1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng theo bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

109 26 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 218,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những kết quả đạt được trong việc thực hiện các quy định của pháp luật Việt Nam về cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự 3.1.2.. Những hạn chế, tồn tại, vướng mắc trong việc th

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

BÙI THU HƯƠNG

CẤP, TỐNG ĐẠT, THÔNG BÁO VĂN BẢN TỐ TỤNG THEO BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

NĂM 2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

BÙI THU HƯƠNG

CẤP, TỐNG ĐẠT, THÔNG BÁO VĂN BẢN TỐ TỤNG THEO BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

NĂM 2015

Chuyên ngành : Luật dân sự và tố tụng dân sự

Mã số

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Bích Thảo

Hà nội – 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOANTôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Cáckết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nàokhác Các ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy

và trung thực

NGƯỜI CAM ĐOAN

BÙI THU HƯƠNG

Trang 4

1.1 Khái niệm và ý nghĩa của cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự 7

1.1.1 Khái niệm cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự

1.1.2 Ý nghĩa của cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự

1.2.1 Chủ thể cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự

1.2.2 Các loại văn bản tố tụng được cấp, tống đạt, thông báo

1.2.3 Phương thức cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng

1.3 Khái quát sự phát triển các quy định của pháp luật tố tụng dân sự ViệtNam về cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự

1.3.1 Giai đoạn trước năm 1945

1.3.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1989

1.3.3 Giai đoạn từ năm 1989 đến nay

Kết luận chương 1

CHƯƠNG 2

QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2015 VỀ CẤP,

TỐNG ĐẠT, THÔNG BÁO VĂN BẢN TỐ TỤNG DÂN SỰ

2.1 Các văn bản tố tụng phải được cấp, tống đạt, thông báo theo quy định của

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

2.1.1.Văn bản tố tụng dân sự do Tòa án cấp, tống đạt, thông báo

2.1.2.Văn bản tố tụng dân sự do Viện kiểm sát cấp, tống đạt, thông báo

2.1.3.Văn bản tố tụng dân sự do cơ quan Thi hành án dân sự cấp, tống đạt,

Trang 5

2.2 Chủ thể cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự theo quy định

của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

2.2.1 Chủ thể thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự 51

2.2.2 Chủ thể được cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự 2.3.1 Cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự trực tiếp 2.3.2 Cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự qua dịch vụ bưu chính

hoặc người thứ ba được ủy quyền thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo

2.3.3 Cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự bằng phương tiện điện

tử

2.3.4 Niêm yết công khai

2.3.5.Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng

2.3.6.Cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự trong trường hợp

đương sự ở nước ngoài

CHƯƠNG 3

THỰC TIỄN THI HÀNH VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU

QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG CẤP, TỐNG ĐẠT, THÔNG BÁO VĂN BẢN TỐ

TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

3.1 Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

về cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự

3.1.1 Những kết quả đạt được trong việc thực hiện các quy định của pháp

luật Việt Nam về cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự

3.1.2 Những hạn chế, tồn tại, vướng mắc trong việc thực hiện các quy định

của pháp luật Việt Nam về cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự 74

3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện việc cấp, tống đạt,

thông báo văn bản tố tụng dân sự

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

: Pháp luật tố tụng dân sự: Toà án nhân dân

: Toà án nhân dân tối cao: Thi hành án

: Thi hành án dân sự: Tố tụng dân sự: Uỷ ban nhân dân: Uỷ thác tƣ pháp: Văn bản tố tụng: Văn bản tố tụng dân sự: Viện kiểm sát

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cấp, thông báo, tống đạt văn bản tố tụng dân sự là một phần rất quantrọng trong hoạt động tư pháp và gắn liền với việc tiến hành tố tụng của các

cơ quan như Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án dân sự Trong tố tụngdân sự, việc chuyển giao, thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quanđến vụ việc dân sự các văn bản tố tụng đang được giải quyết là rất cần thiết

để họ biết mà thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình Tùy theo nộidung yêu cầu thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của những người đó

mà các cơ quan tiến hành tố tụng tiến hành chuyển giao hoặc thông báo cho

họ biết nội dung văn bản tố tụng dưới hình thức nhất định như cấp, tống đạthoặc thông báo nội dung của nó Trong đó, hoạt động tố tụng của cơ quan tiếnhành tố tụng giao cho cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan đến vụ việc dân sự

để họ sử dụng được coi là cấp văn bản tố tụng; hoạt động tố tụng của cơ quantiến hành tố tụng giao văn bản tố tụng và buộc họ phải nhận được gọi là tốngđạt văn bản tố tụng; hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng báo cho

cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan đến vụ việc dân sự được biết những vấn

đề liên quan đến họ được gọi là thông báo văn bản tố tụng [39, trang 201].Với xu hướng minh bạch hóa quá trình tố tụng và đảm bảo sự tham giangày càng tích cực của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự,pháp luật nước ta đã có nhiều quy định liên quan đến văn bản tố tụng cũng nhưcách thức, thủ tục cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng Bộ luật tố tụngdân sự năm 2015 (có hiệu lực pháp luật từ ngày 01/07/2016) đã dành mộtChương (từ Điều 170 đến Điều 181) để quy định về trình tự cấp, tống đạt, thôngbáo văn bản tố tụng Theo đó, vấn đề này được quy định một cách cụ thể, chi tiếthơn và có sự bổ sung về phương thức thực hiện Đây được xem là bước tiến vềthủ tục tống đạt so với các văn bản quy định về tố tụng dân sự

Trang 8

trước đây Qua thời gian áp dụng trong thực tiễn, các quy định về cấp, tốngđạt, thông báo văn bản tố tụng đã phát huy giá trị, góp phần quan trọng vàoviệc đảm bảo giá trị pháp lý của các văn bản tố tụng và đặc biệt đảm bảoquyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng Tuy nhiên, trong quátrình thực hiện cho thấy một số quy định về tống đạt văn bản tố tụng củaBLTTDS đã bộc lộ không ít vướng mắc, bất cập cần có sự hoàn thiện hoặccần có văn bản hướng dẫn để phát huy giá trị pháp lý của thủ tục tố tụng này.

Vì vậy, tôi lựa chọn đề tài: "Cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng theo

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015" làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ luật

học với mong muốn tìm ra những bất cập trong các quy định của pháp luậtcũng như những khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng trên thực tếliên quan đến hoạt động cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự Từ

đó đưa ra đề xuất, kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn hệ thốngpháp luật, góp phần hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật hiện hành

về chế định cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự nhằm khẳng địnhtầm quan trọng của hoạt động tố tụng này trong việc giải quyết các vụ việcdân sự

Trang 9

Luật tố tụng dân sự Việt Nam” của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuấtbản Tư pháp, năm 2015; “Giáo trình luật tố tụng dân sự Việt Nam” của KhoaLuật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội do Bùi Thị Thanh Hằng chủ biên,Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2014.

Tính đến hiện nay mới chỉ có một số công trình nghiên cứu về hoạt độngcấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự, cụ thể là: khóa luận tốtnghiệp của Nguyễn Thị Lan “Thủ tục cấp, thông báo, tống đạt văn bản tố tụngdân sự”, thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2010; khóa luận tốtnghiệp của Trần Thị Nguyệt “Thủ tục cấp, thông báo, tống đạt các văn bản tốtụng”, thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2012; luận văn thạc sĩcủa Đèo Thị Thủy “Cấp, thông báo, tống đạt văn bản tố tụng dân sự - Thựctiễn thực hiện tại tỉnh Sơn La” bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm2013; luận văn thạc sĩ của Nguyễn Kim Giang “Cấp, tống đạt, thông báo vănbản tố tụng dân sự”, bảo vệ tại Khoa Luật - Trường Đại học quốc gia Hà Nộinăm 2014

Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập một cách khái quát những vấn

đề cơ bản về chế định cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự trong quátrình giải quyết vụ việc dân sự hoặc đã nghiên cứu về một hay một số vấn đề cụthể của hoạt động này Các tác giả đã đưa ra những kiến nghị hoàn thiện có giátrị để hoạt động cấp, tống đạt, thông báo văn bản trong tố tụng dân sự đạt hiệuquả cao hơn Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu còn hạn chế về mặt số lượng

và mới chỉ dừng lại ở một phạm vi nhất định Đặc biệt là Bộ luật tố tụng dân sựnăm 2015 mới được ban hành và đưa vào thực hiện trên thực tế đòi hỏi cần có

sự nghiên cứu sâu hơn không chỉ về nội dung các quy định mà còn xem xét tínhkhả thi, khả năng áp dụng trên thực tế của các quy định đó Vì vậy, việc nghiêncứu một cách tổng thể các vấn đề về lý luận, thực trạng quy định của pháp luậtcũng như thực tiễn áp dụng của hoạt động cấp, tống

Trang 10

đạt, thông báo văn bản tố tụng trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam là rấtcần thiết.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn: nghiên cứu nhằm đề xuất các giảipháp hoàn thiện quy định pháp luật về cấp, tống đạt, thông báo văn bản tốtụng dân sự và nâng cao hiệu quả hoạt động cấp, tống đạt, thông báo văn bản

Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng các quy định về cấp, tống đạt,thông báo văn bản tố tụng trong Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam năm 2015.Thứ ba, phân tích thực tiễn thi hành các quy định về cấp, tống đạt, thôngbáo văn bản tố tụng dân sự trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Trên cơ sở

đó đề xuất, đƣa ra các giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện quy định của phápluật, đảm bảo tốt việc thực hiện những quy định về cấp, tống đạt, thông báovăn bản trong tố tụng dân sự

4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tƣợng nghiên cứu đề tài là vấn đề lý luận, các quy định của phápluật TTDS về cấp, tống đạt, thông báo VBTT và thực tiễn thực hiện các quyđịnh về cấp, tống đạt, thông báo VBTT theo BLTTDS năm 2015

Cấp, tống đạt, thông báo VBTTDS là một hoạt động tố tụng quan trọng

và có ý nghĩa rất lớn Do vậy, đề tài mà tác giả nghiên cứu có nhiều nội dung

Trang 11

khác nhau Trong khuôn khổ và điều kiện thời gian nghiên cứu đề tài luận vănthạc sĩ, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản, nộidung các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về cấp, tống đạt, thôngbáo VBTTDS và đánh giá hoạt động tố tụng này thông qua những vụ án thực

tế trong vài năm gần đây từ khi BLTTDS năm 2015 có hiệu lực thi hành.Ngoài ra, đề tài còn nghiên cứu quy định pháp luật của một số quốc gia trênthế giới về cấp, tống đạt, thông báo VBTTDS để từ đó có sự đánh giá, sosánh, liên hệ với pháp luật Việt Nam

5. Phương pháp nghiên cứu

Dựa vào phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng vàduy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê nin về nhận thức, tư tưởng Hồ ChíMinh và đường lối quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam, luận văn sử dụngkết hợp một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, tổng hợp, sosánh, thống kê

Một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu được áp dụng trong luận văn:Phương pháp phân tích và tổng hợp: Những phương pháp này được sửdụng phổ biến trong việc làm rõ các quy định của pháp luật về nội dung củaviệc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự

Phương pháp luật học so sánh: Những phương pháp này được người viếtvận dụng để nghiên cứu so sánh pháp luật của một số quốc gia về tống đạt vănbản tố tụng dân sự, từ đó rút ra những giá trị tham khảo cho Việt Nam

Phương pháp quy nạp, phương pháp diễn dịch: Được vận dụng để triểnkhai có hiệu quả các vấn đề liên quan đến hoạt động cấp, tống đạt, thông báovăn bản tố tụng dân sự, đặc biệt là các kiến nghị hoàn thiện Cụ thể như trên

cơ sở đưa ra những kiến nghị mang tính khái quát, súc tích người viết dùngphương pháp diễn dịch để làm rõ nội dung của kiến nghị đó…

Trang 12

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Kết quả đạt được của luận văn góp phần bổ sung lý luận về vấn đề cấp,tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩacủa cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự; chủ thể, đối tượng vàphương thức cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự…; thực trạngđiều chỉnh của pháp luật mà cụ thể là Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đối vớivấn đề cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự, chỉ ra những bất cậpcủa pháp luật và đưa ra phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về cấp,tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự

Ngoài ra, công trình nghiên cứu này cũng sẽ là tài liệu tham khảo hữu íchcho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập môn Luật tố tụng dân sự trong các cơ

sở đào tạo luật, cũng như làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan xây dựngpháp luật và cơ quan tiến hành tố tụng dân sự

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài Lời nói đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dungchính của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về cấp, tống đạt, thông báo văn bản tốtụng dân sự

Chương 2: Quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về cấp, tốngđạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự

Chương 3: Thực tiễn thi hành và một số giải pháp nâng cao hiệu quả củahoạt động cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự Việt Nam

Trang 13

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẤP, TỐNG ĐẠT, THÔNG BÁO

VĂN BẢN TỐ TỤNG DÂN SỰ 1.1 Khái niệm và ý nghĩa của cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự

1.1.1 Khái niệm cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân

sự a Cấp văn bản tố tụng dân sự

Hiểu theo nghĩa đơn giản và phổ thông nhất thì “cấp” là một hoạt động

nhằm cung cấp cho ai đó vật, giấy tờ, tài liệu xác định để họ sử dụng tùy theomục đích khác nhau Đối với thuật ngữ này, Từ điển Tiếng Việt cũng đưa ra

cách hiểu khái quát về khái niệm “cấp” là việc giao cho hưởng, giao cho toàn

quyền sử dụng [46] Tuy nhiên, khi mang tính chất là một thuật ngữ pháp lýthì việc cấp văn bản tố tụng dân sự phải được hiểu với ý nghĩa cụ thể hơn gắnvới yêu cầu của từng hoạt động tố tụng cụ thể

Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội

định nghĩa: “Hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng giao cho cá nhân,

cơ quan, tổ chức liên quan đến vụ việc dân sự văn bản tố tụng để họ sử dụng được gọi là cấp văn bản tố tụng”(trang 201) Ví dụ: sau thời hạn luật định,

đương sự được Tòa án cấp cho Quyết định giải quyết việc dân sự về việc côngnhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận giữa các đương sự Quyết định này có hiệulực ngay và được cấp cho đương sự để họ sử dụng làm căn cứ cho việc chấmdứt quan hệ hôn nhân Cơ quan tiến hành tố tụng ở đây hay còn gọi là chủ thểthực hiện việc cấp VBTTDS bao gồm Tòa án và cơ quan thi hành án dân sự.Viện kiểm sát không thực hiện việc cấp VBTTDS do chức năng của VKS làkiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêucầu kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo việc giảiquyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật Do đó, định

Trang 14

nghĩa theo giáo trình như trên còn chung chung, chưa chỉ rõ được cơ quantiến hành tố tụng bao gồm những cơ quan nào và chưa thực sự chính xác khithực tế hiện nay ngoài Tòa án và Cơ quan thi hành án dân sự thì Văn phòngthừa phát lại cũng là một chủ thể được nhà nước trao quyền thực hiện việccấp VBTTDS.

Theo quan điểm của tác giả, hoạt động cấp VBTTDS có thể được hiểu

như sau: “Cấp VBTTDS là hoạt động của cơ quan có thẩm quyền (gồm Toà

án, cơ quan Thi hành án, Thừa phát lại) tiến hành giao VBTT cho các đương

sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự

và thi hành án để họ sử dụng phù hợp với quy định của pháp luật”.

b Thông báo văn bản tố tụng dân sự

Theo từ điển Tiếng Việt, “thông báo” được hiểu là báo cho mọi người

biết tình hình, tin tức bằng lời nói hoặc văn bản [46] Như vậy, dựa theo cáchhiểu như trên thì việc cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện hoạt động báo cho

cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến vụ việc dân sự biết về những hoạtđộng tố tụng liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ được gọi làthông báo văn bản tố tụng dân sự Việc thông báo được thể hiện dưới hìnhthức văn bản Mục đích của hoạt động này nhằm truyền tải các thông tin vềhoạt động giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án để đương sự biết thông tin

để từ đó có cách xử sự phù hợp Không giống như hoạt động tống đạt, việcthông báo VBTTDS chỉ nhằm giúp đương sự nhận biết rằng VBTTDS đãđược ban hành công khai với nội dung nhất định hay một hoạt động tố tụngnào đó sắp được tiến hành để các chủ thể biết và tham gia, không phụ thuộcvào ý chí của các chủ thể được thông báo Trong đó chủ thể thực hiện thôngbáo là các cơ quan tiến hành tố tụng bao gồm Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quanTHADS và tổ chức Thừa phát lại Đối tượng thông báo là các văn bản tố tụngphát sinh trong quá trình giải quyết vụ án dân sự và thi hành án dân sự

Trang 15

Ví dụ: Đối với Thông báo thụ lý vụ án được quy định tại Điều 196BLTTDS năm 2015 thì “Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ

án, Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản cho nguyên đơn, cơ quan, tổchức, cá nhân có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, choVKS cùng cấp về việc Toà án đã thụ lý vụ án” Có thể thấy điều luật này đãquy định rõ thẩm phán là người có nghĩa vụ thực hiện việc thông báo cho cácđương sự, người có quyền và lợi ích liên quan và VKS cùng cấp Hoạt độngthông báo này là bước quan trọng trong thủ tục tố tụng để giúp các đương sựbiết thông tin về vụ việc đã được Tòa án thụ lý giải quyết Mặt khác đây cũng

là căn cứ để đương sự cũng như VKS nắm bắt được thông tin vụ việc để từ

đó có căn cứ thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình

Từ những phân tích trên, ta có thể định nghĩa về thông báo VBTTDS

như sau: “Thông báo VBTTDS là việc các cơ quan có thẩm quyền bao gồm Toà án, VKS, cơ quan THADS và tổ chức Thừa phát lại chuyển đến cho đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền và lợi ích liên quan các thông tin về hoạt động tố tụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự có liên quan tới quyền và nghĩa vụ của họ để họ biết và thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình theo đúng quy định của pháp luật”.

sự, những người tham gia tố tụng khác và cá nhân, cơ quan, tổ chức có liênquan đến vụ việc dân sự theo quy định của pháp luật tố tụng Việc chuyểngiao tài liệu, giấy tờ do cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện là hoạt động giao

Trang 16

nhận một cách chính thức và mang tính chất bắt buộc đối với người nhận,người nhận văn bản bắt buộc phải có trách nhiệm tuân theo, không phụ thuộcvào ý chí chủ quan của người nhận văn bản tống đạt.

Ví dụ: ông H là đương sự trong một vụ án dân sự, Tòa án huyện K tốngđạt cho ông H giấy triệu tập tham gia phiên tòa xét xử vào ngày 20/05/2018.Ông H có nghĩa vụ phải tham gia phiên tòa vào đúng thời gian nên trên

Tại Khoản 3 Điều 2 Nghị định 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 củaChính phủ về sửa đổi, bổ sung tên gọi và một số điều của Nghị định số61/2009/NĐ-CP ngày 24/07/2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của

Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh thì: “Tống đạt là việc thông báo, giao nhận các văn bản của Tòa án và cơ quan thi hành án dân sự do Thừa phát lại thực hiện theo quy định của pháp luật” Với quy định

này, bản chất của hoạt động tống đạt văn bản là việc “thông báo” và “giaonhận” các văn bản tố tụng, điều này cũng gần giống với hoạt động thông báohay cấp VBTT

Thông thường cơ quan nào ban hành ra VBTTDS thì phải có nghĩa vụthực hiện việc tống đạt VBTT đó Khác với hoạt động cấp hay thông báoVBTTDS, tống đạt mang tính chất bắt buộc, thậm chí là áp đặt đối với đương

sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đến vụ việc dân sự Ở đây, ngườinhận văn bản phải có trách nhiệm bắt buộc tuân theo, không phụ thuộc vào ýchỉ chủ quan của họ, buộc họ phải thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình.Trường hợp họ không thực hiện đúng như nội dung văn bản yêu cầu thì vôhình chung họ đã tự mình từ bỏ quyền và nghĩa vụ Đây là cơ sở để các cơquan có thẩm quyền xác định và tiến hành các hoạt động tố tụng tiếp theo theotrình tự luật định

Như vậy, có thể đưa ra định nghĩa về tống đạt VBTTDS như sau:

“Tống đạt VBTTDS là hoạt động của cơ quan có thẩm quyền bao gồm Toà

Trang 17

án, cơ quan THADS và Thừa phát lại giao cho đương sự, cá nhân, cơ quan,

tổ chức có liên quan đến vụ việc dân sự VBTT, buộc họ phải nhận và thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật”.

Có thể nói cấp, tống đạt, thông báo VBTTDS đều là hoạt động tố tụngquan trọng của các cơ quan có thẩm quyền nhằm chuyển giao văn bản tố tụng

do các cơ quan này ban hành cho các chủ thể có liên quan để họ biết được nộidung các hoạt động tố tụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự để từ đógiúp họ biết và sử dụng quyền, nghĩa vụ của mình một cách hợp pháp

d Đặc trưng cơ bản của cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự ở Việt Nam

Cấp, tống đạt, thông báo VBTTDS ở Việt Nam có những đặc trưng sauđây:

Thứ nhất: cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự là nghĩa vụ

của cơ quan ban hành văn bản tố tụng dân sự Theo quy định của BLTTDS thìchủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự bao gồm Toà án, Viện kiểm sát,

cơ quan Thi hành án, đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định,người phiên dịch và người liên quan Trong quá trình tiến hành tố tụng, tuỳvào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình mà các cơ quan như Toà án,Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án đã ban hành ra nhiều văn bản với mục đích

và nhiệm vụ khác nhau Trong đó có một số văn bản tố tụng dân sự được cấp,tống đạt, thông báo cho đương sự, những người tham gia tố tụng khác, cánhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đến vụ việc dân sự và THADS Việc cấp,tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự do Toà án, Viện kiểm sát, cơ quanthi hành án dân sự thực hiện, đây cũng được xem là nghĩa vụ của các cơ quannày Việc quy định nghĩa vụ cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sựcho các cơ quan tiến hành tố tụng góp phần đảm bảo việc giải quyết

Trang 18

các vụ việc dân sự một cách đúng đắn, đảm bảo thời gian và tuân theo trình tựluật định Qua đó cũng thể hiện vai trò chủ đạo của các cơ quan tiến hành tốtụng trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự Điều này cũng giúp đảmbảo các quyền cho đương sự, những người tham gia tố tụng khác, các cánhân, cơ quan, tổ chức có liên quan.

Thứ hai: văn bản được cấp, tống đạt, thông báo là văn bản tố tụng của

Toà án, VKS và cơ quan Thi hành án ban hành Để đảm bảo việc thực hiệnchức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các cơ quan tiến hành tố tụng đã

sử dụng công cụ là văn bản tố tụng dân sự như bản án, quyết định của Toà án,giấy mời, giấy báo theo quy định của pháp luật về hình thức cũng như nộidung thể hiện văn bản Đây là các văn bản thể hiện nội dung làm việc trongquá trình giải quyết vụ việc dân sự Theo quy định tại Điều 171 BLTTDS năm

2015 thì nhìn chung các văn bản được cấp, tống đạt, thông báo chủ yếu là doToà án, VKS và cơ quan Thi hành án ban hành Cụ thể, các văn bản tố tụngphải được cấp, tống đạt, thông báo gồm có: thông báo, giấy báo, giấy triệutập, giấy mời trong tố tụng dân sự; bản án, quyết định của Toà án; quyết địnhkháng nghị của VKS; các văn bản của cơ quan thi hành án dân sự và các vănbản khác mà pháp luật có quy định

Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, mỗi cơ quan tiến hành tốtụng có vai trò, chức năng, nhiệm vụ khác nhau Chức năng của Viện kiểm sát

là kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình tố tụng, do đó các loại vănbản do cơ quan này ban hành thông thường ít được cấp, tống đạt, thông báo

Cụ thể, loại VBTT mà VKS phải tiến hành cấp, tống đạt, thông báo đó làQuyết định kháng nghị (khoản 3 Điều 171) Trong khi đó cơ quan Thi hành ándân sự thực hiện việc thi hành các bản án, quyết định của Toà án đã có hiệulực pháp luật Công việc này có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợppháp của đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan nên việc ban

Trang 19

hành và thực hiện hoạt động cấp, tống đạt, thông báo văn bản cho họ là rấtcần thiết Còn đối với Toà án, đây là cơ quan đóng vai trò là cầu nối trunggian, cơ quan tiến hành tố tụng và đưa ra quyết định cuối cùng trong quá trìnhgiải quyết vụ việc Để thực hiện tốt chức năng xét xử của mình, Toà án cầntìm hiểu và tiếp cận sự việc một cách xuyên suốt theo trình tự luật định, điềunày cũng chiếm phần lớn thời gian trong quá trình tố tụng Do đó ta có thểthấy hầu hết các văn bản tố tụng dân sự được cấp, tống đạt, thông báo là doToà án và cơ quan Thi hành án ban hành và thực hiện.

Thứ ba: cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự là hoạt động

mang tính quyền lực nhà nước Để thực hiện hoạt động cấp, tống đạt, thôngbáo văn bản tố tụng dân sự, các cơ quan tiến hành tố tụng phải thực hiện theođúng trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định Ngoài ra, hình thức và nội dung

mà văn bản tố tụng đó thể hiện cũng phải tuân thủ theo luật định Để thực hiệnviệc cấp, tống đạt, thông báo VBTTDS thì ngoài cơ quan tiến hành tố tụngnhư Toà án, VKS, cơ quan THA thì Thừa phát lại cũng là một tổ chức đượcnhà nước trao quyền thực hiện việc tống đạt VBTTDS nhằm góp phần làmgiảm bớt gánh nặng cho các cơ quan nhà nước, nâng cao hiệu quả xét xử, tiến

độ thi hành án và các quyền tố tụng của công dân Hay nói cách khác, hoạtđộng tống đạt của Thừa phát lại được thực hiện theo sự uỷ quyền (thông quahình thức hợp đồng) của cơ quan nhà nước theo trình tự, thủ tục chặt chẽ dopháp luật quy định Do đó hoạt động của tổ chức Thừa phát lại cũng mangtính quyền lực nhà nước

Cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự được quy định cụ thểtại chương X (từ Điều 170 đến Điều 181) của BLTTDS năm 2015 VBTTDSđược ban hành bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được bảo đảm thựchiện bởi quyền lực nhà nước Nếu người có quyền hoặc nghĩa vụ thực hiệnviệc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng mà không thực hiện hoặc thực

Trang 20

hiện không đúng, cố tình làm sai quy định của pháp luật thì phải chịu nhữngchế tài nhất định tuỳ theo tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi.Người có nghĩa vụ thi hành các VBTTDS đã được cấp, tống đạt, thông báothì phải nghiêm chỉnh thực hiện, nếu không thi hành hoặc thi hành khôngđúng thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc bịtruy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quyđịnh của pháp luật.

1.1.2 Ý nghĩa của cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự

Thứ nhất: cấp, tống đạt, thông báo VBTTDS có ý nghĩa rất quan trọng

trong việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự Đương sựchỉ có thể thực hiện được các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình khi họ cóđầy đủ thông tin về quá trình tố tụng, được cấp, tống đạt, thông báo đầy đủ,kịp thời các văn bản tố tụng Ví dụ, đương sự sẽ không thể thực hiện đượcquyền tranh tụng, quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước tòa

án nếu không được tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệutập tham gia phiên tòa, phiên họp v.v… Hoạt động cấp, tống đạt, thông báoVBTTDS là cầu nối gắn kết giữa cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành

án với người tham gia tố tụng Nhờ có hoạt động này mà các thông tin liênquan đến vụ việc dân sự được cơ quan tiến hành tố tụng thông báo tới cácđương sự, giúp họ nắm bắt được thông tin cũng như theo dõi được quá trìnhdiễn biến vụ việc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ Như vậy, mặc dùkhông trực tiếp tác động đến kết quả giải quyết nội dung vụ án, nhưng cấp,tống đạt, thông báo chính là phương tiện góp phần đảm bảo công lý về thủ tụctrong quá trình giải quyết vụ việc dân sự Cấp, tống đạt, thông báo VBTTDSđảm bảo việc cung cấp những thông tin quan trọng, cần thiết trong quá trìnhgiải quyết vụ việc dân sự cho đương sự, người đại diện hợp pháp của đương

sự Thông qua hoạt động cấp, tống đạt, thông báo VBTT của Tòa án, VKS, cơ

Trang 21

quan THA, tổ chức Thừa phát lại mà cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan đến

vụ việc dân sự có thể biết được quyền và nghĩa vụ của mình để từ đó cónhững hành vi xử sự phù hợp, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ Bêncạnh đó, thông qua hoạt động cấp, tống đạt và thông báo VBTTDS công dânđược thực hiện quyền dân chủ, quyền giám sát đối với cơ quan nhà nước.Điều này được thể hiện qua việc pháp luật quy định cho đương sự quyềnkháng cáo đối với bản án, quyết định của Tòa án và quyền khiếu nại, tố cáokhi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyềntiến hành tố tụng

Thứ hai: cấp, tống đạt, thông báo VBTTDS là mắt xích quan trọng để

các cơ quan có thẩm quyền tiến hành hoạt động tố tụng một cách có trình tự,khoa học và thông suốt Ví dụ: Trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử,Thẩm phán phải tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,công khai chứng cứ và hoà giải giữa các đương sự (trừ trường hợp vụ án dân

sự không được hoà giải hoặc không tiến hành hoà giải được) Để tiến hànhđược phiên họp thì phải có người tham gia phiên họp Muốn có người thamgia phiên họp thì Toà án phải thông báo cho các bên liên quan để họ được biết

và tham gia phiên họp theo đúng thời gian, địa điểm mà Toà án đã ấn định.Như vậy, nếu Toà án không thực hiện hoạt động thông báo về phiên họp chocác đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự cũng như các cá nhân,

cơ quan, tổ chức có liên quan đến vụ việc dân sự đang được Toà án thụ lý giảiquyết thì họ không thể biết được thông tin về phiên họp để tham gia Điềunày sẽ làm gián đoạn, gây khó khăn, cản trở trong việc thực hiện các hoạtđộng tố tụng tiếp theo của Toà án

Thứ ba: cấp, tống đạt, thông báo VBTTDS giúp các cơ quan tiến hành

tố tụng (Toà án, VKS, cơ quan THA, Thừa phát lại) thực hiện nhiệm vụ vàquyền hạn của mình một cách đúng đắn, kịp thời Để giải quyết một vụ việc

Trang 22

dân sự cần trải qua các giai đoạn cũng như trình tự thủ tục nhất định do phápluật quy định Mỗi cơ quan tiến hành tố tụng có chức năng, nhiệm vụ, quyềnhạn khác nhau do đó hoạt động thông báo, cấp, tống đạt VBTTDS sẽ đảm bảoviệc thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn giải quyết vụ việc dân sự của mỗi cơquan Việc cấp, tống đạt, thông báo VBTT giúp cho quá trình giải quyết vụviệc dân sự được diễn ra một cách công khai, minh bạch, dân chủ Ngoài việccông dân có thể thực hiện quyền dân chủ, quyền giám sát đối với cơ quan nhànước thì hoạt động tố tụng này cũng giúp VKS thực hiện chức năng kiểm sátviệc tuân theo pháp luật của cơ quan tư pháp trong quá trình giải quyết các vụviệc dân sự Đối với cơ quan THADS, việc thông báo cũng giúp cho quá trìnhthực hiện việc thi hành các bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực phápluật được diễn ra nhanh chóng, đúng pháp luật Việc thực hiện tốt các hoạtđộng cấp, tống đạt và thông báo VBTTDS cũng góp phần không nhỏ vào việcgiúp cho các vụ việc dân sự được diễn ra công khai, minh bạch và dân chủ,phù hợp với chủ trương để “dân biết, dân, làm, dân kiểm tra” của Đảng vàNhà nước.

1.2 Chủ thể, đối tượng và phương thức cấp, tống đạt, thông báo văn bản

tố tụng dân sự

Pháp luật TTDS các quốc gia trên thế giới khi quy định về chủ thể, đốitượng và phương thức tống đạt VBTTDS có những điểm khác biệt nhất địnhtuỳ thuộc vào mô hình tố tụng cũng như hệ thống pháp luật từng quốc gia Do

đó, nội dung chính trong phần này sẽ tập trung tìm hiểu, so sánh pháp luậtmột số quốc gia đại diện cho các mô hình tố tụng tranh tụng và mô hình tốtụng thẩm vấn để từ đó rút ra những giá trị tham khảo cho Việt Nam

1.2.1 Chủ thể cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự

Nhìn chung, chủ thể tống đạt VBTTDS ở các quốc gia hiện nay có sựkết hợp giữa cơ quan tiến hành tố tụng, tổ chức thừa phát lại và tư nhân

Trang 23

Ở các nước châu Âu lục địa với mô hình tố tụng thẩm vấn, vai trò của

cơ quan công quyền trong hoạt động tố tụng được đề cao, do đó, việc tống đạtcác VBTT chủ yếu do cơ quan nhà nước có thẩm quyền (thường là Toà án)kết hợp với Thừa phát lại thực hiện Chẳng hạn, Pháp là một quốc gia tiêubiểu của mô hình tố tụng thẩm vấn với vai trò chủ động của thẩm phán trong

tố tụng dân sự Một vụ việc dân sự được bắt đầu bằng việc nguyên đơn tốngđạt trực tiếp giấy mời ra tòa (assignation) cho bị đơn thông qua một chứcdanh gọi là “huissier” - thừa phát lại (Điều 55, 750 BLTTDS Pháp) Thừa phátlại có độc quyền thực hiện tống đạt chính thức, là những người có chức năngtống đạt và phải tuân theo quy định của pháp luật Việc tống đạt giấy mời ratòa phải được thực hiện tại trụ sở của bị đơn (nếu bị đơn là tổ chức) hoặc nơi

cư trú của bị đơn (nếu bị đơn là cá nhân) Giấy mời ra tòa đưa ra yêu cầu củanguyên đơn và các căn cứ thực tế cũng như căn cứ pháp lý của yêu cầu đó,kèm theo là danh mục các tài liệu, chứng cứ ban đầu của nguyên đơn (Điều56) Sau khi tống đạt giấy mời ra tòa cho bị đơn, nguyên đơn phải nộp đơnkhởi kiện đến Tòa án Tòa án thụ lý vụ án khi nguyên đơn nộp bản sao đơnkhởi kiện mà nguyên đơn đã tống đạt cho bị đơn (Điều 53-54) Việc tống đạtcũng có thể được thực hiện theo sự sắp đặt của Văn phòng toà án (trong một

số trường hợp nhất định để triệu tập một phiên họp hoặc tống đạt các bản án)

Ở một số quốc gia khác như Đức có hai hình thức tống đạt, đó là tốngđạt chính thức và tống đạt do các bên thực hiện Tống đạt chính thức là việctống đạt được thực hiện bởi Chánh văn phòng tòa án nơi vụ kiện đang đượcgiải quyết (Điều 168 (1) của Bộ luật tố tụng dân sự của Đức) Chánh vănphòng tòa án có quyền lựa chọn phương thức tống đạt theo cách mà người đócho là tốt nhất như: tống đạt thông qua luật sư hoặc người đại diện hợp phápcủa đương sự, tống đạt trực tiếp hoặc thông qua dịch vụ bưu chính, hoặc chỉ

Trang 24

định một cán bộ tòa án thực hiện việc tống đạt Trong một số trường hợpđược quy định hợp pháp, thẩm phán có trách nhiệm sắp xếp việc tống đạt, ví

dụ trong trường hợp tống đạt ra nước ngoài (Điều 183 và Điều 184) hoặctống đạt theo hình thức công bố công khai (Điều 186 và Điều 187)

Việc tống đạt VBTTDS do các bên thực hiện về nguyên tắc sẽ thôngqua chức danh Thừa phát lại Thừa phát lại tống đạt theo chỉ dẫn trực tiếp củacác đương sự hoặc thông qua thỏa thuận với Văn phòng tòa án (Điều 192).Thừa phát lại có thể giao phó việc tống đạt tài liệu cho dịch vụ bưu chính(Điều 194)

Ở các nước thuộc truyền thống common law với mô hình tố tụng tranhtụng, vai trò tống đạt của tư nhân được đề cao hơn so với vai trò của cơ quannhà nước

Theo pháp luật Mỹ, sau khi nộp đơn khởi kiện tại tòa án, nguyên đơn

có nghĩa vụ tống đạt các văn bản khởi kiện cho bị đơn, tức là giao cho bị đơnbản sao đơn khởi kiện và một thông báo (summons) của tòa án yêu cầu bị đơnphải đến để trả lời về một khiếu kiện trước Toà án nhằm bảo vệ quyền lợi củamình Đây là thông báo có tính chất ràng buộc về mặt pháp lý từ phía Tòa án

Và trong trường hợp không có câu trả lời, thông báo này sẽ cho phép nguyênđơn có được phán quyết trên cơ sở những lời cáo buộc có trong đơn kiện(Quy tắc số 55) Các biện pháp theo đó lệnh tống đạt có hiệu lực là tương đốiphức tạp, song nhìn chung chúng được xây dựng nhằm đem lại sự bảo đảmhợp lý rằng người được triệu tập sẽ thực tế nhận được thông báo về vụ việc.Việc nhận được thông báo và đơn khởi kiện sẽ bắt đầu vào thời điểm mà bịđơn phải trả lời khiếu kiện (quy định 12(a))

Sau khi nhận được các văn bản từ nguyên đơn, bị đơn phải phúc đápbằng việc nộp một bản trả lời, trong đó phúc đáp lại từng đoạn văn trong đơnkhởi kiện (có thể là thừa nhận những tình tiết có thật, bác bỏ những tình tiết

Trang 25

mà bị đơn cho là không có thật, hoặc nêu rõ bị đơn không có đủ thông tin đểthừa nhận hoặc bác bỏ) Những tình tiết bị đơn đã thừa nhận sẽ được coi làtình tiết có thật, và toàn bộ quá trình chuẩn bị xét xử sơ thẩm sẽ chỉ tập trungvào các tình tiết mà bị đơn bác bỏ.

Ngoài ra, ngay ở giai đoạn khởi kiện và thụ lý, các đương sự có quyềnyêu cầu tòa án ra một số quyết định, như yêu cầu đình chỉ giải quyết vụ án(motion to dismiss), yêu cầu chuyển vụ việc (motion to transfer)… dựa trêncác căn cứ như: tòa án không có thẩm quyền theo loại việc, hoặc tòa án không

có thẩm quyền theo lãnh thổ, hoặc yêu cầu của nguyên đơn thiếu cơ sở pháp

lý Trường hợp bị đơn yêu cầu đình chỉ vụ án do bị đơn không được tống đạtcác văn bản khởi kiện theo đúng thủ tục, thông thường tòa án sẽ không đìnhchỉ mà chỉ ra lệnh buộc nguyên đơn thực hiện lại việc tống đạt giấy tờ theođúng thủ tục [19]

Ở hầu hết các bang tại Mỹ, chủ thể thực hiện tống đạt VBTT chỉ cầnđáp ứng điều kiện là phải từ 18 tuổi trở lên và không phải là đương sự trong

vụ án Ngoài ra, theo yêu cầu của nguyên đơn, tòa án có thể ra lệnh cho mộtngười được tòa án chỉ định đặc biệt để thực hiện tống đạt

Tại một số quốc gia khác, quá trình tống đạt VBTTDS được thực hiệnthông qua Thừa phát lại Chức danh này được bổ nhiệm bởi một thẩm phán củaToà án (như tại Canada, Italia ) hoặc bởi Bộ trưởng Bộ Tư pháp (ví dụ nhưPháp) Họ giữ độc quyền về chức năng tống đạt và thi hành các quyết định củaToà án Trong hệ thống pháp luật của Anh và Mỹ, thừa phát lại thường đượcdịch là “bailiff” và được hiểu như là một viên chức thuộc Toà án vì chức năngtương tự như vậy Là người hoạt động trong lĩnh vực pháp lý, thừa phát lại thựchiện quá trình tống đạt VBTT, chịu trách nhiệm cung cấp các giấy tờ, tài liệutrong vụ án và xác thực đối với các bên khi VBTT được chuyển giao Mọi hoạtđộng của họ phải tuân theo quy định của pháp luật

Trang 26

Liên hệ với pháp luật Việt Nam thời kỳ trước năm 1975 dưới ách caitrị của thực dân Pháp cũng bị ảnh hưởng bởi pháp luật Pháp “Thừa phát lại”

có lẽ xuất hiện ở Việt Nam song hành với việc Vua Tự Đức ký Hoà ước ngày05/06/1862 nhượng cho Pháp 6 tỉnh Nam Kỳ Từ đó Pháp đã áp đặt chế độcai trị và quy chế về thuộc địa lãnh thổ Mô hình thừa phát lại được quy định

ở các bộ luật dân sự, tố tụng dân sự thời kỳ đó hầu hết đều theo khuôn mẫucủa mô hình thừa phát lại của Pháp Cho đến nay, chức năng, nhiệm vụ của

“thừa phát lại” vẫn được quy định trong PLTTDS Việt Nam nhưng vai tròcủa họ ngày càng giữ vị trí quan trọng, phù hợp với đặc điểm của hệ thốngpháp luật nước ta

Ở các nước có pháp luật tố tụng dân sự khá tương đồng với Việt Namnhư Nga và Trung Quốc, chủ thể thực hiện tống đạt VBTTDS là cơ quan nhànước có thẩm quyền hoặc cá nhân, tổ chức khác có chức năng thực hiện tốngđạt theo quy định của pháp luật

Theo BLTTDS Liên Bang Nga, sau khi thụ lý vụ án, thẩm phán chuyểnhoặc tống đạt cho bị đơn bản sao đơn kiện và những tài liệu kèm theo làm cơ

sở cho yêu cầu của nguyên đơn và yêu cầu bị đơn trong thời hạn được ấn địnhphải xuất trình những chứng cứ làm cơ sở cho sự phản đối của bị đơn (Điều150) Trong quá trình chuẩn bị xét xử, các đương sự phải tự tiến hành thuthập chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và cung cấp cácchứng cứ đó cho đương sự còn lại và cho tòa án Nguyên đơn, người đại diệncủa nguyên đơn phải chuyển cho bị đơn bản sao chứng cứ làm cơ sở cho yêucầu của nguyên đơn Bị đơn, người đại diện của bị đơn chuyển cho nguyênđơn, đại diện của nguyên đơn và tòa án ý kiến phản đối bằng văn bản đối vớinhững yêu cầu của nguyên đơn và những chứng cứ làm cơ sở cho ý kiến phảnđối của bị đơn (Điều 149) Ở Nga, việc tống đạt giấy báo và giấy gọi do Toà

án thực hiện Đối với bị đơn, Toà án gửi bản sao đơn khởi kiện cùng với

Trang 27

thông báo, còn đối với nguyên đơn, Toà án gửi bản sao bằng văn bản lời giảithích của bị đơn cùng với thông báo, nếu Toà án có những lời giải thích đó.

Đối với pháp luật TTDS Trung Quốc, thủ tục tố tụng dân sự cũng mangnhiều nét tương đồng với thủ tục tố tụng dân sự Việt Nam Sau khi thụ lý vụ

án, Tòa án phải gửi bản sao đơn khởi kiện cho bị đơn trong thời hạn 5 ngày kể

từ ngày thụ lý Bị đơn phải nộp bản tự bảo vệ cho tòa án trong thời hạn 15ngày kể từ ngày nhận được bản sao đơn khởi kiện Trong thời hạn 5 ngày kể

từ ngày nhận được bản tự bảo vệ của bị đơn, tòa án phải gửi bản sao bản tựbảo vệ cho nguyên đơn (Điều 125) Như vậy, khác với thủ tục tố tụng dân sựHoa Kỳ, ở Trung Quốc, tòa án đóng vai trò chủ động và là chủ thể có tráchnhiệm tống đạt văn bản, giấy tờ cho các bên đương sự

1.2.2 Các loại văn bản tố tụng được cấp, tống đạt, thông báo

a. Đơn khởi kiện

Pháp luật tố tụng dân sự một số nước theo hệ thống pháp luật Anh –

Mỹ, trong đó điển hình là Mỹ rất chú trọng vào bước đầu tiên của quá trìnhkhởi kiện, đặc biệt là việc tống đạt VBTTDS cho bị đơn ở giai đoạn khởi kiện

và thụ lý vụ án Việc tống đạt hợp lệ đơn khởi kiện cho bị đơn được pháp luật

Mỹ coi là một bước quan trọng để đảm bảo trình tự công bằng (due process) –một nguyên tắc hiến định [49] “Trình tự công bằng” bao gồm các khái niệm

cơ bản về sự công bằng mà đương sự có được, đề cập đến quyền được thôngbáo và cơ hội được lắng nghe để phúc đáp lại Nếu một bên không đượcthông báo về việc bên kia có ý định làm gì, cũng như không có cơ hội trìnhbày chứng cứ và tranh luận, bên đó sẽ mất đi một trong những biện pháp bảo

vệ chính đáng của mình

Với ý nghĩa quan trọng của việc tống đạt đơn khởi kiện cho bị đơn,Quy tắc 11 trong Bộ nguyên tắc TTDS xuyên quốc gia cũng đưa ra quy địnhrất cụ thể về vấn đề này Theo đó, ở giai đoạn chuẩn bị, nguyên đơn phải nộp

Trang 28

cho Toà án một đơn khởi kiện (được quy định trong quy tắc số 12) Sau đóToà án sẽ thực hiện thủ tục thông báo tới bị đơn Thông báo này phải phù hợpvới một công ước quốc tế được áp dụng hoặc nếu không Toà án thực hiệnthông báo bằng cách chuyển tới bị đơn một bản sao đơn khởi kiện và yêu cầu

bị đơn trình diện trước tòa án để phản hồi trong một khoảng thời gian hợp lý.Nội dung của thông báo nêu rõ thời gian mà bị đơn phải trả lời, đồng thời nêu

rõ phán quyết mặc định có thể được đưa ra đối với bị đơn nếu bị đơn khôngtrả lời trong thời gian quy định Thủ tục được coi là bắt đầu vào ngày nguyênđơn gửi đơn khởi kiện cho tòa án

b Giấy triệu tập và các văn bản tố tụng dân sự khác

Giấy triệu tập, giấy gọi, giấy báo của Tòa án thường do Tòa án tốngđạt Theo Quy tắc 4, Chương II trong Quy tắc tố tụng dân sự liên bang quyđịnh về tống đạt VBTT tại Toà án sơ thẩm Liên bang Mỹ thì:

“Nội dung giấy triệu tập phải có:

(A) Tên Tòa án và các bên

(B) Được chuyển đến bị đơn

(C) Ghi rõ tên và địa chỉ của nguyên đơn hoặc Luật sư của nguyên đơn

(D) Nêu rõ thời gian mà bị đơn phải trình diện và bảo vệ (nêu quan điểm của mình)

(E) Thông báo cho bị đơn hậu quả pháp lý bất lợi của việc không trình diện và bảo vệ sẽ dẫn đến một bản án mặc định chống lại bị đơn về những yêu cầu trong đơn khởi kiện;

(F) Được ký bởi thư ký và

(G) Có dấu của Tòa án.” [53]

Toà án có thể cho phép một Giấy triệu tập được sửa đổi Trong hoặcsau khi nộp đơn khởi kiện, nguyên đơn xuất trình giấy triệu tập cho thư kývăn phòng tòa án để ký tên và đóng dấu Nếu giấy triệu tập được hoàn thành

Trang 29

đúng cách, thư ký văn phòng tòa án phải ký tên, đóng dấu và cấp cho nguyênđơn để tống đạt cho bị đơn Bản chính hoặc bản sao của giấy triệu tập đượcgửi đến nhiều bị đơn phải được cấp cho từng bị đơn Thông thường, giấytriệu tập phải được gửi kèm theo bản sao đơn khiếu nại Trong thời gian quyđịnh, nguyên đơn chịu trách nhiệm cho việc triệu tập và khiến nại đồng thờiphải cung cấp các bản sao cần thiết cho người thực hiện tống đạt.

1.2.3 Phương thức cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng

Tống đạt là việc chuyển giao các tài liệu pháp lý cho một bên cần phảnhồi trong thời gian nhất định Tuỳ thuộc vào tính chất, mục đích sử dụng cũngnhư mô hình TTDS của mỗi quốc gia lại đòi hỏi các phương thức cấp,tốngđạt, thông báo VBTTDS khác nhau sao cho phù hợp với hệ thống pháp luậtmỗi nước Nhưng nhìn chung trên thế giới tồn tại năm phương thức cấp, tốngđạt, thông báo VBTTDS chính Đó là: tống đạt trực tiếp, tống đạt thay thế,tống đạt qua dịch vụ bưu chính, tống đạt bằng cách công bố công khai, tốngđạt bằng phương tiện điện tử và mạng xã hội

a Tống đạt trực tiếp

Bản chất của phương thức này là giao tận tay cho người nhận văn bản,thông thường là nhà hoặc nơi làm việc của họ Nhìn chung, người tiếp nhậnvăn bản thường sẵn sàng nhận các tài liệu được tống đạt, tuy nhiên cũng cókhông ít trường hợp người tiếp nhận cố tình trốn tránh, không nhận Trongtrường hợp này, chủ thể tống đạt có thể trực tiếp đến tại địa chỉ nhà của cánhân đó để thực hiện tống đạt giấy tờ, tài liệu Tòa án thường lựa chọnphương pháp này hơn là các phương pháp khác bởi nó là cách đảm bảo chắcchắn nhất để đưa ra thông báo

Ở Mỹ, có ba phương pháp tống đạt chính được cho phép đó là: tốngđạt cá nhân, tống đạt thay thế (qua người khác) và tống đạt bằng việc công bốcông khai (hay còn gọi là phương pháp xuất bản) [54] Tống đạt cá nhân hoặc

Trang 30

chuyển giao tận tay luôn được ưu tiên hơn vì nó được xem như là phươngpháp chính xác nhất Tống đạt thay thế được sử dụng khi không thể liên lạctrực tiếp được với bị đơn Tống đạt công khai chỉ được sử dụng như là mộtphương sách cuối cùng vì nó không đáng tin cậy Mỗi tiểu bang ở Mỹ có quytắc tố tụng dân sự riêng quy định chi tiết cách thức chuyển giao tài liệu Trongbối cảnh tống đạt thông báo về vụ kiện, thủ tục này được hiểu là mọi ngườiphải được thông báo về vụ kiện, được biết về những quan điểm chống lại họ

và tạo cho họ một cơ hội để được lắng nghe Vì vậy, để đánh giá tính hợppháp của việc tống đạt, tòa án đánh giá liệu phương pháp tống đạt được sửdụng có thực sự hợp lý và liệu nó có tuân thủ các yêu cầu theo luật định haykhông Nếu việc tống đạt được cho phép theo luật định, tòa án sử dụng cácquy tắc tố tụng dân sự của liên bang và tiểu bang, sau đó xác định đầy đủ cácthủ tục, trình tự thực hiện trong mỗi trường hợp Đối với các vụ kiện tại Tòa

án liên bang, Quy tắc số 4 Bộ Quy tắc tố tụng dân sự liên bang quy định cácphương pháp tống đạt truyền thống đối với bị đơn ở trong nước, bao gồmtống đạt cá nhân, chuyển giấy tờ, tài liệu đến nơi ở của bị đơn hoặc giao chođại diện của bị đơn Nếu nếu việc tống đạt vẫn không thể thực hiện được theocác phương pháp truyền thống này, Quy tắc 4 cũng cho phép tống đạt theophương thức do pháp luật tiểu bang nơi vụ kiện diễn ra quy định

Phương pháp tống đạt cơ bản và lâu đời nhất là tống đạt cá nhân.Trước khi các quy tắc tố tụng dân sự liên bang được thông qua, Tòa án tốicao Hoa Kỳ năm 1877 đã quyết định trong vụ Pennoyer v Nef (Pennoyer v.Neff, 95 US 714, 1878) [52], rằng Tòa án áp dụng thẩm quyền đối với mộtbên nếu bên đó được tống đạt đơn khởi kiện trong khi hiện diện tại tiểu bang

Tòa án tối cao phán quyết rằng: để tòa án có thẩm quyền xét xử đối với bị đơnthì bị đơn phải được tống đạt đơn khởi kiện trực tiếp Tại thời điểm xảy ra vụPennoyer, hầu như tất cả các thông tin liên lạc, chính thức và không chính

Trang 31

thức đều được thực hiện một cách trực tiếp Báo chí đã tồn tại nhưng chỉ đưacác đoạn thông tin ngắn gọn Hệ thống bưu điện đã hoạt động nhưng chậm vàđắt đỏ Điện báo đã có sẵn nhưng mới xuất hiện trong thời gian này Không

có phương pháp hợp lý nào khác có thể được sử dụng để thực hiện quá trìnhtống đạt Bối cảnh lịch sử này lý giải tại sao Tòa án tối cao kiên quyết rằngviệc tống đạt phải được thực hiện trực tiếp

Hiện nay, Quy tắc 4 (e) của FRCP (Federal Rules of Civil Procedure)

-quy tắc thủ tục TTDS liên bang chứa đựng các phương pháp tống đạt truyềnthống mà theo đó bị đơn trong nước có thể được tống đạt thông qua hình thứctống đạt cá nhân, chuyển đến nơi ở của cá nhân được chấp nhận bởi một người

có độ tuổi phù hợp, và chuyển cho người đại diện được ủy quyền để chấp nhậntống đạt FRCP đã thay đổi theo thời gian, thậm chí tại một thời điểm bao gồmtống đạt bằng thư được chứng nhận là phương tiện có thể chấp nhận được.Trong một số trường hợp, các phương pháp truyền thống không hiệu quả Cáctòa án sau đó xem xét xem liệu dịch vụ có thể được thực hiện thông qua mộtphương pháp "thay thế", chủ yếu theo luật tiểu bang nơi diễn ra hành động ỞLouisiana, luật tiểu bang cho phép tống đạt cá nhân và tống đạt tại nhà đối với tất

cả các văn bản tố tụng thông thường Tuy nhiên, trong một số trường hợp, chẳnghạn như sự thay thế các bên trong một số trường hợp nhất định, tống đạt theophương thức công bố công khai được cho phép

Tại Nga, giấy gọi của Toà án được tống đạt trực tiếp cho đương sự vớiviệc trả lại cuống biên lai có chữ ký của người được tống đạt Đối với tổ chứcthì Toà án tống đạt cho người có chức vụ, sau đó người này ký nhận vào cuốngbiên lai của văn bản Trong trường hợp người chuyển giấy gọi không gặp ngườiđược toà án triệu tập ở nơi người đó sinh sống, giấy gọi được trao cho mộttrong những thành viên là người thành niên của gia đình nếu người đó đồng ýtống đạt cho người được Toà án triệu tập Trong trường hợp người

Trang 32

được Toà án triệu tập vắng mặt tạm thời, người chuyển giấy gọi của Toà ánghi rõ nơi đến của người được tống đạt, và thời gian người đó quay trở lạitrong cuống biên lai của giấy gọi Trong trường hợp không rõ nơi cư trú củangười được toà án triệu tập thì điều này phải được ghi nhận trên tờ giấy gọi,đồng thời chỉ rõ ngày, thời gian ghi nhận và nguồn thông tin về điều này(Điều 116 BLTTDS Liên Bang Nga) Nếu người được tống đạt từ chối tiếpnhận giấy gọi hoặc giấy báo của Toà án thì người chuyển đánh dấu trên tờgiấy báo hoặc giấy gọi và trả lại Toà án Trong trường hợp từ chối tiếp nhậngiấy gọi hoặc giấy báo của Toà án, người được tống đạt coi như đã đượcthông báo về thời gian và địa điểm xét xử vụ án hoặc thời gian và địa điểmthực hiện hoạt động tố tụng Về cơ bản, phương thức tống đạt này có đặcđiểm gần giống với phương thức tống đạt trực tiếp trong PLTTDS Việt Nam,việc tống đạt cho cá nhân hay tổ chức trong các trường hợp phải có sự xácnhận của người thực hiện tống đạt để làm căn cứ giải quyết vụ việc dân sự,pháp luật Nga cũng đưa ra quy định thế nào thì được coi là tống đạt hợp lệtuy nhiên chưa bao quát được trong các trường hợp ví dụ như việc tống đạtthông qua người thứ ba – người thành niên của gia đình, pháp luật không quyđịnh việc người này phải ký xác nhận về việc đã nhận VBTT và có tráchnhiệm chuyển giao văn bản hay không Ngoài ra đối với trường hợp đương

sự từ chối tiếp nhận thì Toà án không yêu cầu phải nêu rõ lý do, người đượctống đạt coi như đã được thông báo về thời gian và địa điểm xét xử vụ ánhoặc thời gian và địa điểm thực hiện hoạt động tố tụng, điều này là chưa thực

sự phù hợp và không có cơ sở rõ ràng

b. Tống đạt thay thế

Ở Mỹ, nếu tống đạt trực tiếp cho cá nhân không khả thi hoặc khônghiệu quả, tòa án một số khu vực cho phép chủ thể thực hiện chuyển giao tàiliệu theo các phương pháp khác Một lựa chọn có thể là giao các giấy tờ cho

Trang 33

một người thành niên hợp pháp, người này phải hiểu được trách nhiệm củaviệc nhận giấy tờ Chủ thể tống đạt cũng được phép giao các tài liệu đến nơi

cư trú hoặc nơi làm việc của bị đơn, sau đó gửi kèm một bản sao đến địa chỉcủa họ Một số tòa án khu vực cho phép chủ thể thực hiện gửi các giấy tờ đơngiản bằng cách sử dụng hộp thư đã đăng ký Các tòa án khu vực khác nhaucho phép thực hiện các phương pháp tống đạt khác nhau, vì vậy điều quantrọng là phải kiểm tra các quy định của pháp luật trước khi tiến hành tống đạtthay thế

Ở Đức, việc tống đạt có thể được thực hiện thông qua luật sư sau đóluật sư xác nhận về việc đã nhận văn bản (Điều 174 BLTTDS của Đức) Việctống đạt cũng có thể được thực hiện giữa các luật sư với nhau Trường hợpluật sư của các bên sư phải thực hiện tống đạt một tài liệu cho đồng nghiệpcủa mình (Điều 671 đến 673 BLTTDS của Đức) Điều này thường diễn ra tạiTòa án theo một trong hai cách: tống đạt chính thức - yêu cầu sự can thiệp củamột người được ủy quyền đóng dấu và chữ ký trên tài liệu và bản sao hoặctống đạt trực tiếp - được thực hiện bằng cách giao hai bản sao của tài liệu choluật sư mà người đó tham gia giải quyết vụ án dân sự, sau đó gửi lại để Toà

án xem xét, lưu hồ sơ

Tại BLTTDS năm 2003 của Liên Bang Nga có quy định việc chuyểnVBTTDS (gồm giấy gọi và giấy báo) có thể được thực hiện thông qua ngườiđược Toà án uỷ nhiệm Theo đó, nếu được người tham gia tố tụng đồng ý,thẩm phán có thể trao giấy gọi hoặc giấy báo của Toà án cho người đó để tốngđạt cho người được thông báo hoặc người được triệu tập Người được Toà

án uỷ nhiệm chuyển giấy gọi hoặc giấy báo có nghĩa vụ gửi lại Toà án cuốngbiên lai của giấy gọi hoặc bản sao giấy báo có chữ ký xác nhận của ngườiđược tống đạt (khoản 2 Điều 115)

c. Tống đạt qua dịch vụ bưu chính

Trang 34

Ở Đức, việc tống đạt VBTT có thể được thực hiện thông qua dịch vụbưu chính Thuật ngữ “dịch vụ bưu chính” có nghĩa là các công ty được Cơquan mạng Liên bang (Bundesnetzagentur) cấp phép cung cấp dịch vụ bưuchính.

Theo pháp luật TTDS của Pháp, phương thức này được thực hiện bằngcách sử dụng một phong bì có niêm phong hoặc thư (Điều 667 của BLTTDSPháp) Nhân viên bưu điện khi thực hiện chuyển giao tài liệu, giấy tờ phải kýnhận hoặc ghi vào giấy biên nhận Trên phong bì hoặc thư phải có đầy đủ cácthông tin liên quan đến người nhận và người gửi Đối với người gửi phải ghi

rõ họ tên hoặc công ty hoặc tên doanh nghiệp cũng như văn phòng đăng kýhoặc nơi cư trú của người này Người nhận phải là người được chỉ định cụthể (Điều 665) Tất cả những chi tiết này là yêu cầu bắt buộc nếu không việctống đạt sẽ trở nên vô hiệu (Điều 693)

Trường hợp người nhận là cá nhân, việc tống đạt được thực hiện tại nơi

cư trú của người đó hoặc ở bất kỳ nơi nào khác nếu được yêu cầu hoặc ngay tạiđịa chỉ tống đạt nếu được chấp nhận hoặc theo quy định của pháp luật Nếungười có liên quan là pháp nhân, việc tống đạt được thực hiện tại địa điểm kinhdoanh của cơ quan, tổ chức đó hoặc tống đạt trực tiếp cho một nhân viên của cơquan, tổ chức – người có chức năng hoặc được phép nhận các VBTT đó Đốivới người thực hiện tống đạt, việc tống đạt được coi là hoàn thành kể từ khi thưđược gửi đi, ngày gửi được hiển thị trên tem của văn phòng bưu chính nơi gửi.Đối với người được tống đạt, ngày được tống đạt thành công là ngày nhận đượcthư Trong trường hợp thư đã đăng ký có xác nhận về việc đã nhận, ngày hoànthành việc tống đạt là ngày tương ứng với thư được chuyển cho người nhận và

có xác nhận của cơ quan bưu chính Ở đây, có thể hiểu rằng việc tống đạt quadịch vụ bưu chính bao gồm hai hình thức gần giống với hình thức gửi thư tạiViệt Nam, đó là gửi thường và gửi bảo đảm

Trang 35

Một số quốc gia khác như Nga cũng sử dụng phương pháp tống đạt thông qua dịch vụ bưu chính để chuyển giao VBTTDS cho đương sự Điều

115 BLTTDS năm 2003 của Liên Bang Nga quy định: “Giấy gọi và giấy báo củaToà án được chuyển theo bưu điện hoặc thông qua người được Toà án uỷ

nhiệm Thời hạn tống đạt giấy báo cho người nhận được xác định theo cáchthức của cơ quan bưu điện hoặc dựa trên giấy báo lại cho Toà án”

d Tống đạt công khai (tống đạt bằng việc xuất bản)

Đây được coi là phương sách cuối cùng bởi nó là phương án khônghiệu quả nhất và ít có khả năng nhất trong việc truyền đạt văn bản tố tụng tớiđược bị đơn Chủ thể thực hiện có thể công bố thông báo trên một tờ báođược phát hành ở địa điểm có khả năng là địa chỉ của bị đơn hoặc vị trí củaTòa án, hoặc cả hai Ở Mỹ, hầu hết các tòa án khu vực yêu cầu thông báo phảiđược công bố trong nhiều tuần để đảm bảo khả năng bị đơn thấy được thôngbáo Bởi vì hầu hết các bị đơn sẽ không bao giờ đọc báo Phương pháp nàychỉ được phép áp dụng khi không còn cách nào khác để liên lạc với bị đơn

Nó không chỉ tốn kém tiền bạc mà còn không đáng tin cậy bởi sau này bị đơn

có thể tuyên bố rằng họ đáng lẽ đã có thể được tống đạt trực tiếp với tư cách

cá nhân (không đại diện bởi người khác)

Năm 1950, quyết định của Tòa án Tối cao trong vụ án Mullane và Ngânhàng Trung ương Hannover & Trust Co cho thấy nước Mỹ có sự thay đổimạnh mẽ [49] Toà án chấp thuận việc xuất bản như một phương tiện thôngbáo được cho phép theo Hiến pháp khi không có phương pháp hợp lý nàokhác có thể được sử dụng và khi nơi của những người được thông báo làkhông rõ ràng Theo phán quyết trong vụ Mullane, công nghệ và tống đạt tiếptục phát triển Tòa án đã đưa ra quyết định cho phép các phương pháp tốngđạt thay thế phù hợp với với sự phát triển của công nghệ Đáng chú ý là cácphương pháp này đã không thay thế các phương thức dịch vụ truyền thống

Trang 36

nhưng được sử dụng như một phương sách cuối cùng khi các nỗ lực đã đượcthực hiện để xác định nơi ở của bị đơn.

e. Tống đạt thông qua mạng xã hội truyền thông và phương tiện điện tử

Không thể phủ nhận rằng, những tiến bộ khoa học công nghệ đã mở ramột thế giới hoàn toàn mới cho việc áp dụng các phương pháp tống đạtVBTTDS Đôi khi nguyên đơn phải cố gắng thực hiện việc tống đạt thông quanhiều hình thức, phương tiện khác nhau sao cho phù hợp, đặc biệt trongtrường hợp người bị kiện cố tình trốn tránh hoặc không có địa chỉ thường trú

rõ ràng Thông thường trong trường hợp này khó có thể tống đạt trực tiếp cho

cá nhân Do đó đòi hỏi cần có một giải pháp lý tưởng thông qua việc ứngdụng các công nghệ tiến bộ để giải quyết vấn đề Qua thực tiễn áp dụng phápluật cho thấy một số phương pháp tống đạt thông qua phương tiện điện tửhay mạng xã hội truyền thông được các nước trên thế giới chấp nhận và sửdụng, thậm chí được coi là án lệ trở thành khuôn mẫu để giải quyết các vụviệc có tính chất tương tự về sau phải kể đến các phương pháp đó là:

Tống đạt bằng phương tiện điện tử

Sự ra đời của các công nghệ mới trong hệ thống tư pháp đã dẫn đến sựthay đổi của các điều khoản và điều kiện cho việc tống đạt chính thức bằngphương tiện điện tử Điều 748-1 của Bộ luật tố tụng dân sự Pháp quy địnhviệc gửi, giao tống đạt các thủ tục tố tụng, giấy tờ, thông báo, cảnh báo hoặctriệu tập, báo cáo, báo cáo chính thức và bản sao, bản gốc giấy tờ tài liệu đểthi hành bản án có thể được thực hiện bằng phương thức điện tử

Quá trình tống đạt VBTT giữa các luật sư cũng có thể được thực hiệnthông qua mạng xã hội dành riêng cho Luật sư (Réseau Privé Virtuel Avocats,RPVA), phương tiện này cũng được sử dụng để tiến hành trao đổi thủ tục giữaluật sư và tòa án Ngoài ra, trong các trường hợp và điều kiện được xác định rõràng, một số tài liệu có nguồn gốc từ cơ quan đăng ký (như thông báo

Trang 37

về phiên họp của tòa án, giấy triệu tập ) có thể được gửi tới một bên bằng mail (Điều 748-8 và 748-9 của BLTTDS Pháp) Trong mọi trường hợp, ngườinhận tài liệu phải đồng ý rõ ràng việc sử dụng các phương tiện giao tiếp điện tử.

e- Tống đạt qua email

Có thể nói, sự ra đời của Internet đã mở rộng đáng kể việc sử dụng mail, nó cho phép mọi người có thể truy cập vào công nghệ mới này một cách

e-dễ dàng Người dùng có thể “Gửi và nhận dữ liệu kỹ thuật số từ một số lượng

vô hạn nguồn” [48] Email nhanh chóng trở thành phương pháp giao tiếpchính và trong năm 2011, số lượng tài khoản e-mail trên toàn thế giới đượcước tính vào khoảng 3,1 tỷ Tại Mỹ, 60 tòa án vào năm 2000 được cho phépthực hiện tống đạt thông qua phương pháp này

Năm 2000, Tòa án phá sản Hoa Kỳ trong “In re INTERNATIONALTELEMEDIA ASSOCIATES, INC” giữa nguyên đơn là Herbert C Broadfoot và

bị đơn là Arjuna Diaz, đã cho phép tống đạt một bản sao của Lệnh triệu tập vàkhiếu nại khi bị đơn ở nước ngoài bằng fax, e-mail và thư đến địa chỉ được biếtcuối cùng của bị đơn Vào thời điểm đó nguyên đơn đã không được tống đạt cácvăn bản khiếu nại và không được thực hiện bất kỳ sự xuất hiện nào Bị đơn từchối cung cấp địa chỉ gửi thư nhưng đã cung cấp một bản fax, số điện thoại, địachỉ e-mail và nói rằng ông muốn sử dụng chúng trong thư từ tương lai Trongtrường hợp này, tòa án thấy rằng Diaz chỉ đơn giản cung cấp cho người uỷ tháccủa nguyên đơn một địa chỉ điện tử thay vì địa chỉ bưu điện hay địa chỉ đườngphố truyền thống và chỉ ra rằng đây là những phương thức liên lạc ưa thích củaanh ta Vì vậy, người được ủy thác đã yêu cầu ủy quyền thực hiện tống đạt vănbản cho Diaz bằng các phương tiện thay thế đó Tòa án cũng tuyên bố rằng việc

ủy quyền tống đạt bằng e-mail và phương tiện thay thế khác có ít hoặc không cótiền lệ nào Hơn nữa,

Trang 38

tòa án cũng nhận thấy được sự cần thiết phải thích ứng cùng với sự phát triểncủa công nghệ đang ngày một hiện đại [51].

Tòa phúc thẩm Hoa Kỳ khu vực thứ chín cũng đã chấp thuận tống đạtqua Internet trong vụ Rio Properties, Inc Trong vụ Rio, tòa án cho phép tốngđạt qua e-mail trong trường hợp bị đơn ở nước ngoài Nguyên đơn không thểtống đạt cho bị đơn tại Mỹ và không thể tìm thấy địa chỉ thực tế tại CostaRica Địa chỉ duy nhất có sẵn là một địa chỉ e-mail, mà bị đơn được chỉ địnhlàm phương pháp liên lạc ưa thích Tòa án nói rằng tống đạt qua e-mail làphù hợp trong hoàn cảnh này bởi nó "Được tính toán hợp lý để đưa ra thôngbáo và cơ hội để trả lời” [48] Hơn nữa, tòa án đã tuyên bố rằng trong trườnghợp này tống đạt qua email là phương pháp khả thi nhất để tiếp cận bị đơn vì

bị đơn do tính chất kinh doanh của mình chỉ có thể liên lạc qua e-mail Tuynhiên đối với e-mail, không có xác nhận rằng giao tiếp điện tử đã thực sựnhận được Thêm vào đó, sự gia tăng trong số lượng e-mail được gửi và nhậnmỗi ngày đã chậm lại do sự phát triển của các hình thức giao tiếp khác, đặcbiệt là sự xuất hiện của nhiều mạng xã hội Trên thực tế, việc ứng dụng những

ưu thế của truyền thông xã hội là cần thiết, góp phần quan trọng trong cuộcsống hàng ngày và tăng tiềm năng của nó như một công cụ hữu ích cho hệthống pháp luật

Bên cạnh email, ngày nay máy fax vẫn được sử dụng nhưng khôngnhiều do sự phát triển của khoa học công nghệ Có thể nói việc sử dụng emailtrở nên đáng tin cậy hơn so với truyền fax trong nhiều trường hợp bởi khi mộttài liệu được gửi qua fax, không có cách nào để xác nhận những người thực

sự nhận được fax và thời điểm chính xác nó đã được nhận vì một biên nhậnfax chỉ xác nhận rằng tài liệu đã được gửi

Tống đạt qua mạng xã hội truyền thông Facebook

Trang 39

Facebook là trang web mạng xã hội lớn nhất và được tạo ra để chophép người dùng kết nối với các mục đích khác nhau Khi sử dụng phươngthức tống đạt này, nguyên đơn có thể tìm thấy mạng xã hội của bị đơn bằngcách sử dụng thông tin cá nhân được liệt kê trên tiểu sử, xác nhận rằng nhữngthông tin đó thuộc về bị đơn Ví dụ, Facebook có chính sách mà người dùngcung cấp tên thật và thông tin và bảo lưu quyền xóa tài khoản của người dùngnếu vi phạm chính sách này Việc tống đạt tài liệu, giấy tờ được thực hiệnbằng cách đính kèm với thư được gửi tới hộp thư đến liên kết với hồ sơ cánhân của bị đơn Tính năng của phương tiện truyền thông xã hội sẽ phát hànhmột "biên lai đọc" (read receipt) [48], danh sách ngày và giờ tin nhắn đượcđọc Thông thường mỗi người dùng Facebook hiện có tài khoản e-mail hoạtđộng giống như hộp thư đến tài khoản e-mail truyền thống Các tệp đínhkèm, chẳng hạn như thông báo chính thức có thể được đính kèm vào thưFacebook, giống như với e-mail Nguyên đơn có thể xác minh danh tính của

hồ sơ mạng xã hội trực tuyến bằng cách so sánh thông tin đã biết với thông tinđược liệt kê trong hồ sơ Với một tài khoản truyền thông xã hội, thông tin cánhân có thể được so sánh để thấy rằng tài khoản rất có thể thuộc về bị đơn

Bởi sự phổ biến của truyền thông xã hội, hệ thống pháp luật sẽ không thể

bỏ qua công nghệ mới này như một phương tiện để thực hiện tống đạt khi cácphương thức khác không có hiệu quả Điều này cũng làm nảy sinh một số vấn đềgây tranh luận rằng hệ thống pháp luật có nên thừa nhận giá trị của truyền thông

xã hội và cho phép việc tống đạt được thực hiện thông qua nó hay không Thực

tế cho thấy, phương tiện truyền thông xã hội cho phép người dùng liên kết vớinhau bằng công nghệ, tương tác xã hội và kết nối cộng tác Người dùng thường

là cá nhân, doanh nghiệp hay các tổ chức khác cũng tham gia vào mạng xã hội

Để tạo một tài khoản trên hầu hết các trang web mạng hoặc facebook, ngườidùng phải nhập cá nhân thông tin, chọn mật khẩu và

Trang 40

nhập địa chỉ e-mail và đôi khi là số điện thoại để tài khoản có thể được xácminh.

Để tham gia Facebook, ví dụ, một người dùng tạo ra một "hồ sơ" trựctuyến bằng cách nhập tên, ngày sinh, giới tính và e-mail của họ Sau đó phải xácnhận địa chỉ e-mail bằng cách truy cập vào tài khoản e-mail được liệt kê trongquá trình đăng ký Sau khi người dùng xác nhận tài khoản e-mail, họ phải xácminh bằng cách liệt kê một số điện thoại và xác nhận các thông tin cần thiết choviệc tạo lập tài khoản facebook Người dùng có thể bắt đầu kết nối với nhữngngười dùng khác trên trang web, mạng xã hội và chia sẻ thông tin, có thể sửdụng tài khoản để thêm bạn bè, đăng bài viết, tải ảnh, thêm thông tin cá nhân,thay đổi cài đặt bảo mật, cập nhật trạng thái bài đăng và gửi tin nhắn riêng đếnnhững người dùng khác Các tính năng tương tác này, kết hợp với tính dễ sửdụng đã làm cho mạng xã hội ngày càng trở nên phổ biến hơn

Trên trang “Archer Attorneys at law” với tựa đề “Estate & Trust litigation law blog” có viết: Toà thượng thẩm New Jersey đã tổ chức thực hiện tống đạt

văn bản thông qua nền tảng truyền thông xã hội mà Facebook cho phép sau khiviệc tống đạt qua thư được cho là không hiệu quả [50] Theo quy định của Tòa

án bang New Jersey tại Điều 4 - 4(a), nguyên đơn phải tự mình khiếu nại và triệutập đơn kiện Tuy nhiên, nếu những nỗ lực hợp lý và trung thực của nguyên đơn

để thực hiện tống đạt cho cá nhân chứng minh rằng nó không đạt được hiệu quảthì nguyên đơn có thể cố gắng thực hiện tống đạt văn bản bằng các phương phápthứ cấp được quy định trong Điều 4 - 3(b)

Trên thế giới, một số quốc gia đã cho phép thực hiện quá trình tống đạtthông qua truyền thông xã hội trong đó Australia là quốc gia đầu tiên Năm

2008, Tòa án tối cao của Australia cho phép tống đạt qua Facebook trong mộtthủ tục tịch thu nhà do không thể thực hiện tống đạt bằng phương pháp truyềnthống cho các bị đơn bởi họ đã chuyển nơi ở, chuyển việc làm và thay đổi số

Ngày đăng: 04/11/2020, 15:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w