tế, Luật mẫu về trọng tài và pháp luật của một số quốc gia có nền pháp luật trọng tài phát triển trên thế giới như Anh, Pháp, Đức, Nga,… kết hợp đồng thời với việc phân tích, bình luận c
Trang 1THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số: 60380103
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Văn Đại
Học viên: Huỳnh Quang Thuận - Lớp: Cao học Luật - Khóa: 20
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2016
Trang 2trọng tài theo pháp luật Việt Nam” là công trình nghiên cứu khoa học do bản thân
tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đỗ Văn Đại Những tài liệu,
số liệu được sử dụng trong luận văn bảo đảm tính khách quan, chính xác Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác
Tác giả
Huỳnh Quang Thuận
Trang 3CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU
CẦU HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 11
1.1 Khái niệm thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài 11
1.2 Đối tượng của thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài 13
1.3 Bản chất pháp lý của thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài 16 1.4 Quy định điều chỉnh thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài 27 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30
CHƯƠNG 2: YÊU CẦU VÀ THỤ LÝ YÊU CẦU HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 31
2.1 Quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài 31
2.2 Thời hiệu yêu cầu hủy phán quyết trọng tài 36
2.3 Thủ tục nộp đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài 38
2.4 Tòa án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài 39
2.5 Thủ tục nhận đơn và thụ lý đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài 42
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 44
CHƯƠNG 3: PHIÊN HỌP XÉT ĐƠN YÊU CẦU HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 45
3.1 Chuẩn bị mở phiên họp xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài 45
3.2 Thành phần tham gia phiên họp xét đơn yêu cầu 47
3.2.1 Hội đồng xét đơn 47
Trang 43.2.4 Chủ thể tham gia tố tụng khác 54
3.3 Căn cứ xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài 55
3.4 Mất quyền phản đối khi giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài 56
3.5 Khắc phục sai sót tố tụng trọng tài 60
3.6 Thủ tục tiến hành phiên họp xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài 67
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 69
CHƯƠNG 4: HIỆU LỰC PHÁP LÝ CỦA QUYẾT ĐỊNH GIẢI QUYẾT YÊU CẦU HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 70
4.1 Quy định pháp luật Việt Nam về hiệu lực pháp lý của quyết định giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài 70
4.2 Bất cập trong quy định pháp luật Việt Nam về hiệu lực pháp lý của quyết định giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài 74
4.3 Kinh nghiệm nước ngoài về hiệu lực pháp lý của quyết định giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài 79
4.4 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về hiệu lực pháp lý của quyết định giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài 81
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 85
KẾT LUẬN 86
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Theo xu hướng hiện nay, khi có mâu thuẫn phát sinh từ các quan hệ xã hội, các bên tranh chấp có thể lựa chọn giữa việc tự mình giải quyết tranh chấp bằng con đường thương lượng, hòa giải hoặc thông qua những cơ quan chuyên giải quyết tranh chấp là Tòa án và Trọng tài thương mại Tuy nhiên, khác với việc đề cao sự tự nguyện trong thương lượng và hòa giải, phán quyết của Tòa án hoặc Trọng tài giải quyết tranh chấp sẽ ràng buộc quyền, nghĩa vụ cho các bên và các bên bắt buộc phải thi hành phán quyết này Trong đó, Trọng tài thương mại với những ưu điểm vượt trội của mình như (i) giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng; (ii) phán quyết
có tính chung thẩm; (iii) thủ tục giải quyết linh động, không công khai… đang ngày được các bên ưu tiên lựa chọn giải quyết tranh chấp, nhất là trong các lĩnh vực về kinh doanh thương mại
Tuy nhiên, việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài có một điểm đặc biệt đó
là không hoàn toàn độc lập với Tòa án Nói cách khác, Tòa án luôn có một sự can thiệp nhất định vào quá trình giải quyết tranh chấp của Trọng tài, thể hiện qua các công việc như chỉ định, thay đổi trọng tài viên, thu thập chứng cứ, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời… Trong đó, thẩm quyền của Tòa án trong việc hủy phán quyết trọng tài là sự thể hiện rõ ràng nhất vai trò của Tòa án đối với Trọng tài Bởi
lẽ, kết quả của thủ tục này có thể làm cho phán quyết trọng tài bị hủy bỏ và điều này đồng nghĩa với việc toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp của Trọng tài trở nên
“vô dụng” Chính vì thế, việc có những quy định cụ thể về thủ tục hủy phán quyết trọng tài của Tòa án là điều hết sức cần thiết để đảm bảo cho sự phát triển của Trọng tài thương mại cũng như bảo vệ tốt nhất cho quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan
Với sự tiếp thu những quy định của Luật mẫu về Trọng tài thương mại quốc
tế của Ủy ban Liên hợp quốc về Luật thương mại quốc tế năm 1985, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 đã có những quy định tương đối chi tiết về thủ tục hủy phán quyết trọng tài tại Tòa án Tuy nhiên, những quy định này dường như vẫn chưa đáp ứng được tốt nhất yêu cầu của thực tế Thật vậy, thống kê trên thực tiễn Tòa án giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài đã chỉ ra rằng Việt Nam được xem là đất
Trang 6nước “vô địch” về tỷ lệ phán quyết trọng tài bị hủy1 Điều này đã phần nào làm giảm niềm tin của các bên tranh chấp đối với Trọng tài, dẫn đến kiềm hãm sự phát triển của Trọng tài nói riêng và của môi trường kinh doanh, môi trường pháp lý tại Việt Nam nói chung Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên một phần rất lớn xuất phát từ những hạn chế, bất cập trong chính các quy định về thủ tục hủy phán quyết trọng tài như: (i) Thành phần tham gia phiên họp giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài; (ii) Việc cho phép Hội đồng trọng tài khắc phục sai sót trong quá trình Tòa án giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài? (iii) Quyết định giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài của Tòa án có được phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm hay không? Do đó, hàng loạt các vấn đề có liên quan đến thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài cần phải được mổ xẻ, phân tích, bình luận một cách nghiêm túc và bài bản, làm cơ sở để sửa đổi, bổ sung các quy định có liên quan với mục tiêu là hoàn thiện hệ thống pháp luật về trọng tài thương mại nói riêng và
hệ thống pháp luật tố tụng dân sự nói chung
Chính vì những lý do như vậy mà tác giả đã mạnh dạn chọn vấn đề: “Thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài theo pháp luật Việt Nam” để
làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu, chọn lọc các tài liệu có liên quan, tác giả được biết có một số công trình nghiên cứu khoa học có đề cập đến vấn đề mà tác giả
đang nghiên cứu:
Đầu tiên, về phương diện sách chúng ta có các tác phẩm như: “Pháp luật Việt Nam về trọng tài thương mại” của hai tác giả Đỗ Văn Đại và Trần Hoàng
Hải vào năm 2011, nhà xuất bản Chính trị quốc gia Đây là một tác phẩm tương đối công phu, mang lại cho người đọc một cái nhìn tổng quan về hoạt động của Trọng tài thương mại theo quy định của pháp luật Việt Nam Trong từng nội dung cụ thể các tác giả đã phân tích các quy phạm pháp luật về trọng tài thương mại trong Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 và Luật Trọng tài thương mại năm 2010, so
Trang 7sánh với quy định tương ứng trong các Điều ước quốc tế, Luật mẫu về trọng tài, pháp luật của một số quốc gia khác Đồng thời các tác giả còn đưa ra các ví dụ thực tiễn để minh họa, bình luận về các vấn đề có liên quan, trong đó có đề cập, phân tích, bình luận thủ tục ban hành một số quyết định quan trọng của Tòa án trong hoạt động trọng tài như: quyết định hủy phán quyết trọng tài, quyết định công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời,…để từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Tuy nhiên, do mục đích của tác phẩm là phân tích toàn bộ các quy định của pháp luật Việt Nam về Trọng tài thương mại cho nên những phân tích về thủ tục hủy phán quyết trọng tài chỉ là một phần nhỏ, nằm rải rác, tản mạn trong tác phẩm, chưa được phân tích một cách riêng biệt nên chưa giúp cho người đọc có một cái nhìn rõ ràng, tổng quát về vấn đề nêu trên Bên cạnh đó, còn một số vấn đề về thủ tục hủy phán quyết trọng tài còn bị bỏ ngỏ, chưa được các tác giả phân tích Trong luận văn của mình, tác giả đã kế thừa và tiếp tục phát triển một số nội dung của của công trình trên liên quan đến thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài như quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, khắc phục sai sót tố tụng trọng tài, hiệu lực pháp lý của quyết định hủy phán quyết trọng tài
Hai tác giả trên đồng thời có một tác phẩm khác về trọng tài thương mại vào
năm 2010, đó là Tuyển tập các bản án, quyết định của Tòa án Việt Nam về
trọng tài thương mại, nhà xuất bản Lao động – Xã hội Trong tác phẩm này hai tác
giả đã chọn lọc, tổng hợp các bản án, quyết định của tòa án Việt Nam có liên quan đến lĩnh vực trọng tài thương mại, được phân bố thành hai phần, đó là những bán
án, quyết định của Tòa án liên quan đến trọng tài thương mại Việt Nam và những bản án, quyết định của Tòa án liên quan đến trọng tài nước ngoài ở Việt Nam Tác phẩm đã giúp cho người đọc được tiếp xúc với những tình huống thực tiễn, cách thức xử sự của Tòa án trong những trường hợp Tòa án tác động đến quá trình giải quyết tranh chấp của Trọng tài, trong đó vấn đề hủy phán quyết trọng tài được đề cập đến khá nhiều Đặc biệt, trong phần phụ lục của tác phẩm có bao gồm một tham luận về hủy quyết định trọng tài Việt Nam của tác giả Đỗ Văn Đại, trong đó phân tích, bình luận rất kỹ về các căn cứ và tố tụng của việc hủy quyết định trọng tài, nêu bật lên được thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hiệu lực quyết định của tòa án trong việc hủy quyết định trọng tài Đồng thời, tác giả cũng nêu lên một số quan điểm cá nhân
về vấn đề hủy quyết định trọng tài của Tòa án Tuy nhiên, tác phẩm nêu trên chỉ đơn
Trang 8thuần đưa ra các bản án, quyết định của Tòa án liên quan đến việc hủy phán quyết trọng tài mà không có sự phân tích, bình luận, đánh giá về mặt lý luận đối với các bản án, quyết định đó Chính vì thế tác phẩm không giúp cho người đọc có thể hiểu được nội dung, bản chất của các quy định pháp luật về thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài Bên cạnh đó, bài tham luận của tác giả Đỗ Văn Đại trong phần phụ lục của tác phẩm tuy rất công phu và chuyên sâu nhưng chỉ đề cập một số khía cạnh của thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, đặc biệt là về căn
cứ hủy phán quyết trọng tài mà chưa phân tích, tìm hiểu tất cả vấn đề còn tồn tại Thông qua tác phẩm này, tác giả đã tiếp thu một số thực tiễn Tòa án giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài để làm minh chứng cho các lập luận trong luận văn của mình
Về phương diện tạp chí, có rất nhiều các bài báo có liên quan đến hoạt động trọng tài, trong đó có một số bài viết về mối quan hệ của Tòa án và trọng tài như bài
viết: “Vai trò của Tòa án trong hoạt động trọng tài” của tác giả Phan Huy Hồng
trên tạp chí Khoa học và pháp lý số 03 năm 2008 Bài viết đã đề cập tới vai trò của Tòa án liên quan đến hoạt động trọng tài trong giai đoạn trước tố tụng, giai đoạn tố tụng trọng tài và sau khi tố tụng trọng tài kết thúc, bao gồm các quyết định liên quan đến trọng tài viên, quyết định về yêu cầu xem xét thẩm quyền của trọng tài, về biện pháp khẩn cấp tạm thời, thu thập chứng cứ, về hủy bỏ quyết định trọng tài, công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam và một số vấn đề khác Trong đó, vấn đề về hủy phán quyết trọng tài cũng được tác giả phân tích tương đối chuyên sâu Tuy nhiên, bài viết trên được thực hiện trong thời điểm Luật Trọng tài thương mại năm 2010 chưa có hiệu lực, do đó những phân tích, nhận định, bình luận của tác giả chỉ dựa trên Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003, đồng thời tác giả chỉ phân tích về mặt lý luận, chưa đưa ra những thực tiễn để minh
họa cho những lập luận đó Bài viết: “Khái quát về trọng tài, mối quan hệ giữa Tòa án và trọng tài ở Liên bang Nga – kinh nghiệm đối với Việt Nam” của tác
giả Trần Hoàng Hải trên tạp chí Khoa học pháp lý số 02 năm 2011 đã khái quát cơ
sở pháp lý và hoạt động của trọng tài, mối quan hệ giữa Tòa án và trọng tài theo pháp luật của Liên bang Nga, trong đó có đề cập đến thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài Từ đó tác giả đã đưa ra một số nhận xét, đề xuất đối với pháp luật trọng tài Việt Nam trong việc thể hiện mối quan hệ giữa Tòa án và trọng tài nói chung và trong vấn đề hủy phán quyết trọng tài nói riêng Tuy nhiên, tác phẩm này
Trang 9chưa phân tích một cách riêng biệt về thủ tục hủy phán quyết trọng tài của Tòa án,
mà đặt vấn đề này chung trong tổng thể mối quan hệ của Tòa án với Trọng tài, do
đó chưa thể tìm hiểu một cách chuyên sâu về thủ tục hủy phán quyết trọng tài Hay
bài viết: “Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam đối với trọng tài nước ngoài” của
tác giả Phan Thông Anh trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 24 năm 2013 cũng đã
đề cập đến một số bất cập trong những quy định của pháp luật Việt Nam về thẩm quyền của Tòa án Việt Nam đối với trọng tài nước ngoài, từ đó tác giả cũng đưa ra một số kiến nghị đề xuất hoàn thiện
Bên cạnh đó, một số luận văn thạc sỹ luật học có nghiên cứu những vấn đề
có liên quan đến nội dung quyết định của Tòa án trong hoạt động trọng tài như đề
tài: “Mối quan hệ giữa trọng tài và Tòa án” của tác giả Nguyễn Văn Đức vào
năm 2010 Tác giả đã phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn mối quan hệ giữa trọng tài và Tòa án, lựa chọn nghiên cứu một số nội dung trong mối quan hệ giữa Trọng tài và Tòa án theo pháp luật Việt Nam hiện hành còn nhiều bất cập như thực thi thỏa thuận trọng tài, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam Tác giả nghiên cứu mối quan hệ này dựa trên việc phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về trọng tài thương mại, có đối chiếu, so sánh với Công ước New York năm 1958 về công nhận và cho thi hành các quyết định trọng tài nước ngoài, Luật mẫu về trọng tài và pháp luật về trọng tài của một số quốc gia, từ đó chỉ ra những hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật và có một số đề xuất kiến nghị hoàn thiện Tuy nhiên, trong tác phẩm nêu trên, tác giả chỉ tập trung vào phân tích mối quan hệ, vai trò của Tòa án đối với trọng tài, chưa đi sâu vào căn cứ phát sinh, hiệu lực hay xác định Tòa án có thẩm quyền trong việc ban hành quyết định giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài của Tòa án Đồng thời tác giả cũng chỉ giới hạn nghiên cứu ở một số vấn đề nhất định, chưa bao quát hết những vấn đề còn tồn tại phát sinh trong quá trình Tòa án giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài
Về tình hình nghiên cứu nước ngoài, đã có nhiều công trình nghiên cứu xoay quanh những vấn đề liên quan đến Trọng tài thương mại Chẳng hạn, tác phẩm
“Arbitration in 60 jurisdictions worldwide” năm 2015 do hai tác giả Gerhard
Wegen và Stephan Wilske biên tập, nhà xuất bản Law Business Research đã đề cập đến nhiều vấn đề trong quy định của pháp luật trọng tài thương mại của các nước
Trang 10trên thế giới, trong đó có những vấn đề liên quan đến thủ tục hủy phán quyết trọng tài Tuy nhiên, tác phẩm này chỉ mới đề cập đến quy định của các nước về những
vấn đề này, chưa phân tích, đánh giá hay bình luận chuyên sâu Tác phẩm “Pháp luật và thực tiễn trọng tài thương mại quốc tế” (bản dịch ra tiếng Việt) của các
tác giả A.Redfern, M.Hunter, N.Blackaby và C.Partasides, nhà xuất bản Sweet và
Maxwel cũng đã trình bày một cách tổng quát về mặt lý luận cũng như quy định pháp luật của một số quốc gia về trọng tài thương mại quốc tế, trong đó có đề cập đến việc hủy phán quyết trọng tài với các nội dung như: khái niệm, đặc điểm của việc hủy phán quyết trọng tài, căn cứ hủy phán quyết trọng tài, thời hiệu yêu cầu hủy phán quyết trọng tài… Tuy nhiên, xuất phát từ việc tác phẩm này nghiên cứu một cách tổng quan về trọng tài thương mại quốc tế, do đó các vấn đề về thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài chưa được các tác giả phân tích một các riêng biệt và chuyên sâu Nhìn chung, đối với tình hình nghiên cứu ở nước ngoài, vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và riêng biệt về thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài Mặc dù vậy, thông qua các tác phẩm này, tác giả đã tiếp thu được một số kinh nghiệm về thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài của các nước trên thế giới, làm cơ sở để so sánh với quy định của pháp luật Việt Nam và học tập kinh nghiệm để đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Tóm lại, mặc dù chưa đi vào phân tích một cách chuyên sâu nhưng các công trình khoa học trong và ngoài nước nêu trên đã nghiên cứu các chế định trọng tài thương mại dưới nhiều góc độ khác nhau, qua đó phần nào làm rõ được một số vấn
đề về thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài Thông qua việc nghiên cứu những công trình khoa học này, tác giả đã định hình được một số vấn đề pháp
lý xoay quanh đề tài của mình như: Quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài được thực hiện như thế nào theo pháp luật Việt Nam? Tòa án giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài thông qua những giai đoạn nào? Hiệu lực pháp lý của quyết định giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài được quy định như thế nào?…
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở tập trung nghiên cứu, đánh giá, bình luận các quy định về thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài trong Luật Trọng tài thương mại năm
2010 và Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, có đối chiếu, so sánh với Điều ước quốc
Trang 11tế, Luật mẫu về trọng tài và pháp luật của một số quốc gia có nền pháp luật trọng tài phát triển trên thế giới như Anh, Pháp, Đức, Nga,… kết hợp đồng thời với việc phân tích, bình luận các tình huống trong thực tiễn xét xử của Tòa án, tác giả sẽ giải quyết nhưng vấn đề có liên quan đến thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, chỉ ra những điểm còn hạn chế, bất cập đã và đang gây nhiều lúng túng trong việc áp dụng pháp luật về trọng tài thương mại Cuối cùng, tác giả sẽ đưa ra một số đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật có liên quan đến thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, nhằm mục đích hạn chế tỷ lệ phán quyết trọng tài bị hủy tại Tòa án nói riêng và hướng đến thúc đẩy nền Trọng tài thương mại trong nước phát triển nói chung
4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trong luận văn của mình, tác giả tập trung nghiên cứu về thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài dưới góc độ là một thủ tục tố tụng dân sự tại Tòa
án Do đó, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 sẽ là nguồn luật đầu tiên điều chỉnh thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài Mặt khác, việc giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài được dẫn chiếu đến những quy định của Luật Trọng tài thương mại năm 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành Vì thế, luận văn của tác giả sẽ đi vào nghiên cứu, phân tích những thủ tục riêng biệt theo những quy định này khi Tòa án giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài Đồng thời, đối với những vấn đề mà Luật Trọng tài thương mại năm 2010 không quy định hoặc quy định chưa rõ ràng như cách thức nộp đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, thủ tục nhận đơn và thụ lý đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, hậu quả của việc Kiểm sát viên vắng mặt tại phiên họp, sự tham gia phiên họp của những chủ thể tố tụng khác, trình tự phiên họp xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài,… tác giả sẽ nghiên cứu việc có được áp dụng hay không và áp dụng như thế nào những quy định pháp luật của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 trong từng giai đoạn cụ thể của thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài
Về phạm vi nghiên cứu đề tài, tác giả không đi vào phân tích chuyên sâu những nội dung làm căn cứ để Tòa án ra các quyết định giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, mà chỉ tập trung phân tích, đánh giá, bình luận về thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, tức là chỉ giải quyết các vấn đề như: Quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài; Thủ tục nộp đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài;
Trang 12Tòa án nào có thẩm quyền hủy phán quyết trọng tài; Thành phần tham gia phiên họp xét đơn yêu cầu; Trình tự phiên họp xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài; Hiệu lực của quyết định hủy phán quyết trọng tài của Tòa án
Về văn bản pháp luật Việt Nam, tác giả tập trung nghiên cứu những quy định
có liên quan đến đề tài của mình trong pháp luật Việt Nam, bao gồm Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành Về pháp luật nước ngoài, tác giả phân tích, so sánh các vấn đề có liên quan với pháp luật của một số nước có nền trọng tài phát triển như: Pháp, Đức, Anh, Nga, Trung Quốc và pháp luật một số nước khác có liên quan
Đồng thời, trong quá trình nghiên cứu, tác giả sẽ phân tích, bình luận một số bản án, quyết định của Tòa án có liên quan nhằm minh chứng cho thực tiễn áp dụng cũng như những bất cập phát sinh đối với quy định của pháp luật Việt Nam về thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học như phương pháp lịch sử, phương pháp biện chứng, phương pháp đối chiếu so sánh… để đạt được mục đích mà tác giả đã đề ra Cụ thể:
Để mang lại cho người đọc cái nhìn tổng quát về thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài theo pháp luật Việt Nam, tác giả sử dụng phương pháp lịch
sử, tức là đi từ nguồn gốc phát sinh, quá trình phát triển của đối tượng để từ đó rút
ra được bản chất của thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài Đồng thời, phương pháp này cũng được tác giả sử dụng để chỉ ra những thay đổi, khác biệt về mặt pháp luật đối với vấn đề đang nghiên cứu qua từng thời kỳ Phương pháp lịch
sử được tác giả sử dụng xuyên suốt trong luận văn của mình ở tất cả các Chương
Để làm rõ mối quan hệ giữa Tòa án và Trọng tài trong việc hủy phán quyết trọng tài tác giả sử dụng phương pháp biện chứng, đặt hai đối tượng trên vào cùng một vấn đề để phân tích, đối chiếu, làm rõ được sự độc lập và những ảnh hưởng, tác động qua lại giữa chúng với nhau Phương pháp này được tác giả sử dụng chủ yếu trong việc nghiên cứu về Tòa án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy phán quyết
Trang 13trọng tài và việc khắc phục sai sót tố tụng trọng tài trong quá trình Tòa án xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài trong Chương 2 và Chương 3
Tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để tìm hiểu những quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, đồng thời sử dụng phương pháp so sánh luật để chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa những quy định trong pháp luật Việt Nam cũng như là giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật thế giới Phương pháp này được tác giả tập trung sử dụng trong các Chương 2, Chương 3, Chương 4 để làm rõ những bất cập của thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài trong tố tụng dân sự Việt Nam
Đồng thời, tác giả còn sử dụng phương pháp giả thiết, tức là giả định một tình huống có thể xảy ra theo pháp luật của từng thời kỳ, cũng như theo pháp luật của các nước khác trên thế giới để cho thấy những cách xử sự, giải quyết khác nhau nhằm làm sáng tỏ sự khác biệt cũng như là rút kinh nghiệm để hoàn thiện pháp luật Đây là phương pháp tác giả sử dụng để từ đó đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài tại các Chương 2, Chương 3, Chương 4
Trong quá trình tìm hiểu thực tiễn xét xử liên quan đến vấn đề nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp bình luận án, tức là đi vào nghiên cứu, phân tích, đánh giá việc áp dụng pháp luật của Tòa án trong việc ra các quyết định về hủy phán quyết trọng tài, làm rõ cách thức xử sự của Tòa án trong những tình huống nhất định từ đó đưa ra nhận định về hoạt động của Tòa án trong lĩnh vực đang nghiên cứu Phương pháp này được tác giả sử dụng xuyên suốt trong đề tài, vừa để ví dụ minh họa cho những quy định hiện hành, vừa để chỉ ra một số bất cập trong việc áp dụng trên thực tiễn những quy định về thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết
trọng tài
6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Sau khi hoàn thành, luận văn sẽ mang lại cho người đọc một cái nhìn từ tổng quan đến chi tiết những vấn đề cơ bản về thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài theo pháp luật Việt Nam Đồng thời, luận văn cũng chỉ ra và phân tích những bất cập về mặt lý luận cũng như vận hành trong thực tế đối với các quy định
Trang 14hiện hành của pháp luật Việt Nam về thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài
Luận văn là một tài liệu khoa học có giá trị tham khảo cao đối với giảng viên, sinh viên, học viên trong việc giảng dạy, học tập, nghiên cứu pháp luật về tố tụng dân sự nói chung và về thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài nói riêng
Bên cạnh đó, các kiến nghị trong luận văn của tác giả sẽ giúp ích cho các nhà làm luật trong quá trình sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Luật Trọng tài thương mại năm 2010 trong tương lai
7 Bố cục luận văn
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả tiếp cận và phân tích các vấn đề về thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài trong tố tụng dân sự Việt Nam qua các chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề chung về thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài theo pháp luật Việt Nam
Chương 2: Yêu cầu và thụ lý yêu cầu hủy phán quyết trọng tài theo pháp luật Việt Nam
Chương 3: Phiên họp xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài theo pháp luật Việt Nam
Chương 4: Hiệu lực pháp lý của quyết định giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài theo pháp luật Việt Nam
Trang 15CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT
YÊU CẦU HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1.1 Khái niệm thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài
Theo xu hướng hiện nay, Tòa án và Trọng tài là hai cơ quan chủ yếu được các bên lựa chọn để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong cuộc sống Tuy nhiên, khác với việc thẩm quyền của Tòa án phát sinh dựa trên những quy định của pháp luật, thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài được hình thành trên cơ sở sự thỏa thuận giữa các bên Do đó, việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài mang tính chất “tư” rất cao, thể hiện qua các đặc điểm như: các bên tranh chấp được lựa chọn địa điểm giải quyết tranh chấp trọng tài, lựa chọn trọng tài viên, thủ tục giải quyết tranh chấp, luật áp dụng,…
Trong tố tụng trọng tài thương mại, tranh chấp giữa các bên sẽ được giải quyết bởi Hội đồng trọng tài và kết quả của quá trình tài phán đó là một phán quyết trọng tài Nói cách khác, phán quyết trọng tài là quyết định của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dụng vụ tranh chấp và chấm dứt tố tụng trọng tài (khoản 10 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 (Luật TTTM 2010)) Nội dung của phán quyết trọng tài sẽ giải quyết tất cả các vấn đề mà các bên có tranh chấp thông qua hai con đường: (i) Hội đồng trọng tài công nhận sự thỏa thuận của các bên sau khi tiến hành hòa giải; và (ii) Hội đồng trọng tài quyết định cuối cùng về nội dung đơn khởi kiện sau khi đã nghiên cứu hồ sơ và bỏ phiếu theo nguyên tắc đa số
Về nguyên tắc, khi lựa chọn trọng tài thương mại, các bên đã lựa chọn một phương thức giải quyết tranh chấp mà kết quả là một phán quyết có giá trị chung thẩm và ràng buộc đối với các bên Nói cách khác, các bên không có quyền khiếu nại đối với phán quyết trọng tài và nhờ đó mà tranh chấp được giải quyết rất nhanh chóng Đây chính là đặc điểm quan trọng nhất để tạo nên lợi thế của việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại so với Tòa án “Người ta không mong đợi rằng việc giải quyết bằng trọng tài chỉ là đề xuất cách giải quyết tranh chấp như thế nào hay là bước đầu tiên trong các nấc thang kháng cáo của hệ thống Tòa án quốc
Trang 16gia”2 Việc hủy bỏ hoặc làm mất hiệu lực phán quyết trọng tài là rất hiếm thấy, đồng thời căn cứ để Tòa án giám sát phán quyết của trọng tài cũng rất hạn chế và loại trừ việc xét lại nội dung tranh chấp mà trọng tài đã giải quyết3
Tuy nhiên, dù mang tính chất tư nhưng một khi phán quyết trọng tài được ban hành thì giá trị của nó giống như một bản án của Tòa án và được đảm bảo thi hành bằng quyền lực Nhà nước Do đó, thông qua Tòa án, Nhà nước luôn có một sự giám sát nhất định đối với Trọng tài thương mại, đảm bảo hoạt động trọng tài nằm trong khuôn khổ cho phép, thể hiện rõ nhất ở chế định về hủy phán quyết trọng tài
Chính vì thế, “tính chung thẩm” không có nghĩa là những gì trọng tài đã giải quyết
là “không thể xâm phạm” mà phán quyết của trọng tài hoàn toàn có thể bị hủy bỏ
bởi Tòa án theo yêu cầu của một bên4 “Kể cả khi quy tắc trọng tài liên quan quy định rằng quyết định trọng tài là chung thẩm, ràng buộc các bên và các bên đồng ý thực hiện không chậm trễ, pháp luật về trọng tài thường có những quy định cách nào đó để cho phép hủy phán quyết trọng tài”5
Mặt khác, với khả năng có thể làm cho phán quyết trọng tài bị hủy bỏ và điều này đồng nghĩa với việc toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp của Trọng tài trở nên “vô dụng”, Tòa án không thể giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài một cách tùy tiện mà phải tuân theo thủ tục tố tụng do pháp luật quy định Kết hợp với
những phân tích ở trên, chúng ta có thể hiểu thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài là trình tự tố tụng được tiến hành tại Tòa án nhằm xem xét lại giá trị pháp lý của phán quyết được ban hành bởi Hội đồng trọng tài Thủ tục giải
quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài được bắt đầu từ khi một bên nộp đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài cho Tòa án và kết thúc khi Tòa án ban hành một quyết định giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài có hiệu lực cuối cùng
2
A.Redfern, M.Hunter, N.Blackaby và C.Partasides, Pháp luật và thực tiễn trọng tài thương mại quốc tế,
NXB Sweet và Maxwell, tr 489 (bản dịch ra tiếng Việt)
3 Thomas E.Carbonneau (2012), Case and materials: Arbitration Law and Practice, West, America, tr v, 34
4 Đỗ Văn Đại, Trần Hoàng Hải (2011), Pháp luật Việt Nam về Trọng tài thương mại, NXB Chính trị quốc
gia, Hà Nội, tr 324
5 A.Redfern, M.Hunter, N.Blackaby và C.Partasides, Pháp luật và thực tiễn trọng tài thương mại quốc tế, NXB Sweet và Maxwell, tr 489 (bản dịch ra tiếng Việt)
Trang 171.2 Đối tƣợng của thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài
Trong quá trình giải quyết tranh chấp, Hội đồng trọng tài có thể ra nhiều quyết định nhằm thực hiện chức năng của mình như quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, quyết định về thẩm quyền của Hội đồng trọng tài… Tuy nhiên, không phải quyết định nào của Hội đồng trọng tài cũng có thể trở thành đối tượng của yêu cầu hủy phán quyết trọng tài mà chỉ có thể là các “phán quyết trọng tài”, tức là các quyết định của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp và chấm dứt tố tụng trọng tài (khoản 10 Điều 3 Luật TTTM 2010) Theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều 14 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20 tháng 3 năm 2014 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một
số quy định Luật TTTM 2010 (Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP), phán quyết trọng tài bao gồm:
- Thứ nhất, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên của Hội đồng trọng tài, được hình thành từ việc Hội đồng trọng tài tiến hành hòa giải để các bên thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp Quyết định này là chung thẩm và
có giá trị như phán quyết trọng tài (Điều 58 Luật TTTM 2010)
- Thứ hai, phán quyết của Hội đồng trọng tài được ban hành trên cơ sở hoạt động xét xử của Hội đồng trọng tài sau khi đã giải quyết toàn bộ nội dung tranh chấp Đây là quyết định cuối cùng về nội dung đơn khởi kiện sau khi Hội đồng trọng tài đã nghiên cứu hồ sơ và bỏ phiếu theo nguyên tắc đa số
Mặt khác, dựa vào tiêu chí “giá trị thi hành”, chúng ta có thể phân chia phán quyết trọng tài thành hai loại: (i) loại phán quyết thứ nhất sẽ không cần qua thủ tục công nhận mà sẽ ràng buộc các bên và có giá trị thi hành như là một bản án của Tòa án; và (ii) loại phán quyết thứ hai để được thi hành tại Việt Nam cần qua thủ tục công nhận và cho thi hành theo quy định của Công ước New York năm 1958 về công nhận và cho thi hành các quyết định trọng tài nước ngoài (Công ước New York) và Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS 2015) Trong đó, những phán quyết trọng tài theo thủ tục công nhận và cho thi hành sẽ không phải là đối tượng của thủ tục hủy phán quyết trọng tài tại Tòa án Việt Nam
Đối chiếu với pháp luật Việt Nam, phán quyết trọng tài thuộc đối tượng của thủ tục công nhận và cho thi hành là phán quyết của Trọng tài nước ngoài, trong đó,
Trang 18Trọng tài nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài được xác định theo quy định của Luật Trọng tài thương mại của Việt Nam (Điều 424 BLTTDS 2015) Dẫn
chiếu đến Luật TTTM 2010 thì Trọng tài nước ngoài là Trọng tài được thành lập
theo quy định của pháp luật trọng tài nước ngoài do các bên thỏa thuận lựa chọn để tiến hành giải quyết tranh chấp ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc trong lãnh thổ Việt
Nam (khoản 11 Điều 3 Luật TTTM 2010); còn phán quyết của Trọng tài nước
ngoài là phán quyết do Trọng tài nước ngoài tuyên ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc
ở trong lãnh thổ Việt Nam để giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận lựa chọn (khoản 12 Điều 3 LTTM 2010) Như vậy, theo pháp luật Việt Nam, những phán quyết do Trọng tài nước ngoài tuyên trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam sẽ là đối tượng của thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam
Từ đó, sử dụng phương pháp loại trừ, có thể khẳng định đối tượng của thủ tục hủy phán quyết trọng tài theo pháp luật Việt Nam sẽ là phán quyết của Trọng tài Việt Nam Trong đó, Trọng tài Việt Nam là trọng tài được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam; và phán quyết của Trọng tài Việt Nam là phán quyết do Trọng tài Việt Nam tuyên ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc ở trong lãnh thổ Việt Nam để giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận lựa chọn Nói cách khác, theo pháp luật Việt Nam hiện hành, phán quyết của Trọng tài Việt Nam luôn là đối tượng của thủ tục hủy phán quyết trọng tài, dù được tuyên trong hay ngoài lãnh thổ Việt Nam
Đối chiếu với Công ước New York, trường hợp phán quyết của Trọng tài Việt Nam tuyên trong lãnh thổ Việt Nam là đối tượng của thủ tục hủy phán quyết trọng tài là hợp lý và không có gì mâu thuẫn Tuy nhiên, việc ghi nhận phán quyết của trọng tài Việt Nam tuyên ngoài lãnh thổ Việt Nam có thể bị yêu cầu hủy tại Tòa
án sẽ đi ngược lại với quy định của Công ước New York Bởi lẽ, Điều 1 Công ước New York quy định phán quyết trọng tài được tuyên ở ngoài lãnh thổ quốc gia sẽ là đối tượng của thủ tục công nhận và cho thi hành tại quốc gia đó Hay nói cách khác, các phán quyết này không phải là đối tượng của thủ tục hủy tại Tòa án quốc gia và đây là quy định bắt buộc đối với các thành viên tham gia Công ước Trong khi đó, theo pháp luật Việt Nam, đối với phán quyết do trọng tài Việt Nam tuyên ở ngoài lãnh thổ Việt Nam thì các bên vẫn có thể yêu cầu Tòa án hủy phán quyết trọng tài
Trang 19Quan điểm cá nhân cho rằng, trong trường hợp này chúng ta cần áp dụng những quy định của Công ước New York để xác định phán quyết trọng tài là đối tượng của thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam Bởi lẽ, Việt Nam đã gia nhập Công ước New York vào ngày 20/9/1995 Do đó, khi có sự mâu thuẫn giữa pháp luật Việt Nam và Công ước New York, theo nguyên tắc áp dụng pháp luật, Công ước New York sẽ được ưu tiên áp dụng Theo đó, phán quyết do trọng tài Việt Nam tuyên ở ngoài lãnh thổ Việt Nam vẫn được xác định là đối tượng của thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam Hay nói cách khác, đối tượng của thủ tục hủy phán quyết trọng tài trong trường hợp này chỉ bao gồm phán quyết của trọng tài Việt Nam tuyên trong lãnh thổ Việt Nam
Nghiên cứu pháp luật một số nước trên thế giới, có thể thấy rằng đa số các nước đều tiếp thu gần như trọn vẹn tiêu chí “nơi tuyên phán quyết trọng tài” của Công ước New York để xác định phán quyết trọng tài được điều chỉnh theo thủ tục công nhận và cho thi hành Chẳng hạn, pháp luật trọng tài Đức ghi nhận rằng việc công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài được thực hiện tương tự như Công ước New York (Điều 1061 Bộ luật tố tụng dân sự Đức)6 Tại Pháp, phán quyết trọng tài được ban hành ngoài lãnh thổ của Pháp sẽ được điều chỉnh bằng thủ tục công nhận và cho thi hành (Điều 1525 Bộ luật tố tụng dân sự Pháp) Hay nói cách khác, phán quyết nước ngoài là toàn bộ những phán quyết được tuyên ngoài lãnh thổ của Pháp, không quan trọng là do trọng tài của Pháp hay trọng tài nước ngoài tuyên7 Việc ghi nhận nguyên tắc xác định phán quyết trọng tài thuộc đối tượng của thủ tục công nhận và cho thi hành là phán quyết được tuyên ngoài lãnh thổ quốc gia theo Công ước New York còn được thể hiện trong pháp luật một số nước khác như Nga8, Thụy Điển9, Nhật Bản10,…
6 Stephan Wilske and Claudia Krapft (2015), “Germany in Arbitration in 60 jurisdictions worldwide”,
Arbitration in 60 jurisdictions worldwide, Law Business Research, pp 207
7 Nathalie Meyer Fabre (2014), “France in Arbitration in 49 jurisdictions worldwide”, Arbitration in 49
jurisdictions worldwide, Law Business Research, pp 180
8
Ilya Nikiforov, Alexey Karchiomov and Svetlana Popova (2015), “Russian in Arbitration in 60 jurisdictions
worldwide”, Arbitration in 60 jurisdictions worldwide, Law Business Research, pp 365
9 Simon Arvmyren (2015), “Sweden in Arbitration in 60 jurisdictions worldwide”, Arbitration in 60
jurisdictions worldwide, Law Business Research, pp 417
10 Shinji Kusakabe (2015), “Japan in Arbitration in 60 jurisdictions worldwide”, Arbitration in 60
jurisdictions worldwide, Law Business Research, pp 263
Trang 20Từ những phân tích trên, quan điểm cá nhân cho rằng cần phải sửa đổi quy định của BLTTDS 2015 và Luật TTTM 2010 để phù hợp với Công ước New York
ở những điểm sau: (i) khẳng định đối tượng của thủ tục hủy phán quyết trọng tài chỉ
là những phán quyết do trọng tài Việt Nam tuyên trong lãnh thổ Việt Nam; và (ii) ghi nhận phán quyết do trọng tài Việt Nam tuyên ngoài lãnh thổ Việt Nam sẽ là đối tượng của thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam
1.3 Bản chất pháp lý của thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài
Như đã phân tích ở trên, yêu cầu hủy phán quyết trọng tài được Tòa án giải quyết theo những trình tự tố tụng được quy định trong pháp luật Mặt khác, theo quy định hiện hành, tất cả các vụ việc được tiến hành tại Tòa án sẽ tuân theo một trong hai thủ tục: (i) thủ tục giải quyết vụ án dân sự và (ii) thủ tục giải quyết việc dân sự Vấn đề đặt ra ở đây, việc giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài sẽ mang bản chất của thủ tục nào khi được giải quyết tại Tòa án? Để giải quyết câu hỏi này, chúng ta phải tìm hiểu yêu cầu hủy phán quyết trọng tài được ghi nhận là một
vụ án dân sự hay việc dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam
Khái niệm việc dân sự được BLTTDS 2015 quy định tại Điều 361, theo đó việc dân sự là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân không có tranh chấp, nhưng có yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động Trong khi đó, BLTTDS 2015 lại không có quy định nào làm rõ khái niệm vụ án dân
sự là gì Tuy nhiên, với những đặc trưng riêng biệt, chúng ta có thể hiểu vụ án dân
sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các tranh chấp về dân sự, hôn nhân gia đinh, kinh doanh thương mại, lao động11
Các tranh chấp dân sự nói chung thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại Điều 26, 28, 30, 32 BLTTDS 2015, còn các yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại Điều 27, 29, 31, 33 BLTTDS 2015 Trong đó, những yêu cầu liên quan đến việc Trọng tài thương mại
11 Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2013), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, NXB Hồng Đức –
Hội Luật gia Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh, tr 18
Trang 21Việt Nam giải quyết các vụ tranh chấp theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại là những yêu cầu về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 2 Điều 31 BLTTDS 2015 Cụ thể hóa quy định tại khoản 2 Điều 31, BLTTDS 2015 đã liệt kê những việc dân sự liên quan đến hoạt động trọng tài thương mại Việt Nam thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án tại Điều 414 BLTTDS 2015, bao gồm: (i) Chỉ định, thay đổi trọng tài viên; (ii) Áp
dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời; (iii) Hủy phán quyết trọng tài; (iv) Giải quyết khiếu nại quyết định của Hội đồng trọng tài về thỏa thuận trọng
tài vô hiệu, thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được, thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; (v) Thu thập chứng cứ; (vi) Triệu tập người làm chứng; (vii) Đăng
ký phán quyết trọng tài; (viii) Các việc dân sự khác mà pháp luật về Trọng tài thương mại Việt Nam có quy định
So với Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 được sửa đổi bổ sung bởi Luật số 65/2011/QH12 ngày 29 tháng 3 năm 2011 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS 2011), BLTTDS 2015 đã có một sự điều chỉnh trong quy định liệt kê những việc dân sự liên quan đến hoạt động trọng tài thương mại Việt Nam thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, đó là thay thế thuật ngữ “hủy quyết định trọng tài” thành thuật ngữ “hủy phán quyết trọng tài”12 Đây là một sự sửa đổi rất cần thiết, giúp đảm bảo tính thống nhất giữa BLTTDS 2015 với Luật TTTM 2010 Cụ thể, theo khoản 9 và khoản 10 Điều 3 Luật TTTM 2010, thuật ngữ “quyết định trọng tài” có nội hàm rộng hơn so với thuật ngữ “phán quyết trọng tài”, bao gồm cả các quyết định khác của Hội đồng trọng tài trong quá trình giải quyết vụ án như quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, quyết định thu thập chứng cứ,… Do đó, việc BLTTDS 2011 quy định Tòa án có thẩm quyền “hủy quyết định trọng tài” có thể dẫn đến việc hiểu quy định này theo hướng Tòa án có thể hủy tất cả các quyết định mà Hội đồng trọng tài ban hành trong quá trình giải quyết tranh chấp và điều này rõ ràng là không hợp lý
Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận rằng, mặc dù có thể có sự không thống nhất trong cách dùng thuật ngữ nhưng về bản chất thì “quyết định trọng tài” trong
12 Theo quy định tại khoản 3 Điều 340 BLTTDS 2011 thì một trong những việc dân sự liên quan đến hoạt
động Trọng tài thương mại Việt Nam thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là “hủy quyết định trọng tài”
Trang 22BLTTDS 2011 chính là “phán quyết trọng tài” theo Luật TTTM 2010 Sở dĩ có sự không nhất quán như trên là vì quy định này của BLTTDS 2011 được kế thừa hoàn toàn từ BLTTDS 2004, ra đời trong giai đoạn Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm
2003 (Pháp lệnh TTTM 2003) vẫn đang có hiệu lực Trong khi đó, Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 không sử dụng thuật ngữ “phán quyết trọng tài” mà sử dụng thuật ngữ “quyết định trọng tài” để chỉ quyết định của Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp và chấm dứt tố tụng trọng tài (Điều 44 Pháp lệnh TTTM 2003) Do đó, trong Pháp lệnh TTTM 2003 chúng ta không có thủ tục “hủy phán quyết trọng tài”
mà chỉ có thủ tục “hủy quyết định trọng tài” quy định tại Chương VI của Pháp lệnh Chính vì thế, việc BLTTDS 2011 quy định thủ tục “hủy quyết định trọng tài” là hoàn toàn phù hợp với quy định của Pháp lệnh TTTM 2003 và không mâu thuẫn với thủ tục “hủy phán quyết trọng tài” được quy định tại Luật TTTM 2010 Dù vậy,
sự sửa đổi của BLTTDS 2015 vẫn là một sự điều chỉnh cần thiết và kịp thời, tránh những cách hiểu không đúng về quy định này
Từ những phân tích trên, có thể khẳng định yêu cầu hủy phán quyết trọng tài là một việc dân sự theo pháp luật Việt Nam Do đó, thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài sẽ mang bản chất của thủ tục giải quyết việc dân sự nói chung
Nghiên cứu so sánh với pháp luật các nước trên thế giới, có thể thấy rằng hầu như không có pháp luật nước nào quy định theo hướng xem yêu cầu hủy phán quyết trọng tài là một việc dân sự, tức là không tồn tại tranh chấp giữa các bên như Việt Nam Chẳng hạn:
- Pháp luật tố tụng dân sự Pháp cũng quy định tương tự như pháp luật tố
tụng dân sự Việt Nam đối với việc phân biệt “việc dân sự” và “vụ án dân sự” bởi
yếu tố có tranh chấp giữa các bên Tuy nhiên, khác với pháp luật nước ta xem yêu cầu hủy phán quyết trọng tài là một việc dân sự thì pháp luật tố tụng dân sự của Pháp xem yêu cầu này là một vụ án dân sự Bằng chứng là những quy định về trọng tài thương mại trong Bộ luật tố tụng dân sự của Pháp đã quy định yêu cầu hủy phán quyết trọng tài đối với trọng tài trong nước (Điều 1495) và trọng tài quốc tế (Điều 1527) đều được làm, nộp và xem xét theo các quy định về vụ án dân sự trước Tòa
án phúc thẩm quy định từ Điều 900 đến 930-1 của Bộ luật tố tụng dân sự Pháp Thực tiễn xét xử tại Tòa án Pháp cũng khẳng định yêu cầu hủy phán quyết trọng tài
Trang 23là một vụ án dân sự Ví dụ: Công ty M (Pháp) bán cafe cho công ty A (Thụy Sỹ) Tranh chấp giữa các bên được giải quyết theo hướng bất lợi cho công ty A Công ty
A đã yêu cầu Tòa phúc thẩm tại Rouen (Pháp) hủy phán quyết trọng tài nhưng Tòa phúc thẩm Rouen đã không chấp nhận yêu cầu của Công ty A nên Công ty A đã khiếu nại yêu cầu giám đốc thẩm Tòa dân sự Tòa án tối cao Pháp đã bác bỏ yêu cầu của Công ty A và còn nêu rõ “Yêu cầu hủy phán quyết trọng tài được làm, nộp và xem xét theo các quy định về vụ án dân sự trước tòa phúc thẩm”
- Theo Bộ luật tố tụng dân sự Nga 2002, yêu cầu hủy bỏ phán quyết trọng tài được quy định trong Chương XLVI Phần thứ sáu: “Thủ tục tố tụng đối với tranh chấp liên quan đến phán quyết trọng tài” Theo đó, yêu cầu hủy phán quyết trọng tài được xem là một tranh chấp liên quan đến phán quyết trọng tài (khoản 1 Điều 418)
và được xét xử theo thủ tục giải quyết một vụ án dân sự tại Tòa án cấp quận (Điều
420, Điều 422)
- Ở Đức, việc dân sự là những việc liên quan đến vấn đề gia đình, giám hộ hoặc lợi ích của cá nhân như đăng ký đất đai, kết hôn, di chúc… Đối với các việc dân sự không có tranh chấp, Tòa án đóng vai trò như một cơ quan đăng ký hành chính Nhà nước, không phải mở phiên tòa xét xử công khai Trong khi đó, yêu cầu hủy phán quyết trọng tài phải được làm thành đơn khởi kiện (khoản 1 Điều 1059), được xét xử công khai theo thủ tục tố tụng để các bên có thể trình bày ý kiến, quan điểm của mình trước khi Tòa án ra quyết định (Điều 1063) Như vậy, có thể thấy rằng pháp luật tố tụng dân sự Đức nhìn nhận yêu cầu hủy phán quyết trọng tài như một vụ án dân sự, tức là tồn tại tranh chấp giữa các bên
- Tại Hoa Kỳ, Luật trọng tài Liên bang quy định việc giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài được thực hiện giống như giải quyết một tranh chấp giữa các bên, khởi đầu bằng việc bên có yêu cầu hủy phán quyết trọng tài phải gửi đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài cho bên kia hoặc luật sư của họ trong thời hạn ba tháng kể từ ngày phán quyết trọng tài được ban hành hoặc ngày nhận được phán quyết trọng tài (Mục 12) Sau đó, dựa trên những tài liệu, chứng cứ mà các bên cung cấp, Tòa án sẽ quyết định hủy phán quyết trọng tài (Mục 10) hoặc công nhận hiệu lực của phán quyết (Mục 12) Quyết định hủy phán quyết trọng tài có thể bị kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm tại Tòa án cấp cao hơn (Mục 16)
Trang 24Qua quá trình nghiên cứu, tác giả nhận thấy rằng việc quy định yêu cầu hủy phán quyết trọng tài là một việc dân sự tồn tại một số bất cập cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn áp dụng như sau:
- Thứ nhất, có tranh chấp giữa các bên trong việc giải quyết yêu cầu hủy
phán quyết trọng tài
Với những khái niệm được nêu ở trên, có thể thấy để phát sinh một vụ án dân sự cần cần hội đủ các điều kiện sau đây: (i) phải có tranh chấp, tức là sự mâu thuẫn về lợi ích giữa các bên; (ii) phải có các bên đối kháng; (iii) phải có hành vi khởi kiện tại Tòa án; (iv) Tòa án có thẩm quyền đã thụ lý giải quyết Ngược lại, điều kiện để phát sinh một việc dân sự bao gồm: (i) phát sinh từ yêu cầu không có tranh chấp của người yêu cầu; (ii) chỉ có một bên chủ thể; (iii) phải có hành vi nộp đơn yêu cầu tại Tòa án; (iv) Tòa án có thẩm quyền đã thụ lý giải quyết
Từ đó, có thể thấy rằng yếu tố quan trọng nhất để phân biệt vụ án dân sự
và việc dân sự đó là việc có hay không tranh chấp giữa các bên Khác với vụ án
dân sự sẽ xuất hiện hai bên chủ thể có quyền lợi đối kháng nhau là nguyên đơn và bị đơn thì trong việc dân sự không có nguyên đơn, bị đơn mà chỉ có một bên yêu cầu Tòa án công nhận các quyền lợi Mặc dù trong một số việc dân sự cũng có thể có nhiều chủ thể nhưng điều cốt yếu là giữa họ sẽ không có sự tranh chấp, mâu thuẫn
có tranh chấp (iurisdictio contentiosa or contentious) và vụ việc không có tranh chấp (iurisdictio voluntaria or voluntary) phát sinh trong đời sống dân sự13 Trong
đó, thẩm quyền giải quyết vụ việc có tranh chấp được đặt ra để Tòa án giải quyết những mâu thuẫn về lợi ích theo pháp luật hoặc lợi ích cá nhân giữa các bên14
13 Elisabetta Silvestri (2013), “Non-Contentious Juricdiction in Italy”, nguồn: https://www.academia.edu/2510893/Non-Contentious_Jurisdiction_in_Italy, truy cập ngày 15/01/2016 14
Walter Neitzel (1908), “Non – Contentious Jurisdiction in Germany”, Havard Law Review, The Havard
Law Review Association, pp 476
Trang 25Ngược lại, thẩm quyền giải quyết vụ việc không có tranh chấp là sự can thiệp của
hệ thống tư pháp vào những sự việc không có tranh chấp giữa các bên và việc xét
xử đặt ra như là một phương thức để thực hiện những hoạt động hoặc giao dịch pháp lý15 Những loại việc này mang tính chất hành chính hơn là tư pháp, tuy nhiên
do quy định của pháp luật nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết thay vì cơ quan hành chính Nhà nước Tính chất hành chính thể hiện ở việc Tòa án không xem xét
về nội dung vụ việc mà chỉ xác nhận, công nhận những hiện trạng pháp lý đã và đang tồn tại16
Tuy nhiên, có thể thấy tương tự như cơ chế xét xử của Tòa án, trong phán quyết của Hội đồng trọng tài thông thường cũng sẽ tồn tại bên “thắng kiện” và bên
“thua kiện” Điều tất yếu ở đây là không ai muốn thua kiện, do đó bên bị bất lợi sẽ không muốn phán quyết trọng tài được thi hành trên thực tế và sẽ tìm cách lật ngược lại phán quyết trọng tài bằng việc yêu cầu hủy tại Tòa án Ngược lại, bên có lợi trong phán quyết trọng tài sẽ không muốn phán quyết trọng tài bị hủy vì sẽ xâm phạm đến quyền và lợi ích của họ Như vậy, khi yêu cầu hủy phán quyết trọng tài được đưa ra để Tòa án xem xét, sẽ có một bên muốn phán quyết trọng tài bị hủy và một bên muốn phán quyết trọng tài có hiệu lực thi hành Điều này rõ ràng cho thấy
có sự mâu thuẫn về quyền và lợi ích giữa các bên trong việc hủy hay không hủy phán quyết trọng tài của Tòa án, hay nói cách khác yêu cầu hủy phán quyết trọng tài
thỏa mãn yếu tố có tranh chấp của một vụ án dân sự
Ngay thực tiễn giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài tại Tòa án Việt Nam cũng có thể nhận thấy tồn tại yếu tố tranh chấp giữa các bên Chẳng hạn, trong một quyết định về hủy phán quyết trọng tài có nêu “căn cứ tài liệu do bên yêu cầu cung cấp (gồm 24 loại văn bản – có bút lục kèm theo); bản giải trình của bên yêu cầu công ty Chánh Đức (gồm 11 loại văn bản – có bút lục kèm theo), bản tự bảo vệ của công ty An Trung (gồm 10 loại văn bản – có bút lục kèm theo); Phán quyết trọng tài…”17 Ở đây, có thể thấy các bên có mâu thuẫn với nhau về việc phán quyết
15
James E.Pfander, Daniel D.Birk (2015), “The Averser-Party Requirement, and Non-Contentious
Jurisdiction”, The Yale Law Journal, pp 1403
16 Tống Công Cường (2007), Luật tố tụng dân sự Việt Nam – Nghiên cứu so sánh, NXB Đại học quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, tr 420
17 Quyết định số 1252/2014/KDTM-QĐ ngày 22/10/2014 “V/v Yêu cầu hủy phán quyết trọng tài” của Tòa
án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh
Trang 26trọng tài có bị hủy hay không và đã bảo vệ quyền lợi của mình thông qua việc cung cấp cho Tòa án những chứng cứ khác nhau Do đó, việc pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành coi yêu cầu hủy phán quyết trọng tài là một việc dân sự, tức là không có tranh chấp là trái với thực tế đời sống và cần có sự thay đổi
- Thứ hai, cần đảm bảo nguyên tắc tranh tụng cho các bên trong việc giải
quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài
Nguyên tắc tranh tụng là sự thể hiện rõ ràng nhất điểm khác biệt giữa thủ tục giải quyết vụ án dân sự với thủ tục giải quyết việc dân sự Bởi lẽ, xét xử vụ án dân sự thực chất là việc giải quyết xung đột hoặc liên quan đến quyền lợi của các đương sự Do đó, trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, các bên đương sự có quyền tranh luận, đối đáp với nhau, đấu tranh với nhau bằng các chứng cứ, lý lẽ, lập luận tại phiên tòa giữa các bên có quyền lợi đối lập nhau nhằm chứng minh những yêu cầu hoặc phản bác của mình đối với bên kia là xác đáng, có cơ sở và đúng pháp luật; ngược lại những yêu cầu hoặc phản bác của bên kia là không có căn cứ và không đúng pháp luật18 Ngược lại, đối với thủ tục giải quyết việc dân sự, xuất phát
từ bản chất không tồn tại sự tranh chấp giữa các bên nên không có việc xét xử mà chỉ là việc công nhận hay không công nhận giá trị pháp lý của Tòa án đối với một
sự kiện nào đó Do đó, trong thủ tục giải quyết việc dân sự, Tòa án chỉ nghe ý kiến của người yêu cầu và các bên có liên quan để ra quyết định chứ các bên không có quyền tranh luận về những vấn đề của vụ việc
Như đã phân tích ở trên, BLTTDS 2015 xác định yêu cầu hủy phán quyết trọng tài là một việc dân sự, hay nói cách khác không tồn tại yếu tố tranh chấp, do
đó quá trình giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài sẽ không có thủ tục tranh tụng giữa các bên Theo đó, Tòa án đóng vai trò giống như một cơ quan hành chính nhà nước chứ không phải là một cơ quan xét xử trong việc xem xét có chấp nhận hay không yêu cầu hủy phán quyết trọng tài của bên yêu cầu Tại phiên họp xét đơn yêu cầu, Tòa án chỉ căn cứ vào đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ kèm theo để ra phán quyết, các bên liên quan không có quyền đối đáp, tranh luận với nhau mà chỉ
có thể phát biểu ý kiến của mình về những vấn đề có liên quan đến quyền, nghĩa vụ
18 Bùi Thị Huyền (2011), Phiên tòa sơ thẩm dân sự - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Chính trị quốc
gia, Hà Nội, tr 67-68
Trang 27trong việc giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài Do đó, yếu tố tranh tụng không được thể hiện tại phiên họp giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài
Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy việc không tồn tại thủ tục tranh tụng cho các bên trong việc giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài rõ ràng là chưa hợp lý, xuất phát từ những nguyên nhân sau:
- Một là, trên thực tế về hủy phán quyết trọng tài, các bên thường rất căng thẳng để bảo vệ lợi ích của mình (một bên không muốn hủy để được thi hành và một bên muốn hủy để không phải thi hành) Do đó, tại phiên họp xét đơn yêu cầu, các bên luôn muốn trình bày quan điểm của mình về việc hủy hay không hủy phán quyết trọng tài, đồng thời bác bỏ yêu cầu của đối phương Chính vì thế, việc không tồn tại thủ tục tranh tụng trong phiên họp xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài
do được tiến hành theo thủ tục giải quyết việc dân sự vô hình trung đã hạn chế đi quyền bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của các bên
- Hai là, các căn cứ để hủy phán quyết trọng tài theo quy định của Luật TTTM 2010 là chưa rõ ràng và còn gây rất nhiều tranh cãi trong quá trình Tòa án giải quyết đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài19 Có những vụ việc tương tự nhưng các Tòa án lại hiểu và giải quyết hoàn toàn trái ngược nhau Chẳng hạn, đối với vấn đề người có quyền và nghĩa vụ liên quan tham gia vào tố tụng trọng tài, các Tòa án đã có hướng giải quyết khác nhau khi xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài Cụ thể, trong một quyết định giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, Tòa
án đã nhận định: hợp đồng số SHZJ/CTP-0501 ngày 5/10/2005 được ký kết giữa ba bên gồm: công ty Shanghai Zhong Jing IMP&EXP.Corp, công ty trách nhiệm hữu hạn Cường Thịnh Phát và công ty cho thuê tài chính II Nhưng khi giải quyết vụ kiện, Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam chỉ đưa nguyên đơn là công ty Shanghai Zhong Jing IMP&EXP.Corp và bị đơn là công ty cho thuê tài chính II mà không đưa công ty trách nhiệm hữu hạn Cường Thịnh Phát là một chủ thể tham gia quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bỏ sót người tham gia tố tụng, vi phạm nghiêm
19 Vấn đề căn cứ hủy phán quyết trọng tài, xem Đỗ Văn Đại, Trần Hoàng Hải (2011), Pháp luật Việt Nam về
Trọng tài thương mại, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 324 -351
Trang 28trọng thủ tục tố tụng20 Tuy nhiên, trong một quyết định khác, Tòa án lại nhận định rằng: công ty Hồng Chiến còn có yêu cầu hủy phán quyết trọng tài do việc Hội đồng trọng tài sử dụng thuật ngữ “người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”, Hội đồng xét đơn yêu cầu cho rằng: theo pháp luật hiện hành quy định tại Điều 68 Luật TTTM
2010 thì đây không phải là căn cứ để hủy quyết định trọng tài21 Từ đó cho thấy, việc cho phép các bên có thể tranh tụng tại phiên tòa, và xa hơn nữa là đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong việc cung cấp, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong quá trình giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài là điều vô cùng cần thiết, một mặt giúp Tòa án có cơ sở vững chắc hơn để ra phán quyết, một mặt bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên tranh chấp
- Ba là, thực tiễn xét xử chỉ ra rằng tại các phiên họp giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, Tòa án dường như cũng đã tạo điều kiện cho các bên tranh cãi, phản bác lập luận của nhau và trên thực tế các bên thường rất gay gắt tranh luận với nhau đối với các căn cứ hủy phán quyết trọng tài được đưa ra trong đơn yêu cầu Ví dụ: tại phiên họp giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, bên yêu cầu là Công ty cổ phần cao su Việt Phú Thịnh đã đưa ra ba căn cứ để yêu cầu Tòa án hủy phán quyết trọng tài Ngược lại, bên liên quan là Công ty Ningbo Janhike Industry Co., Ltd cũng đưa ra luận điểm để phản bác lại ba căn cứ mà bên yêu cầu đưa ra, đồng thời yêu cầu Tòa án không hủy phán quyết trọng tài22 Do đó, cần thiết phải hợp thức hóa việc tranh tụng giữa các bên trong quá trình giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài bằng cách thay đổi quy định của luật về bản chất của yêu cầu hủy phán quyết trọng tài
Bên cạnh đó, so sánh với pháp luật các nước trên thế giới, xuất phát từ việc pháp luật các nước hầu như đều xem yêu cầu hủy phán quyết trọng tài là vụ án dân
sự, có tồn tại sự tranh chấp giữa các bên, dẫn đến các bên luôn có quyền tranh luận với nhau trong quá trình Tòa án giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài để bảo
vệ cho quyền lợi hợp pháp của mình Một ví dụ là tranh chấp giữa hai công ty
20
Quyết định số 2611/2009/QĐST-KDTM ngày 10/9/2009 “V/v Yêu cầu hủy phán quyết trọng tài” của Tòa
án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh
21 Quyết định số 1655/2012/QĐST-KDTM ngày 15/11/2012 “V/v Yêu cầu hủy phán quyết trọng tài” của Tòa
án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh
22 Quyết định số 05/2012/QĐST-TTTM ngày 06/12/2012 “V/v Yêu cầu hủy phán quyết trọng tài” của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội
Trang 29Trung Quốc là Beijing Zhaowei Emlectric Ltd và Fenxi Mineral Bureau về hợp đồng mua bán hàng hóa Sau khi có phán quyết của trọng tài thì Fenxi có đơn yêu cầu Tòa án Trung Quốc hủy phán quyết trọng tài với lý do Hội đồng trọng tài không
có thẩm quyền giải quyết tranh chấp Zhaowei đã có phản bác trở lại đối với yêu cầu của Fenxi khi cho rằng tranh chấp về thẩm quyền đã được Hội đồng trọng tài giải quyết và xác nhận thẩm quyền của mình đối với tranh chấp Sau cùng, Tòa án
đã chấp nhận phản bác của Zhaowei và không chấp nhận yêu cầu hủy phán quyết trọng tài của Fenxi23 Hay như tranh chấp giữa Jnah và Marriott về yêu cầu hủy
phán quyết trọng tài tại Tòa án Pháp Tòa án Pháp đã ra quyết định về yêu cầu hủy phán quyết sau khi các bên đã tranh luận và phản bác yêu cầu của đối phương24
Như vậy, việc tranh luận, đối đáp về vấn đề hủy phán quyết trọng tài giữa các bên là một trong những căn cứ quan trọng để Tòa án các nước chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu hủy phán quyết trọng tài Đây là kinh nghiệm mà chúng ta nên học hỏi trong bối cảnh số lượng yêu cầu hủy phán quyết trọng tài ngày một tăng cao
Từ những phân tích ở trên, có thể thấy rằng việc quy định yêu cầu hủy phán quyết trọng tài nhƣ một việc dân sự là có bất cập và cần thiết phải có sự sửa đổi Vấn đề đặt ra ở đây là sửa đổi nhƣ thế nào?
Một số nhà nghiên cứu có quan điểm cho rằng cần phải bỏ quy định yêu cầu hủy phán quyết trọng tài một dạng của việc dân sự, thay vào đó phải coi đây là một dạng vụ án dân sự Tuy nhiên, liệu quy định theo cách nêu trên có thực sự hợp lý hay không? Liệu rằng có phải tất cả yêu cầu hủy phán quyết trọng tài đều mang tính chất của một vụ án dân sự hay không? Quan điểm cá nhân cho rằng, không hẳn mọi trường hợp yêu cầu hủy phán quyết trọng tài đều tồn tại tranh chấp giữa các bên, mà
có thể xảy ra trường hợp cả hai bên tranh chấp đều có mong muốn phán quyết trọng tài bị hủy vì một số lý do nào đó Do đó, nếu chúng ta quy định theo hướng tất cả yêu cầu hủy phán quyết trọng tài đều là vụ án dân sự, nghĩa là hễ có yêu cầu hủy phán quyết trọng tài thì sẽ tồn tại tranh chấp giữa các bên có liên quan sẽ không thật
Trang 30http://kluwerarbitrationblog.com/blog/2015/05/07/the-jnah-vs-marriott-case-the-never-ending-story-latest-Liên hệ với các quy định khác trong pháp luật tố tụng dân sự cho thấy BLTTDS 2015 có ghi nhận trường hợp tương tự như yêu cầu hủy phán quyết trọng tài là yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu Hai yêu cầu này đều hướng tới việc xác định tính có hiệu lực hay không của văn bản do cơ quan có thẩm quyền (không phải Tòa án) ban hành nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan Tuy nhiên, BLTTDS 2015 phân biệt hai trường hợp về yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu: (i) tranh chấp dân sự theo khoản 11 Điều 26 BLTTDS
2015 và (ii) yêu cầu về dân sự theo khoản 6 Điều 27 BLTTDS 2015 Để xác định yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu khi nào là vụ án dân sự và khi nào là việc dân sự, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã từng có hướng dẫn cụ thể tại Điều 4 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 2 năm 2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự như sau: (i) trường hợp người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người có quyền và lợi ích liên quan, cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật công chứng tranh chấp với nhau về việc tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu thì đây sẽ
là vụ án dân sự; (ii) trường hợp người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người
có quyền và lợi ích liên quan, cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật công chứng cho rằng việc công chứng có vi phạm pháp luật và cùng có yêu cầu Tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu thì đây là việc dân sự Như vậy, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cũng dựa vào tiêu chí “có tranh chấp” để phân biệt yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu là vụ án dân sự hay việc dân sự
Phân tích trên đã chỉ ra rằng, không phải lúc nào yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu cũng là vụ án dân sự, mà trong trường hợp các bên liên quan thỏa thuận được với nhau về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu thì đây là việc dân sự Áp dụng tương tự đối với yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, chúng ta thấy rằng hoàn toàn có thể xảy ra trường hợp các bên trong quan hệ tranh chấp, vì những lý do nhất định, đều mong muốn phán quyết trọng tài bị hủy và cùng nhau thỏa thuận yêu cầu Tòa án tuyên bố hủy phán quyết trọng tài Trong trường hợp này, rõ ràng là không tồn tại tranh chấp, mâu thuẫn giữa các bên trong việc Tòa án giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, do đó, không thể xác định
Trang 31đây là vụ án dân sự mà phải xác định là việc dân sự Tuy nhiên, thực tiễn xét xử vẫn chưa ghi nhận trường hợp nào hai bên tranh chấp cùng nhau thỏa thuận hủy bỏ phán quyết trọng tài Mặc dù vậy, với mục đích là dự đoán và điều chỉnh những tình huống, sự việc có thể xảy ra trong xã hội, tác giả cho rằng việc quy định hai bên tranh chấp có quyền thỏa thuận yêu cầu Tòa án hủy phán quyết trọng tài và đây là một yêu cầu giải quyết việc dân sự là điều hoàn toàn cần thiết và hợp lý
Từ những lập luận ở trên, quan điểm cá nhân cho rằng BLTTDS 2015 cần phải có những định hướng sửa đổi về bản chất của yêu cầu hủy phán quyết trọng tài theo hướng: (1) nếu yêu cầu hủy phán quyết trọng tài có tranh chấp thì là vụ án dân
sự (chỉ có một bên yêu cầu); và (2) nếu yêu cầu hủy phán quyết trọng tài không có tranh chấp thì sẽ là việc dân sự (các bên thỏa thuận cùng yêu cầu hủy phán quyết trọng tài)
1.4 Quy định điều chỉnh thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài
Như đã phân tích ở trên, theo pháp luật Việt Nam hiện hành, thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài sẽ mang bản chất của thủ tục giải quyết việc dân sự Vấn đề đặt ra ở đây, yêu cầu hủy phán quyết trọng tài sẽ được giải quyết theo những quy định chung về thủ tục giải quyết việc dân sự trong BLTTDS 2015 hay sẽ có những quy định riêng điều chỉnh?
Phạm vi áp dụng những quy định chung của thủ tục giải quyết việc dân sự
được BLTTDS 2015 ghi nhận tại Điều 361 như sau: “…Những quy định của Phần
này được áp dụng để giải quyết việc dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8,
9 và 10 Điều 27, các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 10 và 11 Điều 29, các khoản 1, 2, 3
và 6 Điều 31, các khoản 1, 2 và 5 Điều 33 của Bộ luật này Trường hợp Phần này không quy định thì áp dụng những quy định khác của Bộ luật này để giải quyết việc dân sự.” Nghĩa là, những quy định chung về thủ tục giải quyết việc dân sự và
những quy định khác về thủ tục giải quyết vụ án dân sự không trái với các quy định trên của BLTTDS 2015 đều được áp dụng cho giải quyết việc dân sự, trừ một số việc dân sự “đặc biệt” mà BLTTDS 2015 có quy định về thủ tục giải quyết riêng25
25 Vũ Thị Hồng Vân (2011), “Một số vướng mắc trong thực hiện thủ tục giải quyết việc dân sự”, Kiểm sát,
(10), tr 22-23
Trang 32Mặt khác, yêu cầu hủy phán quyết trọng tài là một yêu cầu liên quan đến việc Trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật
về Trọng tài thương mại được quy định tại khoản 2 Điều 31 và khoản 3 Điều 414 BLTTDS 2015 Do đó, căn cứ vào phạm vi áp dụng ở trên, khi giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, về nguyên tắc, Tòa án trước tiên phải tuân theo những quy định của BLTTDS 2015 về thủ tục giải quyết việc dân sự
Tuy nhiên, Điều 415 BLTTDS 2015 lại quy định: “Thủ tục giải quyết các
việc dân sự liên quan đến hoạt động của Trọng tài thương mại Việt Nam được thực hiện theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại Việt Nam.” Theo đó,
BLTTDS 2015 không trực tiếp điều chỉnh thủ tục giải quyết các việc dân sự liên quan đến hoạt động của Trọng tài thương mại Việt Nam mà dẫn chiếu sang pháp luật về Trọng tài thương mại Việt Nam Hay nói cách khác, yêu cầu hủy phán quyết trọng tài được giải quyết theo những trình tự, thủ tục riêng biệt quy định trong Luật TTTM 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành26
Tuy nhiên, với quy định như vậy,
một vấn đề đặt ra là liệu rằng khi giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, Tòa
án chỉ áp dụng những quy định trong Luật TTTM 2010, hay được phép áp dụng những quy định khác trong trường hợp Luật TTTM 2010 không quy định?
Đối chiếu với Luật TTTM 2010, thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài được quy định tại Chương XI (từ Điều 68 đến Điều 72 Luật TTTM 2010)
Cụ thể, Điều 68 quy định về “Căn cứ hủy phán quyết trọng tài”, Điều 69 quy định
về “Quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài”, Điều 70 quy định về “Đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài”, Điều 71 quy định về “Tòa án xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài”, Điều 72 quy định về “Lệ phí Tòa án liên quan đến Trọng tài” Nhìn chung, Luật TTTM 2010 đã quy định tương đối đầy đủ về thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài Tuy nhiên, vẫn còn có những vấn đề mà Luật TTTM 2010 chưa đề cập như cách thức gửi đơn yêu cầu cho Tòa án, những công việc Tòa án
26 Trong quá trình xây dựng Luật TTTM 2010, vấn đề áp dụng thủ tục giải quyết như thế nào đối với yêu cầu hủy phán quyết trọng tài cũng đã được đưa ra trao đổi và cũng có hai hướng quan điểm: hướng thứ nhất là áp dụng các quy định chung của BLTTDS; hướng thứ hai là theo quy định riêng của Luật TTTM 201026 Cuối cùng, Luật TTTM 2010 không theo quy định của BLTTDS vì lo ngại sẽ kéo dài thời gian, làm mất đi “tính nhanh chóng” của phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Và hệ quả là trong Luật TTTM 2010 đã
có một loạt các quy định riêng về thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài tại Chương XI (từ Điều
68 đến Điều 72 Luật TTTM 2010)
Trang 33phải thực hiện trong giai đoạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, hậu quả của việc Kiểm sát viên vắng mặt tại phiên họp xét đơn yêu cầu, trình tự phiên họp xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài…
Mặt khác, việc giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài phải được Tòa án tiến hành theo trình tự, thủ tục nhất định theo quy định của pháp luật Do đó, nếu như không có quy định điều chỉnh đối với các vấn đề về trình tự, thủ tục thì Tòa án không thể thực hiện được nhiệm vụ của mình Chính vì thế, quan điểm cá nhân cho rằng, khi Luật TTTM 2010 không có quy định cụ thể thì Tòa án có thể áp dụng những quy định khác để giải quyết, mà cụ thể ở đây là BLTTDS 2015 về thủ tục giải quyết việc dân sự Điều này xuất phát từ lý do, như đã phân tích ở trên, yêu cầu hủy phán quyết trọng tài mang bản chất là một việc dân sự theo pháp luật Việt Nam Tuy nhiên, phạm vi áp dụng và cách thức áp dụng như thế nào sẽ được tác giả phân tích cụ thể trong từng nội dung chi tiết của luận văn
Theo quy định hiện hành, thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài
sẽ được bắt đầu bằng việc bên yêu cầu gửi đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài cho Tòa án Sau khi nhận được đơn yêu cầu, Tòa án sẽ xem xét thụ lý yêu cầu hủy phán quyết trọng tài Trong trường hợp đơn yêu cầu được thụ lý, Tòa án tiếp tục tiến hành các công việc cần thiết để mở phiên họp xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài và ra quyết định hủy hay không hủy phán quyết trọng tài Những quy định cụ thể trong từng giai đoạn của thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài sẽ được tác giả phân tích tại các phần sau
Trang 34KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong Chương này, tác giả đã giúp người đọc có được cái nhìn tổng quan về những vấn đề chung của thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài theo pháp luật Việt Nam thông qua các vấn đề: (i) Khái niệm và thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài; (ii) Đối tượng của thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài; (iii) Bản chất pháp lý của thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài; (iv) Quy định điều chỉnh thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài theo pháp luật Việt Nam
Đối với từng vấn đề, tác giả đã trình bày và phân tích các quy định cụ thể của Luật Trọng tài thương mại năm 2010, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Đồng thời, trong quá trình phân tích từng vấn đề, tác giả cũng lồng ghép so sánh giữa các quy định của pháp luật hiện hành với các quy định trong pháp luật các thời kỳ trước, kết hợp với việc so sánh với pháp luật một số quốc gia trên thế giới và Công ước New York Qua đó, tác giả mong muốn người đọc hiểu rõ được các vấn đề cơ bản của thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài về mặt lý luận cũng như là quy định pháp luật hiện hành
Mặt khác, thông qua việc phân tích các vấn đề trong Chương 1, tác giả đã chỉ
ra một số vấn đề còn bất cập trong việc coi yêu cầu hủy phán quyết trọng tài là một việc dân sự, từ đó đưa ra kiến nghị sửa đổi bản chất pháp lý của yêu cầu hủy phán quyết trọng tài theo hướng: (1) nếu yêu cầu hủy phán quyết trọng tài có tranh chấp thì là vụ án dân sự và (2) nếu yêu cầu hủy phán quyết trọng tài không có tranh chấp thì sẽ là việc dân sự
Bên cạnh đó, các kết quả thu được trong Chương này sẽ là tiền đề để tác giả tiếp tục tìm hiểu và phân tích về các giai đoạn của thủ tục giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài trong các Chương sau của luận văn
Trang 35CHƯƠNG 2: YÊU CẦU VÀ THỤ LÝ YÊU CẦU HỦY PHÁN QUYẾT
TRỌNG TÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
2.1 Quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài
Quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp là một trong các nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng dân sự Việt Nam được quy định tại Điều 4 BLTTDS 2015 Theo đó, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án dân
sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án bảo
vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác Các nguyên tắc cơ bản của BLTTDS 2015 được coi là nền tảng pháp lý định hướng cho toàn bộ hoạt động
tố tụng dân sự nói chung27 và những hoạt động tố tụng liên quan đến lĩnh vực Trọng tài thương mại cũng không nằm ngoài phạm vi này Vì thế, trong hoạt động trọng tài, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan có quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình thông qua việc yêu cầu Tòa án giải quyết các yêu cầu tại Điều 414 BLTTDS 2015 như chỉ định, thay đổi trọng tài viên; áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời;… Trong đó, với việc có thể giúp cho các bên
“lật ngược thế cờ” thông qua việc hủy bỏ kết quả giải quyết tranh chấp của Hội đồng trọng tài, quyền yêu cầu Tòa án hủy phán quyết trọng tài đã trở thành một quyền cực kỳ quan trọng đối với các bên tranh chấp để bảo vệ cho quyền lợi của mình
Tiếp thu tinh thần của Công ước New York và Luật mẫu về Trọng tài thương mại quốc tế của Ủy ban Liên hợp quốc về Luật thương mại quốc tế năm 1985 (Luật mẫu về trọng tài), Luật TTTM 2010 cũng thừa nhận tính “chung thẩm” của phán quyết trọng tài, tuy nhiên vẫn quy định về quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài
Cụ thể, khoản 1 Điều 69 Luật TTTM 2010 cho phép một bên trong quan hệ tranh chấp được quyền làm đơn gửi Tòa án có thẩm quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài nếu có đủ căn cứ chứng minh được rằng Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết thuộc một trong các trường hợp hủy phán quyết trọng tài quy định tại khoản 2 Điều
27 Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2013), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, NXB Hồng Đức –
Hội Luật gia Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh, tr 24
Trang 3668 Luật TTTM 201028 Qua quy định trên của Luật TTTM 2010, chúng ta có thể thấy được hai điểm: (i) quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài chỉ thuộc về các bên tranh chấp; và (ii) các bên chỉ có thể thực hiện quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài nếu như có căn cứ chứng minh rằng Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết thuộc các trường hợp quy định tại Điều 68 Luật TTTM 2010
Việc quy định bên yêu cầu hủy phán quyết trọng tài phải có căn cứ chứng minh kèm theo là một sự thay đổi đáng kể trong Luật TTTM 2010 so với Pháp lệnh TTTM 2003 Cụ thể, trong Pháp lệnh TTTM 2003, các bên tranh chấp chỉ cần không đồng ý với quyết định trọng tài thì đã có quyền làm đơn gửi Tòa án có thẩm quyền yêu cầu hủy quyết định trọng tài (Điều 50 Pháp lệnh TTTM 2003) “Tuy nhiên, tranh chấp là vấn đề phức tạp, khi các bên không thể tự giải quyết được mới đưa ra trọng tài để giải quyết Do vậy, quyết định trọng tài khó có thể thỏa mãn cả hai bên Trong khi đó, theo Pháp lệnh TTTM 2003, chỉ cần điều kiện “không đồng ý với quyết định trọng tài” thì có quyền làm đơn yêu cầu hủy Điều này vô hình trung
đã khuyến khích các bên, đặc biệt là bên “thua kiện” trong quan hệ tranh chấp làm đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài với nhiều mục đích khác nhau, nhất là để kéo dài thời hạn thi hành quyết định trọng tài nhằm tẩu tán tài sản hoặc thực hiện những hành vi khác”29
Vì thế, Luật TTTM 2010 khi được ban hành đã quy định thêm điều kiện thực hiện quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài của các bên Theo đó, ngoài việc không đồng ý với phán quyết trọng tài, các bên muốn yêu cầu hủy phán quyết trọng
28
Khoản 2 Điều 68 Luật TTTM 2010: “Phán quyết trọng tài bị hủy nếu thuộc một trong các trường hợp sau
đây:
a) Không có thoả thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu;
b) Thành phần Hội đồng trọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài không phù hợp với thoả thuận của các bên hoặc trái với các quy định của Luật này;
c) Vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; trường hợp phán quyết trọng tài có nội dung không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài thì nội dung đó bị huỷ;
d) Chứng cứ do các bên cung cấp mà Hội đồng trọng tài căn cứ vào đó để ra phán quyết là giả mạo; Trọng tài viên nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của một bên tranh chấp làm ảnh hưởng đến tính khách quan, công bằng của phán quyết trọng tài;
đ) Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.”
29 Vũ Ánh Dương (2008),”Thực tiễn áp dụng Pháp lệnh trọng tài thương mại tại Trung tâm Trọng tài quốc tế
Việt Nam”, Khoa học pháp lý, (3(46)), tr 12
Trang 37tài còn phải có đủ căn cứ chứng minh rằng phán quyết trọng tài thuộc một trong các trường hợp hủy phán quyết trọng tài theo quy định của pháp luật Quy định này sẽ khiến cho các bên tranh chấp phải xem xét kỹ hơn những căn cứ hủy phán quyết trọng tài của mình trước khi yêu cầu Tòa án giải quyết Tuy nhiên, có một ngoại lệ
là đối với yêu cầu hủy phán quyết trọng tài vì lý do phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam (điểm đ khoản 2 Điều 68 Luật TTTM 2010), người yêu cầu sẽ không phải chứng minh mà trách nhiệm chứng minh thuộc
về Tòa án (khoản 3 Điều 68 Luật TTTM 2010) Do đó, trong trường hợp này, người yêu cầu không cần phải có căn cứ để chứng minh phán quyết trọng tài thuộc trường hợp bị hủy theo quy định của pháp luật
Một vấn đề đặt ra, trong Luật TTTM 2010, yêu cầu hủy phán quyết trọng tài được ghi nhận là một “quyền” của các bên tranh chấp Theo đó, trong một thời hạn nhất định, việc có yêu cầu hủy phán quyết trọng tài hay không sẽ do các bên tranh chấp tự mình quyết định và định đoạt mà không có một sự ngoại lệ nào Vấn đề đặt
ra là, liệu có nên giới hạn lại quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài của các bên tranh chấp Hay nói cách khác, các bên có quyền thỏa thuận với nhau để loại trừ quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài hay không?
Nghiên cứu so sánh với pháp luật của các quốc gia trên thế giới cho thấy rất nhiều hệ thống pháp luật có ghi nhận quyền thỏa thuận loại trừ yêu cầu hủy phán quyết trọng tài của các bên với những cách thức khác nhau Chẳng hạn, Điều 1522
Bộ luật tố tụng dân sự Pháp về trọng tài thương mại ghi nhận rằng các bên tranh chấp bằng một thỏa thuận riêng biệt có thể từ bỏ quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài của mình vào bất cứ lúc nào, trừ một số trường hợp30 Tại Thụy Sỹ, Điều
192 Luật trọng tài cho phép các bên được quyền từ bỏ quyền hủy phán quyết trọng tài, nếu như không có bên nào có nơi cư trú, thường trú hoặc trụ sở chính tại Thụy
Sỹ31 Quy định này cũng được áp dụng tương tự như tại Thụy Điển khi mà các bên tranh chấp nếu không có quốc tịch Thụy Điển có thể thỏa thuận từ bỏ các quyền của
30
Điều 1522 Bộ luật tố tụng dân sự Pháp cũng ghi nhận trong trường hợp các bên đã thỏa thuận từ bỏ quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài thì các bên vẫn có thể yêu cầu hủy phán quyết trọng tài đó nếu phán quyết
đó có nhu cầu thi hành tại Pháp
31 Xavier Favre-Bulle, Harold Frey and Daniel Durante (2015), “Switzerland in Arbitration in 60 jurisdictions
worldwide”, Arbitration in 60 jurisdictions worldwide, Law Business Research, pp 428
Trang 38mình liên quan đến vấn đề hủy phán quyết trọng tài32 Tại Bungari, không có quy định rõ ràng rằng các bên có thể từ bỏ quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, nhưng trên thực tế việc này được Tòa án cho phép với sự xem xét, nghiên cứu kỹ lưỡng33
Việc thỏa thuận loại trừ quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài còn được ghi nhận ở một số nước khác như Bỉ34
, Libang35, Qatar36
Có thể thấy rằng, việc cho phép các bên thỏa thuận loại bỏ quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài sẽ có những lợi ích sau: (i) thứ nhất, củng cố và gia tăng hơn nữa tính “chung thẩm” của phán quyết trọng tài - một trong những nguyên tắc giải quyết tranh chấp tại Trọng tài (khoản 5 Điều 4 Luật TTTM 2010), đồng thời giúp hạn chế số lượng phán quyết trọng tài bị hủy, từ đó nâng cao vị thế của Trọng tài thương mại ở Việt Nam; (ii) thứ hai, một trong những khác biệt lớn nhất giữa tố tụng trọng tài và tố tụng Tòa án là tính chất “tư” của tố tụng trọng tài Theo đó, trong tố tụng trọng tài, các bên tranh chấp có quyền chủ động hơn rất nhiều so với
tố tụng Tòa án trong việc lựa chọn địa điểm giải quyết tranh chấp, thời điểm giải quyết tranh chấp, chỉ định trọng tài viên hay lựa chọn ngôn ngữ khi giải quyết tranh chấp, Do vậy, việc cho phép các bên thỏa thuận từ bỏ quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài sẽ giúp cho sự “tự chủ” của các bên ngày càng tăng hơn, tạo nên sự
“thích thú” khi lựa chọn phương án giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại
Tuy nhiên, việc quy định việc thỏa thuận loại trừ quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài cho các bên tranh chấp sẽ dẫn đến hệ quả là phán quyết của trọng tài
sẽ là quyết định cuối cùng và không còn một cơ chế nào để “xem lại” Điều này cũng đem tới một số hạn chế và bất cập như: (i) thứ nhất, làm “vô hiệu hóa” các quy định của pháp luật trong quá trình Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp Hay nói
32 Simon Arvmyren (2015), “Sweden in Arbitration in 60 jurisdictions worldwide”, Arbitration in 60
jurisdictions worldwide, Law Business Research, pp 417
33 Lazar Tomov and Sylvia Steeva (2011), “Bulgaria in Arbitration in 55 jurisdictions worldwide”,
Arbitration in 55 jurisdictions worldwide, Law Business Research, pp 69
34
Johan Billiet (2015), “Belgium in Arbitration in 60 jurisdictions worldwide”, Arbitration in 60
jurisdictions worldwide, Law Business Research, pp 95
35 Chadia El Meouchi, Jihad Rizkallah and Sarah Fakhry (2011), “Lebanon in Arbitration in 55 jurisdictions
worldwide”, Arbitration in 55 jurisdictions worldwide, Law Business Research, pp 267
36 Jalal El Ahdab and Myriam Eid (2015), “Qatar in Arbitration in 60 jurisdictions worldwide”, Arbitration in
60 jurisdictions worldwide, Law Business Research, pp 354
Trang 39cách khác, Hội đồng trọng tài có thể giải quyết vụ việc không dựa vào những quy định pháp luật cụ thể mà có thể tự mình “làm luật” để ra phán quyết Trong trường hợp này, nếu các bên đã có thỏa thuận loại bỏ quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài thì sẽ không có một cơ chế nào giúp khắc phục những sai phạm trên; (ii) thứ hai, việc quy định như vậy có thể dẫn đến việc các bên tìm mọi cách để “mua chuộc” Hội đồng trọng tài, làm gia tăng những tiêu cực trong quá trình Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp
Quan điểm cá nhân cho rằng, trong bối cảnh cần khuyến khích nền trọng tài thương mại phát triển, với những mặt tích cực tạo ra, việc ghi nhận cho các bên được phép thỏa thuận từ bỏ quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài trong pháp luật Việt Nam là cần thiết và hợp lý Tuy nhiên, việc ghi nhận này cần phải đặt trong những điều kiện nhất định nhằm hạn chế những mặt tiêu cực mà nó đem lại Như đã
đề cập ở trên, hiện tại xu thế pháp luật các nước trên thế giới thường đặt ra hai điều kiện để các bên có thể thỏa thuận loại bỏ quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài là: (i) phán quyết trọng tài không có nhu cầu thi hành tại quốc gia đó; và (ii) không có bên tranh chấp nào có quốc tịch, nơi cư trú, trụ sở hoặc có tài sản tại quốc gia đó Quan điểm cá nhân cho rằng pháp luật Việt Nam chỉ nên quy định điều kiện phán quyết trọng tài không có nhu cầu thi hành tại Việt Nam để cho phép các bên tranh chấp thỏa thuận loại bỏ quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài vì những lý do sau:
- Một là, trong trường hợp phán quyết trọng tài có yêu cầu thi hành tại Việt Nam, nếu các bên thỏa thuận loại bỏ quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, đồng nghĩa với việc Tòa án Việt Nam sẽ không được quyền can thiệp để giám sát các hoạt động của Hội đồng trọng tài trong quá trình giải quyết tranh chấp Điều này rất nguy hiểm, có thể gây bất ổn trong xã hội nếu như Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp một cách tùy tiện, không tuân thủ các quy định của pháp luật, đặc biệt là
các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam
- Hai là, phán quyết trọng tài chỉ phát huy được hiệu lực của mình khi được thi hành tại một quốc gia nào đó Vì thế, việc giám sát thông qua chế định hủy phán quyết trọng tài chỉ cần thiết đặt ra đối với Tòa án quốc gia nơi phán quyết trọng tài được yêu cầu thi hành là đủ để hạn chế những tiêu cực mà thỏa thuận loại trừ quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài mang lại Hay nói cách khác, đối với những phán quyết trọng tài được ban hành trong khuôn khổ pháp luật trọng tài Việt
Trang 40Nam nhưng không có nhu cầu thi hành tại Việt Nam thì việc chúng ta can thiệp qua thủ tục hủy phán quyết trọng tài là không cần thiết mà nên để cho phán quyết này được Tòa án nước ngoài xem xét trên cơ sở công nhận và cho thi hành phán quyêt
của trọng tài nước ngoài
Bên cạnh đó, nhằm đảm bảo tính rõ ràng, minh bạch khi thỏa thuận, đồng thời tránh tình trạng tranh cãi giữa các bên về việc có tồn tại thỏa thuận hay không, việc thỏa thuận từ bỏ quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài phải được thể hiện bằng văn bản Các bên có thể ghi nhận việc từ bỏ quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài trong thỏa thuận trọng tài hoặc dưới hình thức một thỏa thuận riêng bằng
văn bản
Từ những phân tích trên, tác giả kiến nghị pháp luật Việt Nam cần ghi nhận việc các bên có thể thỏa thuận bằng văn bản từ bỏ quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài nếu như phán quyết trọng tài không có nhu cầu thi hành tại Việt Nam
Kiến nghị cụ thể: Bổ sung Điều 69 Luật TTTM 2010 như sau:
“Điều 69 Quyền yêu cầu hủy bỏ phán quyết trọng tài…
4 Các bên tranh chấp có quyền thỏa thuận bằng văn bản từ bỏ quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài nếu phán quyết trọng tài không có nhu cầu thi hành tại Việt Nam.”
2.2 Thời hiệu yêu cầu hủy phán quyết trọng tài
Thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định (khoản 1 Điều
149 Bộ luật dân sự 2015) Như vậy, có thể hiểu thời hiệu yêu cầu hủy phán quyết trọng tài là khoảng thời hạn mà pháp luật cho phép các bên được quyền yêu cầu Tòa
án hủy phán quyết trọng tài, nếu thời hạn này kết thúc thì sẽ mất quyền yêu cầu
Khoản 1 Điều 69 Luật TTTM 2010 ghi nhận thời hạn các bên được quyền yêu cầu Tòa án hủy phán quyết trọng tài là 30 ngày, kể từ ngày nhận được phán quyết Thời hạn này cũng đã được quy định tương tự trong Pháp lệnh TTTM 2003
tại Điều 50: “Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được quyết định trọng
tài, nếu có bên không đồng ý với quyết định trọng tài thì có quyền làm đơn gửi Tòa