.Đây là một trong những giải pháp để khắc phục tình trạng áp lực lớn về công việccủa ngành Tòa án
1.3 Nội dung điều chỉnh của bộ luật tố tụng dân sự về thủ tục rút gọn
án dân sự theo thủ tục rút gọn thì ưu tiên áp dụng những quy định riêng cho thủ tụcnày Đối với những vấn đề không được quy định tại phần này thì sẽ áp dụng các quyđịnh khác của Bộ luật này để giải quyết tranh chấp Trường hợp văn bản pháp luậtkhác có quy định việc áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết một số tranh chấp thì cácquy định tại phần thứ tư BLTTDS 2015 sẽ được áp dụng để giải quyết những tranh
Trang 24chấp này Chẳng hạn: Điều 41 Luật bảo vệ người tiêu dùng năm 2010 có quy định
“Vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được giải quyết theo thủ tục đơn giản quy định trong pháp luật về tố tụng dân sự” Hay Điều 8 Nghị quyết
42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội quy định áp dụng thủ tục rút gọn trong
giải quyết tranh chấp liên quan đến tài sản bảo đảm tại Tòa án: “Tòa án áp dụng thủ
tục rút gọn để giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm hoặc tranh chấp về quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây Việc giải quyết các tranh chấp quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện theo thủ tục rút gọn quy định tại BLTTDS” Như vậy, các tranh chấp
này sẽ được áp dụng các quy định tại Phần thứ tư BLTTDS 2015 để giải quyết vụ ántheo thủ tục rút gọn
1.3.2 Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn
BLTTDS 2015 đã xác định phạm vi loại vụ án có thể áp dụng thủ tục rút gọntheo hướng kết hợp đủ các điều kiện về tính chất loại việc, nơi cư trú của đương sự
và không có yếu tố nước ngoài Theo quy định tại khoản 1 Điều 317 BLTTDS 2015thì Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn khi có đủ các điều kiện sau đây:
- Vụ án có tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng, đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ; tài liệu chứng cứ đầy đủ, bảo đảm đủ căn cứ để giải quyết vụ án và Tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ;
Điều kiện này được hiểu là vụ án có tình tiết rõ ràng để Tòa án dễ dàng xácđịnh sự thật khách quan của vụ án và đơn giản trong việc xác định pháp luật áp dụng.Việc xác định một tranh chấp có đơn giản hay không phụ thuộc vào mức độ phức tạp
và hệ quả pháp lý của việc áp dụng pháp luật, tác động của việc giải quyết tranh chấp
đó đối với đương sự của vụ án và mức độ phức tạp trong việc xác định sự thật kháchquan của vụ án13 Để xác định vụ án đơn giản hay không, thông thường Thẩm phándựa trên các dấu hiệu như bản chất rõ ràng của mối quan hệ dân sự, đương sự thừa
13 Đặng Thanh Hoa (2016), “Một số vấn đề về thủ tục rút gọn quy định tại BLTTDS 2015”,
Tạp chí
Tòa án, số 9-2016, tr 22
Trang 25nhận nghĩa vụ dân sự, chứng cứ rõ ràng, đầy đủ, các bên đều có địa chỉ liên lạc dễdàng Tuy nhiên nếu đánh giá tính chất của vụ án dân sự theo cách trên, vô hìnhchung chúng ta đã đề cập đến các dấu hiệu khác cũng là điều kiện để áp dụng thủ tục
rút gọn Do đó, tác giả đồng ý với quan điểm cho rằng điều kiện “vụ án có tình tiết
đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng” không phải là một dấu hiệu tốt để nhận dạng
tính giải đơn của vụ án mà chỉ có thể đánh giá tính giản đơn của vụ án thông qua cácđiều kiện tiếp theo sau trong Điều 317 BLTTDS 201514 Khái niệm “vụ án có tình
tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng” được đề cập lần đầu tiên trong Luật bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 nhưng từ đó cho đến nay chưa có bất kỳ vănbản pháp luật nào hướng dẫn đưa ra tiêu chí để xác định vụ án đơn giản là vụ án nhưthế nào hay chứng cứ như thế nào được xem là chứng cứ rõ ràng
Với điều kiện “đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ” Trước hết cần xác định
khái niệm đương sự trong vụ án dân sự bao gồm: nguyên đơn, bị đơn và người có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan (nếu có) trong vụ án đó Điều kiện“đương sự đã thừa
nhận nghĩa vụ” có thể được hiểu là nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ
liên quan trong vụ án đều không phủ nhận nghĩa vụ của mình đối với nhau15 Hay nóicách khác, sẽ không có bất kỳ đương sự nào phản đối đối với bất kỳ yêu cầu nào củacác đương sự liên quan (bao gồm tất cả các yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố vàyêu cầu độc lập)16, để từ đó có thể giúp Thẩm phán thấy được sự đơn giản trong việctìm ra sự thật khách quan của vụ án
- Các đương sự đều có địa chỉ nơi cư trú, trụ sở rõ ràng.
Quy định này giúp cho việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa
án trong quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn được thuận lợi, góp phần bảođảm vụ án được giải quyết nhanh chóng, đúng thời hạn tố tụng và đúng pháp luật, vụ
án không bị kéo dài chỉ vì lý do khó khăn trong việc cấp, tống đạt văn bản tố tụng
14 Nguyễn Thị Hồng Nhung (2017), “Bình luận một số quy định về thủ tục rút gọn trong Bộ
luật tố tụng dân sự năm 2015”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 6-2017, tr.43.
15 Nguyễn Thị Hồng Nhung (2017), “Bình luận một số quy định về thủ tục rút gọn trong Bộ
luật tố tụng dân sự năm 2015”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 6-2017, tr 43.
16 Đặng Thanh Hoa (2016), tlđd, tr 23
Trang 26cho đương sự Tuy nhiên, quy định tại khoản 2 Điều 317 BLTTDS 2015 đã mở rộng
hơn phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn khi giảm bớt điều kiện về “các đương sự đều
có địa chỉ nơi cư trú, trụ sở rõ ràng” và cho phép Tòa án vẫn có thể áp dụng thủ tục
rút gọn trong trường hợp đối với vụ án lao động đã được thụ lý, giải quyết theo thủtục rút gọn mà người sử dụng lao động có quốc tịch nước ngoài hoặc người đại diệntheo pháp luật của họ đã rời khỏi địa chỉ nơi cư trú, nơi có trụ sở mà không thông báocho đương sự khác, Tòa án thì bị coi là trường hợp cố tình giấu địa chỉ Tòa án vẫngiải quyết vụ án đó theo thủ tục rút gọn được quy định tại Bộ luật này
- Không có đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài, trừ trường hợp đương sự ở nước ngoài và đương sự ở Việt Nam có thỏa thuận đề nghị Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn hoặc các đương sự đã xuất trình được chứng cứ về quyền sở hữu hợp pháp tài sản và có thỏa thuận thống nhất về việc xử
lý tài sản
Đương sự không cư trú ở nước ngoài được hiểu là vào thời điểm Tòa án thụ lý
vụ án, đương sự là cá nhân, không phân biệt là người Việt Nam hay người nướcngoài phải đang sinh sống hoặc thường xuyên sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam Đốivới đương sự là cơ quan, tổ chức, không phân biệt là cơ quan, tổ chức nước ngoàihay cơ quan, tổ chức Việt Nam phải có trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện tại ViệtNam Không có tài sản tranh chấp ở nước ngoài được hiểu là tài sản tranh chấp đókhông ở ngoài biên giới lãnh thổ Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ án đó17
Vì những tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài có những nét đặc thù về trình tựthủ tục giải quyết cũng như việc xác định cơ quan có thẩm quyền giải quyết, áp dụngpháp luật để giải quyết dẫn đến vụ án thường bị kéo dài và đòi hỏi Thẩm phán giảiquyết vụ án không những phải nắm rõ luật nội dung, nắm vững pháp luật tố tụng màcòn phải nắm vững và vận dụng đúng đắn các nguyên tắc giải quyết xung đột phápluật về các quan hệ chủ thể, có kiến thức về tư pháp quốc tế, nên các nhà làm luật đãloại trừ những tranh chấp có yếu tố nước ngoài để áp dụng thủ tục rút gọn là hợp lý
17 Điều 7, Nghị quyết 02/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của HĐTPTANDTC.
Trang 27Tuy nhiên xuất phát từ nguyên tắc “Quyền quyết định và tự định đoạt của các đươngsự”, trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, đương sự có quyền thỏa thuận với nhau,nếu thỏa thuận đó là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạođức xã hội Vì vậy nhà làm luật đã dự liệu trường hợp một trong các đương sự cư trú
ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài nhưng các đương sự thỏa thuận đềnghị Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn hoặc các đương sự đã xuất trình đượcchứng cứ về quyền sở hữu tài sản và có thỏa thuận thống nhất về việc xử lý tài sản,đây thực chất là trường hợp chứng cứ đã rõ ràng, các đương sự không có tranh chấp
về quyền sở hữu tài sản nên việc áp dụng thủ tục rút gọn là đương nhiên Mặt khác,việc Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn đối với những trường hợp này sẽtạo điều kiện hỗ trợ cho các doanh nghiệp, người dân Việt Nam bảo vệ được tài sảncủa mình khi đầu tư, kinh doanh ở nước ngoài
Như vậy, thủ tục rút gọn giải quyết vụ án dân sự không phải là một thủ tụcđược quy định song song với thủ tục thông thường trong giải quyết vụ án dân sự.Việc giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn chỉ được thực hiện khi thỏa mãn tất
cả các điều kiện theo quy định nêu trên Những vụ án chỉ cần không hội tụ một trongnhững điều kiện quy định thì không thể áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết
Có thể thấy rằng, việc tích hợp các điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn là cơ sởbảo đảm an toàn pháp lý cho đương sự Tuy nhiên quy định này đã làm thu hẹp hơnphạm vi áp dụng thủ tục rút gọn đối với những tranh chấp có chứng cứ rõ ràng,đương sự thừa nhận hay không phản đối nghĩa vụ18 Xét về phương diện lý luận thìnhững loại việc được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự rút gọn có thể bao gồmnhững vụ kiện có chứng cứ rõ ràng, bị đơn thừa nhận hoặc không phản đối nghĩa vụcủa mình; những vụ kiện có chứng cứ rõ ràng, việc áp dụng pháp luật để giải quyết làđơn giản; những tranh chấp có giá trị nhỏ Việc nghiên cứu kinh nghiệm lập phápcủa một số nước trên thế giới cũng chỉ ra đối với những loại việc trên có thể thiết kếhai loại hình thủ tục đơn giản tương ứng là thủ tục ra lệnh thanh toán và thủ tục đốivới án kiện nhỏ Quy định tại Điều 317 BLTTDS 2015 chưa có sự phân hóa giữa loại
18 Trần Anh Tuấn (2017), Bình luận khoa học BLTTDS, NXB Tư pháp, tr 694.
Trang 28việc có giá trị tranh chấp nhỏ và loại việc đơn giản, có chứng cứ rõ ràng, đương sựthừa nhận nghĩa vụ Đây là sự khác nhau giữa quy định về điều kiện áp dụng thủ tụcrút gọn giải quyết vụ án dân sự trong BLTTDS 2015 với Luật Bảo vệ quyền lợingười tiêu dùng 2010 và Nghị quyết 42/2017/QH14 ngày 21.6.2017 của Quốc Hội.Theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010, một trong nhữngđiều kiện áp dụng thủ tục rút gọn là giá trị tranh chấp nhỏ, cụ thể là dưới 100 triệuđồng19 hay theo quy định của Nghị quyết 42/2017/QH14 ngày 21.6.2017 của QuốcHội, việc xử lý nợ xấu được áp dụng thủ tục rút gọn mà không cần sự thừa nhận củabên vay hoặc bên bảo đảm20 Quy định này hoàn toàn hợp lý trong trường hợp vụ ánđơn giản, chứng cứ rõ ràng, đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ Tuy nhiên trong trườnghợp vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng, giá trị tranh chấp nhỏ nhưng đương sự khôngthừa nhận nghĩa vụ thì theo quy định tại Điều 317 BLTTDS 2015 vụ án không đủđiều kiện áp dụng thủ tục rút gọn, trong khi loại vụ án này về lý luận có thể giảiquyết theo thủ tục rút gọn.
thủ tục thông thường
Theo quy định tại khoản 3 Điều 317 BLTTDS 2015, trong giai đoạn chuẩn bịxét xử sơ thẩm nếu phát sinh tình tiết quy định tại khoản 3 điều 317 BLTTDS 2015làm cho vụ án không còn đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn thì Tòa án ra
quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường, cụ thể là: “phát
sinh tình tiết mới mà các đương sự không thống nhất do đó cần phải xác minh, thu thập thêm các tài liệu, chứng cứ hoặc cần phải tiến hành giám định; cần phải định giá, thẩm định giá tài sản tranh chấp mà các đương sự không thống nhất về giá; cần phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; Phát sinh người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Phát sinh yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập; Phát sinh đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài, yêu cầu xác minh, thu thập chứng cứ ở nước ngoài mà cần phải thực hiện ủy thác tư pháp”.
19 Điều 41 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010.
20 Điều 8 Nghị quyết 42/2017/QH14 ngày 21.6.2017 của Quốc Hội
Trang 29Đặc điểm của quá trình giải quyết vụ án dân sự là không tránh khỏi việc phátsinh các tình tiết, sự kiện mới xoay xung quanh nó, việc phát sinh các tình tiết mớinày có thể làm thay đổi bản chất của tranh chấp theo hướng hóa giải các mâu thuẫnđang tồn tại giữa các đương sự hoặc theo hướng biến tranh chấp từ đơn giản thànhphức tạp, từ ít gay gắt thành gay gắt Vì vậy, việc pháp luật xây dựng một cơ chếchuyển hóa linh hoạt từ thủ tục rút gọn sang thủ tục thông thường là điều cần thiết,tránh sự lúng túng của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án đồng thời bảođảm quyền lợi của đương sự Với quy định tại khoản 3 Điều 317 BLTTDS 2015 chothấy các căn cứ của việc chuyển đổi từ thủ tục rút gọn sang thủ tục thông thườngthực chất là những quy định ban đầu về căn cứ để Tòa án quyết định không áp dụngthủ tục rút gọn Trong quá trình giải quyết vụ án, nếu xuất hiện tình tiết mới nêu trên
có căn cứ xác định làm cho vụ án không còn đủ điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn thìThẩm phán phải ra quyết định chuyển vụ án sang thủ tục tố tụng thông thường
Theo quy định tại khoản 4 Điều 317, khoản 4 Điều 320, khoản 4 Điều 323BLTTDS 2015 thì việc chuyển vụ án giải quyết theo thủ tục rút gọn sang giải quyếttheo thủ tục thông thường được thực hiện không chỉ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử
mà còn tại phiên tòa và cả ở cấp sơ thẩm lẫn phúc thẩm và thời hạn chuẩn bị xét xử
vụ án được tính lại kể từ ngày ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủtục thông thường
Yêu cầu về tính nhanh chóng, hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp đòi hỏiphải thiết lập quy định về cơ chế chuyển đổi từ giải quyết vụ tranh chấp theo thủ tụcrút gọn sang giải quyết theo thủ tục thông thường Tuy nhiên, theo kinh nghiệm củacác nước có quy định về thủ tục ra lệnh thanh toán hoặc buộc làm một công việc nhưPháp, Đức, Nga, Nhật Bản nếu người phải thực thi nghĩa vụ theo lệnh của Tòa ánphản đối lệnh buộc phải thanh toán hoặc không thực hiện công việc theo lệnh củaTòa án thì vụ việc được chuyển sang giải quyết theo thủ tục thông thường hoặcđương sự phải khởi kiện lại theo thủ tục thông thường Về thực chất đây là cơ chếkháng án nhằm bảo đảm an toàn pháp lý cần thiết cho bên bị kiện sau khi có lệnh củaTòa án buộc thực hiện nghĩa vụ Qua nghiên cứu cho thấy thực chất tất cả các căn cứ
Trang 30của việc chuyển đổi từ thủ tục rút gọn sang thủ tục thông thường theo quy định tạikhoản 3 Điều 317 BLTTDS 2015 là những quy định về căn cứ để Tòa án quyết địnhkhông áp dụng thủ tục rút gọn chứ không phải là cơ chế kháng án theo đúng nghĩacủa nó.
Việc quy định cụ thể về chuyển vụ án giải quyết theo thủ tục rút gọn sang giảiquyết theo thủ tục thông thường đã tạo ra một hành lang pháp lý giúp cho Tòa ánlinh hoạt hơn trong quá trình giải quyết vụ án dân sự nhưng vẫn bảo đảm tính hiệuquả, đúng pháp luật trong hoạt động tố tụng, tạo điều kiện tối đa cho đương sự khitham gia tố tụng tại Tòa án từ đó góp phần bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp phápcủa đương sự Tuy nhiên, mục đích và ý nghĩa của thủ tục rút gọn chỉ thực sự đạtđược nếu vụ án được áp dụng thủ tục rút gọn không chuyển sang giải quyết theo thủtục thông thường Nếu vụ án đã áp dụng thủ tục rút gọn sau đó cơ quan tiến hành tốtụng phải chuyển sang áp dụng thủ tục chung để giải quyết thì sẽ không rút ngắnđược về thời gian, không đơn giản được về thủ tục, thậm chí còn làm cho trình tự tốtụng kéo dài và phức tạp hơn nếu áp dụng thủ tục chung để giải quyết ngay từ khi thụ
lý vụ án Vì vậy, cần hạn chế việc xác định không đúng các điều kiện để áp dụng thủtục rút gọn rồi sau đó lại chuyển sang thủ tục thông thường để giải quyết vụ án
1.3.4 Quy định về trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn
+ Quy định về trình tự, thủ tục rút gọn tại tòa án sơ thẩm.
Vì vụ án giải quyết theo thủ tục rút gọn là vụ án đơn giản, quan hệ pháp luật
và tài liệu, chứng cứ vụ án rõ ràng, đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ nên không cần
có hoạt động xác minh thu thập chứng cứ của Tòa án Đồng thời với yêu cầu rút ngắntrình tự tố tụng nên BLTTDS 2015 quy định hoạt động của Thẩm phán trong giaiđoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn được lược bỏ hơn so với thủ tụcthông thường bảo đảm vụ án được giải quyết nhanh chóng, đúng pháp luật, bảo vệquyền và lợi ích chính đáng của đương sự trong vụ án
- Khởi kiện và thụ lý vụ án theo thủ tục rút gọn.
Trang 31BLTTDS 2015 không có quy định riêng về khởi kiện vụ án dân sự và thụ lý
vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn Tuy nhiên, căn cứ vào khoản 2 Điều 316 BLTTDS
2015, việc khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn được thực hiện nhưđối với vụ án dân sự giải quyết theo thủ tục tố tụng thông thường Theo đó việc khởikiện vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn sẽ thực hiện theo quy định từ Điều 186 đếnĐiều 194 BLTTDS 2015 Việc thụ lý vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn sẽ thực hiệntheo quy định từ Điều 191 đến Điều 196 BLTTDS 2015
Theo quy định tại khoản 4 Điều 7 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản
lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì mức tạm ứng án phí và án phí trong vụ án dân
sự giải quyết theo thủ tục rút gọn bằng 50% mức tạm ứng án phí, án phí theo thủ tụcthông thường quy định tại Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghịquyết 326
Theo quy định tại các điểm đ, g khoản 2 Điều 196 BLTTDS 2015 thì thôngbáo thụ lý phải ghi rõ “vụ án được thụ lý theo thủ tục thông thường hay thủ tục rútgọn” và “thời hạn bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải có ý kiếnbằng văn bản nộp cho Tòa án đối với yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu chứng
cứ kèm theo, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập (nếu có)”
Quy định này tạo điều kiện cho đương sự thể hiện ý kiến để bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp của mình Tuy nhiên, vấn đề đặt ra ở đây là sau khi nhận Thông báothụ lý vụ án, nếu đương sự cho rằng Thẩm phán thụ lý vụ án theo thủ tục rút gọn haythủ tục thông thường là không đúng thì họ có quyền khiếu nại không? Bởi lẽBLTTDS 2015 chỉ có quy định việc khiếu nại, kiến nghị và giải quyết khiếu nại, kiếnnghị về quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn tại Điều 319 mà chưa cóquy định đương sự có quyền khiếu nại đối với Thông báo thụ lý vụ án theo thủ tụcrút gọn hay không? Cũng như chưa có quy định về trình tự, thủ tục giải quyết khiếunại này Để đảm bảo tính thống nhất trong việc áp dụng pháp luật, thiết nghĩ cần cóhướng dẫn cụ thể về vấn đề này
Đối với vụ án giải quyết theo thủ tục rút gọn thì quy định bị đơn, người có
Trang 32quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đốivới yêu cầu của nguyên đơn có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định họ có thừanhận nghĩa vụ của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn trong đơn khởi kiện haykhông Đây là một trong những căn cứ để Thẩm phán xác định vụ án có còn thỏamãn đầy đủ điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn hay không? BLTTDS 2015 không cóquy định cụ thể chế tài đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khi họkhông thực hiện nghĩa vụ nêu trên21 Tuy nhiên, theo quy định tại điểm h khoản 2Điều 196 BLTTDS 2015 thì trong Thông báo thụ lý vụ án phải có nội dung nêu rõ
“hậu quả pháp lý của việc bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không nộp cho Tòa án văn bản về ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện” Do đó, khi bị
đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa
vụ của họ theo quy định tại khoản 1 Điều 199 BLTTDS 2015 cụ thể là họ không nộpcho Tòa án văn bản thể hiện ý kiến của họ đối với yêu cầu khởi kiện của người khởikiện thì Tòa án sẽ căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ
án theo quy định của pháp luật Theo khoản 2 Điều 199 BLTTDS 2015, trường hợp
bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị gia hạn thời hạn trả lờithông báo thụ lý vụ án thì Tòa án phải gia hạn nhưng không quá 15 ngày Tuy nhiên,nếu gia hạn thì thời hạn giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn không được bảo đảm
- Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án theo thủ tục rút gọn.
Để đảm bảo việc phán quyết vụ án theo thủ tục rút gọn được nhanh chóng,chính xác và đúng pháp luật thì trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án theo thủtục rút gọn là 1 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán thụ lý vụ án cần phải xácđịnh xem vụ án có còn đáp ứng đầy đủ các điều kiện để giải quyết theo thủ tục rútgọn không? Cụ thể: Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự có rõràng không, có đương sự nào phản đối đối với yêu cầu của các đương sự liên quankhông? Nếu họ đều thừa nhận nghĩa vụ thì sự thừa nhận đó có xuất phát từ ý chí tựnguyện không? Có vi phạm điều cấm của pháp luật và trái đạo đức xã hội không?Xác định chứng cứ đã đầy đủ để giải quyết vụ án chưa, các đương sự có thống nhất
21 Điều 199 BLTTDS 2015.
Trang 33về các tài liệu, chứng cứ trong vụ án không? Kiểm tra lại địa chỉ, nơi cư trú, trụ sởcủa đương sự có rõ ràng không? Vụ án có đương sự hay tài sản ở nước ngoài không?Nếu có thì các đương sự có thỏa thuận về việc áp dụng thủ tục rút gọn, xử lý tài sảnkhông?22 Qua kiểm tra tài liệu, chứng cứ trong vụ án nếu xác định vụ án vẫn đáp ứngđầy đủ các điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn theo khoản 1 Điều 317 BLTTDS 2015thì Thẩm phán ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn Nếu xác định
vụ án có một trong các căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 317 BLTTDS 2015 làm cho
vụ án không còn đủ điều kiện giải quyết theo thủ tục rút gọn thì Thẩm phán ra quyếtđịnh chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường BLTTDS 2015 khôngquy định về trường hợp đình chỉ hoặc tạm đình chỉ giải quyết vụ án theo thủ tục rútgọn nên căn cứ khoản 2 Điều 316 BLTTDS 2015, Thẩm phán có thể ra quyết địnhđình chỉ hoặc tạm đình chỉ giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn theo quy định tạiĐiều 214 và Điều 217 BLTTDS 2015
- Phiên tòa xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn.
Sự có mặt của đương sự và Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm
Theo quy định tại khoản 1 Điều 320 BLTTDS 2015 thì các đương sự, Kiểmsát viên phải có mặt tại phiên tòa xét xử theo thủ tục rút gọn, trường hợp Kiểm sátviên vắng mặt, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp
lệ mà vắng mặt không có lý do chính đáng thì Thẩm phán vẫn tiến hành xét xử Quyđịnh này là phù hợp với đặc điểm của thủ tục rút gọn là rút ngắn về thời gian, giảnlược về thủ tục đồng thời nâng cao trách nhiệm của Kiểm sát viên trong thực hiệnnhiệm vụ tham gia phiên tòa, nâng cao trách nhiệm của đương sự trong việc chấphành nghĩa vụ tố tụng Tuy nhiên, BLTTDS 2015, không quy định cách giải quyếttrong trường hợp tại phiên tòa sơ thẩm theo thủ tục rút gọn, nguyên đơn được Tòa ántriệu tập hợp lệ mà vắng mặt không có lý do chính đáng thì xử lý như thế nào Chonên căn cứ vào khoản 2 Điều 316 BLTTDS 2015, trường hợp này thì Thẩm phán raquyết định hoãn phiên tòa và triệu tập lần thứ hai nếu nguyên đơn vẫn vắng mặt thì
22 Nguyễn Thị Thu Hà (2017), “Các quy định về thủ tục tố tụng dân sự rút gọn trong BLTTDS năm
2015”, Nghiên cứu lập pháp, số 7- 2017, tr 53.
Trang 34Thẩm phán ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án theo quy định chung
Theo quy định tại khoản 1 Điều 233 BLTTDS 2015 thì thời hạn hoãn phiêntòa xét xử theo thủ tục rút gọn là không quá 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãnphiên tòa
- Phiên tòa sơ thẩm theo thủ tục rút gọn.
Điểm khác nhau lớn nhất giữa phiên tòa sơ thẩm theo thủ tục thông thường vàphiên tòa sơ thẩm theo thủ tục rút gọn đó là thủ tục hòa giải tại phiên tòa Nhằm đápứng yêu cầu nhanh chóng và linh hoạt của việc giải quyết các vụ án dân sự đơn giản,
rõ ràng, khoản 1 Điều 205 BLTTDS 2015 đã bỏ thủ tục hòa giải trong giai đoạnchuẩn bị xét xử theo thủ tục rút gọn
Khoản 3 Điều 320 BLTTDS 2015 quy định Thẩm phán tiến hành hòa giảitrong phiên tòa sơ thẩm chứ không bắt buộc phải hòa giải trước khi mở phiên tòa sơ
thẩm giống như thủ tục tố tụng thông thường Theo đó “Sau khi khai mạc phiên tòa,
Thẩm phán tiến hành hòa giải, trừ trường hợp không được hòa giải theo quy định tại Điều 206 hoặc không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 của Bộ luật này Trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án thì Thẩm phán ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự theo quy định tại Điều 212 của Bộ luật này Trường hợp các đương sự không thỏa thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án thì Thẩm phán tiến hành xét xử” 23 Có thể thấy, trình tự của phiên tòa sơ thẩm theo thủ tục rútgọn là sự kết hợp của việc hòa giải với việc tiến hành phiên tòa sơ thẩm bằng cáchThẩm phán thực hiện thủ tục hòa giải tại phiên tòa, nếu các đương sự không hòa giảiđược thì chuyển ngay sang thủ tục xét xử mà không phải mất thêm thời gian ra Quyếtđịnh xét xử và tống đạt quyết định này cho đương sự nếu việc hòa giải không thànhnhư thủ tục thông thường Trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau vềtoàn bộ các vấn đề phải giải quyết trong vụ án tại phiên tòa rút gọn, Thẩm phánkhông được ra ngay quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự mà chờsau 7 ngày kể từ ngày kết thúc phiên tòa nếu không có đương sự nào thay đổi ý kiến
23 Khoản 3 Điều 320 BLTTDS 2015.
Trang 35về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán mới được ra quyết định công nhận sự thỏa thuậncủa đương sự Quy định này tạo điều kiện thuận lợi cho đương sự có thêm thời giansuy nghĩ, cân nhắc lại tất cả những nội dung mà họ đã thỏa thuận Đây là điểm thểhiện sự khác biệt lớn bản chất của phiên tòa xét xử theo thủ tục rút gọn với phiên tòaxét xử theo thủ tục thông thường.
Về trình tự thủ tục xét xử tại phiên tòa sơ thẩm theo thủ tục rút gọn: Khoản 3Điều 320 BLTTDS 2015 quy định trình tự xét xử tại phiên tòa sơ thẩm theo thủ tục
rút gọn bao gồm: “việc trình bày, tranh luận, đối đáp, đề xuất quan điểm về việc giải
quyết vụ án được thực hiện theo quy định tại Mục 3 Chương XIV của Bộ luật này”.
Về cơ bản thủ tục phiên tòa rút gọn không có sự khác biệt so với phiên tòa thôngthường, trình tự thủ tục xét xử không có sự giản lược so với thủ tục thông thường,
ngoại trừ thủ tục nghị án được giản lược Tuy nhiên có thể nhận thấy đối với “Vụ án
có tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng, đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ”
thì việc xét xử tại phiên tòa “thực chất là một phiên đối chất để kiểm tra lại các tàiliệu, chứng cứ trong hồ sơ, trước khi Thẩm phán ra quyết định về vụ việc”24 nênkhông cần thiết cho đương sự tranh luận, đối đáp Với quy định trên cho thấy sự giảnlược chưa triệt để của nhà làm luật Việc tranh luận, đối đáp có thể được thực hiện
đối với vụ án có “tài liệu, chứng cứ đầy đủ, bảo đảm đủ căn cứ để giải quyết vụ án
và Tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ” Vấn đề này rất cần có hướng dẫn
cụ thể để đảm bảo tính thống nhất trong việc áp dụng pháp luật
+ Quy định về trình tự, thủ tục rút gọn tại tòa án cấp phúc thẩm.
- Kháng cáo, kháng nghị đối với bản án, quyết định theo thủ tục rút gọn.
BLTTDS 2015 không có quy định riêng về quyền kháng cáo, kháng nghị theothủ tục rút gọn Theo quy định tại khoản 2 Điều 316 BLTTDS 2015, việc kháng cáo,kháng nghị đối với bản án, quyết định theo thủ tục rút gọn được thực hiện như đốivới thủ tục tố tụng thông thường từ thời hạn kháng cáo, kháng nghị đến phạm vi
kháng cáo, kháng nghị bảo đảm nguyên tắc “chế độ hai cấp xét xử sơ thẩm và phúc
thẩm” quy định tại Điều 103 Hiến pháp năm 2013.
24 Trần Anh Tuấn (2014), tlđd, tr 113.
Trang 36- Phiên tòa phúc thẩm theo thủ tục rút gọn.
Tương tự như phiên tòa sơ thẩm theo thủ tục rút gọn, phiên tòa phúc thẩmtheo thủ tục rút gọn cũng tiến hành theo một trình tự đơn giản, nhanh chóng hơn so
với thủ tục tố tụng thông thường Theo khoản 2 điều 324 BLTTDS 2015: “các
đương sự, Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải có mặt tại phiên tòa phúc thẩm, Trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, trừ trường hợp Viện kiểm sát có kháng nghị phúc thẩm” Với quy định trường hợp
Viện kiểm sát kháng nghị phúc thẩm mà Kiểm sát viên vắng mặt tại phiên tòa phúcthẩm thì phải hoãn phiên tòa là hoàn toàn hợp lý Bởi lẽ trường hợp này, Kiểm sátviên phải có mặt tại phiên tòa để thực hiện quyền thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị
và bảo vệ kháng nghị tại phiên tòa phúc thẩm Qua nghiên cứu quy định tại khoản 2Điều 324 BLTTDS 2015, nhận thấy việc đòi hỏi về bảo đảm quyền tham gia phiêntòa của đương sự được giảm nhẹ so với thủ tục tố tụng thông thường Đương sự cónghĩa vụ tham gia phiên tòa phúc thẩm nhưng trường hợp đương sự không kháng cáo
đã được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt không có lý do chính đáng thì Thẩm phán vẫntiến hành xét xử
Nếu vụ án giải quyết theo thủ tục thông thường, thời hạn hoãn phiên tòa phúcthẩm được quy định dẫn chiếu về thời hạn hoãn phiên tòa theo khoản 1 Điều 233BLTTDS 2015, thì BLTTDS 2015 không có quy định thời hạn hoãn phiên tòa phúcthẩm rút gọn hay quy định dẫn chiếu như thủ tục phúc thẩm thông thường
Ngoài việc giản lược về thành phần tiến hành tố tụng thì thủ tục phúc thẩm rútgọn còn giản lược về thủ tục bắt đầu phiên tòa so với thủ tục tố tụng thông thường25
Các quy định về thủ tục tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm rút gọn tương tựnhư quy định về thủ tục phúc thẩm thông thường nhưng được giản lược hơn như
không có quy định “việc hỏi” và không có quy định riêng về việc nghị án Theo đó,
Thẩm phán trình bày tóm tắt nội dung bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo,kháng nghị, nội dung của kháng cáo, kháng nghị và tài liệu, chứng cứ kèm theo
25 Điều 324 BLTTDS 2015.
Trang 37Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trình bày, đương sự bổ sung ýkiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị, tranh luận, đối đáp, đề xuất quan điểm củamình về việc giải quyết vụ án Sau khi kết thúc việc tranh luận và đối đáp, Kiểm sátviên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trìnhgiải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm.
Theo quy định tại khoản 6 Điều 234 BLTTDS 2015 thì quyền hạn của Thẩmphán tại phiên tòa phúc thẩm theo thủ tục rút gọn tương tự như quyền hạn của Hộiđồng xét xử phúc thẩm thông thường BLTTDS 2015 không quy định căn cứ đểThẩm phán ra một trong các quyết định theo khoản 6 Điều 234 BLTTDS 2015 nêncăn cứ vào các quy định từ Điều 308 đến Điều 312 BLTTDS 2015 để xác định:Thẩm phán có quyền giữ nguyên bản án, quyết định theo thủ tục rút gọn của Tòa áncấp sơ thẩm nếu kháng cáo, kháng nghị không có cơ sở Việc sửa bản án, quyết địnhcủa Tòa án cấp sơ thẩm sẽ được thực hiện nếu có đủ chứng cứ, tài liệu để quyết định
về vụ án Việc hủy bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ áncho Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết lại vụ án theo thủ tục rút gọn hoặc theo thủ tụcthông thường sẽ được thực hiện nếu: không có đủ tài liệu, chứng cứ để quyết định về
vụ án; Thẩm phán đã tiến hành xét xử sơ thẩm thuộc trường hợp phải từ chối tiếnhành tố tụng hoặc bị thay đổi; có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng ảnh hưởngđến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Việc hủy bản án sơ thẩm và đình chỉgiải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn được thực hiện trong các trường hợp: yêu cầu tốtụng ở cấp sơ thẩm không còn tồn tại hoặc Tòa án sơ thẩm thụ lý vụ án không đúng.Việc đình chỉ xét xử phúc thẩm và giữ nguyên bản án sơ thẩm được thực hiện nếu:yêu cầu tố tụng ở cấp phúc thẩm không còn tồn tại hoặc có sự suy đoán về việcđương sự từ bỏ yêu cầu tố tụng của mình
1.3.5 Thành phần xét xử khi giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn
Theo quy định tại Điều 65 BLTTDS 2015: “Việc xét xử sơ thẩm, phúc thẩm
vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn do một Thẩm phán tiến hành” Vì đặc thù vụ án
giải quyết theo thủ tục rút gọn là vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng, đương sự đềuthừa nhận nghĩa vụ nên việc giao cho một Thẩm phán độc lập xét xử là hợp lý vừa
Trang 38tạo điều kiện cho Thẩm phán chủ động trong việc giải quyết án, vừa nâng cao tráchnhiệm cá nhân của Thẩm phán đồng thời tiết kiệm cho Nhà nước cả về nguồn lực vàchi phí, nhưng vẫn bảo đảm tính chính xác và đúng pháp luật Cơ chế xét xử bằngmột Thẩm phán không có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân trong thành phần củaHội đồng xét xử là phù hợp với khoản 1 và khoản 4 Điều 103 Hiến Pháp 2013:
“Việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân có hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét
xử theo thủ tục rút gọn” và “Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa
số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn” Tuy nhiên về mặt thuật ngữ pháp lý,
khoản 1 Điều 320 và khoản 2 Điều 324 BLTTDS 2015 quy định: “Trường hợp Kiểm
sát viên vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử” là chưa chính xác về ngữ
nghĩa sẽ dẫn đến cách hiểu là việc xét xử theo thủ tục rút gọn vẫn do một hội đồngxét xử tiến hành Trường hợp này cần được hiểu là Thẩm phán chứ không phải làHội đồng xét xử
1.3.6 Thời hạn giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn.
+ Thời hạn giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn tại Tòa án cấp sơ thẩm.
Khoản 1 Điều 318 BLTTDS 2015 quy định: “Trong thời hạn không quá 01
tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 195 của Bộ luật này Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải ra quyết định đưa vụ án
ra xét xử theo thủ tục rút gọn và mở phiên tòa xét xử trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định” Để đáp ứng yêu cầu về tính nhanh chóng trong việc giải quyết
các vụ án đơn giản, rõ ràng, thì thời hạn giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn đượcrút ngắn rất nhiều so với thủ tục thông thường và thời hạn này được áp dụng chungcho mọi tranh chấp là hợp lý Về thời hạn gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủtục rút gọn cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp cũng được rút ngắn Theo quy
định tại khoản 3 Điều 318 BLTTDS 2015 thì “Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo
thủ tục rút gọn phải được gửi ngay cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp” chứ
không phải là trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được ra quyết địnhđưa vụ án dân sự ra xét xử đối với các vụ tranh chấp được giải quyết theo thủ tụcthông thường Thời hạn Viện kiểm sát nghiên cứu hồ sơ cũng được rút ngắn tương
Trang 39ứng, khoản 3 điều 318 BLTTDS 2015 quy định: “trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể
từ ngày nhận được hồ sơ, Viện kiểm sát phải nghiên cứu và trả lại hồ sơ cho Tòa án” thay vì là 15 ngày làm việc như đối với các vụ án được giải quyết theo thủ tục
thông thường
+ Thời hạn giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn tại Tòa án cấp phúc thẩm.
Để đáp ứng yêu cầu nhanh chóng và linh hoạt của việc giải quyết vụ án theothủ tục rút gọn Điều 322 BLTTDS 2015 quy định thời hạn kháng cáo, kháng nghịđối với bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm theo thủ tục rút gọn ngắn hơn sovới thủ tục tố tụng thông thường Cụ thể, thời hạn kháng cáo đối với bản án, quyếtđịnh của Tòa án cấp sơ thẩm theo thủ tục rút gọn là 7 ngày, kể từ ngày tuyên án Đốivới đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án,quyết định được giao cho họ hoặc bản án, quyết định được niêm yết nhằm tạo điềukiện cho đương sự biết được nội dung của bản án, quyết định của Tòa án có liênquan đến quyền lợi của mình để thực hiện quyền kháng cáo đồng thời cũng là giảipháp nhằm chống lại sự trì hoãn, trốn tránh không nhận bản án, quyết định của Tòaán; thời hạn kháng nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm theo thủtục rút gọn của Viện kiểm sát cùng cấp là 7 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trựctiếp là 10 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định
Khoản 1 Điều 323 BLTTDS 2015 quy định trong thời hạn 01 tháng, kể từngày thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án theo thủ tục phúcthẩm ra một trong các quyết định sau: tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án; đình chỉxét xử phúc thẩm vụ án; đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm Trong thời hạn 15 ngày kể
từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, Thẩm phán phải mở phiên tòaphúc thẩm26 Như vậy thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn đãđược rút ngắn một nửa so với thủ tục tố tụng thông thường Quyết định đưa vụ án raxét xử phúc thẩm cũng phải được gửi ngay cho những người có liên quan đến khángcáo, kháng nghị và Viện kiểm sát cùng cấp, chứ không phải là trong thời hạn 03 ngàylàm việc như đối với quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm theo thủ tục thông
26 khoản 1 Điều 324 BLTTDS 2015.
Trang 40thường Thời hạn nghiên cứu hồ sơ của Viện kiểm sát cùng cấp được rút ngắn chỉcòn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án thay vì là 15 ngày đối với thủ tụcphúc thẩm thông thường27.
Ngoài ra khoản 4 Điều 323 BLTTDS 2015 quy định trong thời hạn chuẩn bịxét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn nếu xuất hiện tình tiết mới quy định tại khoản
3 Điều 317 của BLTTDS 2015 thì Tòa án ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyếttheo thủ tục thông thường và thời hạn chuẩn bị xét xử được tính theo quy định tạikhoản 4 Điều 317 Bộ luật này
Điều 321 BLTTDS 2015 quy định: “ Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án
theo thủ tục rút gọn có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm rút gọn Bản án, quyết định theo thủ tục rút gọn có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Bộ luật này” Quy định này đã tuân thủ triệt để nguyên tắc
hiến định theo khoản 6 Điều 103 Hiến Pháp năm 2013 “Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc
thẩm được bảo đảm” Điều 17 BLTTDS 2015 quy định nguyên tắc chế độ xét xử sơ
thẩm, phúc thẩm được áp dụng cho tất cả các vụ việc dân sự mà không có bất kỳngoại lệ nào nhằm bảo đảm tính đúng đắn, hợp pháp trong các phán quyết của Tòa
án trước khi đưa ra thi hành28 Việc BLTTDS 2015 quy định thủ tục rút gọn áp dụng
ở cả cấp phúc thẩm, đây là điểm tiến bộ và cần thiết, bởi vì vụ án được xét xử nhanhchóng ở giai đoạn sơ thẩm nhưng đến giai đoạn xét xử phúc thẩm lại bị kéo dài, điều
đó sẽ làm mất đi ý nghĩa của thủ tục rút gọn Tuy nhiên, việc quy định chế độ hai cấpxét xử theo thủ tục rút gọn có thể dẫn đến bị đơn lạm dụng quyền kháng cáo để trìhoãn việc thi hành nghĩa vụ, gây kéo dài thời gian giải quyết vụ án
BLTTDS 2015 không hạn chế về phạm vi kháng cáo của đương sự và phạm
vi kháng nghị của Viện kiểm sát để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo
27 khoản 2 Điều 323 BLTTDS 2015.
28 Nguyễn Thị Thu Hà (2017), “Các quy định về thủ tục tố tụng dân sự rút gọn trong Bộ luật tố
tụng dân sự năm 2015”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 7-2017, tr 52.