1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khoá luận Thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn

91 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
Tác giả Lê Thị Ngọc Hạnh
Người hướng dẫn Thạc sĩ Phạm Thị Thúy
Trường học Trường Đại Học Luật Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 5,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN, THỎA THUẬN NUÔI CON, (13)
    • 1.1. Khái quát về việc dân sự (13)
      • 1.1.1. Khái niệm việc dân sự (13)
      • 1.1.2. Đặc điểm việc dân sự (14)
    • 1.2. Khái quát về thủ tục giải quyết công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn (15)
      • 1.2.1. Khái niệm thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn (15)
      • 1.2.2. Đặc điểm của thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn (17)
      • 1.2.3. Ý nghĩa của thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn (21)
    • 1.3. Thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn ở một số quốc gia trên thế giới (22)
      • 1.3.1. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc) (22)
      • 1.3.2. Cộng hoà Phần Lan (Phần Lan) (24)
      • 1.3.3. Cộng hòa Pháp (Pháp) (26)
  • CHƯƠNG 2. NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN, THỎA THUẬN NUÔI CON, CHIA TÀI SẢN KHI LY HÔN (30)
    • 2.1. Thủ tục yêu cầu, nhận và xử lý đơn yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình (31)
      • 2.1.1. Chủ thể có quyền yêu cầu (31)
      • 2.1.2. Đơn yêu cầu (32)
      • 2.1.3. Gửi đơn yêu cầu (34)
      • 2.1.4. Nhận và xử lý đơn yêu cầu (34)
    • 2.2. Hòa giải tiền tố tụng tại Tòa án (36)
      • 2.2.1. Quyền được lựa chọn hòa giải tiền tố tụng tại Tòa án (36)
      • 2.2.2. Lựa chọn hoặc chỉ định Hòa giải viên (37)
      • 2.2.3. Giai đoạn chuẩn bị hòa giải tiền tố tụng tại Tòa án (39)
      • 2.2.4. Phiên hòa giải (39)
      • 2.2.5. Phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải (40)
      • 2.2.6. Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành (42)
      • 2.2.7. Xử lý chấm dứt hòa giải (44)
    • 2.3. Thụ lý đơn yêu cầu và chuẩn bị xét đơn yêu cầu theo thủ tục sơ thẩm (44)
      • 2.3.1. Thụ lý đơn yêu cầu (44)
      • 2.3.2 Chuẩn bị xét đơn yêu cầu theo thủ tục sơ thẩm (45)
  • CHƯƠNG 3. BẤT CẬP TRONG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ TRONG THỰC TIỄN ÁP DỤNG THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN, THỎA THUẬN NUÔI CON, CHIA TÀI SẢN KHI (52)
    • 3.1. Về việc quy định nộp tiền lệ phí để thụ lý việc dân sự (52)
    • 3.2. Về trường hợp trả lại đơn yêu cầu (53)
    • 3.3. Về quy định thời hạn xem xét đơn yêu cầu để ra thông báo bổ sung đơn yêu cầu và để ra quyết định thụ lý việc dân sự (54)
    • 3.4. Về sự tham gia của Viện kiểm sát trong quá trình giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn (55)
    • 3.5. Về việc trả lại lệ phí cho người yêu cầu trong trường hợp đình chỉ giải quyết việc dân sự thuận tình ly hôn (56)
    • 3.6. Về các trường hợp không tiến hành hòa giải được (58)
    • 3.7. Về việc chuyển sang giải quyết theo thủ tục vụ án dân sự (61)
    • 3.8. Về khả năng bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với Quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự (63)
    • 3.9. Một số kiến nghị khác (66)
  • PHỤ LỤC (76)

Nội dung

Bên cạnh đó, do Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2020 mới được ban hành nên gần như chưa có các công trình nghiên cứu về thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, th

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN, THỎA THUẬN NUÔI CON,

Khái quát về việc dân sự

1.1.1 Khái niệm việc dân sự

“Việc dân sự” cùng với “vụ án dân sự” là đối tượng của quá trình tố tụng tại Tòa án Khái niệm việc dân sự được BLTTDS năm 2015 định nghĩa như sau: “việc dân sự là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân không có tranh chấp, nhưng có yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động”

(Điều 361 BLTTDS năm 2015) Khái niệm này cũng được thừa nhận và ghi nhận trong các giáo trình, cũng như các sách chuyên khảo, chẳng hạn như: Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh 5 , Giáo trình Luật Tố tụng dân sự của Trường Đại học Kinh tế - Luật 6

Yêu cầu về công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn nếu được Tòa án thụ lý giải quyết là một việc dân sự Cả hai vợ chồng muốn chấm dứt quan hệ hôn nhân và họ đã thống nhất được với nhau về việc giải quyết các vấn đề về con cái, tài sản khi ly hôn, và không có tranh chấp với nhau, họ chỉ yêu cầu Tòa án công nhận những vấn đề đã được thống nhất đó

Thuật ngữ “việc dân sự” chỉ mới xuất hiện lần đầu tiên trong BLTTDS năm

2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011 Trước đó, thủ tục tố tụng dân sự được điều chỉnh bởi một số các văn bản pháp luật như: Pháp lệnh số 27-LCT/HĐNN8 của Hội đồng Nhà nước ngày 07/12/1989 về thủ tục giải quyết các vụ án dân sự; Pháp lệnh không số của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 16/3/1994 về thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế; Pháp lệnh số 48-L/CTN của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 11/4/1996 về thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động Tuy nhiên, trong các văn bản pháp luật này không đề cập đến thuật ngữ “việc dân sự”, mọi tranh chấp, yêu cầu dân sự

5 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nguyễn Thị Hoài Phương, Nxb Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, trang 487

6 Trường Đại học Kinh tế - Luật (2016), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự, Nguyễn Thị Hồng Nhung, Nxb Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, trang 315

7 Nguyễn Thị Hoài Phương, tlđd (5), trang 18, 19

8 Huỳnh Quang Thuận (2019), “Yêu cầu hủy phán quyết trọng tài - vụ án dân sự hay việc dân sự?”, Tạp chí

Khoa học pháp lý, số 04(125)/2019, trang 25-37

6 Trường Đại học Kinh tế - Luật (2016), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự, Nguyễn Thị Hồng Nhung, Nxb Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, trang 315

7 khi được Tòa án giải quyết đều được gọi chung là “vụ án dân sự” và đều được giải quyết theo một thủ tục chung

Kể từ khi xuất hiện thuật ngữ “việc dân sự” trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, thủ tục giải quyết vụ việc dân sự được chia thành hai loại: thủ tục giải quyết vụ án dân sự (để giải quyết các tranh chấp dân sự) và thủ tục giải quyết việc dân sự (để giải quyết các yêu cầu dân sự)

Về khái niệm việc dân sự quy định tại Điều 361 BLTTDS năm 2015, theo quan điểm của tác giả, do yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý có thể làm phát sinh nhưng cũng có thể làm chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của người yêu cầu hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác (ví dụ yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn là yêu cầu công nhận việc chấm dứt hôn nhân và các thỏa thuận của các đương sự, điều này có thể làm phát sinh quyền được chia tài sản khi ly hôn, quyền được nhận cấp dưỡng nuôi con, quyền được kết hôn nhưng đồng thời cũng chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng trong hôn nhân), vì vậy kiến nghị pháp luật nên có sự bổ sung thêm để khái niệm được hoàn chỉnh hơn, theo hướng quy định khái niệm “việc dân sự” như sau: Việc dân sự là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân không có tranh chấp, nhưng có yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động

1.1.2 Đặc điểm việc dân sự

Mỗi một sự vật, hiện tượng xuất hiện trong đời sống xã hội đều có đặc điểm của nó, giúp con người nhận biết được sự vật hiện tượng đó và theo đó việc dân sự cũng có những đặc điểm của mình Dựa theo khái niệm của việc dân sự, có thể nhận thấy việc dân sự có một số đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, việc dân sự không có tranh chấp Tranh chấp ở đây được hiểu là tình trạng xung đột về lợi ích pháp lý giữa ít nhất từ hai chủ thể trở lên Đặc điểm không có tranh chấp là một đặc trưng của việc dân sự, thể hiện bản chất của việc dân sự Đặc điểm này giúp phân biệt việc dân sự với vụ án dân sự (vụ án dân sự là những tranh chấp phát sinh tại Tòa án nhân dân trong trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu giải quyết các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình,

8 kinh doanh thương mại, lao động 7 ) Trong vụ án dân sự, các đương sự có tranh chấp với nhau về quyền và nghĩa vụ còn trong việc dân sự thì không Điều này được lý giải bởi trong việc dân sự chỉ có một bên yêu cầu Tòa án công nhận một sự kiện pháp lý hoặc một quyền nào đó, “mặc dù trong việc dân sự cũng có thể tồn tại nhiều chủ thể nhưng điều cốt yếu là giữa họ sẽ không có sự tranh chấp, mâu thuẫn về quyền và lợi ích” 8

Thứ hai, ở việc dân sự, các đương sự không có quyền lợi đối lập nhau Đương sự trong việc dân sự bao gồm người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà không có nguyên đơn, bị đơn Do quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc dân sự không đối lập nhau, không có ai tranh chấp với ai, không có ai bị xâm phạm về quyền và lợi ích hợp pháp và đương sự chỉ yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý hay công nhận một quyền nào đó, nên chỉ có người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà không có nguyên đơn, bị đơn

Thứ ba, mục đích của việc yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự là để được công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý hay một quyền nào đó, điều này khác với mục đích của vụ án là để giải quyết tranh chấp về quyền và lợi ích giữa các đương sự Trong giải quyết việc dân sự, các vấn đề đã được đương sự thống nhất với nhau như yêu cầu về công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn hay thậm chí chỉ có một chủ thể đưa ra yêu cầu ví dụ yêu cầu tuyên bố một người mất tích, yêu cầu tuyên bố một người đã chết Do đó, đương sự chỉ đưa ra yêu cầu Tòa án công nhận các vấn đề các bên đã thống nhất từ trước hoặc công nhận một sự kiện pháp lý, công nhận quyền về dân sự theo quy định của pháp luật chứ không yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp.

Khái quát về thủ tục giải quyết công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn

1.2.1 Khái niệm thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn

Theo pháp luật Việt Nam, việc đăng ký kết hôn phải được thực hiện ở Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (hoặc Ủy ban nhân dân cấp huyện trong một số trường hợp) nơi cư trú của một trong hai bên nam nữ muốn kết hôn với nhau (khoản

7 Nguyễn Thị Hoài Phương, tlđd (5), trang 18, 19

8 Huỳnh Quang Thuận (2019), “Yêu cầu hủy phán quyết trọng tài - vụ án dân sự hay việc dân sự?”, Tạp chí

Khoa học pháp lý, số 04(125)/2019, trang 25-37

1 Điều 17 và Điều 37 Luật Hộ tịch năm 2014) Tuy nhiên, việc chấm dứt quan hệ hôn nhân dù là thuận tình hay đơn phương ly hôn đều phải được quyết định bởi Tòa án Pháp luật Việt Nam quy định chỉ có Tòa án nhân dân mới có thẩm quyền ra quyết định/bản án chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng Để giải quyết được ly hôn nói chung và yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn nói riêng, Tòa án phải tiến hành theo một cách thức, trình tự được pháp luật quy định, gọi là “thủ tục giải quyết”

Về như thế nào là “yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”, có thể giải thích như sau:

Về mặt quy định của pháp luật, “ly hôn” là việc chấm dứt quan hệ vợ, chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án (khoản 14 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014) “Thuận tình ly hôn” là trường hợp hai bên vợ chồng cùng yêu cầu Tòa án công nhận ly hôn mà không có bất kỳ tranh chấp gì (Điều 55 Luật HN&GĐ

2014) “Cùng yêu cầu ly hôn” ở đây thể hiện bằng việc cả vợ và chồng cùng ký vào đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và nộp đơn cho Tòa án, và việc họ đã thỏa thuận được các vấn đề về con chung và chia tài sản chung cũng phải được thể hiện qua đơn yêu cầu này “Thuận tình ly hôn” phân biệt với “đơn phương ly hôn” (ly hôn theo yêu cầu của một bên)

“Thỏa thuận” chỉ hành động bàn bạc, trao đổi để đi đến thống nhất một vấn đề nào đó, là đồng ý với nhau về điều nào đó có quan hệ đến các bên, sau khi đã bàn bạc Theo đó, “thỏa thuận nuôi con” là sự nhất trí chung giữa hai vợ chồng về việc ai sẽ là người trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ, giáo dục con, sự nhất trí này đạt được thông qua một quá trình bàn bạc, trao đổi các quan điểm, các quan điểm này được vợ chồng xem xét và dung hòa rồi đi đến thống nhất, cả hai vợ chồng đều có ý định tự nguyện cùng thực hiện những điều mà họ đã thống nhất

“Chia tài sản khi ly hôn” là việc chia tài sản chung của vợ chồng khi hai bên vợ chồng yêu cầu Tòa án chấm dứt quan hệ hôn nhân của mình Tài sản chung của vợ, chồng được quy định theo Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014 Cụm từ “chia tài sản khi ly hôn” trong trường hợp này không tách rời với từ “thỏa thuận”

Từ việc phân tích nghĩa của các cụm từ như trên, có thể hiểu “yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn” là việc vợ chồng cùng nhau yêu cầu Tòa án có thẩm quyền công nhận việc chấm dứt quan hệ hôn nhân của mình, trong đó, họ đã thỏa thuận được với nhau về vấn đề con chung

(nếu có) và thỏa thuận được về việc chia tài sản chung (nếu có) và yêu cầu Tòa án công nhận toàn bộ những sự thỏa thuận này

Như vậy, thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn có thể hiểu là quá trình Tòa án áp dụng pháp luật vào việc xem xét, quyết định chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn của vợ chồng từ giai đoạn nhận đơn yêu cầu đến khi có quyết định có hiệu lực pháp luật giải quyết

1.2.2 Đặc điểm của thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn

Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn là yêu cầu về hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 2 Điều 29 BLTTDS năm 2015 Theo Điều 1 BLTTDS năm 2015, yêu cầu về hôn nhân và gia đình là một trong các loại việc dân sự, là việc vợ chồng không có tranh chấp nhưng có yêu cầu Tòa án công nhận một sự kiện pháp lý (chấm dứt quan hệ hôn nhân, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn) làm căn cứ phát sinh quyền, nghĩa vụ hôn nhân và gia đình Do yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn là việc dân sự nên thủ tục giải quyết yêu cầu này là một thủ tục giải quyết việc dân sự, theo đó, thủ tục này mang những đặc điểm chung của một thủ tục giải quyết việc dân sự Tuy nhiên đây cũng là một loại việc dân sự đặc biệt có một số đặc điểm riêng khác với các loại việc dân sự khác Các đặc điểm của loại việc này được thể hiện như sau:

Thứ nhất, thành phần giải quyết việc dân sự công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn theo thủ tục tố tụng chỉ bao gồm một Thẩm phán và không bao gồm Hội thẩm nhân dân Đối với vụ án dân sự, thành phần giải quyết sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân (trừ thủ tục rút gọn giải quyết vụ án dân sự chỉ gồm một Thẩm phán tiến hành) hoặc trong trường hợp đặc biệt sẽ gồm hai Thẩm phán và ba Hội Thẩm nhân dân tham gia giải quyết

Tuy nhiên, khác với thành phần giải quyết vụ án dân sự và thành phần giải quyết một số việc dân sự, thành phần giải quyết việc dân sự yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn theo thủ tục tố tụng chỉ bao gồm một Thẩm phán (theo quy định tại Chương V BLTTDS năm 2015, từ Điều 63 đến Điều 67) Sở dĩ có sự quy định khác biệt này là do các bên trong loại việc dân sự này là không có tranh chấp với nhau mà chỉ yêu cầu Tòa án xem xét

11 công nhận những gì họ đã thống nhất, thỏa thuận trước đó Sự việc không quá phức tạp nên thủ tục giải quyết cũng không gây nhiều khó khăn cho Thẩm phán Bên cạnh đó, vai trò của Hội thẩm nhân nhân tham gia xét xử là để nêu ý kiến, quan điểm về tranh chấp dưới góc nhìn của nhân dân, đảm bảo sự hợp tình cho phán quyết của Tòa án Vai trò này của Hội thẩm nhân dân sẽ không được thể hiện quá nhiều do tính chất của việc dân sự như đã nêu là không có tranh chấp, đơn giản, các đương sự không mâu thuẫn, tranh giành quyền lợi lẫn nhau Vì vậy, không cần đến sự tham gia của nhiều Thẩm phán hay sự có mặt của Hội thẩm nhân dân Điều này giúp đơn giản hóa thủ tục tố tụng và nhằm tiết kiệm nguồn nhân lực để giải quyết các vụ việc khác phức tạp hơn

Thứ hai, hòa giải là thủ tục bắt buộc Tòa án phải tiến hành khi thực hiện giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn (trừ một số trường hợp không thể tiến hành hòa giải) Đối với việc giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn theo thủ tục tố tụng, trong thời hạn chuẩn bị xét yêu cầu, Thẩm phán được phân công giải quyết đơn yêu cầu cần phải tiến hành một thủ tục đặc biệt, được xem là đặc trưng của loại việc dân sự này, đó là thủ tục hòa giải Khác với tất cả các việc dân sự khác, chỉ có thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn mới có thủ tục hòa giải và đây là một thủ tục bắt buộc phải tiến hành (trừ những trường hợp không thể tiến hành hòa giải được) Hòa giải trong giải quyết việc dân sự công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn được quy định tại khoản 2 Điều

Hòa giải theo một số từ điển nghĩa là giải quyết cho hòa thuận lại 9 , thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột hoặc xích mích một cách ổn thỏa 10 , dàn xếp để hai bên không xung đột nhau nữa 11 Theo Điều 1 BLTTDS năm 2015, yếu tố có tranh chấp được xem là một đặc trưng của vụ án dân sự, còn về việc dân sự thì chỉ là yêu cầu mà không có tranh chấp, vấn đề này cũng đã được nêu rõ tại Điều 361 BLTTDS năm 2015.Yêu cầu giải quyết công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn là một việc dân sự, đã là việc dân sự thì không có tranh chấp, mà không có tranh chấp thì tại sao lại phải hòa giải trong khi như đã nêu

9 Nguyễn Văn Xô (2008), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Thanh niên, trang 319

10 Viện Ngôn ngữ học (2002), Từ điển Tiếng Việt phổ thông, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, trang 393

11 Nguyễn Lân (2006), Từ điển Từ và ngữ Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, trang 842

12 ở trên, mục đích của hòa giải là để giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn? Điều này có thể lý giải như sau:

Việc xác định yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn là một loại việc dân sự là do xuất phát từ việc vợ chồng cùng nhau yêu cầu ly hôn và đã thỏa thuận được các vấn đề khác để chấm dứt quan hệ hôn nhân của mình, giữa vợ chồng không xảy ra bất kỳ tranh chấp nào về mặt yêu cầu ly hôn hay thỏa thuận các vấn đề về con cái, tài sản, tức là vợ chồng đã đạt được sự thống nhất Điều này hoàn toàn khác với việc chỉ một trong hai vợ chồng yêu cầu ly hôn còn người còn lại thì không hoặc cả hai vợ chồng đều yêu cầu ly hôn nhưng các vấn đề về con cái hay tài sản họ không thể thỏa thuận, thống nhất được, lúc này mới được coi là có yếu tố tranh chấp và sẽ giải quyết theo thủ tục giải quyết vụ án dân sự

Thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn ở một số quốc gia trên thế giới

1.3.1 Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc)

Hiện nay, thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn ở Trung Quốc được điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự

16 của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 2020 13 (được ban hành vào ngày 28/5/2020, có hiệu lực từ ngày 01/01/2021, sau đây gọi là BLDS Trung Quốc) Trước đó, các thủ tục giải quyết thuận tình ly hôn được điều chỉnh bởi Luật Hôn nhân của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1980, sửa đổi năm 2001 14 (sau đây gọi là Luật Hôn nhân Trung Quốc) Từ sau khi BLDS Trung Quốc có hiệu lực, thủ tục giải quyết công nhận thuận tình ly hôn được điều chỉnh bởi BLDS này, Luật Hôn nhân Trung Quốc hết hiệu lực thi hành (theo Điều 1260 BLDS Trung Quốc)

Thủ tục giải quyết loại việc này quy định tại Chương IV, Phần năm, BLDS Trung Quốc (ở Điều 1076, Điều 1077, Điều 1078) Cả BLDS Trung Quốc và Luật Hôn nhân Trung Quốc trước đây (ở Điều 31, chương IV) đều có quy định: nếu cả hai vợ chồng kết hôn hợp pháp muốn thuận tình ly hôn mà đã thỏa thuận được các vấn đề về quyền nuôi con, chia tài sản gia đình, phân chia các khoản nợ thì sẽ được giải quyết cho ly hôn theo thủ tục hành chính (không thông qua Tòa án như ở Việt Nam) Theo đó, hai vợ chồng phải tiến hành lập thỏa thuận thuận tình ly hôn bằng văn bản và nộp hồ sơ đăng ký ly hôn tại cơ quan đăng ký kết hôn Nếu xét thấy việc ly hôn là tự nguyện và hai bên đã thỏa thuận được với nhau về các vấn đề như cấp dưỡng nuôi con, phân chia tài sản, nợ nần thì cơ quan đăng ký kết hôn sẽ thu hồi giấy chứng nhận kết hôn và cấp giấy chứng nhận ly hôn cho hai vợ, chồng và lập hồ sơ lưu trữ dưới dạng điện tử

Tuy nhiên, từ ngày BLDS Trung Quốc có hiệu lực, thủ tục này có sự thay đổi Theo đó, khi vợ chồng nộp văn bản thỏa thuận của họ đến cơ quan đăng ký kết hôn, cơ quan này sẽ tiếp nhận nhưng không giải quyết ngay như trước mà vợ chồng phải trải qua một khoảng thời gian chờ đợi 30 ngày (kể từ ngày cơ quan đăng ký kết hôn nhận được hồ sơ đăng ký ly hôn) Nếu trong 30 ngày này mà ít nhất một trong hai bên vợ chồng rút khỏi thỏa thuận ly hôn (bằng cách xuất trình giấy tờ tùy thân hợp lệ và phiếu giao nhận, rút hồ sơ đăng ký ly hôn tại cơ quan đăng ký kết hôn 15 ) thì coi như yêu cầu công nhận ly hôn bị hủy bỏ Nếu không có ai rút khỏi thỏa thuận,

13 “ 中 华 人 民 共 和 国 民 法 典 ” (“Bộ luật dân sự của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa”), http://www.npc.gov.cn/npc/c30834/202006/75ba6483b8344591abd07917e1d25cc8.shtml, truy cập ngày 05/7/2021

14 “中华人民共和国婚姻法(2001 年修正本) ” (“Luật Hôn nhân của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (sửa đổi năm 2001)”), http://www.gd.gov.cn/zwgk/wjk/zcfgk/content/post_2532188.html, truy cập ngày 05/7/2021

15 “Ministry of Civil Affairs Modifies Divorce Registration Procedures - China Legal News”, https://www.chinajusticeobserver.com/a/ministry-of-civil-affairs-modifies-divorce-registration-procedures, truy cập ngày 06/7/2021

17 trong vòng 30 ngày kể từ khi hết thời hạn trên, cả vợ và chồng phải tự mình đến cơ quan đăng ký kết hôn để xin cấp giấy chứng nhận ly hôn, cơ quan này sẽ tiến hành giải quyết yêu cầu của vợ chồng Nếu trong khoảng thời gian này mà vợ chồng không thực hiện việc xin cấp giấy chứng nhận ly hôn, việc đăng ký ly hôn coi như bị rút lại (quy định về thời gian chờ đợi của pháp luật Trung Quốc có sự tương tự với quy định của pháp luật Việt Nam trước đây, tại Sắc lệnh số 159/SL của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ngày 17/11/1950)

Sau khi vợ chồng được cấp giấy chứng nhận ly hôn, quan hệ hôn nhân sẽ chấm dứt (Điều 1080 BLDS Trung Quốc), việc cấp giấy chứng nhận ly hôn cho hai vợ chồng sẽ không được xem xét lại bằng bất kỳ hình thức nào (không được kháng nghị giám đốc thẩm như ở Việt Nam) Trường hợp có căn cứ cho rằng một bên vợ/ chồng che giấu, chuyển nhượng, bán tháo, tiêu hủy hoặc làm hư hỏng, hoặc lãng phí tài sản chung, hoặc tạo ra một khoản nợ chung giả nhằm cố gắng chiếm đoạt bất hợp pháp tài sản của vợ/ chồng kia, thì vợ/ chồng còn lại có quyền khởi kiện ra Tòa án nhân dân để chia lại tài sản chung (theo Điều 1092 BLDS Trung Quốc), tức là không có trường hợp hủy bỏ giấy chứng nhận ly hôn

1.3.2 Cộng hoà Phần Lan (Phần Lan)

Tại Phần Lan, thủ tục thuận tình ly hôn được quy định tại Đạo Luật Hôn nhân Phần Lan số 234/29 ngày 13/6/1929 16 (từ sau năm 1929, Đạo Luật này được sửa đổi bởi nhiều luật khác) Các quy định cụ thể gồm các Mục 25 đến 32 của Đạo luật này 17

Theo đó, pháp luật Phần Lan quy định trong trường hợp hai vợ chồng đều muốn ly hôn, họ có thể cùng làm đơn xin ly hôn hoặc chỉ cần đơn của một bên vợ chồng Đơn ly hôn không cần thể hiện lý do ly hôn hay các thỏa thuận về con cái hay tài sản khi ly hôn (theo Mục 28) Vợ chồng phải nộp đơn xin ly hôn cho văn phòng Tòa án Quận nơi một trong hai vợ chồng cư trú Việc gửi đơn có thể thông qua đường bưu biện, email hoặc dưới các dạng điện tín khác 18

Thông thường, sau khi nộp đơn đến Tòa án, vợ chồng đều phải trải qua thời gian xem xét lại kéo dài sáu tháng (ở Việt Nam không có khoảng thời gian chờ đợi

16 “Äktenskapslag 13.6.1929/234” (“Đạo Luật Hôn nhân Phần Lan số 234/29 ngày 13/6/1929”), https://www.finlex.fi/sv/laki/ajantasa/1929/19290234#O1L6, truy cập ngày 05/7/2021

17 Các Mục này được sửa đổi bởi Đạo luật số 411/87 ngày 16/4/1987

18 “Divorce”, https://www.infofinland.fi/en/living-in-finland/family/divorce, truy cập ngày 05/7/2021

18 với tính chất như vậy), bắt đầu từ thời điểm Tòa án nhận được đơn xin ly hôn chung của hai vợ chồng (đối với trường hợp vợ chồng nộp đơn ly hôn chung) hoặc từ thời điểm bên vợ chồng còn lại nhận được thông báo về đơn xin ly hôn của vợ/chồng đã nộp đơn (đối với trường hợp chỉ một bên vợ chồng nộp đơn) (theo Mục 26) Tuy nhiên, nếu có cuộc hôn nhân đã được xác lập trong khi cuộc hôn nhân trước còn hiệu lực thì cả hai vợ chồng của cuộc hôn nhân trước đó đều có quyền ly hôn mà không cần xem xét trong một khoảng thời gian như nêu trên (theo khoản 2 Mục 27), hoặc nếu vợ chồng đã ly thân với nhau hay không sống cùng nhau trong hai năm không gián đoạn thì vợ chồng không phải trải qua thời gian xem xét lại này (theo Mục 25) Đối với trường hợp không cần trải qua thời gian xem xét lại, Tòa án sẽ ra quyết định cho vợ chồng ly hôn ngay lập tức Đối với trường hợp phải xem xét lại trong sáu tháng, sau thời gian xem xét lại vợ hoặc chồng phải nộp đơn yêu cầu lần hai tới Tòa án Quận (đối với trường hợp nộp đơn xin ly hôn chung) hoặc người đã nộp đơn lần đầu phải nộp đơn yêu cầu lần thứ hai tới Tòa án Quận (đối với trường hợp một bên nộp đơn) (theo Mục 26) Việc nộp đơn lần hai này phải diễn ra trong thời hạn sáu tháng kể từ khi thời hạn xem xét trước đó kết thúc Sau khi nộp đơn yêu cầu lần thứ hai trong thời hạn quy định, Tòa án sẽ ra quyết định chấm dứt hôn nhân giữa hai vợ chồng Nếu các chủ thể này không nộp đơn lần hai trong thời hạn quy định, đơn xin ly hôn đầu tiên sẽ bị hủy bỏ Ở Phần Lan, thủ tục giải quyết ly hôn tách biệt với vấn đề về tài sản Vấn đề thỏa thuận về tài sản là không bắt buộc, nếu muốn, họ có thể có một thỏa thuận riêng về tài sản; vợ chồng có thể đạt được thỏa thuận về tài sản và được công nhận ngay từ khi bắt đầu thời gian xem xét lại cho đến sau khi đã có quyết định chấm dứt hôn nhân Thỏa thuận này không cần phải được công nhận bởi chủ thể nào, tuy nhiên, để bảo đảm được thực hiện, vợ chồng có thể yêu cầu Tòa án xác nhận Đối với vấn đề về con cái, họ có thể thỏa thuận ngay trong đơn xin ly hôn hoặc không, thỏa thuận về con cái có thể được giải quyết riêng hoặc chung với đơn xin ly hôn, nghĩa là vấn đề chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng không chịu ảnh hưởng bởi các vấn đề về tài sản, con cái hay nợ chung (theo pháp luật Việt Nam thì vợ chồng phải thỏa thuận được các vấn đề về con cái và tài sản) Theo Mục 32, Tòa án sẽ tự chủ động đặt vấn đề về việc thu xếp quyền nuôi con và quyền tiếp cận của vợ chồng đối với lợi ích tốt nhất của đứa trẻ như thế nào Theo yêu cầu của cha mẹ đứa trẻ hoặc Hội đồng phúc lợi xã hội, Tòa án sẽ đưa ra quyết định về quyền

19 nuôi con và quyền tiếp cận theo cách thức được quy định trong Đạo luật về quyền nuôi con và quyền tiếp cận 19

Thủ tục giải quyết yêu cầu ly hôn thuận tình ở Pháp được điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804 20 (BLDS Pháp) Từ khi Bộ luật này có hiệu lực, cho tới nay đã có nhiều quy định được sửa đổi, bổ sung bởi một số Luật khác Theo Điều

114 và Điều 50 của Luật số 2016-1547 năm 2016, kể từ ngày 01/01/2017, nếu vợ chồng muốn thuận tình ly hôn và đã thỏa thuận được tất cả các vấn đề khác như về con cái, tài sản, nợ chung việc giải quyết có thể được thực hiện theo các thủ tục khác nhau tùy theo trường hợp

Trường hợp thứ nhất: Theo Điều 1146 BLDS Pháp 21 và Điều 229-2 BLDS Pháp 22 , nếu ít nhất một người con chung (ở tuổi vị thành niên) sau khi được cha mẹ thông báo về quyền được thẩm phán xét xử theo các điều kiện quy định tại Điều 388-1 yêu cầu được Thẩm phán xét xử hoặc nếu ít nhất một trong hai bên vợ, chồng đang được áp dụng các biện pháp bảo vệ theo Điều 425 BLDS Pháp năm 1804 23 (tương tự như người được giám hộ do bị mất năng lực hành vi dân sự theo pháp luật Việt Nam), họ phải giải quyết thông qua thủ tục tố tụng tại Tòa án (pháp luật ở Việt Nam không có quy định như vậy, chỉ có vợ chồng mới có thể quyết định giải quyết ly hôn theo thủ tục nào) Cụ thể như sau:

NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN, THỎA THUẬN NUÔI CON, CHIA TÀI SẢN KHI LY HÔN

Thủ tục yêu cầu, nhận và xử lý đơn yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình

2.1.1 Chủ thể có quyền yêu cầu

Ly hôn là việc chấm dứt mối quan hệ vợ chồng theo bản án hoặc quyết định có hiệu lực của Tòa án 31 Khi muốn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, trước hết quan hệ hôn nhân giữa hai bên vợ, chồng phải là hôn nhân hợp pháp 32

Theo Điều 39 BLDS 2015, cá nhân có quyền ly hôn, cá nhân thực hiện quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình theo quy định của BLDS, Luật HN&GĐ và luật khác có liên quan; khoản 1 Điều 51 Luật HN&GĐ năm 2014 cũng có quy định cho vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn; trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn cũng được quy định tại Điều 55 Luật HN&GĐ năm 2014 Những quy định này đều cho thấy vợ, chồng trong một quan hệ hôn nhân đều có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, mà thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn cũng là một hình thức ly hôn, do đó, vợ chồng trong một quan hệ hôn nhân đều có quyền yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn

Trong loại việc dân sự yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, theo Điều 396 BLTTDS năm 2015, cả vợ và chồng đều phải tự mình thỏa thuận các vấn đề về quan hệ hôn nhân, về nuôi con, tài sản và phải ký tên hoặc điểm chỉ vào đơn yêu cầu Vợ chồng không được ủy quyền cho người khác thực hiện việc này, cả vợ và chồng cùng được xác định là người yêu cầu (khoản 2 Điều 396 BLTTDS năm 2015) Đây là một quy định phù hợp với tính chất của loại việc này do việc ly hôn này quyền nhân thân của cá nhân (Điều 25 BLDS năm 2015), việc ly hôn là thuận tình, các vấn đề trong đơn yêu cầu đều là kết quả của sự thỏa thuận, thống nhất của cả hai vợ chồng về quan hệ hôn nhân của mình nên việc cả hai vợ chồng đều phải ký hoặc điểm chỉ vào đơn nhằm thể hiện sự thống nhất ý chí của cả hai bên

30 Xin trình bày chi tiết ở mục 2.2 của Khóa luận này

31 Theo khoản 14 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014

32 Áp dụng tinh thần của Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001: Tại Việt Nam, hôn nhân hợp pháp bao gồm hôn nhân có đăng ký kết hôn hoặc chung sống với nhau như vợ chồng là hôn nhân thực tế trước ngày 03/01/1987, có đầy đủ điều kiện kết hôn nhưng chưa thực hiện đăng ký kết hôn

Theo khoản 1 Điều 362 BLTTDS năm 2015, cũng như theo khoản 1 Điều

396 BLTTDS năm 2015, việc đầu tiên cần làm để bắt đầu quá trình giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn là người yêu cầu làm đơn yêu cầu 33 và gửi đơn này đến Tòa án có thẩm quyền

Theo khoản 1 Điều 396 BLTTDS năm 2015, đơn yêu cầu bắt buộc phải có các nội dung chính quy định tại khoản 2 Điều 362 BLTTDS năm 2015, bao gồm: ngày, tháng, năm làm đơn; tên Tòa án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu; thông tin về nhân thân của người yêu cầu gồm tên, địa chỉ của hai vợ chồng; những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết và lý do, mục đích, căn cứ của việc yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu đó; các thông tin khác mà người yêu cầu xét thấy cần thiết cho việc giải quyết yêu cầu của mình Cả hai vợ chồng đều phải ký tên hoặc điểm chỉ vào đơn yêu cầu, ngoài ra, nếu người yêu cầu có số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử thì cũng cần thể hiện trong đơn yêu cầu và nếu có người có liên quan đến việc giải quyết yêu cầu thì đơn yêu cầu cần phải thể hiện tên, địa chỉ của những người này

Căn cứ vào đơn yêu cầu, Tòa án có thể xác định được nội dung yêu cầu, yêu cầu có thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án đó không, qua đơn yêu cầu Tòa án cũng có thể xác định được những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, những chủ thể khác cần thiết tham gia vào việc giải quyết yêu cầu để có thể triệu tập/mời họ tham gia vào quá trình giải quyết yêu cầu

Bên cạnh đó, theo khoản 3 Điều 396 BLTTDS năm 2015, kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu phải gửi tài liệu, chứng cứ chứng minh thỏa thuận về thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn là có căn cứ và hợp pháp Một số tài liệu, chứng cứ cơ bản chứng minh thỏa thuận về thuận tình ly hôn là có căn cứ và hợp pháp như: bản chính giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (nếu mất bản chính phải có bản sao hợp lệ do Ủy ban nhân dân nơi đăng ký kết hôn cấp) hoặc tài liệu, chứng cứ chứng minh vợ chồng đã sống chung với nhau từ trước ngày 03/01/1987 đến nay nếu chưa đăng ký kết hôn; nếu có con chung và yêu cầu Tòa án công nhận thỏa thuận nuôi con thì cần có bản sao có công chứng giấy khai sinh của con chung, (nếu giấy khai sinh của con bị thất lạc, một trong hai bên vợ chồng có thể đến cơ

33 Hiện nay, mẫu đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn được quy định tại Mẫu số 01-VDS ban hành kèm theo Nghị quyết 04/2018/NQ-HĐTP ngày 09 tháng 8 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (Nghị quyết 04/2018/NQ-HĐTP)

26 quan hộ tịch đã đăng ký khai sinh cho con để xin trích lục lại giấy khai sinh); bản sao có công chứng sổ hộ khẩu của cả hai vợ chồng (nếu tạm trú thì phải có giấy tạm trú/sổ tạm trú/xác nhận của công an nơi tạm trú, nếu sổ hộ khẩu bị thất lạc hai vợ chồng có thể đến cơ quan công an xã nơi đăng ký hộ khẩu thường trú để xin xác nhận nơi cư trú); bản sao có công chứng chứng minh nhân dân/ căn cước công dân/hộ chiếu (giấy tờ chứng minh lý lịch) của cả hai vợ chồng, nếu mất giấy tờ tùy thân của hai vợ chồng có thể đến cơ quan công an xã nơi đăng ký hộ khẩu thường trú xin xác nhận nhân thân và xác nhận về nơi cư trú; nếu có tài sản chung và yêu cầu Tòa án công nhận thỏa thuận về chia tài sản chung, nợ chung thì cần có các tài liệu, giấy tờ, chứng cứ chứng minh như bản sao có công chứng giấy tờ nhà, đất, giấy vay nợ ; biên bản hòa giải giải quyết việc thuận tình ly hôn ở cơ sở nếu có (cơ quan, gia đình, địa phương )

Về phạm vi yêu cầu, vợ chồng có thể chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận về thuận tình ly hôn và thỏa thuận nuôi con (nếu có) mà không cần phải yêu cầu Tòa án công nhận cả về thỏa thuận chia tài sản khi ly hôn Điều này dựa vào nguyên tắc quyền tự quyết định và tự định đoạt của đương sự được quy định tại Điều 5 BLTTDS năm 2015 34 Bên cạnh đó, tại khoản 1 Điều 59 Luật HN&GĐ năm

2014 có quy định trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật Như vậy theo quy định này, vấn đề tài sản chung của vợ chồng có thể do các bên tự thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết và Tòa án chỉ giải quyết trong phạm vi đơn yêu cầu

Việc vợ chồng yêu cầu Tòa án giải quyết thuận tình ly hôn thì thỏa thuận nuôi con là bắt buộc nếu vợ chồng có con chung Nếu để vợ chồng tự quyết định về việc nuôi con thì có thể quyền lợi của con sẽ không được bảo đảm, thỏa thuận nuôi con phải được Tòa án xem xét để xem thỏa thuận như vậy có bảo đảm được quyền lợi của con hay không, ai là người có đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con, ai là phù hợp hơn để nuôi con, thỏa thuận có phù hợp với nguyện vọng của con hay không

34 Điều 5 BLTTDS năm 2015 quy định: “Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội”

Tại Phần thứ sáu của BLTTDS về thủ tục giải quyết việc dân sự không có quy định cụ thể về thủ tục gửi đơn yêu cầu, tuy nhiên theo dẫn chiếu của Điều 361 BLTTDS năm 2015, “trường hợp phần này không quy định thì áp dụng những quy định khác của BLTTDS để giải quyết việc dân sự” Do đó, thủ tục gửi đơn yêu cầu có thể áp dụng tương tự như thủ tục gửi đơn khởi kiện

Hòa giải tiền tố tụng tại Tòa án

Hòa giải tiền tố tụng tại Tòa án là hoạt động do Hòa giải viên tiến hành trước khi Tòa án thụ lý vụ việc dân sự, nhằm hỗ trợ các bên tham gia hòa giải thỏa thuận giải quyết vụ việc dân sự Đây là một thủ tục mới, được quy định tại Chương III Luật HGĐTTTA năm 2020 (từ Điều 16 đến Điều 41), được áp dụng từ ngày 01/01/2021

2.2.1 Quyền được lựa chọn hòa giải tiền tố tụng tại Tòa án

Theo Điều 16 Luật HGĐTTTA năm 2020, sau khi người yêu cầu nộp đơn yêu cầu giải quyết công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn đến Tòa án có thẩm quyền (khoản 1), Tòa án tiến hành nhận đơn, vào sổ nhận đơn, xác nhận việc nhận đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 191 BLTTDS

30 năm 2015 (khoản 2 - quy trình này được thực hiện như đã trình bày ở các phần trước) Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn yêu cầu, Tòa án thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu biết về quyền được lựa chọn hòa giải và lựa chọn Hòa giải viên (khoản 3 - quyền này được quy định tại Điều 8 Luật HGĐTTTA năm 2020)

Theo khoản 4 Điều 16 Luật HGĐTTTA năm 2020, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án, người yêu cầu phải trả lời bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác cho Tòa án về những nội dung đã được Tòa án thông báo Người yêu cầu có thể trực tiếp đến Tòa án trình bày ý kiến, trong trường hợp này, Tòa án phải lập biên bản ghi nhận ý kiến (biên bản phải có chữ ký hoặc điểm chỉ của người yêu cầu) Nếu người yêu cầu có ý kiến trả lời không đồng ý hòa giải tiền tố tụng tại Tòa án, Tòa án phải xử lý theo quy định của pháp luật về tố tụng

Nếu hết thời hạn này mà người yêu cầu chưa có ý kiến trả lời cho Tòa án thì Tòa án phải thông báo lại lần thứ hai cho họ (điểm c khoản 4 Điều 16 Luật HGĐTTTA năm 2020) Nếu quá thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo lần thứ hai của Tòa án mà người yêu cầu vẫn không trả lời hoặc trường hợp người yêu cầu đồng ý hòa giải tiền tố tụng tại Tòa án thì Tòa án sẽ quyết định tiến hành hòa giải tiền tố tụng tại Tòa án Tòa án phân công Thẩm phán phụ trách hòa giải thực hiện nhiệm vụ theo quy định tại khoản 5, khoản 6 Điều 16 Luật HGĐTTTA năm 2020

2.2.2 Lựa chọn hoặc chỉ định Hòa giải viên

Theo khoản 6 Điều 16 LHGĐTTTA năm 2020, trong thời hạn 03 ngày làm việc, Thẩm phán phụ trách hòa giải phải chỉ định một Hòa giải viên tiến hành hòa giải theo quy định tại Điều 17 Luật HGĐTTTA năm 2020 Theo đó, Thẩm phán phụ trách hòa giải phải thông báo cho người yêu cầu về quyền được lựa chọn Hòa giải viên (quyền này được quy định tại khoản 2 Điều 17 Luật HGĐTTTA năm 2020) Người yêu cầu được lựa chọn Hòa giải viên thuộc Tòa án nơi có thẩm quyền giải quyết hoặc Hòa giải viên nơi Tòa án cấp huyện khác cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án nhân dân cấp tỉnh (theo khoản 2, khoản 3 Điều 17 Luật HGĐTTTA năm 2020)

Theo khoản 3 Điều 17 Luật HGĐTTTA năm 2020, khi chọn Hòa giải viên ở Tòa án cấp huyện khác, Hòa giải viên ở Tòa án cấp huyện khác phải thông báo đồng ý hoặc từ chối hòa giải tới Thẩm phán phụ trách hòa giải và Tòa án nơi mình làm

31 việc trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo lựa chọn Hòa giải viên Nếu Hòa giải viên đồng ý hòa giải, trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo nhận hòa giải của Hòa giải viên, Tòa án nơi Hòa giải viên làm việc phải có ý kiến đồng ý hoặc không đồng ý với sự lựa chọn của Hòa giải viên gửi cho Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc và Hòa giải viên Hòa giải viên có trách nhiệm thông báo cho người yêu cầu biết Trường hợp Hòa giải viên hoặc Tòa án nơi Hòa giải viên làm việc không đồng ý nhận hòa giải, người yêu cầu có thể lựa chọn Hòa giải viên khác hoặc không lựa chọn tiếp tục

Nếu người yêu cầu lựa chọn Hòa giải viên tại Tòa án có thẩm quyền giải quyết, Hòa giải viên không được từ chối nhận hòa giải, trừ khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 18 Luật HGĐTTTA năm 2020

Thẩm phán phụ trách hòa giải chỉ định Hòa giải viên theo sự lựa chọn của người yêu cầu trong các trường hợp: người yêu cầu lựa chọn Hòa giải viên tại Tòa án có thẩm quyền giải quyết mà Hòa giải viên đó không thuộc các trường hợp phải từ chối hoặc bị thay đổi; khi được sự đồng ý của Hòa giải viên được lựa chọn và Tòa án nơi Hòa giải viên được lựa chọn làm việc (trong trường hợp chọn Hòa giải viên ở Tòa án cấp huyện khác); hoặc khi người yêu cầu thỏa thuận lựa chọn Hòa giải viên khác (Theo khoản 4 Điều 17 Luật HGĐTTTA năm 2020)

Nếu người yêu cầu không lựa chọn Hòa giải viên; hoặc có lựa chọn Hòa giải viên ở Tòa án cấp huyện khác nhưng Hòa giải viên hoặc Tòa án nơi Hòa giải viên đó làm việc không đồng ý nhận hòa giải mà người yêu cầu không lựa chọn Hòa giải viên khác; hoặc Hòa giải viên tại Tòa án có thẩm quyền giải quyết thuộc trường hợp phải từ chối tiến hành hòa giải hoặc bị thay đổi mà người yêu cầu không lựa chọn Hòa giải viên khác thì Thẩm phán được phân công phụ trách hòa giải phải tự chỉ định Hòa giải viên (theo khoản 5 Điều 17 Luật HGĐTTTA năm 2020) Việc tự chỉ định Hòa giải viên phải căn cứ vào tính chất của từng việc dân sự thuận tình ly hôn, trường hợp việc dân sự thuận tình ly hôn có liên quan đến người dưới 18 tuổi thì Thẩm phán chỉ định Hòa giải viên có kinh nghiệm, hiểu biết về tâm lý của người dưới 18 tuổi tiến hành hòa giải (theo khoản 6 Điều 17 Luật HGĐTTTA năm 2020)

Trong thời hạn 20 ngày (hoặc 30 ngày đối với việc phức tạp) kể từ ngày được chỉ định, Hòa giải viên phải tiến hành hòa giải (tuy nhiên các bên có thể thống nhất kéo dài thời hạn hòa giải nhưng tổng thời hạn không được quá 02 tháng), (theo Điều 20 Luật HGĐTTTA năm 2020)

2.2.3 Giai đoạn chuẩn bị hòa giải tiền tố tụng tại Tòa án

Những việc cần phải làm trong giai đoạn chuẩn bị hòa giải tiền tố tụng tại Tòa án được quy định tại Điều 21 Luật HGĐTTTA năm 2020 Theo đó, trong giai đoạn này, Hòa giải viên phải tiếp nhận đơn và tài liệu kèm theo do Tòa án chuyển đến, vào sổ theo dõi vụ việc, nghiên cứu đơn và tài liệu kèm theo, xác định tư cách của các bên, người đại diện, người phiên dịch trong việc dân sự và thông báo cho họ biết về việc hòa giải

Hòa giải viên có thể yêu cầu các bên bổ sung thông tin, tài liệu, chứng cứ, xây dựng, đề xuất phương án, giải pháp để giải quyết việc dân sự Hòa giải viên có thể mời người có uy tín có khả năng tác động đến mỗi bên tham gia hòa giải để hỗ trợ cho việc hòa giải khi cần thiết Ngoài ra, Hòa giải viên phải nghiên cứu quy định của pháp luật có liên quan, tìm hiểu phong tục, tập quán và hoàn cảnh của các bên để phục vụ cho việc hòa giải khi thấy cần thiết; tham khảo ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân có chuyên môn về lĩnh vực liên quan đến việc dân sự để phục vụ cho việc hòa giải khi cần thiết và có thể tiến hành các nội dung khác khi thấy cần thiết cho việc hòa giải

Việc hòa giải có thể được tiến hành trong một hoặc nhiều phiên (khoản 1 Điều 22 Luật HGĐTTTA năm 2020), việc hòa giải có thể được tiến hành tại trụ sở Tòa án hoặc ngoài trụ sở Tòa án theo lựa chọn của các bên (khoản 2 Điều 22 Luật HGĐTTTA năm 2020), phiên hòa giải có thể được thực hiện bằng hình thức trực tiếp hoặc hình thức phù hợp khác theo đề nghị của các bên (khoản 3 Điều 22 Luật HGĐTTTA năm 2020)

Thụ lý đơn yêu cầu và chuẩn bị xét đơn yêu cầu theo thủ tục sơ thẩm

2.3.1 Thụ lý đơn yêu cầu

Nếu vợ chồng không lựa chọn giải quyết theo thủ tục hòa giải tiền tố tụng tại Tòa án hoặc thuộc các trường hợp tuy vợ chồng có lựa chọn hòa giải tiền tố tụng tại Tòa án nhưng qua quá trình giải quyết Hòa giải viên đã lập biên bản chấm dứt hòa giải và chuyển đơn yêu cầu kèm theo tài liệu, chứng cứ cho Tòa án đã nhận đơn trước đó thì Tòa án đã nhận đơn này sẽ tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục tố tụng giải quyết việc dân sự thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn

Thụ lý đơn yêu cầu là việc Tòa án nhận đơn yêu cầu của người khởi kiện vào sổ thụ lý việc dân sự Đây là công việc đầu tiên của Tòa án trong quá trình tố tụng, nếu không có việc thụ lý của Tòa án thì không có quá trình tố tụng dân sự tiếp theo

Việc toà án thụ lý việc dân sự sẽ là một trong những căn cứ để xác định các thời hạn tố tụng như quy định tại Điều 182 BLTTDS năm 2015

Nếu qua quá trình xử lý đơn yêu cầu (được trình bày ở mục 2.1.4 của Khóa luận này), Tòa án xác định đủ điều kiện để thụ lý đơn yêu cầu thì Tòa án tiến hành thụ lý đơn yêu cầu Theo Điều 365 BLTTDS năm 2015, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự, thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý đơn yêu cầu Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải có văn bản về ý kiến của mình đối với yêu cầu giải quyết việc dân sự nộp cho Tòa án theo điểm e khoản 2 Điều 365 BLTTDS năm

2015 (nếu không có văn bản ý kiến thì trong quá trình giải quyết có thể sẽ không được bảo đảm quyền lợi của mình) Văn bản thông báo thụ lý việc dân sự phải đảm bảo có các nội dung được quy định tại khoản 2 Điều 362 BLTTDS năm 2015

2.3.2 Chuẩn bị xét đơn yêu cầu theo thủ tục sơ thẩm

Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu đối với yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn được quy định khác với thời hạn chuẩn bị xét xử trong giải quyết vụ án dân sự ly hôn Theo khoản 1 Điều 366 BLTTDS năm 2015, thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu đối với yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn là 01 tháng kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (có thể kéo dài thêm 01 tháng) Còn đối với vụ án dân sự ly hôn, thời hạn này là 04 tháng, có thể kéo dài thêm 02 tháng Sở dĩ có sự khác biệt này là do việc thuận tình ly hôn có tính chất đơn giản hơn nhiều so với việc giải quyết vụ án, các vấn đề trong thuận tình ly hôn đã được thỏa thuận sẵn, các đương sự cũng “hợp tác” với nhau và với Tòa án để giải quyết yêu cầu thuận tình ly hôn của mình, các yêu cầu cũng đơn giản hơn so với vụ án ly hôn, Tòa án không phải mất quá nhiều thời gian để giải quyết

Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, Tòa án tiến hành các công việc sau đây:

2.3.2.1 Thủ tục trước hòa giải

Theo điểm a, khoản 2 Điều 366 BLTTDS năm 2015, Tòa án yêu cầu đương sự bổ sung tài liệu, chứng cứ trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Tòa án nếu Tòa án xét thấy tài liệu, chứng cứ chưa đủ căn cứ để giải quyết

Theo điểm b, khoản 2 Điều 366 BLTTDS năm 2015, trường hợp đương sự có yêu cầu hoặc khi xét thấy cần thiết thì Thẩm phán ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ; triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá tài sản Nếu hết thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu mà chưa có kết quả giám định, định giá tài sản thì thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu được kéo dài nhưng không quá 01 tháng – Đây được xem là một trường hợp pháp luật có quy định khác, trong trường hợp này thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu có thể tăng lên đến 02 tháng

Nếu người yêu cầu rút đơn yêu cầu, Tòa án phải ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu và trả lại đơn yêu cầu, tài liệu, chứng cứ kèm theo (theo điểm c khoản 2 Điều 366 BLTTDS năm 2015)

Thẩm phán tiến hành xác định hoàn cảnh gia đình, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn và nguyện vọng của vợ, chồng, con khi xét thấy cần thiết Khoản 1 Điều

397 BLTTDS năm 2015 quy định trong thời hạn chuẩn bị xét xử đơn yêu cầu, trước khi tiến hành hòa giải để vợ, chồng đoàn tụ, khi xét thấy cần thiết, thẩm phán có thể tham khảo ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em (“ở cấp huyện là Phòng Văn hóa và thông tin, ở cấp xã là Ủy ban nhân dân” 36 ), về hoàn cảnh gia đình, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn và nguyện vọng của vợ, chồng, con Ngoài ra, Thẩm phán cần phải lấy ý kiến của con chưa thành niên từ đủ 07 tuổi trở lên 37 (theo khoản 2 Điều 81 Luật HN&GĐ năm 2014, khoản 3 Điều 208 BLTTDS năm 2015), xem xét các tài liệu, chứng cứ khác để làm cơ sở giải quyết sự việc Mục đích của quy định này là nhằm giúp Tòa án củng cố thêm cơ sở để hòa giải đoàn tụ, khi xác định được hoàn cảnh gia đình, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn và nguyện vọng của các bên thì Thẩm phán sẽ hòa giải hiệu quả hơn, có thể động viên được vợ chồng hàn gắn, bảo đảm tốt nhất quyền, lợi ích chính đáng của phụ nữ và trẻ em

36 Trần Văn Trường (2017), “Những điểm mới trong thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 1/2017, trang 20

37 Theo công văn số 01/GĐ-TANDTC của Tòa án nhân dân tối cao ngày 05/01/2018 về việc giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ Tòa án, việc lấy ý kiến của con có thể không thực hiện được do các điều kiện khác nhau, trong những trường hợp này có thể không phải lấy ý kiến của con Nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên chỉ là một trong những yếu tố Tòa án phải xem xét trong quá trình giải quyết vụ án, việc quyết định giao con cho bên nào trực tiếp nuôi phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con Mặt khác, theo quy định tại Điều

214, Điều 217 BLTTDS năm 2015 thì việc không lấy được lời khai của các con không phải là căn cứ để đình chỉ hay tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự Do vậy, Tòa án giải quyết theo thủ tục chung và căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con để xem xét, quyết định người trực tiếp nuôi dưỡng con

Phần thứ sáu BLTTDS năm 2015 quy định về thủ tục giải quyết việc dân sự không có quy định về thủ tục hòa giải Theo Điều 361 BLTTDS năm 2015, trường hợp Phần thứ sáu không quy định thì áp dụng những quy định khác của BLTTDS năm 2015 để giải quyết việc dân sự Thủ tục hòa giải trong việc dân sự cùng bản chất với thủ tục hòa giải trong vụ án dân sự, do đó, hoàn toàn có thể áp dụng thủ tục hòa giải ở vụ án dân sự vào để giải quyết việc dân sự

BẤT CẬP TRONG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ TRONG THỰC TIỄN ÁP DỤNG THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN, THỎA THUẬN NUÔI CON, CHIA TÀI SẢN KHI

Ngày đăng: 27/10/2022, 12:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
19. Nguyễn Lân (2006), Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển từ và ngữ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Lân
Nhà XB: Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2006
20. Dương Thị Thùy Ninh (2009), Thủ tục giải quyết việc dân sự, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tục giải quyết việc dân sự
Tác giả: Dương Thị Thùy Ninh
Năm: 2009
21. Trịnh Thị Thu Thanh (2006), Thủ tục sơ thẩm giải quyết việc dân sự, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tục sơ thẩm giải quyết việc dân sự
Tác giả: Trịnh Thị Thu Thanh
Năm: 2006
22. Huỳnh Quang Thuận (2019), “Yêu cầu hủy phán quyết trọng tài - vụ án dân sự hay việc dân sự?”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 04(125)/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yêu cầu hủy phán quyết trọng tài - vụ án dân sự hay việc dân sự?”, "Tạp chí Khoa học pháp lý
Tác giả: Huỳnh Quang Thuận
Năm: 2019
23. Trần Văn Trường (2017), “Những điểm mới trong thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 1/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điểm mới trong thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”, "Tạp chí Tòa án nhân dân
Tác giả: Trần Văn Trường
Năm: 2017
24. Trường Đại học Kinh tế - Luật (2016), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự, Nguyễn Thị Hồng Nhung, Nxb. Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Tố tụng dân sự
Tác giả: Trường Đại học Kinh tế - Luật
Nhà XB: Nxb. Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2016
25. Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nguyễn Thị Hoài Phương, Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam
Năm: 2019
26. Viện Ngôn ngữ học (2002), Từ điển tiếng Việt phổ thông, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt phổ thông
Tác giả: Viện Ngôn ngữ học
Nhà XB: Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2002
27. Nguyễn Văn Xô (2008), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Thanh niên. Tài liệu từ internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt", Nxb. Thanh niên
Tác giả: Nguyễn Văn Xô
Nhà XB: Nxb. Thanh niên. "Tài liệu từ internet
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w