1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản ở tòa án nhân dân

63 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Pháp luật về thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp ở Tòa án nhân dân quy định các cách thức chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp, hợp tác xã thông qua các thủ tục pháp lý khác

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC

GIẢI QUYẾT YÊU CẦU PHÁ SẢN

Ở TÒA ÁN NHÂN DÂN

Ngành: LUẬT KINH TẾ

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS BÀNH QUỐC TUẤN

Sinh viên thực hiện : NGUYỄN NGỌC MINH THƯ MSSV: 1411270392 Lớp: 14DLK10

TP Hồ Chí Minh, năm 2018

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Là một sinh viên, trải qua những ngày tháng được học tập và gắn bó với mái trường, với sự tận tâm nhiệt tình của Quý thầy cô trong thời gian qua, thật sự đã để lại trong tôi niềm cảm kích vô cùng Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn của mình đối với Quý thầy cô giảng viên trường Đại Học Công Nghệ Thành Phố Hồ Chí Minh đã tận tâm giảng dạy và truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu Bên cạnh

đó, tôi xin gửi lời cám ơn đến thầy BÀNH QUỐC TUẤN, người đã trực tiếp hướng

dẫn và tận tình góp ý, chỉnh sửa giúp tôi hoàn thành đề tài này

Ngoài ra, tôi nhận được sự hướng dẫn tận tình cùng với thái độ thân thiện của các cán bộ tại Tòa án nhân dân Quận 12 Nhờ đó mà tôi có thể tiếp cận các tình huống thực tế, có cơ hội áp dụng những kiến thức đã học để giải quyết từng trường hợp cụ thể và tích lũy những kinh nghiệm thực tế để áp dụng vào bài khóa luận Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ tại Tòa án nhân dân Quận 12 đã giúp đỡ tôi trong thời gian qua để tôi có thể hoàn thành bài khóa luận này

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 07 năm 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên NGUYỄN NGỌC MINH THƯ MSSV: 1411270392

Tôi xin cam đoan các số liệu, thông tin sử dụng trong bài khóa luận tốt nghiệp này được thu thập từ nguồn thực tế tại Đơn vị thực tập, trên các sách báo khoa học

chuyên ngành (có trích dẫn đầy đủ và theo đúng qui định);

Nội dung trong bài khóa luận này do kinh nghiệm của bản thân được rút ra từ quá

trình nghiên cứu và thực tế tại Tòa án nhân dân Quận 12, KHÔNG SAO CHÉP

từ các nguồn tài liệu khác

Nếu sai sót Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm theo quy định của Nhà Trường và Pháp luật

Sinh viên (ký tên, ghi đầy đủ họ tên)

Nguyễn Ngọc Minh Thư

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Kết cấu khóa luận 3

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP Ở TÒA ÁN NHÂN DÂN 4

1.1 Khái quát Luật Phá sản 4

1.2 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp ở Tòa án nhân dân 5

1.2.1 Khái niệm về thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp ở Tòa án nhân dân 5

1.2.2 Đặc điểm của thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản ở Tòa án nhân dân 7

1.2.3 Vai trò của quy định pháp luật về thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp ở Tòa án nhân dân 12

1.3 Kinh nghiệm của các quốc gia khác về thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp 15

1.3.1 Tình trạng mất khả năng thanh toán 15

1.3.2 Phân loại các nhóm pháp luật về thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản ở các nước trên thế giới 18

1.3.3 Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp ở các quốc gia trên thế giới 19

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 25

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY 26

2.1 Nội dung của pháp luật hiện hành về thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp 26

2.1.1 Thủ tục nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản 26

Trang 5

2.1.2 Hội nghị chủ nợ và thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh 37

2.1.3 Thủ tục tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản 43

2.1.4 Thi hành quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp 45

2.2 Thực trạng giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo Luật Phá sản doanh nghiệp Việt Nam 49

2.3 Một số đề xuất góp phần hoàn thiện pháp luật về thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp ở Tòa án nhân dân 52

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 55

KẾT LUẬN 56

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thị trường Việt Nam đang ngày càng phát triển và trở nên sôi động, thu nhập bình quân đầu người không ngừng nâng cao cùng với quy mô và đặc điểm dân số đông đúc đã khiến Việt Nam có mô ̣t sức hấp dẫn lớn đối với các doanh nghiệp bán lẻ trong và ngoài nước Do đó, hàng loạt các tập đoàn trên thế giới đang từng bước đổ bô ̣ vào Viê ̣t Nam tạo ra áp lực ca ̣nh tranh cho các doanh nghiệp Viê ̣t Nam ngay

ta ̣i sân nhà

Để giữ thị trường nội địa, các doanh nghiệp Việt Nam không có con đường nào khác ngoài việc nâng cấp dịch vụ, nâng cao vấn đề quản trị, nhân lực và công nghệ

và đặc biệt là không ngừng mở rộng quy mô hoạt động Nhưng với nguồn vốn nhỏ cùng với sự thiếu kinh nghiệm và nền công nghệ còn lạc hậu nên vấn đề mở rộng quy mô hoạt động thật sự trở thành một thách thức không nhỏ đối các doanh nghiệp trong nước

Vì vậy khi đứng trước bối cảnh đó, để có đủ sức cạnh tranh và đứng vững trên thị trường nội địa và hướng ra thị trường quốc tế, các doanh nghiệp ta ̣i Việt Nam cần thiết phải có sự điều chỉnh và đầu tư cho công tác mở rộng mạng lưới kinh doanh trong tương lai Nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng sẽ đủ sức cạnh tranh trên thị trường đầy biến đổi như hiện tại Do đó, trên thực tế đã có rất nhiều doanh nghiệp yếu kém và không có chiến lược đúng đắn trong quá trình sản xuất, kinh doanh hàng hóa dẫn đến phá sản

Luật Phá sản ra đời nhằm mục đích điều chỉnh mối quan hệ giữa Thành lập và Phá sản Pháp luật về thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp ở Tòa án nhân dân quy định các cách thức chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp, hợp tác xã thông qua các thủ tục pháp lý khác nhau

Mục tiêu của Luật Phá sản nhằm hạn chế tối thiểu những hậu quả do phá sản gây

ra, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia quan hệ kinh tế trước những rủi ro trong kinh doanh, qua đó góp phần ổn định trật tự đời sống xã hội

Là một sinh viên chuyên ngành Luật Kinh tế, tôi chọn đề tài này vì tôi có thể vận dụng những kiến thức chuyên ngành để nghiên cứu sâu vào lĩnh vực tôi muốn học hỏi và tìm tòi những cái mới để giúp ích cho mục đích học tập và làm việc của tôi

2 Tình hình nghiên cứu

Có thể nói không ai có thể phủ nhận vai trò của các doanh nghiệp, hợp tác xã đang đóng góp một phần rất lớn vào nền kinh tế nước nhà Hiện tượng phá sản

Trang 7

doanh nghiệp, hợp tác xã có cả những mặt tích cực và tiêu cực Trong thời gian qua

đã có các công trình nghiên cứu về đề tài phá sản đã được thực hiện, gồm:

- Công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Thực trạng pháp luật về phá sản và hoàn thiện môi trường pháp luật kinh doanh tại Việt Nam” của Bộ Tư pháp bảo vệ năm 2009

- Công trình nghiên cứu của PGS.TS Dương Đăng Huệ (2005), Pháp luật phá sản của Việt Nam, Nhà xuất bản Tư pháp

- Luận văn thạc sĩ Luật học TPHCM năm 2000 của Bùi Xuân Hải về “Hoàn thiện pháp luật phá sản”

- Hoàng Thị Thu Hằng, Nguyễn Thị Thu hương: Chủ thể có quyền và nghĩa

vụ yêu cầu giải quyết phá sản theo Luật Phá sản 2004 (công trình dự thi nghiên cứu khoa học của sinh viên cấp trường lần thứ XI năm 2005)

- Luận văn tốt nghiệp cử nhân Luật TPHCM năm 2002 của Nguyễn Ngọc Hoài: Các nguyên tắc trong việc giải quyết tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo Luật Phá sản doanh nghiệp

- Luận án tiến sĩ “Hoàn thiện các quy định liên quan đến quản lý và thanh lý tài sản phá sản” của Nguyễn Thị Hồng Vân, được bảo vệ thành công tại khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội năm 2008

- Luận văn thạc sĩ Luật học “Bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản”, được bảo vệ thành công tại Đại học Luật TPHCM năm 2007, … Như vậy, có thể thấy hiện nay có khá ít công trình nghiên cứu liên quan đến thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp ở Tòa án nhân dân áp dụng Luật Phá sản 2014

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trong đối tượng nghiên cứu báo cáo này, tâ ̣p trung phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về cơ sở lý luận nằm trong Luật Phá sản 2014:

- Nghiên cứu khái niệm, đặc điểm, vai trò của việc xác định thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản ở Tòa án nhân dân;

- Nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về các giai đoạn tiến hành thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã từ đó nêu lên thực trạng và một số

đề xuất góp phần hoàn thiện pháp luật về thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản ở Tòa

án nhân dân

Trang 8

Phạm vi nghiên cứu là các vấn đề liên quan đến pháp luật về thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản ở Tòa án nhân dân bao gồm mặt lý luận về khái niệm, đặc điểm, vai trò và kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới để so sánh với pháp luật ở Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, bài khóa luận đã sử du ̣ng những phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp phân tích: phân tích những quy định của pháp luật về thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản ở Tòa án nhân dân từ đây đưa ra những đánh giá khách quan về tính khoa học và khả năng áp dụng vào thực tiễn;

- Phương pháp so sánh: vận dụng trong việc so sánh giữa pháp luật về phá sản của các quốc gia trên thế giới với pháp luật ở Việt Nam;

- Phương pháp dẫn chứng: dẫn chứng đến những văn bản quy phạm pháp luật

có liên quan đến đề tài nghiên cứu nhằm thể hiện rõ hơn những nội dung tác giả muốn phân tích;

- Phương pháp tổng hợp: rút ra những kết luận chung trong quá trình nghiên cứu đề tài và đưa ra những đề xuất góp phần hoàn thiện pháp luật về thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản ở Tòa án nhân dân

5 Kết cấu khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của khóa

luận gồm 02 chương:

- Chương 1: Một số vấn đề về thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp

ở Tòa án nhân dân;

- Chương 2: Thực trạng pháp luật về thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay

Trang 9

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU PHÁ SẢN

DOANH NGHIỆP Ở TÒA ÁN NHÂN DÂN 1.1 Khái quát Luật Phá sản

Luật Phá sản là luật về thủ tục phục hồi hoặc thanh lý nợ của doanh nghiệp và là tổng thể các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành, điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã

Luật Phá sản điều chỉnh 2 nhóm quan hệ:

- Quan hệ chủ nợ và con nợ;

- Quan hệ tố tụng giữa đương sự và cơ quan có thẩm quyền

Giới thiệu Luật Phá sản 2014:

- Thay thế Luật Phá sản 2004;

- Ban hành ngày 19/06/2014;

- Có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2015;

- Bố cục: gồm 14 chương và 133 điều

Phạm vi điều chỉnh của Luật Phá sản 2014

Luật này quy định về trình tự, thủ tục nộp đơn, thụ lý và mở thủ tục phá sản; xác định nghĩa vụ về tài sản và biện pháp bảo toàn tài sản trong quá trình giải quyết phá sản; thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh; tuyên bố phá sản và thi hành tuyên bố phá sản1

Nếu như Luật Phá sản 2004 quy định hiệu lực của Luật Phá sản áp dụng “khi giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” thì Luật Phá sản 2014 đã thu hẹp phạm vi áp dụng chỉ đối với “doanh nghiệp, hợp tác xã được thành lập trên lãnh thổ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Quy định này rõ ràng mang tính thực tế và khả năng áp dụng cao hơn so với quy định cũ Bởi lẽ hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, bao gồm cả các doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp nước ngoài có hoặc không có trụ sở đặt tại Việt Nam Vì vậy, đối với các doanh nghiệp nước ngoài mà không có trụ sở, không có tài sản mà chỉ có một số hoạt động tại Việt Nam, khi mất khả năng thanh toán thì không thể áp dụng Luật Phá sản của Việt Nam để giải quyết

1 Xem Điều 1 Luật Phá sản 2014

Trang 10

Đối tượng áp dụng và hiệu lực của Luật Phá sản 2014

Luật Phá sản được áp dụng khi giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác

xã được thành lập trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật Phá sản 2014 thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.2

Nội dung của Luật Phá sản 2014

Được ghi nhận trong các văn bản luật và các văn bản hướng dẫn thi hành Trong

đó quan trọng nhất là Luật Phá sản 2014 với 14 chương và 133 điều

1.2 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp ở Tòa án nhân dân

1.2.1 Khái niệm về thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp ở Tòa án nhân dân

Trong tiếng Việt, thủ tục là những việc cụ thể phải làm theo một trật tự quy định,

để tiến hành một công việc có tính chất chính thức3 Ngoài ra, thủ tục còn được hiểu

là phương thức hay cách thức giải quyết công việc theo một trình tự nhất định4 Hoạt động của Nhà nước diễn ra theo ba hoạt động chính đó là lập pháp, hành pháp và tư pháp thì tương ứng là ba loại thủ tục lập pháp, thủ tục hành chính và thủ tục tư pháp Trong đó, thủ tục lập pháp là thủ tục xây dựng và ban hành Hiến pháp, luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác được áp dụng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Thủ tục lập pháp do Quốc hội tiến hành Thủ tục hành chính là thủ tục giải quyết các công việc mang tính chấp hành và điều hành, áp dụng trong các mối quan hệ giữa tổ chức với cá nhân, tổ chức với tổ chức và giữa các cá nhân với nhau trong đời sống xã hội Thủ tục hành chính do các cơ quan hành chính Nhà nước tiến hành Thủ tục tư pháp là thủ tục xử lý những hành vi vi phạm pháp luật và giải quyết xung đột giữa các cá nhân; là thủ tục xét xử các vụ án dân sự, hình sự, hành chính, do Tòa án tiến hành nhằm đảm bảo cho pháp luật được thực hiện và bảo vệ luật pháp

Như vậy, thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp là một thủ tục tư pháp,

là trình tự các bước tiến hành giải quyết việc phá sản theo quy định của pháp luật

2 Xem Điều 3 Luật Phá sản 2014

3 Hoàng Phê (2010) Từ điển tiếng Việt, Trung tâm Từ điển học, Nxb Đà Nẵng, tr 1234

4 Nguyễn Văn Thâm, Võ Kim Sơn (2002) Thủ tục hành chính, lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội, tr 11.

Trang 11

Khái quát trình tự thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp ở

Tòa án nhân dân

Giai đoạn nộp đơn: chủ nợ không có đảm bảo hoặc có đảm bảo một phần; người

lao động hoặc công đoàn cơ sở; cổ đông hoặc nhóm cổ đông; thành viên của hợp tác

xã hoặc người đại diện theo pháp luật của hợp tác xã; người đại diện theo pháp luật

của doanh nghiệp; chủ doanh nghiệp tư nhân, Chủ tịch Hội đồng quản trị của công

ty cổ phần, Chủ tịch hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành

viên trở lên, thành viên hợp danh của công ty hợp danh gửi đơn yêu cầu mở thủ tục

phá sản tới Tòa án nơi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán có trụ sở chính

Trong một thời hạn luật định, Tòa án nhân dân để các bên thương lượng việc rút

đơn Nếu các bên thương lượng không thành hoặc hết thời hạn, Tòa án sẽ thụ lý đơn

và yêu người nộp đơn nộp lệ phí phá sản và tạm ứng chi phí phá sản

Giai đoạn thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản: sau khi nhận được biên lai nộp

lệ phí phá sản, biên lai nộp tạm ứng chi phí phá sản, Tòa án nhân dân thụ lý đơn yêu

cầu mở thủ tục phá sản Tòa án thông báo bằng văn bản cho người nộp đơn và các

bên có liên quan về việc thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Sau khi thụ lý đơn

yêu cầu mở thủ tục phá sản, Tòa án đưa ra một trong hai quyết định sau:

- Một là, tạm đình chỉ giải quyết yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả

năng thanh toán thực hiện nghĩa vụ về tài sản

- Hai là, quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản

Giai đoạn mở hoặc không mở thủ tục phá sản: khi xét thấy doanh nghiệp, hợp tác

xã không mất khả năng thanh toán thì Tòa án ra quyết định không mở thủ tục phá

sản Ngược lại, nếu xét thấy đủ căn cứ chứng minh doanh nghiệp, hợp tác xã mất

khả năng thanh toán nợ đến hạn, Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục phá sản đối

với doanh nghiệp, hợp tác xã đó

Giai đoạn triệu tập Hội nghị chủ nợ: trong thời hạn do pháp luật quy định, Thẩm

phán triệu tập các chủ nợ và chủ trì hội nghị để thảo luận và quyết định các vấn đề

liên quan đến việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp

Hội nghị chủ nợ nếu không đáp ứng đủ các điều kiện hợp lệ theo pháp luật quy

định thì Thẩm phán ra quyết định hoãn Hội nghị chủ nợ Trong thời hạn theo luật

định, Thẩm phán triệu tập lại Hội nghị chủ nợ, nếu vẫn không đáp ứng được điều

kiện hợp lệ thì Thẩm phán lập biên bản và quyết định tuyên bố phá sản Khi đáp ứng đủ các điều kiện theo luật định thì Hội nghị chủ nợ được tiến hành

và đưa ra Nghị quyết trong đó có một trong đề nghị sau:

Trang 12

- Đình chỉ giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản nếu thuộc trường hợp luật định;

- Áp dụng biện pháp phục hồi hoạt động kinh doanh đối với doanh nghiệp, hợp tác xã;

- Tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã

Nếu Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ đưa ra đề nghị áp dụng biện pháp phục hồi hoạt động kinh doanh được thông qua, thì doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản được thực hiện phương án phục hồi đã được Hội nghị chủ nợ thông qua dưới sự giám sát của Tòa án và đại diện chủ nợ

Khi doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản áp dụng thành công phương án phục hồi hoạt động kinh doanh thì Thẩm phán ra quyết định đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh, đồng thời ra thông báo bằng văn bản về việc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan

Ngược lại, khi doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện được phương án phục hồi hoạt động kinh doanh hoặc hết thời hạn thực hiện, thì Thẩm phán ra quyết định đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh và sau đó ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản

Tòa án tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản:

- Tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản theo thủ tục rút gọn khi thuộc các trường hợp theo pháp luật quy định;

- Quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản khi Hội nghị chủ nợ không thành;

- Quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản sau khi có Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ

Tòa án gửi và thông báo quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã đến các bên liên quan và xử lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã theo luật định

1.2.2 Đặc điểm của thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản ở Tòa án nhân dân

Một là, đối tượng bị tuyên bố phá sản là doanh nghiệp, hợp tác xã

Việc áp dụng thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản đối với chủ thể nào phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội của mỗi nước Hiện nay trên thế giới có 3 xu hướng chính, đó là:

Trang 13

- Thứ nhất: Tất cả các cá nhân, bất luận là nhà kinh doanh (thương nhân) hay không là nhà kinh doanh nếu không thanh toán được nợ đến hạn đề có thể bị tuyên

bố phá sản (Úc, Mỹ, …)

- Thứ hai: Chỉ có nhà kinh doanh (doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh) mới

có thể bị tuyên bố phá sản (Cộng hòa Liên bang Nga)

- Thứ ba: Chỉ có doanh nghiệp mới chịu sự chi phối của Luật Phá sản (Việt Nam, Trung Quốc, …)

Xuất phát từ điều kiện, hoàn cảnh thực tế của nền kinh tế - xã hội của Việt Nam, Luật Phá sản 2014 áp dụng đối với doanh nghiệp và hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã (gọi chung là hợp tác xã) được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật5 Theo điều luật này thì không mở rộng phạm vi điều chỉnh đến các cá nhân và hộ gia đình, và chỉ áp dụng cho doanh nghiệp, hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã Đây được xem là điểm đặc thù của pháp luật phá sản Việt Nam so với pháp luật của các nước trên thế giới Sở dĩ như vậy là vì trong điều kiện kinh tế - hiện tại, với sự quản

lý của Nhà nước, chúng ta chưa thể kiểm soát nổi hoạt động sản xuất kinh doanh của các cá nhân Sẽ rất khó để xác định thua lỗ trong sản xuất kinh doanh hay thua

lỗ do những hành vi tham ô, chiếm đoạt, lợi dụng danh nghĩa kinh doanh để thực hiện hành vi trái pháp luật Hơn nữa, các đối tượng này phần lớn kinh doanh theo kiểu gia đình, không có sổ sách chứng từ, không tuân thủ chế độ kế toán, thống kê Ngay đối với các công ty, doanh nghiệp Nhà nước, đôi khi cơ quan kiểm toán cũng không thể kiểm soát Thêm vào đó, chúng ta chưa có quy định và cũng chưa có khả năng phân định rõ ràng tài sản đưa vào kinh doanh với tài sản sinh hoạt tiêu dùng cá nhân của nhóm kinh doanh và gia đình họ Trách nhiệm của cá nhân, của nhóm kinh doanh là trách nhiệm vô hạn Nếu chúng ta mở rộng phạm vi áp dụng đối với đối tượng này thì Luật sẽ không còn hiệu lực, hay chỉ còn là hình thức, hoặc sẽ bị lợi dụng và gây không ít khó khăn không thể khắc phục được khi tiến hành tuyên bố phá sản

Hai là, cơ quan tiến hành tố tụng là Tòa án

Khoản 1 Điều 8 Luật Phá sản 2014 quy định Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký doanh nghiệp, hợp tác xã đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký hợp tác xã tại tỉnh đó và thuộc một trong các trường hợp sau:

- Vụ việc phá sản có tài sản ở nước ngoài hoặc người tham gia thủ tục phá sản

ở nước ngoài;

5 Xem Điều 2 Luật Phá sản 2014

Trang 14

- Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán có chi nhánh, văn phòng đại diện ở nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh khác nhau;

- Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán có bất động sản ở nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh khác nhau;

- Vụ việc phá sản thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Tòa án nhân dân cấp huyện) mà Tòa án nhân dân cấp tỉnh lấy lên để giải quyết do tính chất phức tạp của vụ việc

Khoản 2 Điều 8 Luật Phá sản 2014 quy định Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã có trụ sở chính tại huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đó và không thuộc trường hợp quy định tại khoản

1 Điều này

Có thể thấy, điều luật trên được quy định theo hướng loại trừ, tức là Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết phá sản đối với những vụ việc mang tính đặc biệt như là có yếu tố nước ngoài, có địa điểm ở nhiều quận huyện khác nhau, hoặc

do tính chất phức tạp mà Tòa án cấp tỉnh lấy lên giải quyết thì còn lại Tòa án cấp huyện giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp có trụ sở chính tại quận, huyện, thị

xã Điều 10 Luật Phá sản 2014 cũng quy định về những trường hợp Thẩm phán phải

từ chối hoặc bị thay đổi trong qua trình giải quyết phá sản để đảm bảo tính khách quan

Tòa án nhân dân có vị trí trung tâm trong quá trình giải quyết thủ tục tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã Địa vị pháp lý của Tòa án được quy định chi tiết

về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán tiến hành thủ tục phá sản tại Điều 9 Luật Phá sản 2014 gồm 16 khoản

Trong mối quan hệ với các chủ nợ, vị trí trung tâm của Tòa án – cụ thể là Thẩm phán hay tổ Thẩm phán được thể hiện qua việc Thẩm phán là người chịu trách nhiệm giải quyết khiếu nại về danh sách chủ nợ, triệu tập và chủ trì Hội nghị chủ

nợ, kiểm tra sự có mặt của các chủ nợ và xem xét tính hợp lệ của Hội nghị chủ nợ Đồng thời ra quyết định công nhận Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ; nếu phương án phục hồi hoạt động kinh doanh được thông qua thì Thẩm phán cũng là người xem xét, báo cáo về tiến độ của doanh nghiệp, hộp tác xã thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh Cuối cùng trong quá trình tiến hành phá sản, Thẩm phán còn

ra quyết định đình chỉ thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực theo yêu cầu của các chủ nợ để bảo toàn tài sản của con nợ

Trong mối quan hệ với các con nợ, vị trí trung tâm của Tòa án được thể hiện qua việc xem xét đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với con nợ, ra quyết định mở hoặc

Trang 15

không mở thủ tục phá sản đó Nếu quyết định của Tòa án là mở thủ tục phá sản thì Tòa án có các trách nhiệm như giám sát các hoạt động của con nợ để ra các quyết định cần thiết, chỉ định đại diện của con nợ tham gia Hội nghị chủ nợ khi không có đại diện hợp pháp của con nợ tham gia, xem xét phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của con nợ và trình Hội nghị chủ nợ thông qua, giải quyết khiếu nại của con

nợ về Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ

Trong mối quan hệ với Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, vị trí trung tâm của Tòa án được thể hiện qua việc Tòa án có quyền chỉ định hoặc thay đổi Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản Bên cạnh đó Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có trách nhiệm báo cáo về tình trạng tài sản, công nợ và hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã, tham gia xây dựng kế hoạch phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán đồng thời đề nghị Thẩm phán tiến hành các công việc như thu thập tài liệu, chứng cứ; tuyên bố giao dịch vô hiệu và quyết định thu hồi tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã bị bán hoặc chuyển giao bất hợp pháp; áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời; áp dụng biện pháp xử phạt hành chính; chuyển hồ sơ sang cơ quan có thẩm quyền xử lý về hình sự theo quy định của pháp luật6

Trong mối quan hệ với Viện Kiểm sát, Viện Kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các chủ thể trong quá trình giải quyết phá sản Tòa án

có trách nhiệm cung cấp thông tin cho Viện Kiểm sát cùng cấp trong những trường hợp cần thiết Viện Kiểm sát có quyền kháng nghị các quyết định của Tòa án trong quá trình giải quyết phá sản và xem xét việc khởi tố hình sự khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm

Như vậy, vị trí trung tâm của Tòa án nhân dân trong mối quan hệ với các chủ thể giúp mọi hoạt động trong quá trình tố tụng được diễn ra một cách thống nhất và đạt hiệu quả

Ba là, thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp là một thủ tục tố tụng đặc biệt

So với việc giải quyết một vụ kiện về kinh tế (tố tụng kinh tế) hay một vụ kiện về dân sự (tố tụng dân sự) thì thủ tục giải quyết một yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp (tố tụng phá sản) được tiến hành theo một hệ thống văn bản pháp luật riêng biệt quy định về trình tự và thủ tục từng bước thực hiện Do đó thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp được xem là một thủ tục tố tụng đặc biệt Tính chất đặc biệt được thể hiện qua những điểm sau đây:

6 Xem Điều 16 Luật Phá sản 2014

Trang 16

- Thứ nhất, thủ tục phá sản là một thủ tục đòi nợ tập thể Nếu như trong tố tụng dân sự và tố tụng kinh tế, việc đòi nợ chỉ diễn ra giữa con nợ và chủ nợ thì trong tố tụng phá sản, việc đòi nợ diễn ra đồng thời giữa các chủ nợ và con nợ Ví

dụ khi giao kết hợp đồng mà bên A vi phạm hợp đồng gây ảnh hưởng đến quyền lợi của bên B thì bên B có quyền làm đơn kiện ra Tòa về phần thiệt hại mà mình đã chịu Trường hợp bên A ký thêm một hợp đồng với bên C và cũng gây thiệt hại cho bên C thì bên C làm đơn kiện nhờ Tòa án can thiệp Phần thiệt hại của B và C là độc lập với nhau, nói nôm na là nợ ai người ấy đòi và không có mối liên hệ với nhau Ngược lại, trong tố tụng phá sản đối với các chủ nợ thì việc đòi nợ và được thanh toán nợ diễn ra một cách tập thể Điều đó thể hiện rõ qua các quy định của Luật Phá sản 2014 và đặc biệt là quy định về Hội nghị chủ nợ Hội nghị chủ nợ là đại diện cho tất cả các chủ nợ khi tham gia vào thủ tục phá sản

- Thứ hai, việc đòi và thanh toán nợ giữa chủ nợ và con nợ được tiến hành thông qua Tòa án Chủ nợ không trực tiếp đòi nợ và con nợ cũng không trực tiếp thanh toán cho các chủ nợ mà Tòa án chính là đại diện trung gian7 Quá trình thực hiện phải tuân theo trình tự thủ tục do pháp luật quy định mà cụ thể ở đây là Luật Phá sản 2014 Khi kết thúc thủ tục này, doanh nghiệp mắc nợ có thể tồn tại hoặc có thể không còn tồn tại nữa tùy vào doanh nghiệp đó có bị tuyên bố phá sản hay không

- Thứ ba, việc thanh toán nợ dựa trên số tài sản còn lại của doanh nghiệp Khi

bị áp dụng thủ tục thanh lý thì toàn bộ tài sản còn lại của con nợ được đưa vào quỹ chung để thanh toán cho các chủ nợ Việc phân chia tài sản phải tuân theo quy định của pháp luật về thứ tự ưu tiên Nếu tài sản của con nợ không đủ để trả toàn bộ số

nợ thì các chủ nợ sẽ được trả theo tỉ lệ phần trăm của các khoản nợ

- Thứ tư, thủ tục phá sản được xem như là biện pháp cuối cùng trong quá trình đòi nợ Thông thường, đối với tố tụng dân sự hoặc tố tụng kinh tế thì chủ nợ có thể đòi nợ bất cứ lúc nào thông qua việc nộp đơn kiện cho Tòa án thì trong tố tụng phá sản, chỉ khi doanh nghiệp mắc nợ lâm vào tình trạng phá sản (tình hình tài chính của doanh nghiệp đang rất khó khăn và không thể thanh toán các khoản nợ đến hạn) thì các chủ nợ mới có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án mở thủ tục phá sản Nói một cách

dễ hiểu thủ tục phá sản chỉ được áp dụng khi thông qua các cách đòi nợ thông thường, chủ nợ vẫn không đòi được nợ

7 Tài liệu học tập Pháp luật về phá sản, giải thể và giải quyết tranh chấp trong kinh doanh trường Đại học

Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, tr.05

Trang 17

- Thứ năm, thủ tục phá sản không chỉ giúp chủ nợ đòi nợ mà còn có thể giúp con nợ phục hồi8 Như chúng ta đã biết, một khi doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản thì không chỉ doanh nghiệp mắc nợ và những chủ thể như chủ nợ hay người lao động bị ảnh hưởng về quyền và lợi ích hợp pháp, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế và đời sống xã hội nói chung Mặc dù thủ tục phá sản là một thủ tục đòi

nợ tập thể như đã nói ở trên nhưng chính những chủ nợ cũng không muốn con nợ bị tuyên bố phá sản Khi con nợ đang trong tình trạng khó khăn và tài sản còn lại không đủ để thanh toán nợ thì việc thanh lý ngay tài sản của con nợ không phải là giải pháp mà các chủ nợ mong muốn vì suy cho cùng họ chỉ muốn nhận lại trọn vẹn phần tài sản của mình Khi con nợ bị mở thủ tục phá sản thì không phải ngay lập tức tài sản của nó sẽ bị thanh lý để thanh toán nợ mà theo pháp luật tạo mọi điều kiện cho con nợ có thể phục hồi hoạt động kinh doanh Con nợ có thể xây dựng phương

án phục hồi và trình lên Hội nghị chủ nợ Nếu được Hội nghị chủ nợ thông qua thì trong một thời gian nhất định con nợ sẽ vẫn hoạt động bình thường theo phương án

đã đề ra Con nợ được khôi phục vị trí pháp lý ban đầu, tiếp tục hoạt động sản xuất kinh doanh Chỉ những con nợ không thực hiện thành công phương án phục hồi hoặc những con nợ không thể phục hồi được nữa mới bị Tòa án tuyên bố phá sản

1.2.3 Vai trò của quy định pháp luật về thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp ở Tòa án nhân dân

Pháp luật nói chung là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận mang tính bắt buộc đối với mọi đối tượng trong mọi mối quan hệ xã hội Luật Phá sản 2014 nói riêng và các văn bản pháp luật khác đã hình thành nên hệ thống pháp luật kinh tế Trong đó, pháp luật về thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp ở Tòa án nhân dân là một trong những công cụ để Nhà nước điều chỉnh và quản lý các mối quan hệ trong hoạt động kinh tế và giữ một vai trò vô cùng quan trọng, được thể hiện qua những nội dung sau:

- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ nợ với tư cách là nhà kinh doanh Trong quá trình sản xuất, kinh doanh việc nợ nần lẫn nhau giữa các chủ thể kinh doanh là một điều không thể tránh khỏi và do đó chủ nợ cũng có nhiều cách giải quyết để đòi lại số nợ của mình Và việc kiện tụng là một điều tất yếu để chủ nợ nhờ luật pháp can thiệp khi tài sản của mình bị xâm phạm Bên cạnh việc đòi nợ thông qua thủ tục Tố tụng dân sự thông thường thì thủ tục phá sản được coi là một thủ tục

tư pháp đặc biệt đảm bảo sự bình đẳng giữa các chủ nợ về quyền lợi, không một chủ

nợ nào được đòi nợ riêng lẻ và được trả nợ trong khi các chủ nợ khác chưa được trả Sau khi Tòa án thông báo chấm dứt sự tồn tại của con nợ và bán toàn bộ tài sản của

8 Dương Đăng Huệ, Nguyễn Thanh Tịnh (2008) Thực trạng pháp luật về phá sản và việc hoàn thiện môi

trường pháp luật kinh doanh ở Việt Nam, Tr.10

Trang 18

nó để phân chia cho các chủ nợ theo thứ tự luật định Ngoài ra các chủ nợ cũng có các quyền được quy định trong Luật Phá sản 2014 như: Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; quyền tham gia Hội nghị chủ nợ; quyền khiếu nại về danh sách chủ nợ; …

- Bảo vệ quyền lợi của người lao động trong các doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản vì họ là những chủ thể sẽ đối mặt trực tiếp với tình trạng thất nghiệp, khó khăn

về tài chính và đời sống tinh thần, đó là các nguyên nhân gây ra các hiện tượng tiêu cực trong đời sống và dễ dẫn đến các tệ nạn xã hội Vì vậy, biện pháp “cứu” doanh nghiệp, hợp tác xã không lâm vào tình trạng phá sản thông qua thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh là một trong những biện pháp thiết thực nhất Bên cạnh đó, khi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán không thể phục hồi thì người lao động cũng là một trong những chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đó Và sau khi doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản thì người lao động cũng là đối tượng được ưu tiên dựa trên thứ tự phân chia tài sản do pháp luật quy định so với các chủ nợ khác

- Bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của con nợ (doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán) thông qua thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh để con

nợ có thể hoạt động lại bình thường, thoát khỏi nguy cơ phá sản Đồng thời đây cũng là cơ hội để con nợ tái cơ cấu lại bộ máy doanh nghiệp khi đã hoạt động không

có hiệu quả dẫn đến tình trạng khó khăn, giúp con nợ nhận ra những nguyên nhân gây tổn hại đến tài chính và loại bỏ chúng nhằm cải thiện kết quả kinh doanh Nếu việc áp dụng những biện pháp phục hồi thành công thì đây sẽ là một bài học kinh nghiệm cho các con nợ Ngược lại, khi con nợ thật sự bất lực và không còn cách để trả nợ thì phá sản là biện pháp giúp con nợ thoát khỏi các khoản nợ khi giao lại toàn

bộ tài sản còn lại để chi trả, rút lui khỏi thương trường tránh tình trạng bị đòi nợ bất hợp pháp Sau một thời gian nhất định, họ sẽ có thể trở lại kinh doanh nếu có cơ hội

và không trái pháp luật

- Góp phần cơ cấu lại và làm lành mạnh nền kinh tế Pháp luật về thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp ở Tòa án nhân dân là một công cụ để sàng lọc các doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động không hiệu quả, làm ăn thua lỗ, không đủ sức cạnh tranh trên thị trường đồng thời cũng là công cụ để cảnh báo về tính chất khốc liệt của thương trường cho các doanh nghiệp, hợp tác xã Lợi nhuận đối với doanh nghiệp giống như “củ cà rốt” thì phá sản lại là “cây gậy” nhằm răn đe doanh nhân, cảnh báo về tính khắc nghiệt của thương trường9 Thông qua thủ tục phục hồi

9 Phạm Bình An (2002) Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực của pháp lý về phá sản doanh nghiệp trên

địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 19

hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán có thêm một cơ hội để tìm ra biện pháp tháo gỡ khó khăn, trả các khoản nợ và phục hồi hoạt động, thoát khỏi nguy cơ phá sản Chỉ có những doanh nghiệp, hợp tác xã thật sự lâm vào tình trạng bế tắc mới bị tuyên bố phá sản Đây chính là biện pháp nhằm cơ cấu lại nền kinh tế bằng cách tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh và tạo sự tăng trưởng cho nền kinh tế bởi vì nó không chỉ loại bỏ những doanh nghiệp, hợp tác xã làm ăn thua lỗ kéo dài, duy trì những doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động hiệu quả và hình thành các doanh nghiệp, hợp tác xã mới Nhờ đó đời sống xã hội và tinh thần cũng

sẽ được nâng cao Bên cạnh đó các đối tượng có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản như chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp nếu không nộp đơn yêu cầu trong một thời hạn nhất định thì cũng sẽ

bị xử lý theo quy định của pháp luật

- Cuối cùng, pháp luật về thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản ở Tòa án nhân dân góp phần bảo đảm trật tự kỷ cương xã hội Có thể nói, việc các con nợ không chi trả được các khoản nợ đến hạn làm ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các chủ nợ từ

đó phát sinh ra những mâu thuẫn giữa các bên Sự xung đột ấy là một trong những nguyên nhân chính gây ảnh hưởng đến trật tự của đời sống kinh tế xã hội Do đó, pháp luật về thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp ở Tòa án nhân dân ra đời nhằm điều chỉnh và hạn chế những hiện tượng tiêu cực này để tránh việc các con nợ bị đe dọa, cưỡng bức bằng những hành vi đòi nợ bất hợp pháp đồng thời giải quyết thỏa đáng lợi ích giữa các chủ nợ với nhau, giữa chủ nợ và con nợ, hạn chế tối đa những mâu thuẫn phát sinh để ổn định, đảm bảo trật tự, an toàn cho đời sống

xã hội Thông qua pháp luật phá sản, Nhà nước can thiệp một cách có ý thức vào xung đột này nhằm hạn chế tối đa những hậu quả tiêu cực và khai thác những mặt tích cực của nó10

Như vậy có thể thấy, thông qua những vai trò được nêu trên thì những quy định của pháp luật về thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản ở Tòa án nhân dân là công cụ hữu hiệu để giải quyết những vấn đề phát sinh trong nền kinh tế thị trường Đồng thời, sự phát triển của pháp luật phá sản cũng được coi là thước đo đánh giá trình độ phát triển của xã hội trong những thời kỳ nhất định11

Trang 20

1.3 Kinh nghiệm của các quốc gia khác về thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp

1.3.1 Tình trạng mất khả năng thanh toán

Về cơ bản mất khả năng thanh toán được hiểu là tình trạng con nợ không trả được các khoản nợ12 Ngoài ra, để xác định tình trạng mất khả năng thanh toán còn được dựa trên các tiêu chí:

- Tiêu chí định lượng: theo tiêu chí này, một doanh nghiệp bị coi là mất khả năng thanh toán khi không thanh toán được một món nợ đến hạn có giá trị tối thiểu được Luật Phá sản ấn định13 Ví dụ: Luật Phá sản của Liên bang Nga: 100.000 rúp đối với chủ nợ là pháp nhân, 10.000 rúp đối với chủ nợ là cá nhân14; Luật Công ty của Úc: AUD $2000 và công ty không chứng minh được khả năng trả khoản nợ đến hạn đó; Luật Phá sản của Singapore: tổng giá trị các khoản nợ không nhỏ hơn 10.000$ Singapore15 Việc xác định dựa trên tiêu chí định lượng giúp giảm các đối tượng cần áp dụng các quy định của Luật Phá sản do nếu các khoản nợ của doanh nghiệp bị mất khả năng thanh toán là quá nhỏ so với quy định thì không cần thiết phải tiến hành các thủ tục phá sản phức tạp, tốn kém và tốn thời gian Chỉ các doanh nghiệp khi có khoản nợ đạt ngưỡng do pháp luật quy định thì mới tiến hành các thủ tục phá sản

- Tiêu chí kế toán: theo tiêu chí này thì việc xác định một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản được thực hiện thông qua sổ sách kế toán của doanh nghiệp

12 Theo Điều 2 Luật mất khả năng thanh toán (phá sản) của Liên bang Nga năm 2002 thì: “Tình trạng phá sản

là tình trạng con nợ không có khả năng thỏa mãn một cách đầy đủ các yêu cầu của chủ nợ đối với các nghĩa

vụ trả tiền hoặc các món nợ phải trả khác”

Luật Phá sản của Nhật Bản 1922 không đưa ra khái niệm chung về tình trạng phá sản, chỉ đưa ra cơ sở của việc phá sản nói chung và cơ sở của việc phá sản công ty nói riêng Tại Điều 126 Luật Phá sản Nhật Bản quy định:

“1 Khi một người mắc nợ không thể trả được nợ thì tòa sẽ ra quyết định tuyên bố người đó phá sản theo đơn đề nghị

2 Khi một người mắc nợ ngừng trả tiền thì người đó được coi là không thể trả được nợ”

Như vậy, ở Nhật Bản, cơ sở để nhận định việc con nợ đã lâm vào tình trạng phá sản, có thể bị tòa án tuyên bố phá sản là việc con nợ đã không thanh toán được các món nợ đến hạn của mình”

13 Dương Thế Nguyên (2017), Khái niệm phá sản, thủ tục phá sản và những liên hệ đến Luật Phá sản 2014, xem thêm Điều 61 Luật phá sản của Singapore (Bankruptcy act) năm 1995, sửa đổi năm 2005

14 Dương Thế Nguyên (2017), Khái niệm phá sản, thủ tục phá sản và những liên hệ đến Luật Phá sản 2014, xem thêm Điều 6 Luật Phá sản Liên bang Nga năm 2002

15 Dương Thế Nguyên (2017), Khái niệm phá sản, thủ tục phá sản và những liên hệ đến Luật Phá sản 2014, xem thêm Điều 61 Luật phá sản của Singapore (Bankruptcy act) năm 1995, sửa đổi năm 2005

Trang 21

mắc nợ Dựa vào báo cáo tài chính của doanh nghiệp, nếu như số liệu cho thấy tổng giá trị tài sản nợ lớn hơn tổng giá trị tài sản có thì doanh nghiệp bị coi là lâm vào tình trạng phá sản Tiêu chí kế toán giúp phản ánh chính xác hơn tình trạng tài chính của doanh nghiệp mắc nợ và thu hẹp hơn phạm vi những doanh nghiệp bị mở thủ tục phá sản

- Tiêu chí định tính: tiêu chí này chỉ quan tâm đến tính tức thời của việc trả nợ

và xem xét đến dòng tiền của doanh nghiệp mắc nợ khi đánh giá khả năng thanh toán Do cách xác định này dựa trên tính tức thời của việc trả nợ, tiêu chí này không quan tâm đến tài sản hiện có của doanh nghiệp có đủ để trả nợ hay không Tiêu chí này cho phép một thủ tục phá sản được mở ra sớm hơn Ví dụ, Điều 2 Luật Phá sản Trung Quốc năm 2007 quy định: Trong trường hợp doanh nghiệp là pháp nhân không thể trả hết các khoản nợ và tài sản của doanh nghiệp đó không đủ để trả hết các khoản nợ, hoặc rõ ràng doanh nghiệp không có khả năng trả nợ, các khoản nợ sẽ được thanh lý theo quy định của Luật này16; theo Điều 123 Luật mất khả năng thanh toán năm 198617 của Vương quốc Anh quy định:

“1 Một công ty không có khả năng thanh toán nợ khi:

(a) nợ của chủ nợ số tiền vượt quá 750 bảng đến hạn thanh toán và chủ nợ đã gửi văn bản đòi nợ đến công ty yêu cầu công ty thanh toán số nợ đến hạn, nhưng công

ty không thanh toán được hoặc không thỏa thuận được với chủ nợ trong thời hạn 3 tuần, hoặc

(b) đối với Anh và xứ Wale, nếu không trả nợ một phần hoặc toàn bộ cho chủ nợ theo phán quyết, quyết định hoặc chỉ thị của bất kỳ tòa án nào, hoặc

(c) đối với Scotland, nếu thời hạn để thanh toán nợ theo quyết định buộc trả nợ của tòa án hoặc buộc thanh toán trái phiếu hoặc chứng nhận không trả nợ đã hết mà con nợ không thực hiện việc thanh toán

(d) đối với Bắc Ai len, bằng chứng xác nhận không tuân thủ phán quyết buộc công

Trang 22

Theo Luật Công ty 1990 thì một công ty đang lâm vào tình trạng phá sản là18:

- Công ty gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh

- Tổng số trị giá các tài sản còn lại của công ty không đủ thanh toán tổng số các khoản nợ đến hạn

Theo Luật Phá sản doanh nghiệp 1993 thì doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng phá sản là19:

- Doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh

- Sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn

Theo Luật Phá sản 2004 thì “doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản”20

Theo Luật Phá sản 2014 thì “doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán” là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán”21

Khoản 2 Điều 4 Luật Phá sản 2014 quy định phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản

Có thể thấy dù cách quy định là các nhau nhưng tất cả cách xác định tình trạng mất khả năng thanh toán của Luật Phá sản Việt Nam qua các năm đều không nêu ra con số chính xác của khoản nợ Cách xác định tình trạng mất khả năng thanh toán theo Luật Công ty 1990 đã dựa trên tiêu chí kế toán Tuy nhiên, đây là một cách xác định theo ý chí chủ quan và khó áp dụng trên thực tế vì việc xác định tổng số nợ và tổng giá trị tài sản thực tế của công ty là không hề dễ dàng Về cách xác định theo Luật Phá sản doanh nghiệp 1993 thì tôi cho rằng đây là cách xác định khá phức tạp

và rất khác so với các tiêu chí nêu trên Việc xác định như vậy rất khó để xác định các biện pháp tài chính là các biện pháp nào và rất bất hợp lý Theo Luật Phá sản

2004 đã không còn đề cập đến nguyên nhân của tình trạng mất khả năng thanh toán

và cả việc phải áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết Tuy nhiên tôi cho rằng khi

18 Xem Điều 24 Luật Công ty 1990

19 Xem Điều 2 Luật Phá sản doanh nghiệp 1993

20 Xem Điều 3 Luật Phá sản 2004

21 Xem khoản 1 Điều 4 Luật Phá sản 2014

Trang 23

chỉ quy định doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu là vẫn còn thiếu sót vì trong việc làm ăn kinh doanh, doanh nghiệp này có thể là con nợ nhưng đồng thời cũng có thể là chủ nợ của những doanh nghiệp khác Cuối cùng theo cách xác định của Luật Phá sản 2014 đã dựa trên tiêu chí định tính, không quan tâm đến số nợ đến hạn là bao nhiêu, đã thay thế

từ “không có khả năng thanh toán” ở Luật Phá sản 2004 thành “không thực hiện nghĩa vụ thanh toán” Đồng thời cũng thêm vào khoảng thời hạn nhất định là 03 tháng kể từ ngày nợ đến hạn Theo tôi, việc xác định như vậy là hợp lý và có thể áp dụng vào thực tiễn một cách dễ dàng vì những chủ nợ không cần phải đưa ra những bằng chứng chứng minh việc đã yêu cầu đòi nợ nhưng chưa được thanh toán, mà họ chỉ việc chứng minh trong vòng 03 tháng kể từ khi khoản nợ đến hạn, doanh nghiệp

đã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình

1.3.2 Phân loại các nhóm pháp luật về thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản ở các nước trên thế giới

Dựa vào mối quan hệ giữa chủ nợ và con nợ, pháp luật về thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản ở các nước trên thế giới được chia thành ba nhóm chính22:

- Nhóm bảo vệ lợi ích của chủ nợ gồm Anh, Đức và các nước Châu Âu lục địa Pháp luật ở các quốc gia này quan tâm đến lợi ích của các chủ nợ và cách chủ yếu để thu hồi được nợ đó là thông qua thủ tục phá sản Trong đó pháp luật của Hungary buộc các nhà quản lý của công ty gặp khó khăn về tài chính phải làm đơn lên Tòa án xin phá sản Hơn nữa, nhằm ngăn chặn việc tổ chức lại được thực hiện, Luật Phá sản cũng đã phân chia các chủ nợ thành các nhóm khác nhau để các con

nợ không đạt được thỏa thuận cá nhân đối với một số chủ nợ và gây thiệt hại cho những chủ nợ khác đặc biệt là những chủ nợ lớn

- Nhóm bảo vệ lợi ích của con nợ gồm Pháp, Bỉ, Luxembourg và các quốc gia từng là thuộc địa của Pháp Ở các quốc gia này, con nợ phá sản không phải do ý chỉ chủ quan của bản thân và phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan, nên pháp luật tạo hành lang pháp lý để bảo vệ con nợ trước các chủ nợ Doanh nghiệp là người hiểu

rõ nhất tình trạng tài chính của mình nên họ có quyền tự nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản Và nhằm giảm bớt gánh nặng cho con nợ, kể từ thời điểm ngừng thanh toán nợ do Tòa án ấn định, các khoản nợ sẽ không được tính lãi, các khoản nợ chưa đến hạn được coi là đến hạn nhưng cũng sẽ không được tính lãi đối với thời gian chưa đến hạn

22 phap-luat-viet-nam-thuc-trang-va-giai-phap-hoan-72603/

Trang 24

http://doc.edu.vn/tai-lieu/khoa-luan-thu-tuc-giai-quyet-yeu-cau-tuyen-bo-pha-san-doanh-nghiep-theo Nhóm trung dung gồm một số nước Hồi giáo chính thống và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây không có tuyền thống thương mại trong đó có Việt Nam Ở các quốc gia này, lợi ích giữa chủ nợ và con nợ được xem là như nhau Việc tổ chức lại doanh nghiệp thông qua áp dụng biện pháp phục hồi hoạt động kinh doanh được xem là một cách bảo vệ con nợ và người lao động, giúp con nợ thoát khỏi tình trạng khó khăn về tài chính Đồng thời các doanh nghiệp sẽ bị tuyên bố phá sản khi không còn cơ hội phục hồi, đây là cách để loại bỏ những doanh nghiệp yếu kém và bảo vệ lợi ích của các chủ nợ Và đây chính là xu hướng chung của các quốc gia trên thế giới về Luật Phá sản

1.3.3 Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp ở các quốc gia trên thế giới

Mỗi quốc gia đều có điều kiện kinh tế và xã hội khác nhau, do đó pháp luật về thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp cũng khác nhau Nhưng hiện nay vấn đề hội nhập và mở cửa đang là xu thế toàn cầu thì pháp luật của các quốc gia cũng cần có tiếng nói chung và pháp luật về phá sản cũng không thể nằm ngoài quy luật đó Ở pháp luật của mỗi quốc gia khác nhau đều mang lại cho ta những bài học kinh nghiệm nhằm hoàn thiện pháp luật phá sản của Việt Nam Và hơn hết, tìm hiểu

về pháp luật của các quốc gia phát triển trên thế giới là điều cần thiết hơn cả Vì vậy, tôi xin đề cập đến pháp luật của ba quốc gia: Liên bang Nga, Trung Quốc và Australia

Pháp luật về phá sản ở Liên bang Nga năm 1992 23

Theo Luật Phá sản 1992 của Liên bang Nga thì khái niệm phá sản được hiểu là việc doanh nghiệp mất khả năng đáp ứng yêu cầu của chủ nợ về thanh toán hàng hóa (công việc, dịch vụ) bao gồm cả việc mất khả năng đảm bảo thanh toán các khoản phải nộp vào ngân sách và các quỹ ngoài ngân sách do nghĩa vụ của con nợ vượt quá tài sản của mình hoặc do mất cân đối trong cán cân thanh toán của con nợ Dấu hiệu nhận biết tình trạng mất khả năng thanh toán đó chính là việc doanh nghiệp ngừng việc thanh toán bình thường của mình cho chủ nợ mà không có bất cứ bảo đảm hoặc không có khả năng thực hiện các yêu cầu của chủ nợ trong vòng 03 tháng kể từ ngày các yêu cầu đó đến hạn thực hiện Có thể thấy quy định này có nét tương đồng với cách xác định tình trạng mất khả năng thanh toán theo khoản 1 Điều

4 Luật Phá sản 2014 về khoảng thời gian là 03 tháng kể từ ngày khoản nợ đến hạn

23 Xem thêm Chuyên đề khoa học xét xử: Tìm hiểu pháp luật phá sản – Tập 1 Viện khoa học xét xử, Toà án

nhân dân tối cao và Nxb Tư pháp, 2010.

Trang 25

Chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản được quy định tại Điêu 5, Điều 6 và Điều 7 bao gồm:

- Chủ nợ của doanh nghiệp

- Doanh nghiệp mắc nợ (khi có sự đồng ý của người có quyền lớn nhất đối với tài sản của doanh nghiệp như chủ sở hữu doanh nghiệp hay cơ quan chủ quản của doanh nghiệp thì người mắc nợ mới có quyền đưa đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản)

- Kiểm sát viên: theo quy định tại khoản 1 Điều 4 luật này thì khi phát hiện có dấu hiệu của sự phá sản cố ý và giả tạo của doanh nghiệp nhằm trốn tránh trách nhiệm trả nợ của mình đối với các chủ nợ thì Kiểm sát viên được quyền yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp nhằm ngăn chặn hành vi của doanh nghiệp mắc nợ gây thiệt hại cho chủ nợ Đây là nét đặc biệt của pháp luật Nga

Điều 1 Luật Phá sản doanh nghiệp của Cộng hòa Liên bang Nga năm 1992 quy định doanh nghiệp bị coi là phá sản kể từ thời điểm Tòa án trọng tài công nhận tình trạng phá sản hoặc từ thời điểm doanh nghiệp mắc nợ chính thức tuyên bố phá sản

tự nguyện Hai thủ tục giải quyết phá sản được đưa ra là thủ tục tổ chức lại và thủ tục thanh lý

- Thủ tục tổ chức lại doanh nghiệp bao gồm 02 hoạt động là quản lý tài sản của người mắc nợ và phục hồi doanh nghiệp mắc nợ Khi có đơn yêu cầu của doanh nghiệp mắc nợ, chủ sở hữu doanh nghiệp mắc nợ hoặc chủ nợ thì thủ tục tổ chức lại doanh nghiệp mắc nợ mới được tiến hành (Điều 12) Căn cứ vào điều kiện thực tế

và khả năng khôi phục năng lực tài chính của doanh nghiệp mà Tòa án quyết định cho phép tái tổ chức lại doanh nghiệp mắc nợ:

+ Quản lý tài sản của người mắc nợ là thủ tục tổ chức lại trên cơ sở chuyển giao chức năng quản lý doanh nghiệp cho Quản tài viên do Tòa án bổ nhiệm (người này được hưởng thù lao) nhằm giúp doanh nghiệp mắc nợ tiếp tục hoạt động Quản tài viên có quyền quản lý và lãnh đạo doanh nghiệp, chịu trách nhiệm quản lý doanh nghiệp này Thời hạn áp dụng tối đa không quá 18 tháng Phương án tái tổ chức lại doanh nghiệp phải được trình bày trước Hội nghị chủ nợ, nếu Hội nghị chủ nợ không thông qua thì Tòa án trọng tài ra quyết định hủy bỏ việc tái tổ chức lại doanh nghiệp và tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản Trường hợp Hội nghị chủ nợ thông qua phương án tái tổ chức lại doanh nghiệp thì Quản tài viên có quyền đề nghị Tòa

án trong tài ra các quyết định sau: chấm dứt quản lý tài sản và tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản khi cho rằng việc tái tổ chức sẽ không mang lại kết quả mong muốn; tiếp tục thực hiện quản lý doanh nghiệp; tuyên bố doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng trên và chấm dứt quản lý tài sản của doanh nghiệp;

Trang 26

+ Phục hồi doanh nghiệp mắc nợ là việc tổ chức lại doanh nghiệp mắc nợ với sự hỗ trợ tài chính của chủ sở hữu doanh nghiệp mắc nợ, của chủ nợ hoặc của người khác Chủ nợ, doanh nghiệp mắc nợ và chủ sở hữu doanh nghiệp mắc nợ có thể nộp đơn yêu cầu phục hồi doanh nghiệp đó đến Tòa án trọng tài Tòa án ra quyết định áp dụng thủ tục phục hồi khi xét thấy có đủ điều kiện thanh toán các khoản nợ

từ phía doanh nghiệp mắc nợ Trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày nhận lá đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp mắc nợ, nếu Tòa án nhận được lá đơn thứ hai cũng yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với chính doanh nghiệp đó thì thủ tục phục hồi doanh nghiệp sẽ không được áp dụng Tùy tình hình cụ thể mà doanh nghiệp mắc nợ, chủ nợ, chủ sở hữu doanh nghiệp mắc nợ có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án trọng tài ra một trong những quyết định: công nhận doanh nghiệp đã được phục hồi và đình chỉ thủ tục phá sản; chấm dứt phục hồi và tuyên bố doanh nghiệp

bị phá sản

- Thủ tục thanh lý tài sản: khi có căn cứ về việc doanh nghiệp mắc nợ không thể phục hồi thì Tòa án trọng tài ra quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp Sau

đó, Tòa sẽ mở thủ tục thanh lý tài sản nhằm đáp ứng một phần yêu cầu của các chủ

nợ và giải phóng cho người mắc nợ khỏi nghĩa vụ (bán tài sản của doanh nghiệp mắc nợ và thanh toán cho chủ nợ) Khi mở thủ tục thanh lý, Tòa án trọng tài sẽ bổ nhiệm một nhân viên thanh lý tài sản Bên cạnh đó những chủ thể tham gia thủ tục thanh lý còn có doanh nghiệp mắc nợ, thành viên Hội nghị chủ nợ, người lao động

và những người có liên quan Sau khi thanh toán nợ trong vòng tài sản của doanh nghiệp, Tòa án trọng tài sẽ ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản và ra quyết định giải thể bắt buộc doanh nghiệp mắc nợ Các quyết định này sẽ được đăng trên Tờ tin của Tòa án trọng tài tối cao Nga, chi phí đăng tin là từ tài sản trong tài khoản ký quỹ tại Tòa án trọng tài

Pháp luật về phá sản ở Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 2006 24

Luật Phá sản xí nghiệp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa lần đầu tiên được thông qua ngày 02/12/1986 Luật này chỉ áp dụng giải quyết phá sản các xí nghiệp thuộc sở hữu toàn dân và không áp dụng đối với các xí nghiệp thuộc loại hình sở hữu khác

Ngày 27/08/2006, Luật Phá sản doanh nghiệp mới được ban hành với 136 điều luật và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/06/2007 Luật này chỉ áp dụng trên lãnh thổ Trung Hoa mà không được áp dụng tại các vùng lãnh thổ như Hồng Kông, Đài Loan, Ma Cao Phạm vi áp dụng của Luật Phá sản mới được mở rộng cho tất cả các

24 Xem thêm Chuyên đề khoa học xét xử: Tìm hiểu pháp luật phá sản – Tập 1 Viện khoa học xét xử, Toà án

nhân dân tối cao và Nxb Tư pháp, 2010

Trang 27

loại hình doanh nghiệp nhưng vẫn không áp dụng đối với cá nhân Điều này khá tương thích với quy định của Luật Phá sản 2014 của Việt Nam

Theo pháp luật Trung Quốc, khái niệm phá sản được hiểu là khi doanh nghiệp không có khả năng thanh toán nợ đến hạn thì bị xem xét khả năng doanh nghiệp bị phá sản (đây là cách xác định dựa trên tiêu chí định tính)

Chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là chủ nợ của doanh nghiệp và bản thân người mắc nợ (điều này giống với quy định của Luật Phá sản 1986 và Luật Phá sản 2014 của Việt Nam) Hai thủ tục giải quyết phá sản được đưa ra là thủ tục thanh lý và thủ tục phục hồi:

- Thủ tục thanh lý: kể từ ngày Tòa án nhận đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và chấp nhận đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đó, các vụ kiện liên quan đến tài sản của người mắc nợ sẽ tạm dừng Trong thời hạn 01 tháng, các chủ nợ sẽ đăng ký thủ tục đòi nợ theo quy định của pháp luật hoặc trong vòng 03 tháng kể từ ngày nhận thông báo chấp nhận đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của Tòa án Trong thời hạn 6 tháng

kể từ ngày chấp nhận vụ phá sản thì những giao dịch được thực hiện trong khoảng thời gian này đều vô hiệu và tài sản liên quan đến giao dịch này sẽ bị thu hồi;

- Thủ tục phục hồi: Với thủ tục tổ chức lại, một công ty có thể tự bảo vệ mình trước các chủ nợ khi mà bản thân công ty đó vẫn có thể tiếp tục hoạt động được Một quy định trong phần thủ tục phục hồi đưa ra khái niệm “cram down” (tạm dịch

là “kế hoạch cuối cùng”) Điều này có nghĩa là doanh nghiệp mắc nợ phải nỗ lực xây dựng và thực hiện kế hoạch giải quyết các bất đồng trong trường hợp các bất đồng này là có khả năng giải quyết25 Nếu giữa chủ nợ và con nợ đạt được thỏa thuận về thủ tục phục hồi thì thời hạn tối đa để áp dụng thủ tục phục hồi là 02 năm Trong quá trình áp dụng kế hoạch tổ chức lại, nếu tình hình kinh doanh của doanh nghiệp ngày một xấu đi; doanh nghiệp không thực hiện đúng kế hoạch đã được thông qua hoặc doanh nghiệp bị phát hiện có những hành vi gian dối thì thủ tục phục hồi sẽ bị đình chỉ và doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản

Về thứ tự ưu tiên thanh toán khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thì chủ

nợ thương mại được ưu tiên trước người lao động (đây là một thay đổi mới so với quy định của Luật Phá sản 1986)

25 Phan Thị Thu Hà (2010) Chuyên đề khoa học xét xử: Tìm hiểu pháp luật phá sản – Tập 1 Viện khoa học

xét xử, Toà án nhân dân tối cao và Nxb Tư pháp, 2010, Tr.99

Trang 28

Pháp luật về phá sản ở Australia 26

Australia là quốc gia theo hệ thống án lệ Do đó, Luật Phá sản Australia cũng tương tự như luật của các nước Anh, Mỹ, Canada, Singapore, …

Chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản bao gồm:

- Chủ nợ của doanh nghiệp mắc nợ;

- Bản thân doanh nghiệp mắc nợ;

- Văn phòng thuộc Chính phủ giám sát hoạt động của doanh nghiệp hoặc Ủy ban chứng khoán Nhà nước

Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thường dựa trên 02 căn cứ: doanh nghiệp không trả nợ khi đã có yêu cầu trả nợ từ phía chủ nợ (giả định phá sản) và doanh nghiệp phá sản thực sự

- Trường hợp giả định phá sản: chủ nợ đã có yêu cầu doanh nghiệp thanh toán món nợ hoặc có một đề xuất với con nợ về số nợ đó (yều cầu chính thức bằng văn bản có mẫu theo luật định) Khi yêu cầu của chủ nợ không được đáp ứng sẽ tạo ra giả định phá sản doanh nghiệp đó Do đó, khi nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp thì người nộp đơn phải nộp kèm những bằng chứng về khoản

nợ đến hạn, yêu cầu chính thức đã được gửi đến văn phòng chính của doanh nghiệp

và doanh nghiệp đã không thể thanh toán

- Trường hợp phá sản thực tế: người đưa đơn phải gửi lên Tòa những bằng chứng chứng minh doanh nghiệp bị phá sản trên thực tế mà thông thường đó là những bản khai có tuyên thệ của những người biết rõ tình hình tài chính doanh nghiệp và có một số hoặc tất cả tài liệu tài chính của doanh nghiệp

Trên thực tế, hồ sơ tài chính của doanh nghiệp tại cơ quan giám sát thường mô tả tình hình tài chính của doanh nghiệp một cách chung chung do đó rất khó cho chủ

nợ trong việc chứng minh sự phá sản của doanh nghiệp Vì vậy chủ nợ thường kết hợp cả hai căn cứ này trong đơn Bên cạnh đó, Luật Phá sản Australia cũng có quy định thông báo về đơn phải được đăng báo và gửi cho văn phòng Chính phủ là cơ quan giám sát công ty

Sau khi nộp đơn, nếu người nộp đơn có căn cứ cho rằng có nguy cơ chủ doanh nghiệp sẽ tẩu tán tài sản thì có thể yêu cầu Tòa án chỉ định một quản lý viên tạm thời Doanh nghiệp sẽ được duy trì trong tình trạng hiện tại của nó dưới sự quản lý của quản lý viên này Người nộp đơn cũng có quyền yêu cầu Tòa án ngăn cản

26 phap-luat-viet-nam-thuc-trang-va-giai-phap-hoan-72603/

Trang 29

http://doc.edu.vn/tai-lieu/khoa-luan-thu-tuc-giai-quyet-yeu-cau-tuyen-bo-pha-san-doanh-nghiep-theo-doanh nghiệp tham gia vào một số hoạt động nếu cho rằng hoạt động ấy sẽ gây thiệt hại đến tài sản của doanh nghiệp và ảnh hưởng đến lợi ích của các chủ nợ

Trước khi mở phiên Tòa xét xử, Luật Phá sản Australia cũng cho phép chủ nợ và con nợ dàn xếp (Luật Phá sản 2014 của Việt Nam gọi là thủ tục hòa giải) để tìm giải pháp giúp doanh nghiệp mắc nợ

Sau khi con nợ và chủ nợ không thể dàn xếp được thì Tòa án sẽ tổ chức phiên Tòa sơ bộ để xác định có giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hay không Luật sư đóng một vai trò hết sức quan trọng trong phiên Tòa tại Australia vì họ là người thay mặt các bên trình bày bản chất, tất cả các thông tin và bằng chứng liên quan đến vụ việc

Cuối cùng, Thẩm phán sẽ đưa ra quyết định sau khi xem xét bằng chứng và lý lẽ của các bên Thẩm phán cũng có thể không đưa ra quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp nếu tất cả chủ nợ hoặc cả người lao động phản đối quyết định đó hoặc tình hình tài chính của doanh nghiệp có khả năng thanh toán nợ

Bất kỳ ai tham gia tố tụng cũng có quyền kháng nghị lên Tòa án cấp trên về một lệnh nào đó của Thẩm phán và quyền kháng cáo được thực hiện trong thời hạn 28 ngày kể từ ngày Thẩm phán đưa ra quyết định

Trang 30

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong chương 1, các vấn đề khoa học sau đây đã được tác giả phân tích:

Một là, khái quát Luật Phá sản 2014;

Hai là, khái niệm, đặc điểm và vai trò của thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp ở Tòa án nhân dân Theo đó, trong phần khái niệm tác giả đã giải thích về thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp đó là một thủ tục tư pháp,

là trình tự các bước tiên hành giải quyết việc phá sản theo quy định của pháp luật Trình tự thủ tục thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp ở Tòa án nhân dân cũng được tác giả khái quát theo từng bước tiến hành Về phần đặc điểm,

có 03 đặc điểm được tác giả đề cập, đó là đặc điểm về đối tượng áp dụng của thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp; đặc điểm về cơ quan tiến hành tố tụng

và thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp được xem là một thủ tục tố tụng đặc biệt Tiếp theo có 05 vai trò được tác giả phân tích đó là:

- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ nợ với tư cách là nhà kinh doanh;

- Bảo vệ quyền lợi của người lao động trong các doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản;

- Bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của con nợ;

- Góp phần cơ cấu lại và làm lành mạnh nền kinh tế;

- Góp phần bảo đảm trật tự kỷ cương xã hội

Ba là, kinh nghiệm của các quốc gia khác về thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp Tác giả đã phân tích tình trạng mất khả năng thanh toán theo pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài dựa theo các tiêu chí định lượng, tiêu chí kế toán và tiêu chí định tính Pháp luật về thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản ở các nước trên thế giới được chia thành 03 nhóm chính gồm nhóm bảo vệ lợi ích của chủ nợ, nhóm bảo vệ lợi ích của con nợ và nhóm trung dung Ngoài ra tác giả cũng tìm hiểu về thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp của một số quốc gia khác mà cụ thể ở đây là 03 quốc gia: Liên bang Nga, Trung Quốc và Australia

Trang 31

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU PHÁ

SẢN DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1 Nội dung của pháp luật hiện hành về thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp

2.1.1 Thủ tục nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản

 Giai đoạn nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản chính là cơ sở pháp lý duy nhất làm phát sinh thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp tại Tòa án nhân dân Theo pháp luật hiện hành thì chỉ có những chủ thể được quy định mới có quyền và nghĩa vụ nộp đơn, ngoài ra những chủ thể không được pháp luật quy định thì không có quyền nộp đơn Quy định này giúp hạn chế tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các chủ thể là nhà kinh doanh, tránh việc đối thủ lợi dụng cơ hội hạ uy tín của nhau

và buộc người nộp đơn phải có trách nhiệm với hành vi của chính mình

Các chủ thể thực hiện quyền tự do kinh doanh thông qua việc họ có quyền tự chủ mang lại nguồn lợi cho mình bằng những hành vi không vi phạm pháp luật Tất nhiên trong lĩnh vực kinh tế thì không phải tất cả các hoạt động kinh doanh đều mang lại lợi nhuận mà hiện tượng thua lỗ là không thể tránh khỏi Mặc dù việc làm

ăn thua lỗ sẽ dẫn đến phá sản gây hậu quả xấu làm ảnh hưởng đến đền kinh tế và cả đời sống xã hội, nhưng Nhà nước chỉ can thiệp khi có đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Tuy nhiên không phải chủ thể nào cũng có thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản mà pháp luật quy định cụ thể những chủ thể có quyền và nghĩa vụ nộp đơn Mục đích của những quy định đó nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh hợp pháp, tránh trường hợp nếu cho phép bất cứ cá nhân hay tổ chức nào cũng có thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì họ sẽ bị đối thủ lạm dụng cơ hội hạ thấp uy tín và gây khó khăn Ngược lại nếu hạn chế quyền này một cách quá đáng, không dựa vào cơ sở khoa học thì sẽ gây ảnh hưởng đến quyền lợi của các chủ thể có quan hệ làm ăn với các doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ

Đối với các chủ thể có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì việc xác định chính xác thời điểm nộp đơn rất quan trọng Việc nộp đơn quá sớm sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh và uy tín của doanh nghiệp, hợp tác xã bị yêu cầu tuyên bố phá sản do đó có thể sẽ dẫn đến tình trạng phá sản thực sự Ngược lại, nếu nộp đơn quá trễ thì doanh nghiệp, hợp tác xã lẽ ra đã có thể phục hồi được khi được áp dụng phương án phục hồi hoạt động kinh doanh; doanh nghiệp, hợp tác xã

Ngày đăng: 05/03/2021, 17:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Dương Đăng Huệ, Nguyễn Thanh Tịnh và nhóm biên soạn Vụ Pháp luật Dân sự - Kinh tế Bộ Tư pháp, Đề tài “Thực trạng pháp luật về phá sản và việc hoàn thiện môi trường pháp luật kinh doanh tại Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thực trạng pháp luật về phá sản và việc hoàn thiện môi trường pháp luật kinh doanh tại Việt Nam
13. Hoàng Phê (2010), Từ điển tiếng Việt, Trung tâm Từ điển học, Nxb. Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: Nxb. Đà Nẵng
Năm: 2010
14. Nguyễn Thái Phúc (2005) Luật Phá sản 2004 – những tiến bộ và hạn chế, Tạp chí khoa học pháp lý Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Phá sản 2004 – những tiến bộ và hạn chế
15. Nguyễn Văn Thâm, Võ Kim Sơn (2002), Thủ tục hành chính, lý luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tục hành chính, lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Văn Thâm, Võ Kim Sơn
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2002
16. Chuyên đề khoa học xét xử: Tìm hiểu pháp luật phá sản – Tập 1. Viện khoa học xét xử, Tòa án nhân dân tối cao và Nxb. Tư pháp, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu pháp luật phá sản – Tập 1
Nhà XB: Nxb. Tư pháp
17. Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb. Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Luật học
Tác giả: Viện Khoa học pháp lý
Nhà XB: Nxb. Tư pháp
Năm: 2006
18. Tài liệu học tập Pháp luật về phá sản, giải thể và giải quyết tranh chấp trong kinh doanh trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về phá sản, giải thể và giải quyết tranh chấp trong kinh doanh
19. Toạ đàm khoa học: “Luật phá sản 2014 nhìn từ góc độ thực tiễn thi hành”, Bộ môn Luật Thương mại Đại học Luật Hà Nội (2017) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Luật phá sản 2014 nhìn từ góc độ thực tiễn thi hành”
20. Phạm Bình An (2002), Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực của pháp lý về phá sản doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, nguồn http://www.hids.hochiminhcity.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực của pháp lý "về phá sản doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Phạm Bình An
Năm: 2002
21. Dương Kim Thế Nguyên (2017), Khái niệm phá sản, thủ tục phá sản và những liên hệ đến Luật Phá sản 2014,nguồn https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2017/02/12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm phá sản, thủ tục phá sản và những liên hệ đến Luật Phá sản 2014
Tác giả: Dương Kim Thế Nguyên
Năm: 2017
22. Văn Thị Hồng Tâm - Những bất cập trong thi hành Luật phá sản 2014 nhìn từ góc độ thi hành án, nguồn http://thads.moj.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bất cập trong thi hành Luật phá sản 2014 nhìn từ góc độ thi hành án
2. Luật Phá sản doanh nghiệp 1993. 3. Luật Phá sản 2004.4. Luật Phá sản 2014 Khác
5. Luật mất khả năng thanh toán (phá sản) của Liên bang Nga năm 2002 Khác
6. Nghị định số 189-CP ngày 23 tháng 12 năm 1994 hướng dẫn thi hành Luật Phá sản doanh nghiệp Khác
7. Nghị định số 70-CP ngày 12 tháng 06 năm 1997 về án phí, lệ phí tòa án Khác
8. Nghị quyết số 03/2005/NQ-HĐTP ngày 28 tháng 04 năm 2005 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Phá sản Khác
9. Nghị định số 22/2015/NĐ-CP ngày 16 tháng 02 năm 2015 hướng dẫn Luật Phá sản về Quản tài viên và hành nghề quản lý thanh lý tài sản Khác
10. Nghị quyết số 03/2016/NQ-HĐTP ngày 26 tháng 08 năm 2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Phá sản Khác
11. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức lệ phí nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.II. Sách, giáo trình, bài viết Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w