Bên cạnh đó, do Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2020 mới được ban hành nên gần như chưa có các công trình nghiên cứu về thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, th
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
LÊ THỊ NGỌC HẠNH
THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN, THỎA THUẬN NUÔI CON, CHIA TÀI SẢN KHI
LY HÔN
KHÓA LUẬN CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ
TP HỒ CHÍ MINH – THÁNG 7 – NĂM 2021
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
LÊ THỊ NGỌC HẠNH
Lớp: DS42A1
Mã số sinh viên: 1753801012059 Niên khóa: 2017-2021
THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN, THỎA THUẬN NUÔI CON, CHIA TÀI SẢN KHI LY HÔN
Người hướng dẫn: Thạc sĩ PHẠM THỊ THÚY
TP HỒ CHÍ MINH – THÁNG 7 – NĂM 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung trong Khóa luận tốt nghiệp về Đề tài “Thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn” này là kết quả nghiên cứu do cá nhân tôi thực hiện, dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc sĩ Phạm Thị Thúy Mọi thông tin tham khảo được sử dụng trong Khóa luận này đều đảm bảo tính trung thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 12 tháng 7 năm 2021
Tác giả
Lê Thị Ngọc Hạnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Khóa luận tốt nghiệp về Đề tài “Thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn” này là kết quả của cả một quá trình cố gắng, nỗ lực của bản thân em Tuy nhiên, Khóa luận này sẽ không thể đạt được kết quả như hiện tại nếu không có sự hướng dẫn tận tình của Thạc sĩ Phạm Thị Thúy – Giảng viên Khoa Luật Dân sự, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Cô cũng là người giảng dạy em ở học phần Luật Tố tụng dân sự, cung cấp cho em những kiến thức về pháp luật Tố tụng dân sự, giúp em có cơ sở để quyết định nghiên cứu về Đề tài này Qua đây, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến cô! Cảm ơn cô vì đã tận tình hướng dẫn cho em hoàn thành được bước đi cuối cùng trên quãng đường sinh viên của mình!
Qua đây, con cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến ba mẹ, cảm
ơn ba mẹ đã chăm lo cho con trong suốt những năm tháng qua và cả sau này nữa Trong khoảng thời gian con viết Khóa luận, cảm ơn ba mẹ đã động viên, tạo điều kiện tốt nhất để con có thể chuyên tâm hoàn thành, con rất biết ơn về những điều đó, con cảm ơn ba mẹ rất nhiều! Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến bà ngoại, anh chị, em gái, bạn bè đã luôn động viên em, giúp em có thêm động lực để hoàn thành Khóa luận này
Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Cố vấn học tập – Thạc sĩ Lê Ngọc Anh – Giảng viên Khoa Luật Dân sự, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh đã kịp thời có những lời khuyên và động viên em trong quá trình học tập cũng như trong việc lựa chọn Đề tài viết Khóa luận
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến toàn thể các thầy (cô) là Giảng viên Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là những thầy (cô) đã trực tiếp giảng dạy, trang bị cho em những kiến thức cần thiết trong khoảng thời gian ngồi trên ghế nhà trường, giúp em có cơ sở để được thực hiện viết Khóa luận tốt nghiệp và có nền tảng kiến thức để hoạt động trong lĩnh vực pháp luật về sau
Ở thời điểm thực hiện Khóa luận này, bản thân em vẫn chưa tiếp xúc nhiều với thực tiễn hoạt động pháp luật và kiến thức lý luận có lẽ còn có sự hạn chế nhất định Do đó, mặc dù đã cố gắng rất nhiều trong việc nghiên cứu và thể hiện vào Khóa luận nhưng có thể không tránh khỏi những thiếu sót, em mong nhận được sự góp ý của các Quý thầy (cô) và các bạn đọc để em có thể hoàn thiện hơn Nghiên cứu của mình, em xin chân thành cảm ơn!
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT Từ viết tắt Nội dung được viết tắt
3 Luật HGĐTTTA Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án
4 Luật HN&GĐ Luật Hôn nhân và gia đình
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN, THỎA THUẬN NUÔI CON, CHIA TÀI SẢN KHI LY HÔN 6
1.1 Khái quát về việc dân sự 6
1.1.1 Khái niệm việc dân sự 6
1.1.2 Đặc điểm việc dân sự 7
1.2 Khái quát về thủ tục giải quyết công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn 8
1.2.1 Khái niệm thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn 8
1.2.2 Đặc điểm của thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn 10
1.2.3 Ý nghĩa của thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn 14
1.3 Thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn ở một số quốc gia trên thế giới 15
1.3.1 Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc) 15
1.3.2 Cộng hoà Phần Lan (Phần Lan) 17
1.3.3 Cộng hòa Pháp (Pháp) 19
Kết luận chương 1 22
CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN, THỎA THUẬN NUÔI CON, CHIA TÀI SẢN KHI LY HÔN 23
2.1 Thủ tục yêu cầu, nhận và xử lý đơn yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn 24
2.1.1 Chủ thể có quyền yêu cầu 24
2.1.2 Đơn yêu cầu 25
2.1.3 Gửi đơn yêu cầu 27
2.1.4 Nhận và xử lý đơn yêu cầu 27
2.2 Hòa giải tiền tố tụng tại Tòa án 29
2.2.1 Quyền được lựa chọn hòa giải tiền tố tụng tại Tòa án 29
2.2.2 Lựa chọn hoặc chỉ định Hòa giải viên 30
Trang 72.2.3 Giai đoạn chuẩn bị hòa giải tiền tố tụng tại Tòa án 32
2.2.4 Phiên hòa giải 32
2.2.5 Phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải 33
2.2.6 Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành 35
2.2.7 Xử lý chấm dứt hòa giải 37
2.3 Thụ lý đơn yêu cầu và chuẩn bị xét đơn yêu cầu theo thủ tục sơ thẩm 37
2.3.1 Thụ lý đơn yêu cầu 37
2.3.2 Chuẩn bị xét đơn yêu cầu theo thủ tục sơ thẩm 38
Kết luận chương 2 44
CHƯƠNG 3 BẤT CẬP TRONG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ TRONG THỰC TIỄN ÁP DỤNG THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN, THỎA THUẬN NUÔI CON, CHIA TÀI SẢN KHI LY HÔN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 45
3.1 Về việc quy định nộp tiền lệ phí để thụ lý việc dân sự 45
3.2 Về trường hợp trả lại đơn yêu cầu 46
3.3 Về quy định thời hạn xem xét đơn yêu cầu để ra thông báo bổ sung đơn yêu cầu và để ra quyết định thụ lý việc dân sự 47
3.4 Về sự tham gia của Viện kiểm sát trong quá trình giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn 48
3.5 Về việc trả lại lệ phí cho người yêu cầu trong trường hợp đình chỉ giải quyết việc dân sự thuận tình ly hôn 49
3.6 Về các trường hợp không tiến hành hòa giải được 51
3.7 Về việc chuyển sang giải quyết theo thủ tục vụ án dân sự 54
3.8 Về khả năng bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với Quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự 56
3.9 Một số kiến nghị khác 59
Kết luận chương 3 62
KẾT LUẬN CHUNG 63 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay, ly hôn trở thành một vấn đề rất phổ biến (các vụ án hôn nhân và gia đình mà Tòa án phải thụ lý, giải quyết theo thủ tục sơ thẩm năm 2017 là 260.076 vụ, năm 2018 là 262.906 vụ1, năm 2019 là 256.793 vụ2
) Điều này có thể
lý giải bởi xã hội ngày càng phát triển, sự nhìn nhận của con người về các vấn đề xã hội ngày càng mang chiều hướng phóng khoáng hơn, những định kiến của xã hội cũ nói chung và về ly hôn nói riêng cũng dần bị xóa bỏ Việc ly hôn ở xã hội trước đây
có thể tạo ra những hệ quả nặng nề đặt lên vợ chồng, gia đình, dòng họ, đặc biệt đối với người phụ nữ, còn ngày nay, vợ chồng hoàn toàn có quyền làm chủ cuộc hôn nhân của mình và không còn nhiều định kiến xã hội áp đặt lên nữa Bên cạnh đó, những nguyên nhân dẫn đến việc vợ chồng chấm dứt hôn nhân ngày càng đa dạng hơn, nhịp sống vội vã cũng kéo theo những mâu thuẫn gia đình về tiền bạc, chăm sóc con cái, chăm lo nhà cửa, những vấn đề về đối nội, đối ngoại, vợ chồng ngoại tình ngày càng diễn ra phổ biến, dẫn đến việc vợ chồng quyết định ly hôn ngày càng nhiều, nhu cầu cần biết đến thủ tục giải quyết ly hôn của các cặp vợ chồng muốn ly hôn ngày càng cao
Thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn là một trong các thủ tục giải quyết các vụ việc về hôn nhân
và gia đình đã được Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án số 58/2020/QH14 ngày 16/6/2020 của Quốc hội quy định khá cụ thể Tuy nhiên, hiện nay vẫn tồn tại một số quy định chưa thực sự rõ ràng, có quy định mâu thuẫn chồng chéo với nhau, việc áp dụng pháp luật của Tòa án trong một số trường hợp còn thiếu thống nhất Bên cạnh đó, do Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2020 mới được ban hành nên gần như chưa
có các công trình nghiên cứu về thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn theo phương thức mới (hòa giải tiền tố tụng tại Tòa án) được quy định ở Luật này
1Tòa án nhân dân tối cao (2018), Dự thảo Báo cáo tổng kết công tác năm 2018 và nhiệm vụ trọng tâm công
tác năm 2019 của các Tòa án, hanh?dDocName=TAND058489 , truy cập ngày 20/5/2021
https://quangninh.toaan.gov.vn/webcenter/portal/tatc/chi-tiet-chi-dao-dieu-2Tòa án nhân dân tối cao (2020), Báo cáo tổng kết công tác năm 2019 và nhiệm vụ trọng tâm công tác năm
2020 của các Tòa án, Hà Nội, trang 4, hanh?dDocName=TAND098091 , truy cập ngày 20/5/2021
Trang 9https://www.toaan.gov.vn/webcenter/portal/tatc/chi-tiet-chi-dao-dieu-Từ những lý do trên, tác giả nhận thấy việc nghiên cứu làm rõ những vấn đề liên quan đến thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, từ đó nêu lên một số những bất cập trong quy định của pháp luật và trong thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết loại việc này và đưa ra được những kiến nghị giải quyết những bất cập này sẽ có ý nghĩa khoa học rất lớn đối với ngành khoa học pháp lý nghiên cứu về thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ sau khi Bộ luật Tố tụng dân sự số 24/2004/QH11 ngày 15/6/2004 của Quốc hội được ban hành, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, có thể liệt kê một số công trình nghiên cứu như sau:
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nguyễn Thị Hoài Phương, Nhà Xuất bản Hồng Đức - Hội
Luật gia Việt Nam Đây là công trình nghiên cứu tổng quát về pháp luật Tố tụng dân sự nói chung theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Công trình này đã nêu và phân tích một số vấn đề cơ bản như về đặc điểm, khái niệm, quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục giải quyết việc dân sự và có một số sự so sánh quy định của pháp luật hiện hành với quy định của pháp luật trước đây (từ trang 487 đến trang
525 của Giáo trình) Công trình cũng nêu lên được các quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, có sự so sánh cho thấy một số sự khác nhau cơ bản giữa thủ tục giải quyết loại việc dân sự này với các thủ tục giải quyết các loại việc dân sự khác (từ trang 535 đến trang 537 của Giáo trình) Tuy nhiên, Giáo trình không đi sâu vào phân tích thủ tục giải quyết loại việc này, do đó, có những vấn đề về thủ tục giải quyết thuận tình ly hôn vẫn chưa được
Đinh Thị Kim Tuyến (2018), Thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và thực tiễn áp dụng
tại các Tòa án nhân dân ở tỉnh Sơn La, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội,
tien-ap-dung-tai-cac-toa-an-nhan-dan-o-tinh-son-la.htm , truy cập ngày 15/5/2021
Trang 10https://123docz.net/document/7454609-thu-tuc-giai-quyet-yeu-cau-cong-nhan-thuan-tinh-ly-hon-va-thuc-một số vấn về lý luận chung như khái niệm, đặc điểm… của thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn nhưng vẫn có nhiều đặc điểm chưa được đề cập và phân tích Luận văn cũng nêu được một số quy định của pháp luật hiện hành nhưng chỉ nêu ở mức cơ bản, chưa có sự đi sâu vào phân tích chi tiết, chưa đánh giá được nội dung của pháp luật về thủ tục giải quyết thuận tình ly hôn Luận văn cũng phát hiện được một số vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật về giải quyết thuận tình
ly hôn ở Sơn La, đề xuất được một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, tuy nhiên, một
số kiến nghị không xuất phát từ những bất cập của pháp luật Bên cạnh đó, phạm vi nghiên cứu thực tiễn mới chỉ ở một tỉnh chứ không bao quát trên cả nước
Trần Văn Trường (2017), “Những điểm mới trong thủ tục giải quyết yêu cầu
công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 1/2017 Bài viết đã nêu được một số điểm mới của thủ tục giải
quyết thuận tình ly hôn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 so với
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 65/2011/QH12 ngày 29/3/2011 của Quốc hội như về tên gọi, về thủ tục giải quyết cụ thể, về việc ra các quyết định và có sự phân tích về các điểm mới này Tuy nhiên, với tính chất là một bài viết khoa học, tác giả chỉ trình bày được một số vấn đề cơ bản về thủ tục này, việc phân tích các điểm mới cũng chưa được chú trọng, không có sự đề cập đến toàn bộ thủ tục giải quyết thuận tình ly hôn, không đề cập đến thực tiễn hay bất cập trong việc áp dụng pháp luật
Nguyễn Thanh Trúc (2010), “Trao đổi về vướng mắc khi giải quyết việc dân
sự yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”4 Đây là một bài viết trao đổi mang tính chất khoa học pháp lý, được viết vào trước thời điểm Bộ luật Tố tụng năm 2015 có hiệu lực Bài viết này chỉ đề cập đến vướng mắc về việc có tiến hành hòa giải hay không khi giải quyết yêu cầu thuận tình ly hôn và quan điểm cá nhân của tác giả, kiến nghị pháp luật cần có quy định rõ ràng về việc có hòa giải hay không
Ngoài ra, còn một số công trình khác như: Dương Thị Thùy Ninh (2009),
Thủ tục giải quyết việc dân sự, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh; Trịnh Thị Thu Thanh (2006), Thủ tục sơ thẩm giải quyết việc dân sự, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Các
công trình nghiên cứu này đã nêu được một số vấn đề cơ bản của thủ tục giải quyết
4 Nguyễn Thanh Trúc, “Trao đổi về vướng mắc khi giải quyết việc dân sự “yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”, https://vksndtc.gov.vn/tin-tuc/cong-tac-kiem-sat/trao-doi-ve-vuong-mac-khi-giai-quyet-viec-dan-su-y- d10-t6611.html?Page=6#new-related , truy cập ngày 20/5/2021
Trang 11việc dân sự về lý luận chung, thực tiễn áp dụng pháp luật cũng như đưa ra được kiến nghị giải quyết một số bất cập Tuy nhiên, các công trình này được nghiên cứu khi Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 còn có hiệu lực và chỉ nghiên cứu về thủ tục giải quyết việc dân sự nói chung, do đó các quy định hiện hành về thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn ở Luật Hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 ngày 19/6/2014 của Quốc hội, ở Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2020 vẫn chưa được nghiên cứu tới
Hiện nay, mặc dù đã có những nghiên cứu liên quan nhưng tác giả nhận thấy xoay quanh đề tài này vẫn còn nhiều vấn đề cần phải nghiên cứu sâu hơn, có những vấn đề mới vẫn chưa được nghiên cứu đến Ngoài ra, trên thực tiễn vẫn còn một số những bất cập mà các công trình nghiên cứu trước đây chưa chỉ ra, làm rõ Bên cạnh đó, thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn theo Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2020 mới được ban hành nên chưa có công trình nào nghiên cứu về thủ tục công nhận thuận tình ly hôn được giải quyết theo thủ tục hòa giải tiền tố tụng tại Tòa án Với Khóa luận của mình, tác giả mong muốn đóng góp phần nào đó vào việc làm rõ hơn những vấn đề xoay quanh “Thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”
3 Mục đích, đối tượng nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu của Khóa luận: Thông qua việc nghiên cứu, tác giả phân tích một cách có hệ thống các quy định của pháp luật về thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn cũng như thực tiễn áp dụng các quy định này Từ đó làm rõ bản chất của thủ tục này, luận giải những cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thủ tục này ở nước ta
Đối tượng nghiên cứu của Khóa luận: là các vấn đề về lý luận và các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn và việc áp dụng các quy định này trên thực tiễn Khóa luận có đề cập đến thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn theo pháp luật của một số nước trên thế giới nhưng chỉ với mục đích đối chiếu, so sánh với pháp luật Việt Nam chứ không nghiên cứu sâu
Giới hạn phạm vi nghiên cứu đề tài: Trong khuôn khổ khóa luận tốt nghiệp, tác giả chỉ giới hạn nghiên cứu những vấn đề trọng tâm về thực trạng thủ tục giải
Trang 12quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn theo thủ tục hòa giải tiền tố tụng tại Tòa án và theo thủ tục tố tụng sơ thẩm ở Việt Nam; nghiên cứu một cách cơ bản pháp luật về thủ tục giải quyết loại việc này của một số quốc gia trên thế giới
4 Các phương pháp tiến hành nghiên cứu
Việc tiến hành nghiên cứu của tác giả dựa trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước và pháp luật Đồng thời, tác giả cũng sử dụng thêm nhiều phương pháp khác để nghiên cứu về thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, cụ thể như:
- Phương pháp phân tích được sử dụng để phân tích các khái niệm, đặc điểm, phân tích nội dung các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành; phân tích những bất cập của việc áp dụng các quy định hiện hành về thủ tục này
- Phương pháp so sánh được sử dụng để so sánh quy định pháp luật của Việt Nam hiện hành với một số quy định của pháp luật trước đây và so sánh với pháp luật của một số quốc gia trên thế giới
- Phương pháp liệt kê được tác giả sử dụng để liệt kê một số công trình nghiên cứu có liên quan
- Sau cùng là phương pháp tổng hợp được sử dụng để hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp trên cơ sở tập hợp các nội dung đã được thu thập, phân tích
5 Bố cục và nội dung cơ bản của Khóa luận tốt nghiệp
Ngoài phần mở đầu, kết luận chung, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung Khóa luận này bao gồm 03 Chương, cụ thể như sau:
Chương 1 Một số vấn đề chung về thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
Chương 2 Những quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
Chương 3 Bất cập trong quy định pháp luật và trong thực tiễn áp dụng thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn và một số kiến nghị hoàn thiện
Trang 13CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN, THỎA THUẬN NUÔI CON, CHIA TÀI SẢN KHI LY HÔN
1.1 Khái quát về việc dân sự
1.1.1 Khái niệm việc dân sự
“Việc dân sự” cùng với “vụ án dân sự” là đối tượng của quá trình tố tụng tại
Tòa án Khái niệm việc dân sự được BLTTDS năm 2015 định nghĩa như sau: “việc dân sự là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân không có tranh chấp, nhưng có yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động”
(Điều 361 BLTTDS năm 2015) Khái niệm này cũng được thừa nhận và ghi nhận trong các giáo trình, cũng như các sách chuyên khảo, chẳng hạn như: Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh5, Giáo trình Luật Tố tụng dân sự của Trường Đại học Kinh tế - Luật6
Yêu cầu về công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi
ly hôn nếu được Tòa án thụ lý giải quyết là một việc dân sự Cả hai vợ chồng muốn chấm dứt quan hệ hôn nhân và họ đã thống nhất được với nhau về việc giải quyết các vấn đề về con cái, tài sản khi ly hôn, và không có tranh chấp với nhau, họ chỉ yêu cầu Tòa án công nhận những vấn đề đã được thống nhất đó
Thuật ngữ “việc dân sự” chỉ mới xuất hiện lần đầu tiên trong BLTTDS năm
2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011 Trước đó, thủ tục tố tụng dân sự được điều chỉnh bởi một số các văn bản pháp luật như: Pháp lệnh số 27-LCT/HĐNN8 của Hội đồng Nhà nước ngày 07/12/1989 về thủ tục giải quyết các vụ án dân sự; Pháp lệnh không
số của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 16/3/1994 về thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế; Pháp lệnh số 48-L/CTN của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 11/4/1996
về thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động Tuy nhiên, trong các văn bản pháp luật này không đề cập đến thuật ngữ “việc dân sự”, mọi tranh chấp, yêu cầu dân sự
5 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nguyễn
Thị Hoài Phương, Nxb Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, trang 487
6 Trường Đại học Kinh tế - Luật (2016), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự, Nguyễn Thị Hồng Nhung, Nxb Đại
học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, trang 315
7 Nguyễn Thị Hoài Phương, tlđd (5), trang 18, 19
8 Huỳnh Quang Thuận (2019), “Yêu cầu hủy phán quyết trọng tài - vụ án dân sự hay việc dân sự?”, Tạp chí
Khoa học pháp lý, số 04(125)/2019, trang 25-37
6 Trường Đại học Kinh tế - Luật (2016), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự, Nguyễn Thị Hồng Nhung, Nxb Đại
học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, trang 315
Trang 14khi được Tòa án giải quyết đều được gọi chung là “vụ án dân sự” và đều được giải quyết theo một thủ tục chung
Kể từ khi xuất hiện thuật ngữ “việc dân sự” trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, thủ tục giải quyết vụ việc dân sự được chia thành hai loại: thủ tục giải quyết vụ án dân sự (để giải quyết các tranh chấp dân sự) và thủ tục giải quyết việc dân sự (để giải quyết các yêu cầu dân sự)
Về khái niệm việc dân sự quy định tại Điều 361 BLTTDS năm 2015, theo quan điểm của tác giả, do yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý có thể làm phát sinh nhưng cũng có thể làm chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của người yêu cầu hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác (ví dụ yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn là yêu cầu công nhận việc chấm dứt hôn nhân và các thỏa thuận của các đương sự, điều này có thể làm phát sinh quyền được chia tài sản khi ly hôn, quyền được nhận cấp dưỡng nuôi con, quyền được kết hôn nhưng đồng thời cũng chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng trong hôn nhân),
vì vậy kiến nghị pháp luật nên có sự bổ sung thêm để khái niệm được hoàn chỉnh hơn, theo hướng quy định khái niệm “việc dân sự” như sau: Việc dân sự là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân không có tranh chấp, nhưng có yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động
1.1.2 Đặc điểm việc dân sự
Mỗi một sự vật, hiện tượng xuất hiện trong đời sống xã hội đều có đặc điểm của nó, giúp con người nhận biết được sự vật hiện tượng đó và theo đó việc dân sự cũng có những đặc điểm của mình Dựa theo khái niệm của việc dân sự, có thể nhận thấy việc dân sự có một số đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, việc dân sự không có tranh chấp Tranh chấp ở đây được hiểu là tình trạng xung đột về lợi ích pháp lý giữa ít nhất từ hai chủ thể trở lên Đặc điểm không có tranh chấp là một đặc trưng của việc dân sự, thể hiện bản chất của việc dân sự Đặc điểm này giúp phân biệt việc dân sự với vụ án dân sự (vụ án dân sự là những tranh chấp phát sinh tại Tòa án nhân dân trong trường hợp cá nhân, cơ quan,
tổ chức khởi kiện yêu cầu giải quyết các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình,
Trang 15kinh doanh thương mại, lao động7) Trong vụ án dân sự, các đương sự có tranh chấp với nhau về quyền và nghĩa vụ còn trong việc dân sự thì không Điều này được lý giải bởi trong việc dân sự chỉ có một bên yêu cầu Tòa án công nhận một sự kiện pháp lý hoặc một quyền nào đó, “mặc dù trong việc dân sự cũng có thể tồn tại nhiều chủ thể nhưng điều cốt yếu là giữa họ sẽ không có sự tranh chấp, mâu thuẫn về quyền và lợi ích”8
Thứ hai, ở việc dân sự, các đương sự không có quyền lợi đối lập nhau Đương sự trong việc dân sự bao gồm người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà không có nguyên đơn, bị đơn Do quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc dân sự không đối lập nhau, không có ai tranh chấp với ai, không có ai bị xâm phạm về quyền và lợi ích hợp pháp và đương sự chỉ yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý hay công nhận một quyền nào đó, nên chỉ có người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà không có nguyên đơn, bị đơn
Thứ ba, mục đích của việc yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự là để được công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý hay một quyền nào đó, điều này khác với mục đích của vụ án là để giải quyết tranh chấp về quyền và lợi ích giữa các đương sự Trong giải quyết việc dân sự, các vấn đề đã được đương sự thống nhất với nhau như yêu cầu về công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn hay thậm chí chỉ có một chủ thể đưa ra yêu cầu ví dụ yêu cầu tuyên bố một người mất tích, yêu cầu tuyên bố một người đã chết Do đó, đương sự chỉ đưa ra yêu cầu Tòa án công nhận các vấn đề các bên đã thống nhất từ trước hoặc công nhận một sự kiện pháp lý, công nhận quyền về dân sự theo quy định của pháp luật chứ không yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp
1.2 Khái quát về thủ tục giải quyết công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
1.2.1 Khái niệm thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
Theo pháp luật Việt Nam, việc đăng ký kết hôn phải được thực hiện ở Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (hoặc Ủy ban nhân dân cấp huyện trong một số trường hợp) nơi cư trú của một trong hai bên nam nữ muốn kết hôn với nhau (khoản
7 Nguyễn Thị Hoài Phương, tlđd (5), trang 18, 19
8 Huỳnh Quang Thuận (2019), “Yêu cầu hủy phán quyết trọng tài - vụ án dân sự hay việc dân sự?”, Tạp chí
Khoa học pháp lý, số 04(125)/2019, trang 25-37
Trang 161 Điều 17 và Điều 37 Luật Hộ tịch năm 2014) Tuy nhiên, việc chấm dứt quan hệ hôn nhân dù là thuận tình hay đơn phương ly hôn đều phải được quyết định bởi Tòa
án Pháp luật Việt Nam quy định chỉ có Tòa án nhân dân mới có thẩm quyền ra quyết định/bản án chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng Để giải quyết được ly hôn nói chung và yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn nói riêng, Tòa án phải tiến hành theo một cách thức, trình tự được pháp luật quy định, gọi là “thủ tục giải quyết”
Về như thế nào là “yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”, có thể giải thích như sau:
Về mặt quy định của pháp luật, “ly hôn” là việc chấm dứt quan hệ vợ, chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án (khoản 14 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014) “Thuận tình ly hôn” là trường hợp hai bên vợ chồng cùng yêu cầu Tòa
án công nhận ly hôn mà không có bất kỳ tranh chấp gì (Điều 55 Luật HN&GĐ 2014) “Cùng yêu cầu ly hôn” ở đây thể hiện bằng việc cả vợ và chồng cùng ký vào đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và nộp đơn cho Tòa án, và việc họ đã thỏa thuận được các vấn đề về con chung và chia tài sản chung cũng phải được thể hiện qua đơn yêu cầu này “Thuận tình ly hôn” phân biệt với “đơn phương ly hôn” (ly hôn theo yêu cầu của một bên)
“Thỏa thuận” chỉ hành động bàn bạc, trao đổi để đi đến thống nhất một vấn
đề nào đó, là đồng ý với nhau về điều nào đó có quan hệ đến các bên, sau khi đã bàn bạc Theo đó, “thỏa thuận nuôi con” là sự nhất trí chung giữa hai vợ chồng về việc
ai sẽ là người trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ, giáo dục con, sự nhất trí này đạt được thông qua một quá trình bàn bạc, trao đổi các quan điểm, các quan điểm này được vợ chồng xem xét và dung hòa rồi đi đến thống nhất, cả hai vợ chồng đều có ý định tự nguyện cùng thực hiện những điều mà họ đã thống nhất
“Chia tài sản khi ly hôn” là việc chia tài sản chung của vợ chồng khi hai bên
vợ chồng yêu cầu Tòa án chấm dứt quan hệ hôn nhân của mình Tài sản chung của
vợ, chồng được quy định theo Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014 Cụm từ “chia tài sản khi ly hôn” trong trường hợp này không tách rời với từ “thỏa thuận”
Từ việc phân tích nghĩa của các cụm từ như trên, có thể hiểu “yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn” là việc vợ chồng cùng nhau yêu cầu Tòa án có thẩm quyền công nhận việc chấm dứt quan hệ hôn nhân của mình, trong đó, họ đã thỏa thuận được với nhau về vấn đề con chung
Trang 17(nếu có) và thỏa thuận được về việc chia tài sản chung (nếu có) và yêu cầu Tòa án công nhận toàn bộ những sự thỏa thuận này
Như vậy, thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn có thể hiểu là quá trình Tòa án áp dụng pháp luật vào việc xem xét, quyết định chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn của vợ chồng từ giai đoạn nhận đơn yêu cầu đến khi có quyết định có hiệu lực pháp luật giải quyết
1.2.2 Đặc điểm của thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn là yêu cầu về hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 2 Điều 29 BLTTDS năm 2015 Theo Điều 1 BLTTDS năm 2015, yêu cầu về hôn nhân và gia đình là một trong các loại việc dân sự, là việc vợ chồng không có tranh chấp nhưng
có yêu cầu Tòa án công nhận một sự kiện pháp lý (chấm dứt quan hệ hôn nhân, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn) làm căn cứ phát sinh quyền, nghĩa vụ hôn nhân và gia đình Do yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn là việc dân sự nên thủ tục giải quyết yêu cầu này là một thủ tục giải quyết việc dân sự, theo đó, thủ tục này mang những đặc điểm chung của một thủ tục giải quyết việc dân sự Tuy nhiên đây cũng là một loại việc dân sự đặc biệt
có một số đặc điểm riêng khác với các loại việc dân sự khác Các đặc điểm của loại việc này được thể hiện như sau:
Thứ nhất, thành phần giải quyết việc dân sự công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn theo thủ tục tố tụng chỉ bao gồm một Thẩm phán và không bao gồm Hội thẩm nhân dân Đối với vụ án dân sự, thành
phần giải quyết sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân (trừ thủ tục rút gọn giải quyết vụ án dân sự chỉ gồm một Thẩm phán tiến hành) hoặc trong trường hợp đặc biệt sẽ gồm hai Thẩm phán và ba Hội Thẩm nhân dân tham gia giải quyết
Tuy nhiên, khác với thành phần giải quyết vụ án dân sự và thành phần giải quyết một số việc dân sự, thành phần giải quyết việc dân sự yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn theo thủ tục tố tụng chỉ bao gồm một Thẩm phán (theo quy định tại Chương V BLTTDS năm 2015, từ Điều 63 đến Điều 67) Sở dĩ có sự quy định khác biệt này là do các bên trong loại việc dân sự này là không có tranh chấp với nhau mà chỉ yêu cầu Tòa án xem xét
Trang 18công nhận những gì họ đã thống nhất, thỏa thuận trước đó Sự việc không quá phức tạp nên thủ tục giải quyết cũng không gây nhiều khó khăn cho Thẩm phán Bên cạnh đó, vai trò của Hội thẩm nhân nhân tham gia xét xử là để nêu ý kiến, quan điểm về tranh chấp dưới góc nhìn của nhân dân, đảm bảo sự hợp tình cho phán quyết của Tòa án Vai trò này của Hội thẩm nhân dân sẽ không được thể hiện quá nhiều do tính chất của việc dân sự như đã nêu là không có tranh chấp, đơn giản, các đương sự không mâu thuẫn, tranh giành quyền lợi lẫn nhau Vì vậy, không cần đến
sự tham gia của nhiều Thẩm phán hay sự có mặt của Hội thẩm nhân dân Điều này giúp đơn giản hóa thủ tục tố tụng và nhằm tiết kiệm nguồn nhân lực để giải quyết các vụ việc khác phức tạp hơn
Thứ hai, hòa giải là thủ tục bắt buộc Tòa án phải tiến hành khi thực hiện giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn (trừ một số trường hợp không thể tiến hành hòa giải)
Đối với việc giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn theo thủ tục tố tụng, trong thời hạn chuẩn bị xét yêu cầu, Thẩm phán được phân công giải quyết đơn yêu cầu cần phải tiến hành một thủ tục đặc biệt, được xem là đặc trưng của loại việc dân sự này, đó là thủ tục hòa giải Khác với tất cả các việc dân sự khác, chỉ có thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn mới có thủ tục hòa giải và đây là một thủ tục bắt buộc phải tiến hành (trừ những trường hợp không thể tiến hành hòa giải được) Hòa giải trong giải quyết việc dân sự công nhận thuận tình
ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn được quy định tại khoản 2 Điều
9 Nguyễn Văn Xô (2008), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Thanh niên, trang 319
10 Viện Ngôn ngữ học (2002), Từ điển Tiếng Việt phổ thông, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, trang 393
11
Nguyễn Lân (2006), Từ điển Từ và ngữ Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, trang 842
Trang 19ở trên, mục đích của hòa giải là để giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn? Điều này có thể lý giải như sau:
Việc xác định yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn là một loại việc dân sự là do xuất phát từ việc vợ chồng cùng nhau yêu cầu ly hôn và đã thỏa thuận được các vấn đề khác để chấm dứt quan hệ hôn nhân của mình, giữa vợ chồng không xảy ra bất kỳ tranh chấp nào về mặt yêu cầu ly hôn hay thỏa thuận các vấn đề về con cái, tài sản, tức là vợ chồng đã đạt được sự thống nhất Điều này hoàn toàn khác với việc chỉ một trong hai vợ chồng yêu cầu ly hôn còn người còn lại thì không hoặc cả hai vợ chồng đều yêu cầu ly hôn nhưng các vấn đề về con cái hay tài sản họ không thể thỏa thuận, thống nhất được, lúc này mới được coi là có yếu tố tranh chấp và sẽ giải quyết theo thủ tục giải quyết vụ án dân
sự
Việc quy định thủ tục hòa giải bắt buộc cũng hoàn hoàn phù hợp với pháp luật chuyên ngành về Hôn nhân và gia đình Theo Điều 54 Luật HN&GĐ năm 2014, nếu vợ chồng đã thực hiện nộp đơn yêu cầu ly hôn dù ly hôn theo yêu cầu của một bên hay thuận tình ly hôn thì vẫn bắt buộc Tòa án phải hòa giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn Theo quy định tại Điều 5 Luật HN&GĐ năm 2014, quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập, thực hiện theo quy định của Luật HN&GĐ được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ Trên thực tế, có nhiều trường hợp vợ chồng yêu cầu ly hôn xuất phát từ những mâu thuẫn nhỏ nhặt, từ sự nóng nảy tức thời, đề cao cái tôi cá nhân Bên cạnh đó, cũng
có trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn để thực hiện mục đích khác chứ không phải do mâu thuẫn không thể cứu vãn được, ví dụ ly hôn giả tạo nhằm lợi dụng ly hôn để trốn tránh nghĩa vụ tài sản, vi phạm chính sách, pháp luật về dân số hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích chấm dứt hôn nhân (khoản 15 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014)
Lúc này, hòa giải là vô cùng cần thiết để vợ chồng có cơ hội cùng nhìn nhận lại một cách thấu đáo mối quan hệ của mình, Thẩm phán qua hòa giải cũng có thể sẽ phát hiện, kịp thời ngăn việc ly hôn giả tạo - là một trong những điều mà pháp luật cấm thực hiện quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật HN&GĐ năm 2014 Hơn nữa, việc
ly hôn của vợ chồng không chỉ ảnh hưởng đến quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản giữa vợ, chồng mà còn có thể ảnh hưởng đến các chủ thể khác, đặc biệt là các con của họ Các con có thể phải chịu nhiều tổn thương, chấn thương tâm lý, hụt hẫng, thiếu thốn tình cảm của cha, mẹ, thậm chí có nhiều trường hợp các con của họ rơi
Trang 20vào trạng thái trầm cảm, ám ảnh về sự đổ vỡ hạnh phúc gia đình trong khoảng thời gian dài về sau Do đó, giải quyết ly hôn thông qua hòa giải là rất cần thiết, việc hòa giải phải được tiến hành ngay cả khi có yếu tố cho rằng không hề khả quan và khó
có kết quả vì có thể sẽ bảo vệ được hôn nhân và hạnh phúc gia đình, bảo vệ được quyền lợi chính đáng cho trẻ em và vợ chồng khi ly hôn
Quy định về thủ tục hòa giải tuy không hoàn toàn mới nhưng đã khắc phục
sự không thống nhất trong nhận thức áp dụng pháp luật của người tiến hành tố tụng khi giải quyết loại việc này Trước đây, BLTTDS năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm
2011 chưa có quy định cụ thể mà chỉ có Luật HN&GĐ quy định việc phải hòa giải12
, nên việc có tiến hành hòa giải hay không còn nhiều tranh cãi, áp dụng chưa thống nhất Kể từ ngày 01/7/2016 (từ ngày BLTTDS năm 2015 có hiệu lực) thì việc hòa giải để vợ chồng đoàn tụ với nhau là thủ tục bắt buộc phải tiến hành
Thứ ba, Tòa án ra quyết định để giải quyết chứ không ra bản án Tùy theo
trường hợp, nếu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi
ly hôn của đương sự, Tòa án có thể ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự hoặc ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án chứ không ra bản án Điều này có thể giải thích bởi Tòa án chỉ tiến hành xem xét việc dân sự chứ không tiến hành xét xử nên chỉ ra quyết định mà không ra
bản án, bản án chỉ áp dụng với giải quyết vụ án dân sự
Thứ tư, Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực thi hành ngay, không được kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
Theo Điều 371 BLTTDS năm 2015, quyết định giải quyết việc dân sự quy định tại khoản 2 Điều 29 của BLTTDS năm 2015 không được kháng cáo hoặc kháng nghị phúc thẩm Điều 213 BLTTDS năm 2015 về hiệu lực của quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự cũng có quy định quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay sau khi ban hành và không
Trang 21về thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn đạt được là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội Điều này đồng nghĩa với việc khả năng để hủy bỏ quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận giữa các đương sự là rất ít khi xảy ra, do đó khi xem xét để quyết định ly hôn, vợ chồng cần phải suy nghĩ một cách thật thấu đáo
Căn cứ để Viện kiểm sát kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nêu trên cũng là một trong những điều được sửa đổi, bổ sung từ BLTTDS năm 2004, sửa đổi,
bổ sung năm 2011 Theo BLTTDS năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011, căn cứ này bao gồm: bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hoặc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội
mà không có căn cứ cưỡng ép Có thể thấy, căn cứ trái pháp luật được thay bằng căn cứ vi phạm điều cấm của luật
Thứ năm, Viện kiểm sát tham gia vào quá trình giải quyết loại việc dân sự này một cách rất hạn chế Theo Điều 21 BLTTDS năm 2015, Viện kiểm sát kiểm
sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật, Viện kiểm sát tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự Tuy nhiên việc giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn chỉ cần thông qua phiên hòa giải Thành phần tham gia phiên hòa giải không quy định phải có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát (Điều 209 BLTTDS năm 2015) Bên cạnh đó, pháp luật chỉ quy định Tòa án gửi quyết định cho Viện kiểm sát cùng cấp sau khi ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án (theo khoản 4 Điều 3 Luật HGĐTTTA năm 2020) hoặc sau khi ra quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự (khoản 3 Điều 217 BLTTDS năm 2015) hoặc thông báo với Viện kiểm sát sau khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu (Điều 365 BLTTDS năm 2015) và sau khi ra quyết định giải quyết việc dân
sự thì Tòa án phải gửi quyết định đó cho Viện kiểm sát cùng cấp (Điều 212 và Điều
370 BLTTDS năm 2015) Như vậy Viện kiểm sát không thể nghiên cứu hồ sơ hay tham gia vào phiên hòa giải, điều này khiến cho Viện kiểm sát bị hạn chế đi vai trò kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết việc dân sự này
1.2.3 Ý nghĩa của thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
Thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn trước đây mặc dù có được quy định nhưng chưa được quy định một cách cụ thể và chưa thể hiện được tính thuận lợi hơn so với giải quyết ly
Trang 22hôn đơn phương Đến BLTTDS năm 2015 và Luật HGĐTTTA năm 2020, thủ tục này đã được quy định thành một thủ tục riêng chi tiết và cụ thể hơn Điều này giúp cho việc tìm hiểu quy định của pháp luật về yêu cầu thuận tình ly hôn của các cặp
vợ chồng muốn ly hôn, người thân của họ, những người làm việc trong ngành Tòa
án, những người nghiên cứu khoa học, những nhà làm luật, luật sư trở nên dễ dàng hơn Đối với các cặp vợ chồng yêu cầu ly hôn mà không có tranh chấp gì, đã thỏa thuận được các vấn đề, đặc biệt là về con cái, thì thủ tục này sẽ thực hiện vai trò của nó, giúp cho vợ chồng một lần nữa hòa giải để có thể đoàn tụ, nhìn nhận lại mối quan hệ hôn nhân của mình hoặc nếu không đoàn tụ được thì sẽ giúp họ thực hiện được quyền nhân thân - ly hôn của mình Bên cạnh đó, việc quy định thủ tục này đã giúp cho quá trình giải quyết loại việc dân sự này trở nên thuận lợi hơn, thống nhất được các thủ tục cần phải làm để giải quyết loại việc này, điều này tạo điều kiện cho người tiến hành tố tụng giải quyết loại việc này thực hiện tốt công việc của mình, hạn chế sự không thống nhất được quan điểm về việc giải quyết loại việc dân sự này
Khi vợ chồng đã quyết định ly hôn thì đây là thủ tục rút ngắn thời gian giải quyết nhất nhưng mang lại hiệu quả giải quyết cao Thủ tục này cũng khuyến khích
vợ chồng nếu muốn rút ngắn thời gian, tiết kiệm chi phí giải quyết ly hôn và ly hôn một cách “nhẹ nhàng” nhất có thể thì phải tự thỏa thuận được các vấn đề về con cái, tài sản Điều này giúp cho vợ chồng chủ động thống nhất được các vấn đề về quan
hệ hôn nhân của mình, hạn chế được mâu thuẫn, tranh chấp khi ly hôn, Tòa án qua
đó cũng tiết kiệm được thời gian trong việc giải quyết loại việc dân sự này
Thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn đã có những sự thay đổi để phù hợp hơn với thực tiễn xã hội, đáp ứng sự vận động không ngừng của đời sống xã hội, giúp cho việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật trở nên có hiệu quả hơn Việc được quy định chi tiết hơn ở BLTTDS năm 2015 cũng có ý nghĩa rất lớn trong việc giúp cho hệ thống pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày càng tiến gần hơn tới sự hoàn thiện
1.3 Thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn ở một số quốc gia trên thế giới
1.3.1 Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc)
Hiện nay, thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn ở Trung Quốc được điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự
Trang 23của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 202013 (được ban hành vào ngày 28/5/2020,
có hiệu lực từ ngày 01/01/2021, sau đây gọi là BLDS Trung Quốc) Trước đó, các thủ tục giải quyết thuận tình ly hôn được điều chỉnh bởi Luật Hôn nhân của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1980, sửa đổi năm 200114 (sau đây gọi là Luật Hôn nhân Trung Quốc) Từ sau khi BLDS Trung Quốc có hiệu lực, thủ tục giải quyết công nhận thuận tình ly hôn được điều chỉnh bởi BLDS này, Luật Hôn nhân Trung Quốc hết hiệu lực thi hành (theo Điều 1260 BLDS Trung Quốc)
Thủ tục giải quyết loại việc này quy định tại Chương IV, Phần năm, BLDS Trung Quốc (ở Điều 1076, Điều 1077, Điều 1078) Cả BLDS Trung Quốc và Luật Hôn nhân Trung Quốc trước đây (ở Điều 31, chương IV) đều có quy định: nếu cả hai vợ chồng kết hôn hợp pháp muốn thuận tình ly hôn mà đã thỏa thuận được các vấn đề về quyền nuôi con, chia tài sản gia đình, phân chia các khoản nợ thì sẽ được giải quyết cho ly hôn theo thủ tục hành chính (không thông qua Tòa án như ở Việt Nam) Theo đó, hai vợ chồng phải tiến hành lập thỏa thuận thuận tình ly hôn bằng văn bản và nộp hồ sơ đăng ký ly hôn tại cơ quan đăng ký kết hôn Nếu xét thấy việc
ly hôn là tự nguyện và hai bên đã thỏa thuận được với nhau về các vấn đề như cấp dưỡng nuôi con, phân chia tài sản, nợ nần thì cơ quan đăng ký kết hôn sẽ thu hồi giấy chứng nhận kết hôn và cấp giấy chứng nhận ly hôn cho hai vợ, chồng và lập hồ
sơ lưu trữ dưới dạng điện tử
Tuy nhiên, từ ngày BLDS Trung Quốc có hiệu lực, thủ tục này có sự thay đổi Theo đó, khi vợ chồng nộp văn bản thỏa thuận của họ đến cơ quan đăng ký kết hôn,
cơ quan này sẽ tiếp nhận nhưng không giải quyết ngay như trước mà vợ chồng phải trải qua một khoảng thời gian chờ đợi 30 ngày (kể từ ngày cơ quan đăng ký kết hôn nhận được hồ sơ đăng ký ly hôn) Nếu trong 30 ngày này mà ít nhất một trong hai bên vợ chồng rút khỏi thỏa thuận ly hôn (bằng cách xuất trình giấy tờ tùy thân hợp
lệ và phiếu giao nhận, rút hồ sơ đăng ký ly hôn tại cơ quan đăng ký kết hôn15) thì coi như yêu cầu công nhận ly hôn bị hủy bỏ Nếu không có ai rút khỏi thỏa thuận,
13 “ 中 华 人 民 共 和 国 民 法 典 ” (“ Bộ luật dân sự của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa”),
http://www.npc.gov.cn/npc/c30834/202006/75ba6483b8344591abd07917e1d25cc8.shtml , truy cập ngày
05/7/2021
14
“中华人民共和国婚姻法(2001 年修正本)” (“Luật Hôn nhân của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (sửa đổi năm 2001)”), http://www.gd.gov.cn/zwgk/wjk/zcfgk/content/post_2532188.html , truy cập ngày 05/7/2021
15 “Ministry of Civil Affairs Modifies Divorce Registration Procedures - China Legal News”, https://www.chinajusticeobserver.com/a/ministry-of-civil-affairs-modifies-divorce-registration-procedures , truy cập ngày 06/7/2021
Trang 24trong vòng 30 ngày kể từ khi hết thời hạn trên, cả vợ và chồng phải tự mình đến cơ quan đăng ký kết hôn để xin cấp giấy chứng nhận ly hôn, cơ quan này sẽ tiến hành giải quyết yêu cầu của vợ chồng Nếu trong khoảng thời gian này mà vợ chồng không thực hiện việc xin cấp giấy chứng nhận ly hôn, việc đăng ký ly hôn coi như
bị rút lại (quy định về thời gian chờ đợi của pháp luật Trung Quốc có sự tương tự với quy định của pháp luật Việt Nam trước đây, tại Sắc lệnh số 159/SL của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ngày 17/11/1950)
Sau khi vợ chồng được cấp giấy chứng nhận ly hôn, quan hệ hôn nhân sẽ chấm dứt (Điều 1080 BLDS Trung Quốc), việc cấp giấy chứng nhận ly hôn cho hai
vợ chồng sẽ không được xem xét lại bằng bất kỳ hình thức nào (không được kháng nghị giám đốc thẩm như ở Việt Nam) Trường hợp có căn cứ cho rằng một bên vợ/ chồng che giấu, chuyển nhượng, bán tháo, tiêu hủy hoặc làm hư hỏng, hoặc lãng phí tài sản chung, hoặc tạo ra một khoản nợ chung giả nhằm cố gắng chiếm đoạt bất hợp pháp tài sản của vợ/ chồng kia, thì vợ/ chồng còn lại có quyền khởi kiện ra Tòa
án nhân dân để chia lại tài sản chung (theo Điều 1092 BLDS Trung Quốc), tức là không có trường hợp hủy bỏ giấy chứng nhận ly hôn
1.3.2 Cộng hoà Phần Lan (Phần Lan)
Tại Phần Lan, thủ tục thuận tình ly hôn được quy định tại Đạo Luật Hôn nhân Phần Lan số 234/29 ngày 13/6/192916 (từ sau năm 1929, Đạo Luật này được sửa đổi bởi nhiều luật khác) Các quy định cụ thể gồm các Mục 25 đến 32 của Đạo luật này17
Theo đó, pháp luật Phần Lan quy định trong trường hợp hai vợ chồng đều muốn ly hôn, họ có thể cùng làm đơn xin ly hôn hoặc chỉ cần đơn của một bên vợ chồng Đơn ly hôn không cần thể hiện lý do ly hôn hay các thỏa thuận về con cái hay tài sản khi ly hôn (theo Mục 28) Vợ chồng phải nộp đơn xin ly hôn cho văn phòng Tòa án Quận nơi một trong hai vợ chồng cư trú Việc gửi đơn có thể thông qua đường bưu biện, email hoặc dưới các dạng điện tín khác.18
Thông thường, sau khi nộp đơn đến Tòa án, vợ chồng đều phải trải qua thời gian xem xét lại kéo dài sáu tháng (ở Việt Nam không có khoảng thời gian chờ đợi
Trang 25với tính chất như vậy), bắt đầu từ thời điểm Tòa án nhận được đơn xin ly hôn chung của hai vợ chồng (đối với trường hợp vợ chồng nộp đơn ly hôn chung) hoặc từ thời điểm bên vợ chồng còn lại nhận được thông báo về đơn xin ly hôn của vợ/chồng đã nộp đơn (đối với trường hợp chỉ một bên vợ chồng nộp đơn) (theo Mục 26) Tuy nhiên, nếu có cuộc hôn nhân đã được xác lập trong khi cuộc hôn nhân trước còn hiệu lực thì cả hai vợ chồng của cuộc hôn nhân trước đó đều có quyền ly hôn mà không cần xem xét trong một khoảng thời gian như nêu trên (theo khoản 2 Mục 27), hoặc nếu vợ chồng đã ly thân với nhau hay không sống cùng nhau trong hai năm không gián đoạn thì vợ chồng không phải trải qua thời gian xem xét lại này (theo Mục 25)
Đối với trường hợp không cần trải qua thời gian xem xét lại, Tòa án sẽ ra quyết định cho vợ chồng ly hôn ngay lập tức Đối với trường hợp phải xem xét lại trong sáu tháng, sau thời gian xem xét lại vợ hoặc chồng phải nộp đơn yêu cầu lần hai tới Tòa án Quận (đối với trường hợp nộp đơn xin ly hôn chung) hoặc người đã nộp đơn lần đầu phải nộp đơn yêu cầu lần thứ hai tới Tòa án Quận (đối với trường hợp một bên nộp đơn) (theo Mục 26) Việc nộp đơn lần hai này phải diễn ra trong thời hạn sáu tháng kể từ khi thời hạn xem xét trước đó kết thúc Sau khi nộp đơn yêu cầu lần thứ hai trong thời hạn quy định, Tòa án sẽ ra quyết định chấm dứt hôn nhân giữa hai vợ chồng Nếu các chủ thể này không nộp đơn lần hai trong thời hạn quy định, đơn xin ly hôn đầu tiên sẽ bị hủy bỏ
Ở Phần Lan, thủ tục giải quyết ly hôn tách biệt với vấn đề về tài sản Vấn đề thỏa thuận về tài sản là không bắt buộc, nếu muốn, họ có thể có một thỏa thuận riêng về tài sản; vợ chồng có thể đạt được thỏa thuận về tài sản và được công nhận ngay từ khi bắt đầu thời gian xem xét lại cho đến sau khi đã có quyết định chấm dứt hôn nhân Thỏa thuận này không cần phải được công nhận bởi chủ thể nào, tuy nhiên, để bảo đảm được thực hiện, vợ chồng có thể yêu cầu Tòa án xác nhận
Đối với vấn đề về con cái, họ có thể thỏa thuận ngay trong đơn xin ly hôn hoặc không, thỏa thuận về con cái có thể được giải quyết riêng hoặc chung với đơn xin ly hôn, nghĩa là vấn đề chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng không chịu ảnh hưởng bởi các vấn đề về tài sản, con cái hay nợ chung (theo pháp luật Việt Nam thì vợ chồng phải thỏa thuận được các vấn đề về con cái và tài sản) Theo Mục 32, Tòa án sẽ tự chủ động đặt vấn đề về việc thu xếp quyền nuôi con và quyền tiếp cận của vợ chồng đối với lợi ích tốt nhất của đứa trẻ như thế nào Theo yêu cầu của cha
mẹ đứa trẻ hoặc Hội đồng phúc lợi xã hội, Tòa án sẽ đưa ra quyết định về quyền
Trang 26nuôi con và quyền tiếp cận theo cách thức được quy định trong Đạo luật về quyền nuôi con và quyền tiếp cận19
1.3.3 Cộng hòa Pháp (Pháp)
Thủ tục giải quyết yêu cầu ly hôn thuận tình ở Pháp được điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự Pháp năm 180420 (BLDS Pháp) Từ khi Bộ luật này có hiệu lực, cho tới nay đã có nhiều quy định được sửa đổi, bổ sung bởi một số Luật khác Theo Điều
114 và Điều 50 của Luật số 2016-1547 năm 2016, kể từ ngày 01/01/2017, nếu vợ chồng muốn thuận tình ly hôn và đã thỏa thuận được tất cả các vấn đề khác như về con cái, tài sản, nợ chung việc giải quyết có thể được thực hiện theo các thủ tục khác nhau tùy theo trường hợp
Trường hợp thứ nhất: Theo Điều 1146 BLDS Pháp21
và Điều 229-2 BLDS Pháp22, nếu ít nhất một người con chung (ở tuổi vị thành niên) sau khi được cha mẹ thông báo về quyền được thẩm phán xét xử theo các điều kiện quy định tại Điều 388-1 yêu cầu được Thẩm phán xét xử hoặc nếu ít nhất một trong hai bên vợ, chồng đang được áp dụng các biện pháp bảo vệ theo Điều 425 BLDS Pháp năm 180423(tương tự như người được giám hộ do bị mất năng lực hành vi dân sự theo pháp luật Việt Nam), họ phải giải quyết thông qua thủ tục tố tụng tại Tòa án (pháp luật ở Việt Nam không có quy định như vậy, chỉ có vợ chồng mới có thể quyết định giải quyết
ly hôn theo thủ tục nào) Cụ thể như sau:
Vợ, chồng phải nhờ hai luật sư riêng hoặc một luật sư chung (cho cả hai vợ chồng) hỗ trợ lập thỏa thuận giữa họ, thỏa thuận có chữ ký của cả vợ, chồng và luật
sư Một luật sư sẽ đại diện họ trình Thẩm phán gia đình thỏa thuận đó Vợ chồng được triệu tập trước Thẩm phán ít nhất mười lăm ngày trước ngày xét xử24
Thẩm phán xét xử riêng các cặp vợ chồng với sự hỗ trợ của luật sư Yêu cầu ly hôn do luật
sư tương ứng của các bên trình bày hoặc luật sư do hai bên thỏa thuận lựa chọn trình bày (Điều 250 BLDS Pháp25)
19 “Lag angående vårdnad om barn och umgängesrätt 8.4.1983/361” (“Luật về quyền nuôi con và quyền tiếp cận số 361/83 ngày 08/4/1983”), https://www.finlex.fi/sv/laki/ajantasa/1983/19830361 , truy cập ngày 05/7/2021
20
“Code civil”, https://www.legifrance.gouv.fr/codes/id/LEGITEXT000006070721/ , truy cập ngày 01/7/2021
21 Được sửa đổi bởi Pháp lệnh số 2016-131 ngày 10/02/2016 - Điều 2
22 Điều 229-2 BLDS Pháp (được sửa đổi bởi Luật số 2016-1547 năm 2016- Điều 50)
23
Điều 425 BLDS Pháp (được sửa đổi bởi Luật số 2007-308 ngày 05/3/2007- Điều 7)
24 “La Procédure de divorce par consentement mutuel” (“Thủ tục ly hôn bằng sự đồng ý của hai bên”), https://domaine-legal.com/fiche-pratique/43/divorce-par-consentement-mutuel , truy cập ngày 06/7/2021
25
Được sửa đổi bởi Luật số 2004-439 ngày 26/5/2004 - Điều 9
Trang 27Theo Điều 232 và Điều 250-1 BLDS Pháp, nếu xét thấy ý chí của mỗi người trong số các cặp vợ chồng là có thật và thỏa thuận của họ là tự nguyện, Thẩm phán chấp thuận thỏa thuận và tuyên bố ly hôn; nếu xét thấy thỏa thuận không đủ để bảo
vệ lợi ích của con cái hoặc của một trong hai vợ chồng, Thẩm phán từ chối chấp nhận thỏa thuận và không tuyên bố ly hôn (bằng Lệnh hoãn) Sau đó, Thẩm phán yêu cầu các bên sửa đổi thỏa thuận trong thời hạn tối đa là sáu tháng (Điều 250-2 BLDS Pháp) Lệnh hoãn lại phải đề cập đến thời hạn trình bày một thỏa thuận mới
và có thể bao gồm các biện pháp tạm thời ở Điều 254, Điều 255 BLDS Pháp (ví dụ: nơi cư trú của vợ hoặc chồng hoặc quyền thăm con) được thực hiện trong thời gian chờ đợi với điều kiện vợ chồng vì lợi ích tốt nhất cho các con của mình Các cặp vợ chồng sẽ phải nộp một thỏa thuận mới và họ sẽ được triệu tập lại, nếu họ không đưa
ra thỏa thuận mới, Thẩm phán sẽ ghi nhận yêu cầu ly hôn vô hiệu (Điều 250-3 BLDS Pháp)
Trường hợp thứ hai: nếu không thuộc trường hợp thứ nhất, việc giải quyết thuận tình ly hôn được thực hiện theo một thủ tục khác mà không thông qua Tòa án (ở Việt Nam thủ tục này bắt buộc phải giải quyết thông qua Tòa án) Cụ thể như sau:
Theo Điều 22926, Điều 229-1 BLDS Pháp, vợ, chồng mỗi người sẽ phải nhờ đến một luật sư hỗ trợ riêng cho mình Qua việc trao đổi giữa vợ chồng và hai luật
sư của họ, một thỏa thuận thống nhất sẽ được lập ra theo quy định của Điều 229-3
và Điều 1144-1 BLDS Pháp, có chữ ký xác nhận của hai luật sư Hai luật sư của họ phải đăng ký thỏa thuận đó (có xác nhận đã nhận) Vợ chồng có khoảng thời gian để suy nghĩ về các vấn đề mình đã thỏa thuận trong 15 ngày kể từ ngày nhận được thỏa thuận kèm theo chữ ký xác nhận của luật sư Sau 15 ngày này, hai vợ chồng thực hiện việc ký vào thỏa thuận (vợ chồng không được ký trước thời hạn 15 ngày, nếu
ký trước, thỏa thuận sẽ bị vô hiệu theo Điều 229-4 BLDS Pháp) Trong vòng 07 ngày kể từ ngày hai vợ chồng ký vào thỏa thuận (và các phụ lục của thỏa thuận), một luật sư sẽ đại diện nộp thỏa thuận này đến một Công chứng viên
Công chứng viên có trách nhiệm xác minh việc tuân thủ các thông tin bắt buộc, chữ ký và việc tuân thủ thời gian suy nghĩ 15 ngày của hai vợ chồng trước đó trong thời hạn tối đa là 15 ngày kể từ ngày nhận được thỏa thuận kèm chữ ký của cả
vợ chồng và hai luật sư của họ (theo Điều 1146 BLDS Pháp) Sau khi kiểm tra chính thức, nếu thỏa thuận không đáp ứng được ít nhất một trong các điều kiện pháp
26
Điều 229 BLDS Pháp (được sửa đổi bởi Luật số 2016-1547 năm 2016 – Điều 50)
Trang 28luật quy định thì Công chứng viên phải từ chối tiến hành việc nhận tiền nộp, các cặp
vợ chồng sẽ phải viết một bản thỏa thuận mới với những thông tin còn thiếu và tuân thủ thời gian phản ánh mười lăm ngày trước khi có thể tiến hành ký tên và gửi cho Công chứng viên để nộp hồ sơ 27
Nếu thỏa thuận đáp ứng được tất cả các điều kiện luật định, Công chứng viên yêu cầu vợ chồng nộp một khoản phí ly hôn, sau khi vợ chồng đã nộp tiền đầy đủ, Công chứng viên phải cấp giấy chứng nhận đã nhận tiền cho mỗi bên vợ, chồng (giấy chứng nhận này sẽ cho phép vợ/ chồng cũ có quyền ly hôn được đề cập trong các tài liệu hộ tịch và biện minh cho việc ly hôn với bên thứ ba28) Công chứng viên tiến hành lập biên bản công chứng ghi nhận thỏa thuận của vợ chồng, kể từ thời điểm biên bản được lập xong hoặc từ thời điểm ghi trên thỏa thuận (sau ngày biên bản được lập), quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng chính thức chấm dứt (Điều 111-3
Bộ luật tố tụng dân sự Pháp29)
Khi nhận được giấy chứng nhận Công chứng viên đã nhận tiền phí ly hôn, vợ chồng hoặc luật sư phải gửi cho cán bộ hộ tịch nơi kết hôn để ghi rõ việc ly hôn trên Giấy chứng nhận kết hôn (theo Điều 1147 của Bộ luật tố tụng dân sự Pháp) Theo Điều 49 BLDS Pháp, công chức hộ tịch đã ghi việc ly hôn vào lề giấy chứng nhận kết hôn phải gửi thông báo cho cán bộ hộ tịch nơi lưu giữ giấy khai sinh của mỗi vợ chồng với mục đích cập nhật tình hình hôn nhân Việc ly hôn có hiệu lực đối với bên thứ ba kể từ ngày hoàn thành thủ tục đề cập đến các giấy tờ hộ tịch (theo Điều
262 BLDS Pháp)
27 “Le divorce sans Juge expliqué par votre Notaire” (“Ly hôn mà không có Thẩm phán - giải thích bởi Công chứng viên của bạn”), https://pelegry.notaires.fr/details-le+divorce+sans+juge+explique+par+votre+notaire- 65.html , truy cập ngày 06/7/2021
28 Tlđd (27)
29 “Code de procédure civile” (“Bộ luật Tố tụng dân sự”), https://www.legifrance.gouv.fr/codes/texte_lc/LEGITEXT000006070716/ , truy cập ngày 08/7/2021
Trang 29Kết luận chương 1
Qua chương 1, tác giả đã trình bày về một số vấn đề mang tính chất lý luận
và khái quát của thủ tục giải quyết thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn như khái niệm, đặc điểm, tính chất, ý nghĩa của việc quy định thủ tục này đối với thực tiễn xã hội cũng như đối với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật của nước Việt Nam Từ đó, góp phần giúp người đọc hiểu rõ thêm về bản chất của thủ tục này Ngoài ra, qua chương này, tác giả cũng đã giúp người đọc có cái nhìn tổng quan hơn về quy định của pháp luật về giải quyết thuận tình ly hôn qua việc trình bày một cách cơ bản pháp luật về giải quyết thuận tình ly hôn của một số quốc gia trên thế giới Các vấn đề mang tính chất lý luận mà tác giả trình bày trong Chương này có vai trò tạo tiền đề nghiên cứu cho các chương tiếp theo
Trang 30CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN, THỎA THUẬN NUÔI CON, CHIA TÀI SẢN KHI LY HÔN
Thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn được quy định thành một chương độc lập trong BLTTDS năm 2015, cụ thể được quy định ở Chương XXVIII, Phần thứ sáu BLTTDS năm
2015, gồm các Điều 396, Điều 397 Trước đây, BLTTDS năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011 không tách thủ tục này thành một thủ tục riêng biệt, không có quy định cụ thể về thủ tục giải quyết việc dân sự này mà việc giải quyết việc dân sự này
chỉ được thực hiện theo thủ tục chung về giải quyết việc dân sự (được quy định tại
Chương XX, Phần thứ năm, từ Điều 311 đến Điều 318 BLTTDS năm 2004, sửa đổi,
bổ sung năm 2011) Sự thay đổi này cho thấy các nhà lập pháp đã nhận thấy đây là một loại việc dân sự có tính chất phổ biến và có ảnh hưởng lớn tới quan hệ gia đình trong khi gia đình là một trong những yếu tố quyết định đến sự ổn định của xã hội, nhận thấy tầm quan trọng của việc bảo vệ hạnh phúc gia đình và bảo vệ quyền lợi của các thành viên trong gia đình, đặc biệt là quyền lợi chính đáng của trẻ em, do đó cần phải được quy định chi tiết hơn, đặc biệt hơn một số loại việc khác
Mặc dù được quy định thành một chương độc lập nhưng vì thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn là một thủ tục tố tụng dân sự giải quyết việc dân sự Do đó, khi giải quyết loại việc dân sự này, vẫn phải đảm bảo tuân thủ các quy định chung của pháp luật về giải quyết việc dân sự nói chung (Chương XXIII, Phần thứ 6 BLTTDS năm 2015)
Ngoài ra, thủ tục giải quyết loại việc này còn phải tuân theo một số quy định khác trong tố tụng dân sự ngoài các quy định chung về việc dân sự Bởi vì, về bản chất, thủ tục công nhận thuận tình ly hôn là một thủ tục tố tụng nên chịu sự điều chỉnh của các quy phạm pháp luật có liên quan được quy định trong BLTTDS năm
2015 Tại Điều 361 BLTTDS năm 2015, cũng chỉ dẫn cụ thể rằng: “Trường hợp Phần này không quy định thì áp dụng những quy định khác của Bộ luật này để giải quyết việc dân sự” Như vậy, trường hợp phần quy định chung về thủ tục giải quyết việc dân sự không có quy định thì áp dụng những quy định khác của BLTTDS năm
2015 để giải quyết việc dân sự
Bên cạnh đó, từ ngày 01/01/2021, pháp luật hiện hành có thêm thủ tục hòa giải tiền tố tụng tại Tòa án, được quy định tại Luật HGĐTTTA năm 2020, thủ tục
Trang 31này có thể kết hợp hoặc thay thế (tùy trường hợp30) với thủ tục tố tụng tại Tòa án để giải quyết yêu cầu thuận tình ly hôn của vợ chồng
2.1 Thủ tục yêu cầu, nhận và xử lý đơn yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
2.1.1 Chủ thể có quyền yêu cầu
Ly hôn là việc chấm dứt mối quan hệ vợ chồng theo bản án hoặc quyết định
có hiệu lực của Tòa án31 Khi muốn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, trước hết quan hệ hôn nhân giữa hai bên vợ, chồng phải là hôn nhân hợp pháp32
Theo Điều 39 BLDS 2015, cá nhân có quyền ly hôn, cá nhân thực hiện quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình theo quy định của BLDS, Luật HN&GĐ và luật khác có liên quan; khoản 1 Điều 51 Luật HN&GĐ năm 2014 cũng
có quy định cho vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn; trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn cũng được quy định tại Điều 55 Luật HN&GĐ năm 2014 Những quy định này đều cho thấy vợ, chồng trong một quan hệ hôn nhân đều có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, mà thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn cũng là một hình thức ly hôn, do đó, vợ chồng trong một quan hệ hôn nhân đều có quyền yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
Trong loại việc dân sự yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, theo Điều 396 BLTTDS năm 2015, cả vợ và chồng đều phải tự mình thỏa thuận các vấn đề về quan hệ hôn nhân, về nuôi con, tài sản và phải ký tên hoặc điểm chỉ vào đơn yêu cầu Vợ chồng không được ủy quyền cho người khác thực hiện việc này, cả vợ và chồng cùng được xác định là người yêu cầu (khoản 2 Điều 396 BLTTDS năm 2015) Đây là một quy định phù hợp với tính chất của loại việc này do việc ly hôn này quyền nhân thân của cá nhân (Điều 25 BLDS năm 2015), việc ly hôn là thuận tình, các vấn đề trong đơn yêu cầu đều là kết quả của sự thỏa thuận, thống nhất của cả hai vợ chồng về quan hệ hôn nhân của mình nên việc cả hai vợ chồng đều phải ký hoặc điểm chỉ vào đơn nhằm thể hiện sự thống nhất ý chí của cả hai bên
30 Xin trình bày chi tiết ở mục 2.2 của Khóa luận này
31 Theo khoản 14 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014
32 Áp dụng tinh thần của Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001: Tại Việt Nam, hôn nhân hợp pháp bao gồm hôn nhân có đăng ký kết hôn hoặc chung sống với nhau như vợ chồng là hôn nhân thực tế trước ngày 03/01/1987, có đầy đủ điều kiện kết hôn nhưng chưa thực hiện đăng ký kết hôn
Trang 322.1.2 Đơn yêu cầu
Theo khoản 1 Điều 362 BLTTDS năm 2015, cũng như theo khoản 1 Điều
396 BLTTDS năm 2015, việc đầu tiên cần làm để bắt đầu quá trình giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn là người yêu cầu làm đơn yêu cầu33
và gửi đơn này đến Tòa án có thẩm quyền
Theo khoản 1 Điều 396 BLTTDS năm 2015, đơn yêu cầu bắt buộc phải có các nội dung chính quy định tại khoản 2 Điều 362 BLTTDS năm 2015, bao gồm: ngày, tháng, năm làm đơn; tên Tòa án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu; thông tin
về nhân thân của người yêu cầu gồm tên, địa chỉ của hai vợ chồng; những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết và lý do, mục đích, căn cứ của việc yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu đó; các thông tin khác mà người yêu cầu xét thấy cần thiết cho việc giải quyết yêu cầu của mình Cả hai vợ chồng đều phải ký tên hoặc điểm chỉ vào đơn yêu cầu, ngoài ra, nếu người yêu cầu có số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện
tử thì cũng cần thể hiện trong đơn yêu cầu và nếu có người có liên quan đến việc giải quyết yêu cầu thì đơn yêu cầu cần phải thể hiện tên, địa chỉ của những người
này
Căn cứ vào đơn yêu cầu, Tòa án có thể xác định được nội dung yêu cầu, yêu cầu có thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án đó không, qua đơn yêu cầu Tòa án cũng có thể xác định được những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, những chủ thể khác cần thiết tham gia vào việc giải quyết yêu cầu để có thể triệu tập/mời
họ tham gia vào quá trình giải quyết yêu cầu
Bên cạnh đó, theo khoản 3 Điều 396 BLTTDS năm 2015, kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu phải gửi tài liệu, chứng cứ chứng minh thỏa thuận về thuận tình
ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn là có căn cứ và hợp pháp Một số tài liệu, chứng cứ cơ bản chứng minh thỏa thuận về thuận tình ly hôn là có căn cứ
và hợp pháp như: bản chính giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (nếu mất bản chính phải có bản sao hợp lệ do Ủy ban nhân dân nơi đăng ký kết hôn cấp) hoặc tài liệu, chứng cứ chứng minh vợ chồng đã sống chung với nhau từ trước ngày 03/01/1987 đến nay nếu chưa đăng ký kết hôn; nếu có con chung và yêu cầu Tòa án công nhận thỏa thuận nuôi con thì cần có bản sao có công chứng giấy khai sinh của con chung, (nếu giấy khai sinh của con bị thất lạc, một trong hai bên vợ chồng có thể đến cơ
33 Hiện nay, mẫu đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn được quy định tại Mẫu số 01-VDS ban hành kèm theo Nghị quyết 04/2018/NQ-HĐTP ngày 09 tháng 8 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (Nghị quyết 04/2018/NQ-HĐTP)
Trang 33quan hộ tịch đã đăng ký khai sinh cho con để xin trích lục lại giấy khai sinh); bản sao có công chứng sổ hộ khẩu của cả hai vợ chồng (nếu tạm trú thì phải có giấy tạm trú/sổ tạm trú/xác nhận của công an nơi tạm trú, nếu sổ hộ khẩu bị thất lạc hai vợ chồng có thể đến cơ quan công an xã nơi đăng ký hộ khẩu thường trú để xin xác nhận nơi cư trú); bản sao có công chứng chứng minh nhân dân/ căn cước công dân/hộ chiếu (giấy tờ chứng minh lý lịch) của cả hai vợ chồng, nếu mất giấy tờ tùy thân của hai vợ chồng có thể đến cơ quan công an xã nơi đăng ký hộ khẩu thường trú xin xác nhận nhân thân và xác nhận về nơi cư trú; nếu có tài sản chung
và yêu cầu Tòa án công nhận thỏa thuận về chia tài sản chung, nợ chung thì cần có các tài liệu, giấy tờ, chứng cứ chứng minh như bản sao có công chứng giấy tờ nhà, đất, giấy vay nợ ; biên bản hòa giải giải quyết việc thuận tình ly hôn ở cơ sở nếu
có (cơ quan, gia đình, địa phương )
Về phạm vi yêu cầu, vợ chồng có thể chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận về thuận tình ly hôn và thỏa thuận nuôi con (nếu có) mà không cần phải yêu cầu Tòa án công nhận cả về thỏa thuận chia tài sản khi ly hôn Điều này dựa vào nguyên tắc quyền tự quyết định và tự định đoạt của đương sự được quy định tại Điều 5 BLTTDS năm 201534
Bên cạnh đó, tại khoản 1 Điều 59 Luật HN&GĐ năm
2014 có quy định trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật Như vậy theo quy định này, vấn đề tài sản chung của vợ chồng có thể do các bên tự thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết và Tòa án chỉ giải quyết trong phạm vi đơn yêu cầu
Việc vợ chồng yêu cầu Tòa án giải quyết thuận tình ly hôn thì thỏa thuận nuôi con là bắt buộc nếu vợ chồng có con chung Nếu để vợ chồng tự quyết định về việc nuôi con thì có thể quyền lợi của con sẽ không được bảo đảm, thỏa thuận nuôi con phải được Tòa án xem xét để xem thỏa thuận như vậy có bảo đảm được quyền lợi của con hay không, ai là người có đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con, ai là phù hợp hơn để nuôi con, thỏa thuận có phù hợp với nguyện vọng của con hay không
34 Điều 5 BLTTDS năm 2015 quy định: “Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có
thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội”
Trang 342.1.3 Gửi đơn yêu cầu
Tại Phần thứ sáu của BLTTDS về thủ tục giải quyết việc dân sự không có quy định cụ thể về thủ tục gửi đơn yêu cầu, tuy nhiên theo dẫn chiếu của Điều 361
BLTTDS năm 2015, “trường hợp phần này không quy định thì áp dụng những quy định khác của BLTTDS để giải quyết việc dân sự” Do đó, thủ tục gửi đơn yêu cầu
có thể áp dụng tương tự như thủ tục gửi đơn khởi kiện
Theo Điều 190 BLTTDS năm 2015, người yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn có thể gửi đơn yêu cầu đến Tòa án bằng các phương thức: nộp trực tiếp tại Tòa án; gửi đến Tòa án theo đường dịch vụ bưu chính hoặc gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng Thông tin điện tử của Tòa án (nếu Tòa án đó có Cổng Thông tin điện tử) Phương thức gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng Thông tin điện tử của Tòa án là một phương thức mới được bổ sung so với BLTTDS năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm
2011 - tại Điều 166 BLTTDS năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011, chỉ có 2 phương thức nộp đơn yêu cầu là nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi qua bưu điện
(đường bưu điện tương tự với đường dịch vụ bưu chính)
Quy định này cho thấy BLTTDS không bắt buộc người gửi đơn, nộp đơn phải là người yêu cầu, mà người yêu cầu có thể ủy quyền cho người khác thực hiện việc nộp đơn, gửi đơn
2.1.4 Nhận và xử lý đơn yêu cầu
Thủ tục nhận và xử lý đơn yêu cầu được thực hiện theo Điều 363 BLTTDS năm 2015 Theo đó, Tòa án có nghĩa vụ nhận đơn yêu cầu và tài liệu kèm theo do người yêu cầu gửi đến Trường hợp người yêu cầu nộp đơn trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính thì Tòa án phải ghi vào sổ nhận đơn; trường hợp Tòa án nhận được đơn yêu cầu qua phương thức gửi trực tuyến thì Tòa án phải in ra bản giấy và ghi vào sổ nhận đơn
Tòa án có trách nhiệm cấp ngay giấy xác nhận đã nhận đơn cho người yêu cầu khi nhận đơn yêu cầu được nộp trực tiếp Đối với trường hợp nhận đơn qua dịch
vụ bưu chính thì trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn, Tòa án phải gửi thông báo nhận đơn cho người yêu cầu Trường hợp nhận đơn yêu cầu bằng phương thức gửi trực tuyến qua Cổng Thông tin điện tử của Tòa án thì Tòa án phải thông báo ngay việc nhận đơn cho người yêu cầu qua Cổng Thông tin điện tử của Tòa án Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn yêu cầu và tài liệu,
Trang 35chứng cứ kèm theo, Chánh án Tòa án phải phân công Thẩm phán giải quyết đơn yêu cầu
2.1.4.1 Sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu
Theo khoản 2 Điều 363 BLTTDS năm 2015, nếu đơn yêu cầu chưa ghi đầy
đủ nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 362 BLTTDS năm 2015 thì Thẩm phán phải có văn bản yêu cầu người yêu cầu sửa đổi, bổ sung trong thời hạn 07 ngày, kể
từ ngày nhận được yêu cầu Theo khoản 2 Điều 363 và khoản 1 Điều 193 BLTTDS năm 2015, văn bản yêu cầu này có thể được giao trực tiếp, gửi trực tuyến hoặc gửi cho người yêu cầu qua dịch vụ bưu chính và phải ghi chú vào sổ nhận đơn để theo dõi Thời hạn sửa đổi, bổ sung do Thẩm phán ấn định nhưng không được vượt quá
01 tháng (tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt, Thẩm phán vẫn có thể gia hạn nhưng không được quá 15 ngày) Hết thời hạn này mà người yêu cầu không sửa đổi,
bổ sung đơn yêu cầu thì Thẩm phán trả lại đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho họ
Trường hợp xét thấy đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ kèm theo đã đủ điều kiện thụ lý thì Thẩm phán tiến hành thủ tục để thụ lý việc dân sự Thẩm phán thông báo cho người yêu cầu về việc nộp lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân sự Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo nộp lệ phí, người yêu cầu phải thực hiện việc nộp lệ phí tại cơ quan thi hành án dân sự (theo khoản 1 Điều 10 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14) và nộp biên lai thu tiền lệ phí lại cho Tòa án
Cơ quan có thẩm quyền thu tiền tạm ứng lệ phí, lệ phí dân sự sơ thẩm là Chi cục Thi hành án dân sự cấp huyện (trong trường hợp Tòa án nhân dân cấp huyện giải quyết theo thủ tục sơ thẩm việc dân sự) hoặc Cục Thi hành án dân sự cấp tỉnh (trong trường hợp Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết theo thủ tục sơ thẩm việc dân sự).35
Tuy nhiên, tại Điều 11 và Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
có quy định các trường hợp không phải nộp hoặc được miễn lệ phí Tòa án, nếu người yêu cầu thuộc ít nhất một trong các trường hợp này thì Thẩm phán không phải thông báo cho người yêu cầu về việc nộp lệ phí, người yêu cầu không phải nộp
lệ phí cũng như biên lai thu tiền lệ phí, trong trường hợp này, Thẩm phán thụ lý việc dân sự kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu (nếu đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ
35
Theo quy định tại Điều 35 Luật Thi hành án dân sự số 26/2008/QH12 ngày 14/11/2008 do Quốc hội ban hành, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 64/2014/QH13 ngày 25/11/2014 và bởi Luật Cạnh tranh số 23/2018/QH14 ngày 12/6/2018 do Quốc hội ban hành (sau đây gọi tắt là Luật THADS năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, năm 2018)
Trang 36kèm theo đã đầy đủ, theo điểm c, khoản 4, Điều 363 BLTTDS năm 2015) hoặc kể
từ ngày người yêu cầu đã sửa đổi, bổ sung đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án (theo khoản 3 Điều 363 BLTTDS năm 2015)
2.1.4.2 Trả lại đơn yêu cầu
Việc trả lại đơn yêu cầu được quy định tại Điều 364 BLTTDS năm 2015, Tòa án trả lại đơn yêu cầu nếu thuộc các trường hợp: người yêu cầu không có quyền yêu cầu hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự; sự việc người yêu cầu yêu cầu đã được Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết; việc dân
sự không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; người yêu cầu không sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu trong thời hạn pháp luật quy định; người yêu cầu không nộp lệ phí trong thời hạn quy định mà không thuộc trường hợp được miễn hoặc không phải nộp lệ phí hoặc không vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan (chỉ áp dụng được đối với trường hợp người yêu cầu chọn giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự, đối với trường hợp người yêu cầu chọn giải quyết theo thủ tục hòa giải tiền tố tụng tại Tòa án thì không áp dụng quy định này do đây không phải là điều kiện để có thể hòa giải tiền tố tụng tại Tòa án theo Luật HGĐTTTA năm 2020, như vậy người yêu cầu chọn thủ tục giải quyết trước, sau đó Tòa án mới tiến hành xem xét đơn); người
yêu cầu rút đơn yêu cầu và một số trường hợp khác theo quy định của pháp luật
Khi trả lại đơn cho người yêu cầu, Toà án phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do, Tòa phải trả lại cả đơn yêu cầu và toàn bộ tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người yêu cầu Người yêu cầu có quyền khiếu nại việc trả lại đơn yêu cầu và việc giải quyết khiếu nại được thực hiện theo quy định của Điều 194 BLTTDS năm
2015
2.2 Hòa giải tiền tố tụng tại Tòa án
Hòa giải tiền tố tụng tại Tòa án là hoạt động do Hòa giải viên tiến hành trước khi Tòa án thụ lý vụ việc dân sự, nhằm hỗ trợ các bên tham gia hòa giải thỏa thuận giải quyết vụ việc dân sự Đây là một thủ tục mới, được quy định tại Chương III Luật HGĐTTTA năm 2020 (từ Điều 16 đến Điều 41), được áp dụng từ ngày 01/01/2021
2.2.1 Quyền được lựa chọn hòa giải tiền tố tụng tại Tòa án
Theo Điều 16 Luật HGĐTTTA năm 2020, sau khi người yêu cầu nộp đơn yêu cầu giải quyết công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi
ly hôn đến Tòa án có thẩm quyền (khoản 1), Tòa án tiến hành nhận đơn, vào sổ nhận đơn, xác nhận việc nhận đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 191 BLTTDS
Trang 37năm 2015 (khoản 2 - quy trình này được thực hiện như đã trình bày ở các phần trước) Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn yêu cầu, Tòa án thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu biết về quyền được lựa chọn hòa giải và lựa chọn Hòa giải viên (khoản 3 - quyền này được quy định tại Điều 8 Luật HGĐTTTA năm 2020)
Theo khoản 4 Điều 16 Luật HGĐTTTA năm 2020, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án, người yêu cầu phải trả lời bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác cho Tòa án về những nội dung đã được Tòa
án thông báo Người yêu cầu có thể trực tiếp đến Tòa án trình bày ý kiến, trong trường hợp này, Tòa án phải lập biên bản ghi nhận ý kiến (biên bản phải có chữ ký hoặc điểm chỉ của người yêu cầu) Nếu người yêu cầu có ý kiến trả lời không đồng
ý hòa giải tiền tố tụng tại Tòa án, Tòa án phải xử lý theo quy định của pháp luật về
tố tụng
Nếu hết thời hạn này mà người yêu cầu chưa có ý kiến trả lời cho Tòa án thì Tòa án phải thông báo lại lần thứ hai cho họ (điểm c khoản 4 Điều 16 Luật HGĐTTTA năm 2020) Nếu quá thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo lần thứ hai của Tòa án mà người yêu cầu vẫn không trả lời hoặc trường hợp người yêu cầu đồng ý hòa giải tiền tố tụng tại Tòa án thì Tòa án sẽ quyết định tiến hành hòa giải tiền tố tụng tại Tòa án Tòa án phân công Thẩm phán phụ trách hòa giải thực hiện nhiệm vụ theo quy định tại khoản 5, khoản 6 Điều 16 Luật HGĐTTTA năm 2020
2.2.2 Lựa chọn hoặc chỉ định Hòa giải viên
Theo khoản 6 Điều 16 LHGĐTTTA năm 2020, trong thời hạn 03 ngày làm việc, Thẩm phán phụ trách hòa giải phải chỉ định một Hòa giải viên tiến hành hòa giải theo quy định tại Điều 17 Luật HGĐTTTA năm 2020 Theo đó, Thẩm phán phụ trách hòa giải phải thông báo cho người yêu cầu về quyền được lựa chọn Hòa giải viên (quyền này được quy định tại khoản 2 Điều 17 Luật HGĐTTTA năm 2020) Người yêu cầu được lựa chọn Hòa giải viên thuộc Tòa án nơi có thẩm quyền giải quyết hoặc Hòa giải viên nơi Tòa án cấp huyện khác cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án nhân dân cấp tỉnh (theo khoản 2, khoản 3 Điều 17 Luật HGĐTTTA năm 2020)
Theo khoản 3 Điều 17 Luật HGĐTTTA năm 2020, khi chọn Hòa giải viên ở Tòa án cấp huyện khác, Hòa giải viên ở Tòa án cấp huyện khác phải thông báo đồng
ý hoặc từ chối hòa giải tới Thẩm phán phụ trách hòa giải và Tòa án nơi mình làm
Trang 38việc trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo lựa chọn Hòa giải viên Nếu Hòa giải viên đồng ý hòa giải, trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo nhận hòa giải của Hòa giải viên, Tòa án nơi Hòa giải viên làm việc phải có ý kiến đồng ý hoặc không đồng ý với sự lựa chọn của Hòa giải viên gửi cho Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc và Hòa giải viên Hòa giải viên có trách nhiệm thông báo cho người yêu cầu biết Trường hợp Hòa giải viên hoặc Tòa án nơi Hòa giải viên làm việc không đồng ý nhận hòa giải, người yêu cầu có thể lựa chọn Hòa giải viên khác hoặc không lựa chọn tiếp tục
Nếu người yêu cầu lựa chọn Hòa giải viên tại Tòa án có thẩm quyền giải quyết, Hòa giải viên không được từ chối nhận hòa giải, trừ khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 18 Luật HGĐTTTA năm 2020
Thẩm phán phụ trách hòa giải chỉ định Hòa giải viên theo sự lựa chọn của người yêu cầu trong các trường hợp: người yêu cầu lựa chọn Hòa giải viên tại Tòa
án có thẩm quyền giải quyết mà Hòa giải viên đó không thuộc các trường hợp phải
từ chối hoặc bị thay đổi; khi được sự đồng ý của Hòa giải viên được lựa chọn và Tòa án nơi Hòa giải viên được lựa chọn làm việc (trong trường hợp chọn Hòa giải viên ở Tòa án cấp huyện khác); hoặc khi người yêu cầu thỏa thuận lựa chọn Hòa giải viên khác (Theo khoản 4 Điều 17 Luật HGĐTTTA năm 2020)
Nếu người yêu cầu không lựa chọn Hòa giải viên; hoặc có lựa chọn Hòa giải viên ở Tòa án cấp huyện khác nhưng Hòa giải viên hoặc Tòa án nơi Hòa giải viên
đó làm việc không đồng ý nhận hòa giải mà người yêu cầu không lựa chọn Hòa giải viên khác; hoặc Hòa giải viên tại Tòa án có thẩm quyền giải quyết thuộc trường hợp phải từ chối tiến hành hòa giải hoặc bị thay đổi mà người yêu cầu không lựa chọn Hòa giải viên khác thì Thẩm phán được phân công phụ trách hòa giải phải tự chỉ định Hòa giải viên (theo khoản 5 Điều 17 Luật HGĐTTTA năm 2020) Việc tự chỉ định Hòa giải viên phải căn cứ vào tính chất của từng việc dân sự thuận tình ly hôn, trường hợp việc dân sự thuận tình ly hôn có liên quan đến người dưới 18 tuổi thì Thẩm phán chỉ định Hòa giải viên có kinh nghiệm, hiểu biết về tâm lý của người dưới 18 tuổi tiến hành hòa giải (theo khoản 6 Điều 17 Luật HGĐTTTA năm 2020)
Trong thời hạn 20 ngày (hoặc 30 ngày đối với việc phức tạp) kể từ ngày được chỉ định, Hòa giải viên phải tiến hành hòa giải (tuy nhiên các bên có thể thống nhất kéo dài thời hạn hòa giải nhưng tổng thời hạn không được quá 02 tháng), (theo Điều 20 Luật HGĐTTTA năm 2020)
Trang 392.2.3 Giai đoạn chuẩn bị hòa giải tiền tố tụng tại Tòa án
Những việc cần phải làm trong giai đoạn chuẩn bị hòa giải tiền tố tụng tại Tòa án được quy định tại Điều 21 Luật HGĐTTTA năm 2020 Theo đó, trong giai đoạn này, Hòa giải viên phải tiếp nhận đơn và tài liệu kèm theo do Tòa án chuyển đến, vào sổ theo dõi vụ việc, nghiên cứu đơn và tài liệu kèm theo, xác định tư cách của các bên, người đại diện, người phiên dịch trong việc dân sự và thông báo cho họ biết về việc hòa giải
Hòa giải viên có thể yêu cầu các bên bổ sung thông tin, tài liệu, chứng cứ, xây dựng, đề xuất phương án, giải pháp để giải quyết việc dân sự Hòa giải viên có thể mời người có uy tín có khả năng tác động đến mỗi bên tham gia hòa giải để hỗ trợ cho việc hòa giải khi cần thiết Ngoài ra, Hòa giải viên phải nghiên cứu quy định của pháp luật có liên quan, tìm hiểu phong tục, tập quán và hoàn cảnh của các bên
để phục vụ cho việc hòa giải khi thấy cần thiết; tham khảo ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân có chuyên môn về lĩnh vực liên quan đến việc dân sự để phục vụ cho việc hòa giải khi cần thiết và có thể tiến hành các nội dung khác khi thấy cần thiết cho việc hòa giải
2.2.4 Phiên hòa giải
Việc hòa giải có thể được tiến hành trong một hoặc nhiều phiên (khoản 1 Điều 22 Luật HGĐTTTA năm 2020), việc hòa giải có thể được tiến hành tại trụ sở Tòa án hoặc ngoài trụ sở Tòa án theo lựa chọn của các bên (khoản 2 Điều 22 Luật HGĐTTTA năm 2020), phiên hòa giải có thể được thực hiện bằng hình thức trực tiếp hoặc hình thức phù hợp khác theo đề nghị của các bên (khoản 3 Điều 22 Luật HGĐTTTA năm 2020)
Theo khoản 4 Điều 22 Luật HGĐTTTA năm 2020, Hòa giải viên có thể tiến hành hòa giải có mặt các bên hoặc gặp riêng từng bên, yêu cầu mỗi bên trình bày ý kiến của mình về các vấn đề của việc dân sự, đề xuất phương án, giải pháp hòa giải Trường hợp một trong các bên có người đại diện, người phiên dịch thì Hòa giải viên phải mời họ cùng tham gia hòa giải Hòa giải viên phải phổ biến, giải thích quyền, nghĩa vụ của các bên; tạo điều kiện để các bên đề xuất, trao đổi về phương án, giải pháp giải quyết việc dân sự; phân tích tính hiệu quả, khả thi của từng phương án, giải pháp giải quyết việc dân sự; hỗ trợ các bên đạt được sự thỏa thuận, thống nhất (theo Điều 23 Luật HGĐTTTA năm 2020)
Theo Điều 24 Luật HGĐTTTA năm 2020, khi các bên đồng ý gặp nhau để thống nhất phương án giải quyết việc dân sự, Hòa giải viên phải ấn định thời gian,
Trang 40địa điểm tiến hành phiên hòa giải và thông báo cho các bên, người đại diện, người phiên dịch chậm nhất là 05 ngày trước ngày mở phiên hòa giải (việc thông báo có thể được thực hiện bằng văn bản hoặc hình thức khác thuận tiện cho các bên)
Thành phần tham gia phiên hòa giải gồm có: Hòa giải viên; người yêu cầu,
ngoài ra có thể có người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (như con chung hay các bên liên quan đến tài sản của vợ chồng), người phiên dịch, người được mời tham gia hòa giải trong trường hợp cần thiết (theo khoản 1 Điều 25 Luật HGĐTTTA năm 2020) Đối với hòa giải việc thuận tình ly hôn, các bên trong quan hệ vợ, chồng phải trực tiếp tham gia hòa giải (theo khoản 2 Điều 25 Luật HGĐTTTA năm 2020)
Trình tự tiến hành phiên hòa giải phải tuân theo quy định tại Điều 26 Luật HGĐTTTA năm 2020, cụ thể như sau: Hòa giải viên giới thiệu thành phần tham gia phiên hòa giải, trình bày nội dung cần hòa giải, diễn biến quá trình chuẩn bị hòa giải, phổ biến quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết, phân tích hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành Người yêu cầu trình bày nội dung yêu cầu, đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của người yêu cầu, đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải Người được mời tham gia hòa giải phát biểu ý kiến Hòa giải viên hỗ trợ các bên trao đổi ý kiến, trình bày bổ sung về những nội dung chưa
rõ và đi đến thỏa thuận, thống nhất Sau cùng, Hòa giải viên tóm tắt những vấn đề các bên đã thỏa thuận, thống nhất
2.2.5 Phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải
Khi các bên đạt được sự thỏa thuận, thống nhất với nhau về việc giải quyết toàn bộ hoặc một phần việc dân sự thuận tình ly hôn, Hòa giải viên ấn định thời gian, địa điểm mở phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải (địa điểm tiến hành phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải phải là trụ sở Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc, theo khoản 2 Điều 27 Luật HGĐTTTA năm 2020), thông báo cho những người tham gia phiên hòa giải trước đó và Thẩm phán phụ trách hòa giải (hoặc Thẩm phán khác do chánh án Tòa án phân công) Phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải có thể được tổ chức ngay sau phiên hòa giải hoặc vào thời gian phù hợp khác
Khi thuộc một trong các trường hợp: một trong các bên đã được thông báo
mà vắng mặt lần thứ nhất (không cần phải có lý do chính đáng); hoặc một trong các bên vắng mặt lần thứ hai do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan (trường hợp vắng mặt lần thứ hai mà không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Hòa giải viên chấm dứt hòa giải, chuyển đơn và tài liệu kèm theo cho Tòa