Nội dung của pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh tù ’ hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng thế chấp tài sản tại Tòa án..... Do đó, trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc và kế thừa kết qu
Trang 1chấp tài sản 71.1.1 Khái niệm hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng thế chấp tài sản 71.1.2 Đặc điểm hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng thế chấp tài sản 8
1.2 Khái niệm, đặc điểm, nguyên nhăn cùa tranh chấp phát sinh tù’
hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng thế chấp tài sản 11
1.2.1 Đặc điểm tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng
thế chấp tài sản 111.2.2 Nguyên nhân của tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng có bảo
đảm bằng thế chấp tài sản 14
1.3 Khái niệm, đặc điểm giải quyết tranh chấp phát sinh tù’ họp đồng
tín dụng có bảo đảm bằng tài sản thế chấp tại Tòa án 17
1.3.1 Khái niệm giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng có
bảo đảm bàng tài sản thế chấp tại Tòa án 171.3.2 Đặc điểm giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng
tài sản thế chấp tại Tòa án 18
1.4 Nội dung của pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh tù ’ hợp
đồng tín dụng có bảo đảm bằng thế chấp tài sản tại Tòa án 19
Kết luận chương 1 21
Trang 2CHƯƠNG 2: THựC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÈ GIẢI QUYẾT
TRANH CHÁP HỢP ĐÒNG TÍN DỤNG CÓ BẢO ĐẢM BẰNG TÀI SẢN TÀI SẢN THÉ CHẤP TẠI TÒA ÁN VÀ THỤC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐÔNG THÁP 22 2.1 Thực trạng pháp luật Việt nam về giải quyết tranh chấp hợp
đồng tín dụng có bảo đảm bằng thế chấp tài sản tại Tòa án 222.1.1 Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng có bảo đảm
bằng thế chấp tài sản tại Tòa án 222.1.2 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng có bảo đảm
bằng thế chấp tài sản tại Tòa án 242.1.3 Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp từ hợp đồng tíndụng có bảo
đảm bằng thế chấp tài sản tại Tòa án 252.1.4 Chủ thể, hình thức và nội dung của hợp đồng tín dụng 302.1.5 Chú thể, hình thức và nội dung của hợp đồng thế chấp tài sản 41
2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp hơp đồng tín
dụng có bảo đảm bằng thế chấp tài sản tại Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp 492.2.1 Khái quát về tỉnh Đồng Tháp và Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp 492.2.2 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng có bảo đảm
bằng tài sản thế chấp của Tòa án nhân dân tinh Đồng Tháp 512.2.3 Đặc thù cùa giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng
tài sản thế chấp trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp 532.2.4 Những kết quả đạt được trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín
dụng tại Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp 672.2.5 Một số vướng mắc, hạn chế trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng
tín dụng có bảo đám bằng thế chấp tài sản tại Tòa án nhân dân tỉnhĐồng Tháp và nguyên nhân 71
Kết luận chương 2 83
Trang 3CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG
CAO HIỆU QUÃ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HOP ĐÒNG TÍN DUNG CÓ BẢO ĐẢM BẰNG THẾ CHẤP
TÀI SẢN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP 84
r _ Ạ \ X r 3.1 Một sô yêu câu đặt ra nhăm hoàn thiện pháp luật vê giải quyêt tranh chấp họp đồng tín dụng có bảo đảm bằng thế chấp tài sản tại Tòa án 84
3.2 Kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp họp đồng tín dụng có bảo đảm bằng thế chấp tài sản tại Tòa án 85
3.3 Kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp họp đồng tín dụng có bảo đảm bằng thế chấp tài sản tại Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp 95
Kết luận chương 3 100
KÉT LUẬN 101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
PHỤ LỤC 107
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BLDS: BÔ luât Dân • • •sư
BLTTDS: Bộ luật Tố tụng dân sựHĐTC: Hợp đồng thế chấp
HĐTD: Hợp đồng tín dụng
HTND: Hôi• thẩm nhân dân
NHNN: Ngân hàng Nhà nướcTAND: Tòa án nhân dân
TCTD: Tổ chức tín dụng
UBND: ủy ban nhân dân
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
C 1 1 •
Bảng 2.1 Số liệu thống kê các vụ án giải quyết, xét xử sơ thẩm về
tranh chấp HĐTD của TAND tỉnh Đồng Tháp trong giai
Bảng 2.2 số liệu thống kê các vụ án giải quyết, xét xử phúc thẩm về
tranh chấp HĐTD cùa TAND tỉnh Đồng Tháp trong giai
Bảng 2.3 số liệu thống kê các vụ án có vi phạm bị kiến nghị về tranh
chấp HĐTD của TAND tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn
Bảng 2.4 Số liệu thống kê các vụ án có vi phạm bị kháng nghị phúc
thẩm về tranh chấp HĐTD của TAND tỉnh Đồng Tháp
Trang 6MỎ ĐÀU
1 Tính câp thiêt của việc nghiên cứu đê tài
Trong bối cảnh của hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa, việc tạo ra những bảođảm pháp lý để thúc đẩy phát triển kinh tế vừa là một đòi hỏi, vừa là mục tiêu để Việt Nam thực hiện Cùng với việc tạo hành lang pháp lý thông thoáng cho các hoạt động nghiên cứu, hợp tác, phát triển, trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng thì việc nâng cao chất lượng của hoạt động xét xử các tranh chấp có liên quan đến lĩnh vực tíndụng ngân hàng để đạt hiệu quả và hiệu lực cao cũng là nhiệm vụ hết sức quan trọng
để đảm bảo mục tiêu của cải cách tư pháp Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường hiện nay, nhu cầu về vốn của các tổ chức, cá nhân là rất cao nhằm đáp ứng mục đích kinhdoanh hoặc tiêu dùng Các họp đồng tín dụng được ký kết giữa TCTD và khách hàng ngày càng nhiều Đe bảo toàn nguồn vốn vay thì một trong các biện pháp của ngân hàng hay áp dụng đối với khách hàng đó là thế chấp bất động sản Trong số các loạibất động sản được sử dụng làm tài sản bảo đảm thì quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà được sử dụng phố biến và thông dụng Tuy nhiên, trong thực tiễn hiện nay thì cácloại HĐTD có bảo đảm bằng tài sản thế chấp còn tồn tại nhiều vấn đề phức tạp và chứa đựng nhiều rủi ro, việc hoàn vốn cho ngân hàng gặp nhiều khó khăn, tình trạng
nợ xấu đã đến mức báo động, dẫn đến tranh chấp phát sinh, có chiều hướng gia tăng,nhất là tranh chấp phát sinh từ HĐTD có biện pháp bảo đảm bằng thế chấp tài sản đang được giải quyết tại TAND các cấp
Đe giải quyết các tranh chấp HĐTD, ở Việt Nam đã ban hành nhiều văn bảnpháp luật tương đối đồng bộ (bao gồm cả văn bản pháp luật về hình thức và văn bản pháp luật về nội dung) như BLTTDS năm 2015, BLDS năm 2015, Luật Các tổ chứctín dụng năm 2010, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Luật đất đai năm 2013, LuậtNhà ở năm 2014 và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Đây làkhung pháp lý quan trọng, tạo cơ sở cho hoạt động cho vay của ngân hàng cũng như việc giải quyết tranh chấp HĐTD tại Tòa án, đà góp phần bảo vệ lợi ích của Nhànước, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức Tuy nhiên, do nhiều
Trang 7nguyên nhân khác nhau, việc giải quyết tranh chấp liên quan đến HĐTD cũng cònbộc lộ nhiêu hạn chê, bât cập.
Đồng Tháp là tỉnh nông nghiệp, đang xúc tiến kêu gọi đầu tư để phát triểncông nghiệp, kiến tạo khởi nghiệp cho các cá nhân, doanh nghiệp Hiện nay cácHĐTD được ký kết nhiều giữa doanh nghiệp và ngân hàng Thực tế cho thấy, trongquá trình thực hiện hợp đồng này phát sinh nhiều tranh chấp do vi phạm nghĩa vụ của một hoặc các bên trong HĐTD, họp đồng thế chấp, dẫn đến hệ lụy là ngân hàng không thu hồi được nợ
Dưới góc độ nghiên cứu thì pháp luật về giải quyết tranh chấp HĐTD là đềtài đã được nhiều nhà khoa học, nhiều học viên nghiên cứu tiếp cận ở nhiều góc
độ khác nhau, đã chỉ ra được thực trạng, vướng mắc về mặt pháp luật, trong thựctiễn áp dụng pháp luật đối với việc giải quyết và cũng đã có rất nhiều giải pháp,kiến nghị hoàn thiện, nhưng vẫn còn một số Vấn đề chưa đi vào cụ thể, thực chất,chỉ nêu mang tính hệ thống, gợi mở Đặc biệt, công trình nghiên cứu toàn diện vềgiải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng có thế chấp tài sản qua thựctiễn tại Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp thỉ chưa được thực hiện Do đó, trên cơ
sở tiếp thu có chọn lọc và kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình đi trước,
để được tiếp tục phát triển những vấn đề lý luận cũng như việc vận dụng kiến thứcpháp luật vào thực tiễn, tác giả chọn đề tài để làm luận văn tốt nghiệp Cao học Luật kinh tế: “ Giải quyết tranh chấp về hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng thế chấp tài sản tại Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp ”
2 Tình hình nghiên cứu đê tài
Các công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực tín dụng ngân hàng nóichung và giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD có bảo đảm bằng thế chấp tài sảnnói riêng có thể liệt kê như:
- Hoàng Văn Bích (2014), “ Giải quyết tranh chấp hợp đồng thế chấp tài sản qua thực tiễn xét xử tại Vĩnh Phúc ” Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện khoa học xã hội
- TS Lê Thị Thu Thủy (Chủ biên) (2006), “Các biện pháp bảo đảm tiền vay
bằng tài sản của các tố chức tín dụng”, Nhà xuất bản Tư pháp
2
Trang 8- Trân Thị Thùy Trang (2014), “Pháp luật vê giải quyêt tranh châp phát sinh
từ họp đồng tín dụng bằng con đường tòa án ở Việt Nam ”, Luận vãn thạc sĩ, KhoaLuật, Đại học Quốc gia Hà Nội
- Hồ Thị Khuyên (2016), Thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án nhân dân thành phố Hà nội, Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật, Đại học Quốcgia Hà nội
- Sách chuyên khảo do PGS.TS Lê Thị Thu Thủy làm chủ biên (2016), Pháp
luật về các hiện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của tô chức tín dụng ở Việt Nam và một số nước trên thế giới, NXB. ĐHQGHN
- Hoàng Thị Huế (2017), “Xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất đê
đảm bảo tiền vay ngân hàng từ thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân thành phổ Hà Nội ” , Luận văn thạc sĩ, Học viện Khoa học xã hội
- Bài viết của Th.s Đỗ Thị Hồng Hạnh (2017), Giải quyết các tranh chấp về hợp đồng tín dụng, Tạp chí Công thương điện tử ngày 31/10/2017
- Sách chuyên khảo do PGS.TS Lê Thị Thu Thủy làm chủ biên (2020),
Nợ xấu và các biện pháp bảo vệ quyền lợi của ngân hàng thương mại cho vay,
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận về GQTC HĐTD, các qui định pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng pháp luật về GQTC HĐTD có thế chấp tài sảntại TAND tỉnh Đồng Tháp, luận văn đưa ra kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp
3
Trang 9luật và nâng cao hiệu quả GQTC hợp đông tín dụng có thê châp tài sản tại TANDtỉnh Đồng Tháp.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận văn phân tích một số vấn đề lý luận về HĐTD có bảo đảm bằng thế chấp tài sản và pháp luật về giải quyết tranh chấp HĐTD có bảo đảm bằng thế chấp tài sản;
- Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật về GQTC HĐTD tại TAND tỉnh Đồng Tháp, tìm ra những ưu điểm, hạn chế và đề xuất cácgiải pháp hoàn thiện pháp luật về HĐTD và GQTC về HĐTD, nâng cao hiệu quảGQTC hợp đồng tín dụng có thế chấp tài sản tại TAND tỉnh Đồng Tháp,
Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần giúp giải quyết vụ án về họp đồng tín dụng
có thế chấp quyền sử dụng đất đảm bảo chính xác, đúng pháp luật
4 Đôi tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài có đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận, qui định pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp HĐTD có bảo đảm bàng thế chấp tài sản và thực tiễn giải quyết tranh chấp HĐTD có bảo đảm bằng thế chấp tài sản tại TAND tỉnh Đồng Tháp
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn không đi sâu nghiên cứu tất cả các vấn đề thuộc pháp luật về giải quyết tranh chấp HĐTD có bảo đảm bằng tài sản thế chấp tại Tòa án mà trọng tâm vào một số vấn đề như nguyên tắc giải quyết tranh chấp, thẩm quyền của tòa án,trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp, chủ thề, hình thức, nội dung, hiệu lực của họp đồng tín dụng và họp đồng thế chấp tài sản Đặc biệt, luận văn nghiên cứu thực tiễn giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD có bảo đảm bằng thế chấp quyền sử dụng đất bằng con đường Tòa án tại TAND tỉnh Đồng Tháp từ năm 2016 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tưtường Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XNCN Ngoài ra, tác giả còn sừ dụng phương pháp
4
Trang 10như: phương pháp thông kê, phương pháp tông họp, phân tích, so sánh đê làm rõ cácnội dung thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh được sử dụng chù yếu trongchương 1 và chương 2 để làm rõ những vấn đề lý luận về pháp luật giải quyết tranhchấp HĐTD có bảo đảm bằng thế chấp tài sản tại Tòa án và thực trạng áp dụng tạiTAND tinh Đồng Tháp Phương pháp thống kê được tác giả sử dụng trong chương
2 của luận văn để nêu ra các số liệu về thực tiễn các vụ án cũng như tình hình giải quyết vụ án giải quyết tranh chấp HĐTD có bảo đảm bằng thế chấp tài sản tại TAND tỉnh Đồng Tháp Chương 3 của luận văn sử dụng phương pháp tổng hợp để đưa ra các kiến nghị cụ thể
6 Y nghĩa lý luận và những đóng góp mói của luận văn
Đề tài là công trình nghiên cứu về pháp luật giải quyết tranh chấp HĐTD có bảo đảm bằng thế chấp tài sản tại Tòa án qua thực tiễn tại TAND tỉnh Đồng Tháp
Đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn như sau:
- Đưa ra được những phân tích lý luận về tranh chấp HĐTD, về thế chấp tài sản, về giải quyết tranh chấp HĐTD có tài sản thế chấp và pháp luật về giải quyết tranh chấp HĐTD có bảo đảm bằng thế chấp tài sản tại Tòa án ;
- Đánh giá được thực trạng quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấpHĐTD có bảo đảm bằng thế chấp tài sản tại Tòa án và thực tiễn áp dụng tại TANDtỉnh Đồng Tháp;
- Đề xuất được các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả giảiquyết tranh chấp HĐTD có bảo đảm bằng thế chấp tài sản tại Tòa án tỉnh ĐồngTháp Kêt quả nghiên cứu của đê tài có thê được sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy trong các cơ sở đào tạo luật và tài liệu tham khảo cho các cơ quan áp dụng pháp luật trên thực tiễn như: Tòa án, Viện kiếm sát, Thi hành án dân sự
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu thành 3 chương cụ thể như sau:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đượckết cấu thành 03 chương:
5
Trang 11Chương ỉ. Những vấn đề lý luận về pháp luật giải quyết tranh chấp HĐTD
có bảo đảm bằng thế chấp bằng tài sản tại Tòa án
Chương 2 Thực trạng pháp luật Việt Nam vê giải quyêt tranh châp hợp đôngtín dụng có bảo đảm băng thê châp tài sản tại Tòa án và thực tiên áp dụng tại Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp
Chương 3 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp
r L L
dụng pháp luật giải quyêt tranh châp HĐTD có bảo đảm băng thê châp tài sản tạiTAND tình Đồng Tháp
6
Trang 12Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP HỢP ĐÒNG TÍN DỤNG CÓ BẢO ĐẢM
BẰNG THẾ CHẤP TÀI SẢN TẠI TÒA ÁN
1.1 Khái niệm, đặc điềm hợp đồng tín dụng có bảo đám bằng thế chấp tài săn
1.1.1 Khái niệm hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng thế chấp tài sản
HDTD là một dạng cụ thể của hợp đồng vay tài sản đã được quy định trong BLDS năm 2015 Tuy nhiên, chỉ gọi là HĐTD trong trường hợp bên cho vay là cácTCTD, trong đó chủ yếu là các ngân hàng Theo quy định tại Điều 463 của BLDSnăm 2015: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên chovay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vaytài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định”, theo đó ngân hàng là bên cho vay giao cho bên vaymột khoản tiền đế sử dụng vào mục đích xác định trong một thời hạn nhất định theothoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi HĐTD là một căn cứ pháp lý
mà qua đó ngân hàng thực hiện hoạt động cho vay HĐTD phải có nội dung về điềukiện vay, mục đích sử dụng vốn vay, phương thức cho vay, số vốn vay, lãi suất, thờihạn cho vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ vànhững cam kết khác được các bên thoả thuận
Từ các phân tích trên, cho thấy pháp luật chuyên ngành chỉ đưa ra quy định
về những nội dung cơ bản HĐTD phải có mà không đưa ra định nghĩa cụ thể vềHĐTD Quan hệ tín dụng về bản chất là một quan hệ dân sự nên HĐTD cũng là một dạng cụ thể của hợp đồng dân sự Theo Điều 385 BLDS năm 2015: “Hợp đồng là
sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụdân sự”, có thể hiểu HĐTD là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa TCTD (bên cho vay) với khách hàng là tổ chức, cá nhân có đủ những điều kiện luật định (bên vay), nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ nhất định giữa các bên theo quy định pháp luật, theo đó
7
Trang 13TCTD chuyên nhượng một sô tiên nhât định cho bên vay sử dụng vào mục đích và trong một thời hạn được xác định, khi đến hạn, bên vay phải trả cả gốc và lài đượcxác định theo lãi suất mà các bên đà thỏa thuận.
Hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng tài sản thế chấp là một loại hợp đồng tíndụng, theo đó các bên thoa thuận về việc dùng tài sản thế chấp đế bảo đảm cho việcthực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên vay vốn Trong trường hợp này, bên cho vay -TCTD chỉ cho khách hàng vay khi có bảo đảm bằng thế chấp tài sản của chính khách hàng vay hoặc của bên thứ ba
1.1.2 Đặc điếm hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng thế chấp tài sản
- HĐTD có bảo đảm bằng thế chấp tài sản phải luôn được ký kết dưới hình thức văn bản. Sau khi TCTD quyết định cho khách hàng vay vốn, sự thoả thuận của TCTD với khách hàng phải được thể hiện bàng văn bản Thông thường khi vay vốnngân hàng có bảo đảm bằng thế chấp tài sản thì bên cạnh hợp đồng tín dụng, hợpđồng thế chấp tài sản cũng được xác lập bằng văn bản Tùy thuộc loại tài sản khácnhau mà pháp luật qui định bắt buộc phải công chứng, chứng thực hay đăng ký giao dịch bảo đảm Ví dụ, thế chấp bất động sản thì hợp đồng thế chấp bát buộc phảiđược công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo pháp luật Việt Nam (BLDS
2015, Nghị định 102/2017/NĐ-CP về đăng ký biện pháp bảo đảm)
Với HĐTD có thế chấp tài sản được thể hiện bằng văn bản, các bên có thể thực hiện hợp đồng trong sự đảm bảo an toàn pháp lý và khi có tranh chấp xảy ra,HĐTD sẽ là căn cứ xác thực nhất để các cơ quan tài phán giải quyết tranh chấp Đaphần các HĐTD, hợp đồng thế chấp là hợp đồng theo mẫu, chủ thể cho vay làTCTD soạn thảo dựa trên quy định của pháp luật và phù hợp với quy chế cho vay của TCTD Bên vay thường phải chấp nhận đa số điều khoản trong hợp đồng, trừ một số điều khoản về số tiền vay, mục đích vay, thời hạn vay
Theo BLDS năm 2015:
Trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản không rõ ràng thì bên đưa
ra hợp đồng theo mẫu phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản đó Trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản miền trách nhiệm của bên
8
Trang 14đưa ra hợp đồng theo mẫu, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chínhđáng cùa bên kia thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ trường hợp cóthỏa thuận khác [33, Điều 405, Khoản 2, 3].
Như vậy, pháp luật cũng có cơ chế để bảo vệ khách hàng trong trường hợp hợp đồng theo mẫu có những điều khoản không rõ ràng thì bên đưa ra hợp đồng theo mẫu phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản đó hoặc điều khoản gây bất lợi cho khách hàng thỉ điều khoản này không có hiệu lực khi không có thỏa thuận khác
Tuy nhiên, HĐTD được ký kết dưới các hình thức pháp lý là văn bản bao gồm cả văn bản viết và văn bản điện tử dưới dạng thông điệp dữ liệu Căn cứ khoản
1 Điều 119 của BLDS năm 2015, “Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói,bằng văn bản hoặc bàng hành vi cụ thể Giao dịch dân sự thông qua phương tiệnđiện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản”; và các Điều 11, 12, 13, 14 cùa LuậtGiao dịch điện tử năm 2005 thì dù HĐTD ký kết dưới hình thức nào trên đây đều cógiá trị pháp lý ngang nhau và đều là chứng cứ trong quá trình giao dịch Trên thực
tế thì HĐTD được ký kết dưới hình thức văn bản điện tử dạng thông điệp dữ liệu trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp chưa xảy ra
- HĐTD có bảo đảm bằng thế chấp tài sản có đối tượng là những khoản von
được thể hiện dưới hình thức tiền tệ. vốn tiền tệ trong HĐTD có thể là tiền đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó TCTD chuyền nhượng cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhấtđịnh theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi Nhờ đó, hoạt động chovay đã trở thành hoạt động sinh lời chú yếu của các TCTD và trở thành một hình thức tín dụng phổ biến trong nền kinh tế thị trường, về nguyên tắc đối tượng của HĐTDbao giờ cũng là một số tiền xác định, được các bên thoa thuận và ghi rõ trong hợp đồng Số tiền này có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị của tài sản thế chấp, trừtrường hợp các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có qui định khác
- về chủ thể. Một bên tham gia HĐTD có thế chấp tài sản bao giờ cũng làTCTD được thành lập và hoạt động cho vay theo pháp luật về các TCTD; có chức
9
Trang 15năng hoạt động, kinh doanh tín dụng TCTD bao gôm ngân hàng và TCTD phi ngânhàng, có đù các điều kiện luật định với tư cách là bên cho vay Còn chủ thể bên kia (bên vay) có thể là cá nhân, pháp nhân thoả mãn những điều kiện vay vốn do pháp luật hoặc do TCTD quy định Ngoài hai loại chủ thể nêu trên trong hợp đồng tíndụng, đối với cho vay có thế chấp tài sản thì chủ thể tham gia hợp đồng thế chấp để bảo đảm cho khoản vay này là tồ chức tín dụng cho vay (bên nhận thế chấp) và bên thế chấp (khách hàng vay hoặc bên thứ ba) Bên bảo đảm phải thỏa mãn các điều kiện nhất định về năng lực chủ thể, về việc tài sản thế chấp phải thuộc quyền sở hữuhợp pháp của bên bảo đảm, tài sản thế chấp phải có tính thanh khoản, không bị cấmchuyển nhượng và không bị tranh chấp Bên thế chấp không phải chuyển giao tài sản thế chấp mà chỉ chuyển giao các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp Khi đến hạn trả nợ nếu khách hàng vay không thựchiện đầy đủ hoặc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì bên nhận thế chấp có quyềnphát mại tài sàn thế chấp để thu hồi nợ.
- HĐTD có bảo đảm bằng thế chấp tài sản phải được tuân thủ chặt chẽ về các nội dung. Trong HĐTD bắt buộc phải có các điều khoản về chủ thể của các bên tham gia, số tiền vay, mục đích sử dụng vốn vay, lãi suất vay, phương pháp giải quyết tranh chấp TCTD không được cho vay vốn nhằm đáp ứng các nhu cầu bị cấm theo quy định của pháp luật
- về tính rủi ro. HĐTD vốn chứa đựng nguy cơ rủi ro rất lớn cho quyền lợicủa bên cho vay Sở dĩ như vậy là vì theo cam kết trong HĐTD, bên cho vay chỉ cóthể đòi tiền của bên vay sau một thời hạn nhất định Nếu thời hạn cho vay càng dàithì nguy cơ rủi ro càng lớn Vì thế mà các tranh chấp phát sinh từ HĐTD cũngthường xảy ra với số lượng và tỷ lệ lớn hơn so với đa số các loại hợp đồng khác
- về cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ. Trong HĐTD, nghĩa vụ chuyển tiềnvay (nghĩa vụ giải ngân) của bên cho vay bao giờ cũng phải được thực hiện trước,làm cơ sở, tiền đề cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của bên vay Do đó, chỉ khinào bên cho vay chứng minh được rằng họ đã chuyển giao tiền vay theo đúng HĐTD cho bên vay thì khi đó họ mới có quyền yêu cầu bên vay phải thực hiện các
10
Trang 16nghĩa vụ đôi với mình (bao gôm các nghĩa vụ chính như sử dụng tiên vay đúng mụcđích; nghĩa vụ hoàn trả tiền vay đúng hạn cả gốc và lãi, ) Với vai trò đảm bảo quyền và nghĩa vụ cho các bên tham gia vào quan hệ tín dụng, HĐTD trở nên rất quan trọng Đặc biệt, các bên phải chú ý đến nội dung của hợp đồng, hợp đồng với những điều khoản chặt chẽ sẽ ràng buộc các bên thực hiện đúng trách nhiệm của mình, từ đó cũng góp phần giảm bớt các tranh chấp phát sinh và thúc đẩy sự pháttriển trong hoạt động kinh doanh của cả TCTD và khách hàng Trong HĐTD có bảođảm bằng thế chấp tài sản, do bên thế chấp không phải chuyển giao tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp là TCTD nên việc kiểm soát của bên nhận thế chấp đối với tài sản bảo đảm có phần khó khăn hơn Điều này có ảnh hưởng ít nhiều đến khả năng thuhồi vốn của TCTD khi đến hạn thanh toán nợ, bời lẽ trên thực tể, các tài sản đem thếchấp cho một hoặc nhiều khoản vay tại TCTD vẫn nằm trong sự quản lý của bên thếchấp hoặc của người thứ ba được chỉ định hay được phép quản lý tài sản thế chấp,trong suốt thời gian thế chấp Đôi khi, do các quy định khá thông thoáng của pháp luật về thế chấp tài sản nên bên thế chấp có thể yêu cầu TCTD cho phép được bán tài sản thế chấp hoặc cho thuê đối với người thứ ba ngay trong quá trình thể chấp Chính
sự đặc thù này khiến cho bên chủ nợ là TCTD phải có những giải pháp khác để hỗ trợ cho quá trình quản lý nợ vay và phòng tránh rủi ro tín dụng khi khách hàng vaykhông trả được nợ, trong khi tài sản thế chấp lại rất khó kiếm soát
- Trong HĐTD có bảo đảm bằng thế chấp tài sản luôn tồn tại mối quan hệ về hiệu lực giữa HĐTD với HĐTC (hợp đồng bảo đảm tiền vay), về nguyên tắc, khiHĐTD vô hiệu thì hợp đồng thế chấp không vô hiệu theo và ngược lại Điều này thểhiện tính độc lập về hiệu lực pháp lý của các hợp đồng, dựa vào đó quyền lợi của ngân hàng cho vay được bảo đảm
1.2 Khái niêm, đặc điểm, nguyên nhân của tranh chấp phát sinh tù ’ hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng thế chấp tàỉ sản
1.2.1 Đặc điếm tranh chấp phát sinh từ họp đồng tín dụng có bảo đảm bằng thế chấp tài sản
Tranh chấp họp đồng tín dụng là những mâu thuẫn, xung đột về quyền và
11
Trang 17nghĩa vụ giữa các chủ thể (TCTD và khách hàng vay) trong quá trình thực hiện hợpđồng tín dụng.
Trên thực tế, không phải bất cứ hành vi vi phạm HĐTD nào cũng đều xảy ratranh chấp Có trường hợp có hành vi vi phạm nhưng không có tranh chấp bởi vì giữa các bên chủ thể của HĐTD không thể hiện tranh chấp đó bằng các hành vi phản kháng cụ thế Do đó, một HĐTD chỉ được coi là có tranh chấp khi sự xungđột, bất đồng về quyền lợi giữa các bên đã được thế hiện ra bên ngoài thông quanhững bằng chứng cụ thể và xác định được
Tranh chấp HĐTD có bảo đảm bằng thế chấp tài sản là một loại tranh chấp hợp đồng, có các đặc điểm sau đây:
- Tranh chấp HĐTD thê hiện sự xung đột về quyền và lợi ích giữa các bên
tham gia tranh chấp. Các bên tranh chấp là tổ chức tín dụng cho vay, khách hàng vay Trong quá trình thực hiện HĐTD, một trong hai bên hoặc cả hai bên đều có thể
vi phạm hợp đồng và dẫn đến tranh chấp Ví dụ, vi phạm về thời hạn trả nợ của bênvay vốn, vi phạm tiến độ giải ngân của bên cho vay
Trong trường hợp bên thế chấp không giao tài sản để xử lý thì tranh chấpphát sinh cả với bên thứ ba là bên dùng tài sản thuộc sở hữu của minh để thế chấpcho khách hàng vay vốn Tổ chức tín dụng cho vay có thể khởi kiện bên thế chấp về việc giao tài sản bảo đảm để xử lý Đối với tranh chấp phát sinh từ HĐTD thì thông thường nguyên đơn là người khởi kiện để yêu cầu khách hàng thực hiện nghĩa vụ trả
nợ Tranh chấp phát sinh từ HĐTD chỉ phát sinh khi các bên khởi kiện yêu cầu bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong quan hệ tín dụng, hay nói cách khác, tranh chấp HĐTD thường gắn liền với lợi ích của các bên tranh chấp
- Tranh chấp HĐTD có bảo đảm bằng thế chấp tài sản có thể là tranh chấp dân
sự (tranh chấp phát sinh giữa TCTD cho vay và cá nhân, pháp nhân vay vốn không vì mục tiêu lợi nhuận) hoặc tranh chấp kinh doanh, thương mại (tranh chấp phát sinh giữa TCTD cho vay và cá nhân, pháp nhân vay vốn có đăng ký kinh doanh, vì mục tiêu lợinhuận) Việc xác định loại tranh chấp HĐTD có ý nghĩa trong việc lựa chọn pháp luật
áp dụng để giải quyết tranh chấp và lựa chọn tòa án đúng thẩm quyền để giải quyết tranh chấp (nếu tranh chấp được đưa ra tòa án để giải quyết)
12
Trang 18- Cơ sở làm phát sình tranh clỉâp HĐTD có hảo đảm hăng thê châp tài sản
là HĐTD và hợp đồng thế chấp Theo các hợp đồng này, các bên có quyền và nghĩa
vụ nhất định Nếu có hành vi vi phạm nghĩa vụ đã được thỏa thuận trong các họpđồng trên thì có thể dẫn đến tranh chấp
- Tranh chấp HĐTD cỏ bảo đảm bằng thế chấp tài sản được giải quyết dựa
trên nguyên tắc đảm bảo quyền tự do thỏa thuận trong khuôn khổ pháp luật của các
bên tham gia tranh chấp Pháp luật tôn trọng sự thỏa thuận của các bên HĐTD vềbản chất là họp đồng dân sự mà quan hệ dân sự là quan hệ mang tính thỏa thuận, tựđịnh đoạt giữa các bên Do đó, kể cả đối với việc giải quyết tranh chấp phát sinh từHĐTD thì các bên cũng có quyền thoa thuận để đạt được hiệu quả tối ưu nhất trong trường hợp có tranh chấp xảy ra Việc tôn trọng quyền định đoạt này có ý nghĩa vôcùng quan trọng vì quan hệ dân sự giữa các bên mang tính bình đắng, không phải là mối quan hệ mệnh lệnh - phục tùng như các quan hệ hành chính nhà nước khác Khicác bên tham gia tranh chấp có thể thoa thuận được với nhau thì việc giải quyết tranh chấp sẽ diễn ra nhanh chóng, thuận lợi hơn, đồng thời giảm thiểu được thiệt hại về thời gian, tiền bạc, công sức của các bên Tuy nhiên, nguyên tắc đối với các thỏa thuận này là phải phù hợp với các quy định của pháp luật Nguyên tắc tự do thỏa thuận khi giải quyết tranh chấp giữa các bên cũng được BLTTDS thể hiện ởchế định hòa giải Theo đó, hòa giải là trách nhiệm của cơ quan khi có tranh chấpxảy ra và khi đó các bên có thề thoa thuận về việc giải quyết vụ án Ngay cả trước khi diễn ra hoặc tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm các bên cũng vẫn có quyền thỏathuận về việc giải quyết tranh chấp miễn sao thỏa thuận đó phù họp với các quy định của pháp luật
- Tranh chấp HĐTD luôn có sự tham gia của một bên là TCTD và phần lớn các tranh chấp HĐTD thì nguyên đơn là TCTD cho vay, bị đơn là bên đi vay. Quan
hệ tín dụng bắt đầu khi hai bên thỏa thuận, ký kết với nhau HĐTD ghi nhận quyền
và nghĩa vụ các bên Chính vì vậy, khi lợi ích các bên bị ảnh hưởng thì tranh chấpphát sinh là điều tất yếu Sự tham gia cùa TCTD là một dấu hiệu đặc trưng nhàm phân biệt giữa tranh chấp HĐTD và tranh chấp họp đồng vay tài sản thông thường
13
Trang 19giữa các tô chức, cá nhân khác mà không phải là TCTD Đông thời, vê mặt lý thuyết, khi tham gia ký kết HĐTD, các TCTD và khách hàng có địa vị pháp lýngang bằng nhau Hơn nữa, khi tham gia kí kết hợp đồng thì hợp đồng thường do bên cho vay là các TCTD soạn thảo sẵn theo mẫu Do đó, khi tranh chấp xảy ra thìTCTD luôn nắm phần ưu thế với các điều khoản được ghi nhận một cách chặt chẽ,
rõ ràng trong hợp đồng được ký kết bởi hai bên Vì vậy, nếu có tranh chấp xảy ra thì thường là do bên vay vi phạm, chứ ít khi TCTD lại vi phạm chính những điều khoản do chính mình soạn thảo Vì lý do đó nên nếu có tranh chấp xảy ra thì hiểm gặp trường hợp bên vay khởi kiện TCTD
- Đa phần các tranh chấp liên quan đến HĐTD có bảo đảm bằng tài sản thế
chấp chính là các tranh chấp liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ hoàn trả vốn,
lãi của bên vay cho TCTD, về mức lãi suất vay, về vấn đề bảo đảm thực hiện nghĩa
vụ trong HĐTD. Có rất nhiều loại tranh chấp phát sinh từ HĐTD như: tranh chấp về chù thể xác lập, thực hiện HĐTD, tranh chấp liên quan đến bảo lãnh vay vốn, tranhchấp liên quan đến mục đích sử dụng vốn vay Tuy nhiên, tranh chấp xảy ra nhiều nhất là tranh chấp liên quan đến nghĩa vụ hoàn trả vốn và lãi, về mức lãi suất vay,
về vấn đề xử lý tài sản bảo [11, tr 41J Sở dĩ như vậy là bởi vì những nghĩa vụ này chính là những nghĩa vụ chính nhất, đóng vai trò nòng cốt trong quá trình thực hiện HĐTD của các bên và việc thực hiện này có tác động trực tiếp đến quyền lợi của TCTD Các tranh chấp khác cũng có tác động đến các TCTD nhưng không phải là
cơ bản nên ít xảy ra hơn so với tranh chấp về nghĩa vụ hoàn trả vốn và lãi hay tranhchấp về lãi suất, về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
1,2.2 Nguyên nhân của tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng có bảo
đảm bằng thế chấp tài sản
Nguyên nhân gây ra tranh chấp HĐTD có bảo đảm bằng tài sản thế chấp có thể là:
Thứ nhất, nguyên nhân từ phía ngân hàng cho vay
- Năng lực, phẩm chất, đạo đức cùa cán bộ tín dụng: thông thường do trình
độ yếu kém trong nghiệp vụ, do một số cán bộ tín dụng bị tha hoá, thông đồng với
14
Trang 20khách hàng đê mưu lợi cá nhân, dân đên không thâm định đây đủ các dự án của khách hàng khi cho vay, dẫn đến tình trạng dự án không có tính khả thi trên thực tế,không có khả năng thu hồi vốn để trả nợ cho ngân hàng (Thực tế ở Việt Nam cónhiều vụ việc chứng minh vấn đề này, ví dụ trường hợp 01 kho cà phê thế chấp để vay vốn 7 ngân hàng, chiếm đoạt hơn 600 tỷ VNĐ Khi phát mại thì mới rõ nhiều túi không phải là cà phê mà là các túi rác) [46]; Đây là vấn đề rủi ro đạo đức (’’moral hazard") [42, tr 33] Hầu như, các vụ tranh chấp phát sinh trong hoạt động cho vay của ngân hàng có bảo đảm bằng thế chấp đều có sự vi phạm của cán bộ tíndụng như vi phạm quy chế cho vay, thẩm định không đúng qui định tài sản thế chấphoặc vì động cơ, mục đích khác mà làm trái các quy định gây hậu quả nghiêmtrọng Ngoài ra, cán bộ tín dụng thường không kiểm soát sử dụng vốn cho vay và kiểm tra tình trạng tài sản thế chấp trong thời hạn vay vốn Trên thực tế bên ngân hàng không nắm rõ ràng các thông tin chính xác về khách hàng, không biết chính xác là khách hàng vay vốn và có sử dụng vốn vay đúng mục đích trong hợp đồng hay không, không biết rõ về việc bảo quản, sử dụng tài sản của bên thế chấp như thế nào Vì vậy việc giám sát sử dụng vốn vay và theo dõi tình trạng tài sản thế chấp là một trong những trách nhiệm quan trọng của cán bộ tín dụng nói riêng và của ngânhàng cho vay nói chung.
- Nguyên nhân dẫn đến nợ xấu và tranh chấp tín dụng có thể là "khả năng quản
lý kém" ("bad management") của các TCTD cho vay Hiệu quả kinh doanh thấp đồng nghĩa với khả năng quản lý và kiềm soát tín dụng kém Podpiera & Weil (2008) đã tim
ra mối quan hệ này khi phân tích thực trạng các ngân hàng Tiệp Khắc giai đoạn 1994 đến 2005 [49] Ngoài ra, các tác giả còn khuyến nghị: muốn đảm bảo tính ổn định bền vững của hệ thống ngân hàng thì Chính phủ các nền kinh tế phát triển cần chú trọngchất lượng quản trị ngân hàng Nghiên cứu của Louzis, Vouldis & Metaxas (2010) cũng ủng hộ giả thiết này tại tất cả ba loại danh mục tín dụng (cho vay kinh doanh, cho vay tiêu dùng và cho vay bất động sản) của ngân hàng Hy Lạp [50]
- Do vi phạm nghĩa vụ giải ngân vốn cho vay: Bên cho vay vi phạm nghĩa vụ giải ngân Đây là một trong những nguyên nhân phổ biến làm phát sinh tranh chấp
15
Trang 21HĐTD Việc vi phạm nghĩa vụ giải ngân của bên cho vay làm ảnh hưởng không nhở đến quyền và lợi ích hợp pháp của bến vay, làm ảnh hưởng đến kế hoạch kinhdoanh, chậm tiến độ và hiệu quả của dự án, làm hạn chế khả năng trả gốc và lãi saunày cùa bên vay Tại Khoản 4 Điều 400 cùa BLDS năm 2015:
Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản;Tại Điều 401 của BLDS năm 2015 quy định:
1 Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thoa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác
2 Từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo cam kết Hợp đồng chỉ có thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật
Trong HĐTD bắt buộc phải nêu rõ mục đích vay cùa khách hàng, thời hạnphải hoàn trả nợ vay và ngược lại TCTD có nghĩa vụ giải ngân đúng số tiền vàthời gian đã thỏa thuận cũng như có quyền kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng vốn vay hoặc thu hồi nợ theo quy định trong HĐTD mà hai bên đã ký kết Vì thế,sau khi HĐTD có hiệu lực, việc thực hiện nghĩa vụ giải ngân khoản tín dụng mà hai bên đã thoả thuận là nghĩa vụ của bên cho vay Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều trường hợp sau khi ký kết HĐTD với khách hàng bên cho vay đã không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ giải ngân Điều này, làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của bên vay, làm hạn chế khả năng thực hiện
kế hoạch kinh doanh như dự kiến, hiệu quả kinh doanh đạt được thấp gây ảnh hưởng đến việc trả lãi và gốc sau này
Thứ hai, nguyên nhân từ phía bên vay
- Bên vay vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi suất: Bên vay không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không đầy đủ những nghĩa vụ thanh toán nợ gốc
và lãi suất của mình có thể do nhiều nguyên nhân chi phối như chây ỳ, cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ; Bên vay là doanh nghiệp không cạnh tranh được với cácdoanh nghiệp khác trên thị trường, hiệu quả kinh doanh không đạt được, hậu quả là
16
Trang 22doanh nghiệp làm ăn thua lô lâm vào tình trạng phá sản Nêu bên vay là cá nhân thì
có thể do thiếu hiểu biết về pháp luật, thu nhập không ổn định, những khó khăn về công việc, gia đình phát sinh ảnh hưởng tới việc trả nợ
- Bên vay sử dụng vốn sai mục đích: Một trong các nguyên nhân vi phạm điều khoản sử dụng vốn không đúng mục đích từ đó làm nảy sinh tranh chấp Khi một bên trong quan hệ HĐTD vi phạm thì bên còn lại có quyền thực hiện quyền yêu cầu chấm dứt hành vi, đơn phương chấm dứt họp đồng hoặc buộc bồi thường thiệthại theo thực tế Quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện quyền, nghĩa vụ của các bên trong HDTD chưa được chặt chẽ và thống nhất
Thử ba, nguyên nhân do bất cập của các quy định pháp luật: pháp luật về tíndụng ngân hàng nói chung và pháp luật về cho vay cùa tổ chức tín dụng nói riêngphải đảm bảo là cơ sở pháp lý vững chắc để các bên tham gia HĐTD thực hiện cácquyền và nghĩa vụ và bảo vệ quyền lợi hợp pháp cùa mình Nếu pháp luật hay thay đổi hoặc không phù họp sẽ là rào cản cho sự phát triển các quan hệ tín dụng của TCTD và là nguyên nhân gây ra những tranh chấp giữa tồ chức tín dụng cho vay và khách hàng vay vốn theo HĐTD
Ngoài ra, nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng và phát sinh tranh chấp cũng
có thề từ phía Nhà nước (do thay đổi cơ chế chính sách làm cho các doanh nghiệp vay vốn gặp phải khó khăn về tài chính), do lạm phát hoặc do các yếu tố khách quannhư chịu ảnh hưởng của thị trường biến động, các cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính của các nước trong khu vực và trên thế giới, do thiên tai và làm cho các TCTD gặp rất nhiều khó khăn trong việc thu hồi nợ đúng hạn [42, tr 35]
1.3 Khái niệm, đặc điểm giải quyết tranh chấp phát sinh tù’ hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng tài sản thế chấp tại Tòa án
1.3.1 Khái niệm giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng tài sản thế chấp tại Tòa án
Tùy thuộc vào pháp luật của từng quốc gia mà có những quy định khác nhau
về vấn đề giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD Mặc dù vậy, hầu hết các quốc gia đều thừa nhận các hình thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD bao gồm:
17
Trang 23thương lượng; hòa giải; trọng tài thương mại và toà án Thực tế cho thấy, mỗi hìnhthức giải quyết tranh chấp nói trên đều có những lợi thế và đồng thời cũng thể hiện những điểm hạn chế nhất định Tùy thuộc vào tính chất của tranh chấp, mức độphức tạp của tranh chấp, khả năng và điều kiện cụ thể cùa các bên mà các chủ thểtranh chấp có thể lựa chọn hình thức này hay hình thức khác, hoặc sử dụng phối hợpnhiều hình thức khác nhau nhằm giải quyết tranh chấp đạt hiệu quả cao nhất Thôngthường khi các bên trong HĐTD có bảo đảm bằng tài sản thế chấp phát sinh tranhchấp do khách hàng vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì sẽ thỏa thuận về việc giải quyết tranh chấp đó như xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ hoặc gia hạn nợ cho kháchhàng, bổ sung tài sản bảo đảm Việc lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD thông qua khởi kiện tại tòa án thường được xem là hình thức cuốicùng mà các bên lựa chọn trong trường hợp thương lượng hoặc hòa giải khôngthành công Việc phải nhờ đến quyền lực nhà nước đế giải quyết mâu thuẫn là khicác bên đã áp dụng các hình thức giải quyết tranh chấp khác nhưng không đạt được kết quả và các bên không còn phương án lựa chọn nào khác.
Có thể nói, giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD có bảo đảm bằng tài sảnthế chấp tại tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp, theo đó cơ quan Tòa án áp dụng các nguyên tắc và tuân thủ trình tự luật định để giải quyết những bất đồng, mẫu thuẫn giữa các bên trong HĐTD hoặc giữa bên nhận thế chấp và bên thế chấptài sản trên tinh thần tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp
1.3.2 Đặc điểm giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng
tài sản thế chấp tại Tòa án
- Toà án là cơ quan giải quyết tranh chấp mang tính cưỡng chế cao, được thực hiện tại cơ quan xét xử nhân danh quyền lực nhà nước, tiến hành theo trình tự, thù tụcnghiêm ngặt, chặt chẽ và bản án hay quyết định của Toà án về vụ tranh chấp nếukhông có sự tự nguyện tuân thủ sẽ được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cường chếnhà nước Chính điều này đã tạo nên ưu điểm hơn hắn của phương thức này đối với các phương thức khác đó là tố tụng chặt chẽ và tính khả thi của hiệu lực phán quyết Việc giải quyết tranh chấp bằng tòa án không phụ thuộc thoa thuận của các bên
18
Trang 24- Giải quyêt tranh châp HĐTD tại tòa án phải tuân theo trình tự, thủ tục luật định, bao gồm các giai đoạn sau: khởi kiện và thụ lý vụ án, hoà giải và chuẩn bị xét
xử, xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm (nếu có kháng cáo, kháng nghị), về nguyên tắc, nếu không tuân thủ qui trình xét xử thì bản án, Quyết định của Tòa án sẽ bị hủy
- Tòa án giải quyết tranh chấp HĐTD dựa trên các nguyên tắc nhất định như nguyên tắc tôn trọng quyền quyết định và tự định đoạt của các đương sự; nguyên tắc các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh; bình đẳng vềquyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự; bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự;nguyên tắc hoà giải; nguyên tắc xét xử vụ án dân sự phải có Hội thẩm nhân dântham gia; nguyên tắc tòa án xét xử kịp thời, công bằng, công khai và nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử; nguyên tắc hai cấp xét xử: sơ thẩm và phúc thẩm Đặc biệt, nguyên tắc xét xử công khai (trừ trường hợp luật định) có tính răn đe cao đốivới cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật
- Bên cạnh những ưu điểm như nêu trên giải quyết tranh chấp HĐTD tại Tòa
án cõ những hạn chế nhất định như Thủ tục tại Tòa án thường thiếu linh hoạt, trình tự
tố tụng có thể bị kéo dài, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh một cách bình thường của các bên chủ thể tranh chấp; Bên cạnh đó, nguyên tắc xét xử công khai được xem là tiến bộ, mang tính răn đe nhưng lại là cản trở đối với doanh nhân và doanh nghiệp khi những bí mật kinh doanh bị tiết lộ Dù tranh chấp xuất phát
từ bên cho vay hay từ bên vay thì việc bị công khai sai phạm là điều mà các bên chủ thể hoàn toàn không mong muốn; Phán quyết của tòa án có thể bị kháng cáo dẫn đến
vụ tranh chấp bị kéo dài Quá trình tố tụng có thể bị trì hoãn và kéo dài, có thể phảiqua nhiều cấp xét xử, ảnh hưởng đến quá trình sản xuất, kinh doanh
1.4 Nội dung của pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng thế chấp tài sản tại Tòa án
Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng thếchấp tại Tòa án là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phátsinh trong quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng thếchấp tài sản tại Tòa án nhân dân Các quan hệ này bao gồm quan hệ giữa những
19
Trang 25người tiên hành tô tụng với nhau và quan hệ giữa người tiên hành tô tụng với ngườitham gia tố tụng (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ) Trong vụ tranh chấp nêu trên, người tham gia tố tụng là tổ chức tín dụng cho vay,khách hàng vay và bên thế chấp tài sản là bên thứ ba.
Việc giải quyết tranh chấp HĐTD có bảo đảm bằng thế chấp tài sản dù làtranh chấp dân sự hay tranh chấp kinh doanh thương mại đều phải tuân theo trình
tự, thủ tục và các nguyên tắc đã được qui đinh trong BLTTDS và các văn bản hướng dẫn thi hành bộ luật này [20, tr 23]
Nội dung của pháp luật về giải quyết tranh chấp HĐTD có bảo đảm bằng thếchấp tài sản bao gồm các nguyên tắc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng này tại Tòa án, thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết tranh chấp họp đồng tín dụng,thủ tục giải quyết tranh chấp họp đồng tín dụng tại Tòa án Tuy nhiên, để giải quyết tranh chấp HĐTD nêu trên, tòa án phải căn cứ vào không chỉ pháp luật về hình thức
mà phải căn cứ vào cả pháp luật nội dung để giải quyết tranh chấp Vì vậy luận văn
sẽ phân tích cả các qui định về pháp luật nội dung chủ yếu như chủ thể, hình thức và nội dung của HĐTD, chủ thế, hình thức và nội dung của hợp đồng thế chấp tài sản(đặc biệt nhấn mạnh tới hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất), mối quan hệ về hiệu lực pháp lý giữa HĐTD và họp đồng thế chấp tài sản để làm cơ sở cho Tòa án giảiquyết tranh chấp HĐTD có thế chấp tài sản Có thể thấy đây là các vấn đề rất quan trọng để Tòa án có thể giải quyết các tranh chấp phát sinh từ HĐTD có thế chấp tàisản bảo đảm cho khoản vay
20
Trang 26Kêt luận chương 1
Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng tài sản thế chấp
là một hiện tượng rất phổ biến, có thể xảy ra trong bất kỳ giai đoạn nào trong quátrình thực hiện các nội dung của HĐTD do rất nhiều nguyên nhân chủ quan hoặckhách quan Điều quan trọng là làm thế nào có nhận thức đúng đắn và đầy đủ về nó
để đưa ra các biện pháp hạn chế đến mức thấp nhất việc phát sinh tranh chấp trong HĐTD Trong chương 1, luận văn đã tập trung nghiên cứu và làm rõ một sổ vấn đề
cơ bản về HĐTD, tranh chấp về HĐTD có bảo đảm bàng thế chấp tài sản và các nguyên nhân, khái niệm, đặc điếm giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD có bảođảm bằng tài sản thế chấp, nội dung của pháp luật về vấn đề này Từ đó làm cơ sở
để nghiên cứu thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD cóbảo đảm bằng thế chấp tài sản tại chương 2 của luận văn
21
Trang 27Chương 2 THỰC TRẠNG • • • •PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÈ GIÃI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐÒNG TÍN DỤNG CÓ BẢO ĐẢM BẰNG TÀI SẢN TÀI SẢN THẾ CHẤP TẠI TÒA ÁN VÀ THựC TIỄN
ÁP DỤNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
2.1 Thực trạng pháp luật Việt nam về giải quyết tranh chấp họp đồng tín dụng có bảo đảm bằng thế chấp tài săn tại Tòa án
2.1.1 Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp họp đồng tín dụng có bảo đảm bằng thế chấp tài sản tại Tòa án
Theo quy định của BLTTDS 2015 thì pháp luật đòi hỏi các bên tham gia giải quyết tranh chấp tại Tòa án phải tuân thủ một số nguyên tắc Như vậy khi giải quyếttranh chấp phát sinh từ HĐTD cũng đòi hỏi các bên tham gia tuân thù các nguyên tắc đó, cụ thể là:
Thứ nhất, nguyên tắc tôn trọng quyết quyết định và tự định đoạt của các
đương sự: Nguyên tắc này được qui định tại Điều 5 BLTTDS năm 2015, theo đó thể hiện quyền của chủ thể tranh chấp trong việc quyết định chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng Tòa án được đảm bảo Tòa án chỉ giải quyết khi đương sự có đơn yêu cầu và chỉ giải quyết các vấn đề tranh chấp trong phạm vi yêu cầu Khitranh chấp xảy ra, các bên tranh chấp có quyền tự quyết định việc khởi kiện, chủđộng đề xuất các yêu cầu, phạm vi mức độ quyền và lợi ích được bảo vệ Thậm chí, ngay khi đưa vụ án tranh chấp ra giải quyết các bên tranh chấp có quyền chấm dứt, thay đối các yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội
Thứ hai, nguyên tắc các đương sự có nghía vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh. Việc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết tranh chấp là quyền
và nghĩa vụ của các đương sự Khi yêu cầu Tòa án giải quyết thì đương sự phải chứng minh được các yêu cầu và căn cứ của mình là hợp pháp Tòa án không bị bắt buộc thu thập, xác minh chứng cứ mà chỉ xác minh, thu thập chứng cứ trong trường
22
Trang 28hợp do BLTTDS quy định ((Điêu 6 BLTTDS 20 ỉ 5). Nguyên tăc này tạo cơ sở giải quyết nhanh chóng các vụ án tranh chấp và nâng cao trách nhiệm chứng minh của các đương sự để bảo vệ lợi ích của mình Các bên có quyền và nghĩa vụ trình bàynhững gì mà họ cho là cần thiết và có thể phản đối yêu cầu của người khác đối với mình nhưng phải chứng minh sự phản đối đó là có căn cứ.
Thứ ba, nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghía vụ trong tố tụng dân sự
(Điều 8 BLTTDS 2015): Đây là nguyên tắc thể hiện quyền con người trong Hiến phápnước Cộng hòa XHCN Việt Nam Khi tham gia giải quyết tranh chấp tại tòa án, cácđương sự có quyền và nghĩa vụ ngang nhau, không ai được phân biệt đối xử Cácđương sự đều binh đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự, tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của minh Có nghĩa là, cácđương sự có quyền đưa ra yêu cầu và phản đối yêu cầu của bên kia cũng như thực hiện quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ nhằm bảo vệ lợi ích cùa mình
Thứ tư, nguyên tắc bảo đám quyền bảo vệ của đương sự (Điều 9 BLTTDS 2015):
Ngoài quyền tự bảo vệ cho mình, các đương sự có quyền nhờ luật sư hay người khác có đủ điều kiện theo quy định bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Tòa
án có trách nhiệm đảm bảo thực hiện quyền này của đương sự
Ttó năm, nguyên tắc hòa giải (Điều 10 BLTTDS 2015): Vì đặc điểm của tranh chấp phát sinh từ HĐTD phản ảnh về lợi ích kinh tế của các bên nên biện pháp mà các bên tiến hành để giải quyết tranh chấp trước tiên là hoà giải và chỉ cần đến sự can thiệp của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi không thề hoà giảiđược Khi Tòa án tiến hành giải quyết tranh chấp, trước tiên Tòa án có trách nhiệm tiến hành hoà giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thoả thuận với nhau.Điều này có nghĩa, tại Tòa án, các đương sự vẫn có quyền tiến hành hoà giải dưới
sự hướng dẫn và công nhận của Tòa án
Thứ sáu, nguyên tắc xét xử vụ án dân sự phải có hội thấm nhân dân (HTND) tham gia (Điều 11 BLTTDS 2015): Thẩm phán và HTND xét xử độc lập và chỉ tuântheo pháp luật Hội thẩm là người có uy tín, được bầu hoặc cử theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của tòa án nhằm
23
Trang 29đảm bảo quyên và lợi ích chính đáng của người dân tham gia xét xử Thâm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ
án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án Khi xét xử vụ án,Thẩm phán và HTND độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Pháp luật nghiêm cấm mọihành vi cản trở Thẩm phán, HTND thực hiện nhiệm vụ Có nghĩa là, hoạt động của Thẩm phán, HTND khi xét xử chỉ tuân theo pháp luật mà không chịu bất kỳ sự chiphối nào khác Tất nhiên, họ phải chịu trách nhiệm đối với ý kiến của mình về từng vấn đề của vụ án
2.1.2 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng có bảo đảm
bằng thế chấp tài sản tại Tòa án
Thẩm quyền của Tòa án khi giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD có bảo đảm bàng thế chấp tài sản được thể hiện trong BLTTDS năm 2015, Nghị quyết số103/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 và Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTPhướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS năm 2015 Cụ thể như sau:
- TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung làTAND cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp phát sinh từ HĐTD mà không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải
uỷ thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ở nướcngoài, tức là tranh chấp phát sinh từ HĐTD không có yếu tố nước ngoài
- Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung làTAND cấp tỉnh) có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp phát sinh từ HĐTD mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần uỷ thác tưpháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ở nước ngoài, cho tòa ánnước ngoài, tức là tranh chấp phát sinh từ HĐTD có yếu tố nước ngoài Trong đó:
+ Toà Kinh tế TAND cấp tỉnh giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD nếu
tranh châp này là tranh châp kinh doanh, thương mại
+ Toà Dân sự TAND cấp tỉnh giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD nếutranh chấp này là tranh chấp về hợp đồng dân sự
+ Trong trường họp không xác định được đó là loại tranh chấp nào, có nghĩa
24
Trang 30là không xác định được tranh châp đó thuộc nhiệm vụ, quyên hạn của toà chuyên trách nào thì Chánh án TAND Cấp tỉnh quyết định phân công cho một toà chuyêntrách giải quyết theo thủ tục chung Bên cạnh việc quy định thẩm quyền theo vụ việc, BLTTDS năm 2015 còn quy định thẩm quyền theo lãnh thổ, theo sự lựa chọncủa nguyên đơn để phân chia việc giải quyết án giữa tòa án các cấp, giữa các tòa chuyên trách với nhau được tương xứng Để xác định đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án khi giải quyết các tranh chấp phát sinh từ HĐTD, Tòa án phải xác địnhcho được yêu cầu của đương sự thuộc nhóm quan hệ tranh chấp kinh doanh thươngmại hay tranh chấp về hợp đồng dân sự, từ đó có sự phân định thẩm quyền giữa tòa
án với nhau Tuy nhiên, để xác định vụ án có thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa
án hay không, trước hết Tòa án phải xem xét thoả thuận giải quyết tranh chấp của các bên chọn ban đầu hoặc sau khi xảy ra tranh chấp là TAND hay Trọng tài thương mại Trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Tòa án thì Tòa án phải từ chối thụ lý, trừ trường họp thoả thuận trọngtài vô hiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thề thực hiện được Như vậy, nếu các bên đã có thoả thuận trọng tài hợp lệ thì việc giải quyết tranh chấp không thuộcthẩm quyền của Tòa án
2.1.3 Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp từ hợp đồng tín dụng có bảo đăm bằng thế chấp tài sản tại Tòa án
Thực tiễn tố tụng dân sự cho thấy từ trước đến nay đa số các vụ tranh chấpliên quan đến HĐTD được các bên đưa ra giải quyết tại Tòa án Điều này xuất phát
từ tâm lý chung khi lựa chọn cơ quan tài phán để giải quyết tranh chấp xảy ra Các đương sự cho rằng khi giải quyết bằng thương lượng, hoà giải không thành thì tốt nhất đem tranh chấp ra giải quyết ở Tòa án bởi vì quyết định cùa Tòa án có tính cưỡng chế thi hành cao nhất, điều này đảm bảo được quyền và lợi ích của bên thắng kiện Giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD nói chung có thế chấp tài sản nóiriêng bằng con đường Tòa án được thực hiện theo trình tự, thủ tục như sau:
- Giai đoạn khởi • •kiện và thụ lý • vụ• án
Để bắt đầu quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án, bên khởi kiện (ngân
25
Trang 31hàng) phải tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án trên cơ
sở nộp hồ sơ khởi kiện tại TAND cấp có thẩm quyền Cụ thể:
Bước 1: Chuẩn bị hồ sơ khởi kiện
Hồ sơ khởi kiện bao gồm đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm Thông thường, trong các
vụ tranh chấp HĐTD có thế chấp tài sản, hồ sơ khởi kiện sẽ bao gồm một số tài liệu như: Hồ sơ khởi kiện bao gồm đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ gửi kèm theođơn khởi kiện Theo quy định của BLTTDS 2015 thì nghĩa vụ chứng minh thuộc vềđương sự Chính vì vậy, ngay từ khi nộp đơn kiện, nguyên đơn cần phải xuất trìnhđầy đủ các giấy tờ, chứng cứ liên quan để chứng minh cho yêu cầu của mình Tòa
án chỉ tự mình thu thập chứng cứ trong một số trường hợp nhất định Khi nộp đơnkiện, thông thường ngân hàng nộp các giấy sau: HĐTD; HĐTC; các phụ lục hợpđồng (nếu có), biên bản xác định nợ và lãi, biên bản cuộc họp của các bên để tiếnhành thương lượng, hòa giải (nếu có); tài liệu về các lần giải ngân của TCTD; thông báo nghĩa vụ trả nợ của khách hàng; tài liệu nhằm xác định địa vị pháp lý của ngânhàng như quyết định (hoặc giấy phép) thành lập pháp nhân, giấy chứng nhận đãng
ký kinh doanh, điều lệ hoạt động của pháp nhân, các giấy tờ nhằm xác định tư cáchpháp lý của người đại diện cho nguyên đơn như quyết định bổ nhiệm (hoặc biên bảnbầu) người đại diện theo pháp luật, giấy ủy quyền (nếu có); biên bản phân côngcông tác giữa các chức danh quản lý pháp nhân Đe có giá trị pháp lý và làchứng cứ đề Tòa án xem xét giải quyết thì các giấy tờ trên phải là bản gốc hoặc bảnsao có chứng thực theo quy định của pháp luật Hồ sơ khởi kiện được nộp trực tiếptại Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án hoặc có thể gửi qua bưu điện hoặc gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua cống thông tin điện tử của Tòa án
Bước 2: Tiếp nhận, xử lý hồ sơ
Sau khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ kèm theo, nếu thuộc thấm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán được phân công phải thông báongay cho người khởi kiện được biết để họ đến Tòa làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường họp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí Trong thời hạn 07 ngày, kể từ
26
Trang 32ngày nhận được giây báo của Tòa án vê việc nộp tiên tạm ứng án phí, người khởikiện phải nộp tiền tạm ứng án phí Sau khi nộp tạm ứng án phí, người nộp đơn xuấttrình cho Tòa án biên lai nộp tạm ứng án phí, Tòa án sẽ thụ lý vụ án và ghi vào sổthụ lý Trong trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạmứng án phí thì Tòa án phải thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo.
Bước 3: Thông báo thụ lý vụ án
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán giải quyết vụ án Có nghĩa là trong thời gian ba ngàyngười nộp đơn xuất trình cho Tòa án biên lai nộp tạm ứng án phí thì Chánh án Tòa
án mới phân công Thẩm phán giải quyết vụ án Tuy nhiên, thực tế thì khi nhận đơnkhởi kiện Chánh án Tòa án phân công ngay cho Thấm phán thụ lý Thấm phán cótrách nhiệm thông báo về việc thụ lý vụ án bằng văn bản cho bị đơn, cá nhân, cơquan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho Việnkiểm sát cùng cấp Văn bản thông báo phải đảm bảo các nội dung được quy định tạikhoản 2 Điều 196 của BLTTDS năm 2015 Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ kèm theo, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập (nếu có) Trường họp cần gia hạn thì bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải có đơn đề nghị gia hạn gửi cho Tòa án nêu rõ lý do; nếu việc đề nghị gia hạn là có căn cứ thì Tòa án phải gia hạn nhưng không quá 15 ngày Người đươc thông báo có quyền yêu cầu Toà án cho xem, ghi chép, chụp đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện theo quy định cùa pháp luật
- Giai đoạn hoà giải và chuẩn bị xét xử.
Hòa giải là thủ tục bắt buộc trong quá trình giải quyết vụ án nói chung và giải quyết tranh chấp HĐTD nói riêng, trừ những vụ án không được hòa giảihoặc không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 206 và Điều 207 của BLTTDS năm 2015
27
Trang 33Bước J: Chuăn bị phiên họp hòa giải
Trong giai đoạn này, hồ sơ sể được phân cho Thẩm phán thụ lý nghiên cứu
để tiến hành xét xử vụ án và Thẩm phán thụ lý có thề yêu cầu các bên thực hiện cáccông việc sau: yêu cầu các bên xuất trình thêm các giấy tờ, tài liệu cần thiết liênquan đến vụ việc; triệu tập đến Tòa án để lấy lời khai hoặc để đối chất; xem xét, thấm định tại chỗ (đo đạc); triệu tập các đương sự đến tiến hành hoà giải để cácđương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án Trước khi tiến hành phiên hòa giải, Thẩm phán có trách nhiệm thông báo cho đương sự, người đại diện hợp pháp cũa đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về thời gian, địa điểm tiến hành phiên họp và nội dung của phiên họp Phiên họp bao gồm các thành phần tham gia là: Thẩm phán, Thư ký tòa án, đương sự hoặc người đạidiện hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (nếu có), người phiên dịch (nếu có) Trong trường hợp vụ án có nhiều đương sự mà
có đương sự vắng mặt, nhưng các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành phiên họp
và việc tiến hành phiên họp đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sựvắng mặt thì Thẩm phán tiến hành phiên họp giữa các đương sự có mặt; nếu cácđương sự đề nghị hoãn phiên hòa giải đề có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thìThẩm phán phải hoãn phiên họp Thẩm phán phải thông báo việc hoãn phiên họp vàviệc mở lại phiên họp cho đương sự
Bước 2: Tiến hành hòa giải
Khi tiến hành hòa giải, Thẩm phán phổ biến cho các đương sự về các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các đương sự liên hệđến quyền, nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành để
họ tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án Việc hoà giải được Thư
ký Tòa án ghi vào biên bản và biên bản hoà giải phải có các nội dung chính quy định tại khoản 3 Điều 211 của BLTTDS năm 2015 Biên bản phải có đầy đủ chừ ký hoặc điểm chỉ của những người tham gia phiên họp, chừ ký của Thư ký Tòa án ghibiên bản và của Thấm phán chú trì phiên họp Những người tham gia phiên họp cóquyền được xem biên bản ngay sau khi kết thúc phiên họp, yêu cầu ghi những sửa
28
Trang 34đổi, bổ sung vào biên bản và ký xác nhận hoặc điểm chỉ Trường hợp các bên tựthỏa thuận được với nhau về tất cả các vấn đề phải giải quyết thì Tòa án lập biên bản hòa giải thành Biến bản này được gửi ngay cho các đưcmg sự tham gia hòa giải
và Hết thời hạn bảy ngày, kế từ ngày lập biên bản hoà giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hoàgiải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự Quyết định này có giá trị chung thẩm, không
bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thấm nhưng có thế bị kháng nghị theothủ tục giám đốc thấm nếu có căn cứ cho rằng sự thỏa thuận đó là do bị nhầm lẫn,lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc vi phạm điều Cấm của luật, trái đạo đức xã hội.Trường hợp các bên không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết tranh chấpthì Tòa án lập biên bản hòa giải không thành và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Nếu như các bên hoà giải không thành thì Tòa án đem vụ án ra xét xử công khaihoặc xét xử kín đế đảm bảo bí mật cho các bên khi các bên yêu cầu và được Tòa án chấp thuận Thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án tranh chấp phát sinh từ HĐTD được quy định như sau: Đối với tranh chấp HĐTD là tranh chấp về hợp đồng dân sự thì thờihạn là bốn tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án Đối với tranh chấp HĐTD là tranh chấp
về hoạt động kinh doanh, thương mại thì thời hạn là hai tháng, kể từ ngày thụ lý vụ
án Ngoài ra, đối với các loại tranh chấp HĐTD mà có tính chất phức tạp hoặc dotrở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn
bị xét xử, nhưng không quá hai tháng đối với vụ án thuộc trường họp tranh chấpHĐTD là tranh chấp về họp đồng dân sự và một tháng đối với vụ án thuộc trườnghợp tranh chấp HĐTD là tranh chấp về hoạt động kinh doanh, thương mại Quyếtđịnh đưa vụ án ra xét xử gồm có các nội dung được quy định tại khoản 1 Điều 220 của BLTTDS 2015 Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải được gửi cho các đương
sự, Viện kiểm sát cùng cấp ngay sau khi ra quyết định Trong thời hạn chuẩn bị xét
xử, Tòa án ra một trong các quyết định sau: Quyết định công nhận sự thóa thuận của đương sự; Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án; Quyết định đình chỉ giải quyết
vụ án; Quyết định đưa vụ án ra xét xử Các quyết định này phải được gửi cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp
29
Trang 35- Giai đoạn xét xử sơ thâm
Trong thời hạn một tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa
án phải mở phiên toà; trong trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là haitháng Phiên toà sơ thẩm phải được tiến hành đúng thời gian, địa điểm đã được ghitrong quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc trong Quyết định hoãn phiên tòa trong trường hợp phải hoãn phiên toà Phiên toà sơ thẩm diễn ra theo trình tự thủ tục:chuẩn bị khai mạc phiên toà, thủ tục hỏi tại phiên toà, tranh luận tại phiên toà, nghi
án và tuyên án Phiên tòa sơ thẩm bao gồm: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa; Hộithẩm nhân dân; Thư ký Tòa án; Kiểm sát viên; nguyên đơn; bị đơn; người có quyềnlợi và nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khấc (Nếu có): Ngườibảo vệ quyền lợi của đương sự; người làm chứng; người giám định; người phiên dịch; người làm chứng, người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền Phiên tòa được diền ra theo trình tự: khai mạc phiên tòa, tranh tụng, nghị án
và tuyên án được quy định cụ thể từ Điều 222 đến 269 của BLTTDS năm 2015.Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày tuyên án, Tòa án phải giao hoặc gửi bản án cho các đương sự và Viện kiếm sát cùng cấp Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhậnđược quyết định, 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án của Tòa án, các bên cóquyền gửi đơn kháng cáo để xét xử vụ án theo trình tự phúc thẩm
- Giai đoạn xét xử phúc thấm: Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lựcpháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa
án cấp sơ thẩm là mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không cómặt tại phiên toà thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết
2,1.4 Chủ thể, hình thức và nội dung của hợp đồng tín dụng
- Chủ thể của hợp đồng tín dụng
Trong HĐTD luôn xuất hiện hai bên chủ thể tham gia, đó là bên cho vay và bên vay Trong quan hệ cho vay này thì chủ thể cho vay chính là các tố chức tíndụng được phép cấp tín dụng theo quy định của pháp luật và chủ thể đi vay là các
30
Trang 36khách hàng có nhu câu vay vôn tại các tô chức tín dụng Các TCTD có thê là ngân hàng thương mại, các công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, tố chức tài chính
vi mô, quỹ tín dụng nhân dân, ngân hàng chính sách xã hội, ngân hàng họp tác xã.Bên đi vay là cá nhân, pháp nhân Khi vay vốn tại TCTD, khách hàng phải thoả mãn các điều kiện vay vốn theo qui định của pháp luật (như về năng lực chủ thể, mục đích sử dụng vốn vay phải hợp pháp, về khả năng tài chính để đảm bảo trả nợ,
về phương án kinh doanh khả thi, về việc thực hiện các qui định bảo đảm tiền vay (nếu có) và các điều kiện khấc do các bên thoả thuận
Quan hệ tín dụng ngân hàng thực chất là quan hệ chuyển nhượng vốn giữa cácTCTD với các tổ chức, cá nhân trong đời sống xã hội Do đó, chủ thể bên cho vay là các TCTD, bên đi vay (khách hàng) là tố chức, cá nhân thỏa mãn các quy định của pháp luật Như vậy, các tố chức không phải là pháp nhân (hộ gia đình, tổ hợp tác, tốchức khác không có tư cách pháp nhân) không đủ tư cách chủ thể vay vốn tại TCTD Quy định này dựa trên tiêu chí chủ thể của quan hệ tài sản theo quy định của BLDSnăm 2015 là pháp nhân và cá nhân Khách hàng trong HĐTD ngoài những điều kiện chung về nàng lực pháp luật và năng lực hành vi theo quy định của BLDS, thì cầnphải có điều kiện phải có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết Điều này nhằm mục đích thu hồi vốn vay cả gốc và lãi của TCTD Đe đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết, các TCTD phải có trách nhiệm xác minh điều kiện vay của khách hàng, phân tích rủi ro có thế xảy ra Nếu khách hàng không đảm bảo được khả năng trả nợ trong thời hạn cam kết thì sẽ không được xét duyệt hồ sơ cho vay về chủthề vay vốn hiện nay, hộ kinh doanh, tổ họp tác, doanh nghiệp tư nhân nếu có nhu cầu vay vốn thì phải áp dụng dưới hình thức là cá nhân đứng ra vay, đề nghị vay vốnchuyền từ hộ gia đinh thành tên cá nhân đứng ra vay Đây là một hạn chế cùa Thông
tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của NHNN quy định về hoạt động chovay của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng Mô hình hoạt động kinh doanh của hộ gia đình, tố hợp tác, doanh nghiệp tư nhân trên thực tế các hộkinh doanh đã rất ít vốn, muốn mở rộng kinh doanh thì họ buộc phải vay vốn ngân hàng, mà lại vay dưới danh nghĩa cá nhân thì hạn mức rất hạn chế, chưa đáp ứng đủ
31
Trang 37nhu câu cho hoạt động kinh doanh, đông thời, đê một cá nhân đứng ra vay vôn cho tôhợp tác sẽ rất phức tạp, nhiều rủi ro và cá nhân tự chịu trách nhiệm trả nợ chứ không phải danh nghĩa hộ gia đình, hộ kinh doanh.
về thẩm quyền ký hợp đồng tín dụng: Mỗi bên chỉ cần một người đại diện
ký HĐTD Tuy nhiên trên thực tế, nhiều trường hợp bên ngân hàng có hai chữ ký(giám đốc và trưởng phòng tín dụng), đồng thời yêu cầu bên vay cũng có hai chữ ký (giám đốc và kế toán trưởng đối với doanh nghiệp hoặc hai vợ chồng đối với cá nhân) Đối với ngân hàng, ít khi người đại diện theo pháp luật ký HĐTD, mà thường do người được uỷ quyền ký, trong đó không ít trường hợp uỷ quyền cho người thứ ba một cách thường xuyên, liên tục Phổ biến là trường hợp, người đạidiện pháp luật của ngân hàng uỷ quyền cho giám đốc chi nhánh, sau đó giám đốcchi nhánh uỷ quyền lại cho phó giám đốc hoặc trưởng phòng Ngược lại, ngân hàngthường chỉ chấp nhận cho bên vay là doanh nghiệp uỷ quyền một cấp cho người thứhai và thường là có vị trí ngay dưới người uỷ quyền ký HĐTD Việc đòi hởi như trên của ngân hàng là chặt hơn đòi hỏi của pháp luật, nhưng nó có ý nghĩa quan trọng trên thực tế, nhằm hạn chế rủi ro về chủ thể ký HĐTD của bên vay, giúp choHĐTD an toàn và dễ dàng hơn trong việc thu hồi nợ Luật các TCTD cũng quy định
rõ, không một tổ chức, cá nhân nào được can thiệp trái pháp luật vào quyền tự chủtrong quá trình cho vay và thu hồi nợ của các ngân hàng
- Hình thức của hợp đồng tín dụng
HĐTD là một loại hợp đồng cụ thề của hợp đồng dân sự nói chung Do vậy,hình thức của họp đồng được thực hiện theo quy định của BLDS Ngoài ra, HĐTDcũng phải tuân thủ các qui định của pháp luật về ngân hàng vì họp đồng này ký kết trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng Việc thỏa thuận cho vay của các bên trongHĐTD phải được lập thành văn bản, đây là một quy định bắt buộc nhằm đảm bảo tính chặt chẽ, rõ ràng trong thỏa thuận của các bên về quyền và nghĩa vụ, hạn chế các rủi ro có thế xảy ra, là cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết tranh chấp nếu có.Trong xu thế hội nhập như hiện nay ở nước ta cùng với sự phát triển của công nghệthông tin thì việc giao kết họp đồng dưới hình thức văn bản giấy tờ không còn là
32
Trang 38thích hợp khi cách mạng công nghiệp 4.0 đang rât phát triên, việc xem xét áp dụnghình thức HĐTD dưới dữ liệu điện tử thông qua mạng internet hoặc các phưong tiệnđiện tử khác, trên cơ sở quy định về giao kết và thực hiện họp đồng điện tử đã công nhận giá trị pháp lý của giao dịch điện tử, giá trị của thông điện dữ liệu điện tử, chữ
ký điện tử Các bên có thể giao kết HĐTD mà không cần phải đi đến tận nơi gặp nhau trực tiếp thương thảo hợp đồng sẽ thúc đẩy việc sử dụng các giao dịch điện tử,góp phần nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế Mặt khác, theo Quyết định số 35/2015/QĐ-TTg ngày 20/8/2015 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc ban hành Danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phảiđăng ký họp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung, việc phát hành thẻ ghi nợnội địa, mở và sử dụng dịch vụ tài khoản thanh toán (áp dụng cho khách hàng cá nhân), vay vốn cá nhân (nhằm mục đích tiêu dùng) phải đăng ký hợp đồng theo mẫu Như vậy, quy định của BLDS năm 2015 và Quyết định số 35/2015/QĐ-TTgchưa thực sự có sự đồng nhất với nhau Vì BLDS chỉ yêu cầu về việc công khai họp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung mà không có quy định phải đăng kýhợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung Việc bố sung các dịch vụ này vào danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký họp đồng theo mẫu, điều kiệngiao dịch chung có thể không cần thiết, tạo thêm thủ tục hành chính cho TCTD và
có thể tăng thêm chi phí cho người tiêu dùng, đồng thời thêm gánh nặng cho cácTCTD và như vậy, các TCTD khi cho vay sẽ gánh chịu rủi ro lớn trước những trụctrặc pháp lý từ nghĩa vụ đăng ký hợp đồng mẫu, sản phẩm, dịch vụ của các TCTD rất đa dạng nên áp dụng chung một mẫu họp đồng cho tất cả các lọai sản phẩm, nếu các TCTD chưa kịp đăng ký thì sẽ làm cho giao dịch đó có thể bị tuyên bố vô hiệu.Một khi các giao dịch vô hiệu, phần thiệt luôn thuộc về phía TCTD cho vay vì khó
mà thu hồi được lãi, phí Trong khi, lãi và phí lại là mục đích tồn tại hoạt động trongkinh doanh của các TCTD Do đó, việc đăng ký điều kiện giao dịch chung đối với loại địch vụ này là không phù hợp Tuy nhiên, trên thực tế, bản “mẫu hợp đồng” màngân hàng đưa ra không được coi là “họp đồng mẫu” mà chỉ là bản thảo, chi tiết hóacác quy định phải thỏa thuận theo Thông tư số 39/2017/TT-NHNN để các bên thuận
33
Trang 39tiện trong quá trình đàm phán ký kêt hợp đông, tránh xảy ra tranh châp Bên vayhoàn toàn có thể thoả thuận với ngân hàng thay đổi bất kỳ nội dung nào Song trênthực tế, bên vay thường phải chấp nhận những điều khoản có tính ràng buộc mà tổ chức tín dụng cho vay đã soạn sẵn và luôn có lợi hơn cho TCTD.
- Nội dung của hợp đồng tín dụng
Các bên tham gia HĐTD (TCTD cho vay và khách hàng vay vốn) thỏa thuận về nội dung của HĐTD Nội dung của HĐTD bao gồm các điều khoản của hợp đồng Các điều khoản này phải xác định rõ quyền, nghĩa vụ của hai bên trong hợp đồng và phảiđược xây dựng trên nguyên tắc tự nguyện và nguyên tắc hợp pháp [39, tr 225] Theoquy định của BLDS 2015, Luật Các TCTD năm 2010, được sửa đổi, bổ sung năm
2017, các bên trong HĐTD phải thỏa thuận về các điều khoản trong họp đồng này.Ngoài ra, Thông tư số 39/2017/TT-NHNN quy định khi ký kết HĐTD các bên thỏathuận với nhau các nội dung sau: “Tên, địa chỉ, mã số doanh nghiệp của TCTD chovay; tên, địa chỉ, số chứng minh nhân dân hoặc thẻ căn cước hoặc hộ chiếu hoặc mã
số doanh nghiệp của khách hàng; số tiền cho vay; hạn mức cho vay; mục đích sử dụng vốn vay; đồng tiền cho vay, đồng tiền trả nợ; phương thức cho vay; thời hạncho vay; lãi suất cho vay; giải ngân vốn cho vay; việc trả nợ gốc, lãi tiền vay và thứ
tự thu hồi nợ gốc, lãi tiền vay; trả nợ trước hạn; cơ cấu lại thời hạn trả nợ; trách nhiệm của khách hàng trong việc phối họp với TCTD và cung cấp các tài liệu liên quan đến khoản vay; các trường hợp chấm dứt cho vay; thu nợ trước hạn; chuyển
nợ quá hạn; xử lý nợ vay; phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại; quyền và tráchnhiệm của các bên; hiệu lực của thỏa thuận cho vay” Những quy định này để đảm bảo tính chặt chẽ của HĐTD, an toàn cho các bên trong quan hệ hợp đồng Tuynhiên, sự quy định phải có các nội dung cụ hể như trên phần nào làm hạn chế quyền
tự định đoạt của các bên, chưa có sự thống nhất với quy định của BLDS
Cụ thể, HĐTD bao gồm các điều khoản chủ yếu sau đây:
- Điều khoản về phương thức cho vay
Phương thức cho vay trong HĐTD là cách thức mà ngân hàng cấp tiền vay cho khách hàng TCTD phải thỏa thuận với khách hàng vay về việc áp dụng các phương
34
Trang 40thức cho vay Theo Điêu 27 Thông tư sô 39/2017/TT-NHNN quy định gôm 8 phươngthức cho vay: Cho vay từng lần, cho vay hợp vốn; cho vay lưu vụ, cho vay theo hạnmức, cho vay theo hạn mức cho vay dự phòng, cho vay theo hạn mức thấu chi trên tàikhoản thanh toán, cho vay quay vòng, cho vay tuần hoàn Ngoài ra, TCTD và khách hàng có thế thởa thuận các phương thức cho vay khác mà pháp luật không cấm, phùhọp với Quy chế cho vay và điều kiện kinh doanh của TCTD và khách hàng.
- Điều khoản về sổ tiền vay, lãi suất, thời hạn vay
+ Điều khoản về số tiền vay: số tiền vay do các bên thỏa thuận trong hợpđồng, tuy nhiên, số tiền vay phải đảm bảo theo các quy định về hạn mức tín dụng, trong đó, tổng dư nợ của một khách hàng đối với TCTD không được vượt quá 15% vốn tự có cùa TCTD trừ trường hợp có sự ủy thác của Chính phú, các tổ chức, cá nhân hoặc khách hàng vay là một TCTD khác Trong trường hợp nhu cầu của kháchhàng vượt quá 15% vốn tự có cùa TCTD, thì TCTD có thể cho vay họp vốn với các TCTD khác theo quyết định của Thống đốc NHNN, trường hợp đặc biệt Chính phủ
có thể quyết định mức cho vay tối đa đối với từng trường hợp cụ thể Ngoài ra, Điều
127 Luật các TCTD năm 2010 quy định về hạn chế cấp tín dụng, tùy thuộc vào đốitượng được cấp tín dụng mà tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với các đối tượng làkhác nhau: Không quá 5%, 10%, 20% vốn tự có của mình Để duyệt cho kháchhàng vay được một khoản tiền, TCTD phải dựa theo các yếu tố: (i) Nhu cầu vay vốn của khách hàng (dựa theo nhu cầu vay vốn của khách hàng, TCTD xem xét nhu cầu
đó để quyết định hạn mức cho vay); (ii) Khả năng trả nợ của khách hàng (đây là căn
cứ quan trọng để TCTD xem xét có cho vay hay không? hạn mức cho vay? Khả năng trả nợ của khách hàng căn cứ vào nhiều yếu tố như khả năng tài chính của khách hàng; hiệu quả sản xuất kinh doanh của khách hàng; lịch sử của khách hàng); (iii) Biện pháp bảo đảm vốn vay (gồm biện pháp đảm bảo bằng tài sản, không bằngtài sản) Trong đó, biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản (có thể là cầm cố, thếchấp), yêu cầu tài sản đảm bảo phải thuộc quyền sở hữu của khách hàng vay hoặccủa bên thứ ba, có thể là tài sản hiện hữu hoặc tài sản hình thành từ vốn vay Việc
áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay bàng tài sản theo cách thức nào là do các bên
tự thỏa thuận và phải quy định rõ ràng trong hợp đồng về giá trị tài sản đem ra bảo
35