1. Trang chủ
  2. » Tất cả

sáng kiến kinh nghiệm toán học thcs

45 57 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp giúp học sinh hăng say, hứng thú trong học tập môn Toán 7
Trường học Trường Trung Học Cơ Sở (THCS) [Website trường](http://example.com)
Chuyên ngành Toán học
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2023
Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 3,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thực tế giảng dạy môn Toán tôi thấy nhiều học sinh đại trà chưa có hứng thú với môn học, với việc tìm ra kiến thức và tiếp thu kiến thức mới.. Tuy nhiên, khi dạy học theo phương ph

Trang 1

I ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN

Nghị quyết số 29 - NQ/TW khoá XI về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục

và đào tạo của Đảng: “Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề Đổi mới nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn”

Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật

và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực

Muốn thực hiện được điều này, cần phải thay đổi phương pháp dạy học từ thụ động thành chủ động Các em có cơ hội rèn luyện kỹ năng, vận dụng kiến thức được học vào thực tiễn cuộc sống, hình thành năng lực và hoàn thiện về nhân cách, phẩm chất

Toán học là một môn khoa học tự nhiên lý thú, là cơ sở của mọi ngành khoa học Vì vậy, mong muốn nắm vững các kiến thức về toán học là nguyện vọng của rất nhiều học sinh Việc dạy học sinh hiểu bài, học khá, học giỏi, yêu thích môn Toán đấy cũng là thành công lớn của người thầy Đồng thời việc học toán còn góp phần hình thành cho các em phát triển năng lực tư duy lô gic, thông minh sáng tạo, làm việc có kế hoạch, khoa học, có phẩm chất Đó là những yếu tố cần thiết mà học sinh cần có để từ đó làm chìa khóa chiếm lĩnh và khám phá những kiến thức ở môn toán nói riêng và các môn học khác nói chung

Để đạt được điều đó thì mỗi bản thân giáo viên không ngừng học hỏi, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tìm tòi các phương pháp cũng như cách thức giảng dạy để có thể khơi dậy sự hứng thú cũng như sự chủ động trong hoạt động học tập

Trong thực tế giảng dạy môn Toán tôi thấy nhiều học sinh đại trà chưa có hứng thú với môn học, với việc tìm ra kiến thức và tiếp thu kiến thức mới Trong lớp các em thường không tập trung và chú ý nghe giảng, thường mơ hồ về kiến thức, … dẫn đến kết quả học tập chưa cao

Trang 2

Là một giáo viên tôi luôn suy nghĩ làm thế nào để các em hăng say, hứng thú

với môn học từ đó nâng cao chất lượng dạy và học Vì thế tôi chọn đề tài: “Một

số giải pháp giúp học sinh hăng say, hứng thú trong học tập môn Toán 7”

II MÔ TẢ GIẢI PHÁP

1 Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến

Thực tế nếu giáo viên chỉ sử dụng phương pháp dạy học truyền thống trong giảng dạy thì hiệu quả dạy học chưa cao Ở phương pháp này chủ yếu là hoạt động của giáo viên nhằm truyền đạt các kiến thức có trong sách giáo khoa cho học sinh Phương pháp này có ưu điểm là học sinh nắm được nội dung kiến thức của bài ngay trong tiết học, các em có thể trả lời được những câu hỏi liên quan có trong sách giáo khoa

Tuy nhiên, khi dạy học theo phương pháp này vẫn còn nhiều hạn chế như: Học sinh tiếp thu bài một cách thụ động, không nắm được kiến thức trọng tâm nên dẫn đến rất nhanh quên, khả năng tư duy còn hạn chế, khả năng vận dụng kiến thức bộ môn vào giải quyết các vấn đề thực tiễn còn kém… điều này thể hiện qua kết quả ở các bài kiểm tra của các em còn thấp, khi gặp các vấn đề thực tiễn có liên quan đến kiến thức bộ môn các em còn lúng túng hoặc không giải đáp được

Trong mỗi tiết học mà người giáo viên quá chú trọng đến khối lượng kiến thức truyền đạt cho học sinh mà ít chú trọng đến việc tạo ra hứng thú học tập cho học sinh thì tiết học sẽ trở lên khô khan, nhàm chán Học sinh tiếp thu bài một cách thụ động, không có hứng thú trong việc tìm ra kiến thức và tiếp thu kiến thức mới, hạn chế khả năng tư duy và vận dụng kiến thức vào thực tiễn Chính vì vậy người giáo viên phải đổi mới phương pháp hình thức tổ chức dạy học để khơi dậy hứng thú học tập cho học sinh

Trước khi thực hiện đề tài tôi đã cho học sinh làm bài kiểm tra khảo sát đầu năm và khảo sát tâm lí học sinh Kết quả thu được như sau:

Bảng 1: Kết quả khảo sát chất lượng đầu năm học:

7B1 40 5 12,5% 7 17,5% 10 25% 18 45% 7C1 41 6 14,6% 7 17,1% 11 26,8% 17 41,5%

Trang 3

Bảng 2: Kết qủa khảo sát tâm lí về mức độ hăng say và hứng thú trong học tập môn Toán 7:

Lớp 7B1 (Lớp thực nghiệm)

Lớp 7C1 (Lớp đối chứng) Tổng số Tỉ lệ Tổng số Tỉ lệ

3 Chưa hăng say và hứng thú 18 45% 16 39% Qua kết quả khảo sát tôi thấy kết quả học tập môn Toán 7 của các em còn thấp, chưa thực sự yêu thích môn học Trước thực trạng trên trên yêu cầu đặt ra đối với giáo viên dạy bộ môn Toán là: Phải làm thế nào? Tổ chức, hướng dẫn học sinh học tập ra sao? Từ đó giúp các em hăng say, hứng thú với môn học, phát huy được tính tích cực tự giác trong học tập

Thực hiện chương trình giáo dục phổ thông hiện nay đòi hỏi giáo viên phải vận dụng các phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực; chủ động sáng tạo; phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh

Để phát huy được tính tích cực tự giác của học sinh trước tiên giáo viên phải gây được hứng thú cho học sinh trong các tiết học, tạo cho các em có niềm tin vào môn Toán Có thể gây hứng thú cho học sinh bằng các sử dụng các tình huống thực tiễn, tổ chức các trò chơi, …

Thông qua các hoạt động đó các em sẽ lĩnh hội được những tri thức toán học một cách dễ hiểu, củng cố khắc sâu kiến thức một cách vững chắc, tạo cho các em niềm say mê hứng thú trong học tập

2 Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến

Hứng thú là một thuộc tính tâm lí – nhân cách của con người Hứng thú có vai trò rất quan trọng trong học tập và làm việc, không có việc gì người ta không làm được dưới ảnh hưởng của hứng thú M.Gorki từng nói: “Thiên tài nảy nở từ tình yêu đối với công việc” Cùng với tự giác, hứng thú làm nên tính tích cực nhận thức, giúp học sinh học tập đạt kết quả cao, có khả năng khơi dậy mạch nguồn của sự sáng tạo Biểu hiện của hứng thú về mặt hành động là học sinh học tập tích cực chủ động, không chỉ học trong giờ lên lớp mà còn cả ngoài giờ lên lớp

Trang 4

* Trong giờ lên lớp:

+ Say mê học tập, chú ý nghe giảng, ghi chép bài đầy đủ, cẩn thận

+ Tích cực suy nghĩ, hăng hái phát biểu xây dựng bài, trao đổi ý kiến với bạn bè, với giáo viên

+ Tích cực làm việc cùng nhóm để hoàn thành nhiệm vụ

* Ở ngoài lớp và ở nhà:

+ Độc lập và tự giác trong việc học tập

+ Học bài và làm bài tập đầy đủ

+ Tự giác làm thêm các bài tập ngoài yêu cầu của giáo viên

+ Tự sưu tầm, đọc thêm nhiều tài liệu, sách báo tham khảo có liên quan đến môn học

+ Tự tổng kết từng phần, những chương mục đã học và tìm ra mối quan hệ bên trong giữa chúng

+ Từng bước tập vận dụng những kiến thức môn học vào thực tiễn

+ Cố gắng giải nhanh và tìm nhiều cách giải các bài tập…

* Biểu hiện về mặt học tập: Kết quả học tập đạt loại khá, giỏi

Chính hứng thú học tập mang lại một số tác dụng đặc biệt như:

- Là yếu tố cần thiết cho sự phát triển nhân cách, tri thức và nhận thức

- Làm chỗ dựa cho sự ghi nhớ, cho phép học sinh duy trì sự chú ý thường xuyên

và cao độ vào nhận thức bài học

- Làm cho hoạt động trở lên hấp dẫn hơn vì các em được duy trì trạng thái tỉnh táo của cơ thể giúp học phấn chấn, vui tươi học tập lâu mệt mỏi

- Tạo ra và duy trì tính tích cực nhận thức, tích cực hoạt động tiếp thu, tìm hiểu kiến thức

Chính vì vậy để nâng cao hứng thú học tập môn Toán học cho học sinh mà tôi đã

áp dụng một số giải pháp như:

+Sử dụng tình huống thực tiễn

+Lật ngược vấn đề, xem xét tính tương tự, giải quyết một mâu thuẫn của bài toán +Tạo hứng thú cho học sinh ngay từ các hoạt động mở đầu trong các tiết học +Sử dụng kiến thức liên môn vào dạy học

+Sử dụng mô hình trực quan

+ Ứng dụng công nghệ thông tin, tổ chức các trò chơi, …

Cụ thể đối với môn Toán 7 trong quá trình giảng dạy tôi đã nghiên cứu và

áp dụng những giải pháp trên vào các bài học cụ thể giúp các em học sinh say

Trang 5

mê, hứng thú hơn với các tiết học và yêu thích môn Toán học hơn Sau đây là một

số ví dụ và tôi đã thực hiện

2.1 Sử dụng tình huống thực tiễn

Môn Toán là môn gắn liền với thực tế cuộc sống, vì vậy trong quá trình dạy học giáo viên cần cho học sinh liên hệ kiến thức đã học vào thực tế, sử dụng các kiến thức vào các công việc thường ngày Điều này làm cho các em nhớ kiến thức lâu hơn

- Khi dạy bài “Tính chất của dãy tỉ số bằng nhau” (Toán 7, tập 1)

Tôi đưa ra một tình huống thực tiễn để vào bài mới: Ngày Tết mẹ mừng tuổi chung cho hai chị em Bình và Lan 180 nghìn đồng và bảo chia tỉ lệ theo số tuổi Cho biết Bình 10 tuổi và Lan 8 tuổi Hỏi hai chị em mỗi người được mẹ mừng tuổi bao nhiêu tiền?

Tôi yêu cầu học sinh trong lớp trả lời Các em có nhiều kết quả khác nhau: Bình được 120 nghìn, Lan được 60 nghìn hay Bình được 70 nghìn, Lan được 110 nghìn, hay Bình được 100 nghìn, Lan được 80 nghìn…

Các em tranh luận rất sôi nổi, có nhiều đáp án khác nhau Lúc này tôi mới cho các em biết rằng để biết đáp án chính xác thì nội dung bài học hôm nay sẽ giúp chúng ta tìm câu trả lời

Khi biết được điều đó học sinh rất háo hức, luôn chăm chú lắng nghe giảng

và rất tích cực tham gia vào các nhiệm vụ học tập

Sau khi hình thành kiến thức mới của bài, tôi sẽ cho các em tự vận dụng kiến thức mới để giải bài tập và tìm ra đáp án Sự tò mò ban đầu đã giúp tất cả các em hào hứng đi giải bài tập để tìm ra kết quả

Lời giải Gọi số tiền mẹ mừng tuổi Bình là “a” đồng(0  a  1 8 0 )

Số tiền mẹ mừng tuổi Lan là “b” đồng(0  b  1 8 0 )

Mẹ mừng tuổi chung cho hai chị em Bình và Lan 180 nghìn đồng nên ta có:

Trang 6

Vậy số tiền mẹ mừng tuổi Bình là 100 nghìn đồng, Lan là 80 nghìn đồng

* Với tình huống trên kích thích trí tò mò của học sinh, từ đó tạo động lực giúp các em tìm tòi khám phá kiến thức Biết vận dụng kiến thức toán học vào cuộc sống

- Khi dạy bài “Đại lượng tỉ lệ thuận” (Toán 7, tập 1)

Để tạo hứng thú cho học sinh trước khi vào bài học mới tôi đưa ra một tình huống: Nga và Lê dự định làm mứt dẻo từ 2,5 kg dâu Theo công thức, cứ 2 kg dâu thì cần 3kg đường Nga bảo cần 3,75 kg đường, còn Lê bảo cần 3,25 kg Theo em, ai đúng và vì sao?

Tôi yêu cầu thảo luận theo nhóm và trả lời Có nhóm trả lời Nga đúng, có nhóm trả lời Lê đúng…Các em thảo luận rất sôi nổi, có nhiều đáp án khác nhau sau đó tôi dẫn dắt vào bài

Sau khi học xong phần 2 - Tính chất, tôi nhắc lại tình huống ở đầu bài và yêu cầu các nhóm vận dụng kiến thức để giải Lúc này các em rất tích cực trong việc tìm ra câu trả lời ở phần đầu bài

Lời giải

Gọi khối lượng đường cần dùng để làm mứt dẻo từ 2,5kg dâu là x (x 0)

Vì khối lượng dâu và khối lượng đường là hai đại lượng tỉ lệ thuận nên ta có:

2 3 2, 5 3

3, 7 5

x x

=  = = (Thỏa mãn điều kiện)Bạn Nga nói đúng

Sau đó tôi đưa ra bài tập tương tự để các nhóm làm

Bài tập: Bột sắn dây được làm từ củ sắn dây Bột sắn là một loại thực phẩm

có nhiều tác dụng tốt với sức khỏe Nhà bà Na làm bột sắn dây Bà Na nhận thấy

cứ 4,8 kg củ sắn dây tươi thì thu được khoảng 1 kg bột Hỏi với 6 tạ củ sắn dây tươi, bà Na sẽ thu được khoảng bao nhiêu kg bột sắn dây?

Hình ảnh: Bà Na làm bột sắn dây

Trang 7

Đây là một tình huống thực tế các em gặp trong cuộc sống hàng ngày Giáo viên yêu cầu học sinh hoạt động nhóm để giải bài tập

Lời giải

Đổi 6 tạ = 600 kg

Gọi khối lượng bột sắn thu được từ 6 tạ củ sắn tươi là x (x 0)

Vì khối lượng củ sắn và khối lượng bột sắn là hai đại lượng tỉ lệ thuận nên ta có:

1 2 5

x x

=  = = (Thỏa mãn điều kiện)

Vậy khối lượng bột sắn thu được từ 6 tạ củ sắn tươi là 125 kg

- Khi dạy bài “Đại lượng tỉ lệ nghịch” (Toán 7, tập 1) Tôi đưa ra tình huống

vào bài:

Một đội công nhân gồm 28 người dự

định xây một ngôi nhà trong 210

ngày Nhưng khi thực hiện đội công

nhân được tăng thêm 7 người (giả

sử năng suất làm việc của mỗi công

nhân là như nhau) Số công nhân

tăng lên thì số ngày hoàn thành công

việc như thế nào? Hỏi đội công nhân

đó hoàn thành công việc trong thời

gian bao nhiêu ngày?

Sau khi hình thành kiến thức tính chất hai đại lượng tỉ lệ nghịch Tôi nhắc lại tình huống ở đầu bài và yêu cầu các nhóm vận dụng kiến thức để giải Các nhóm đưa phương án trả lời

Lời giải

Số công nhân tăng lên thì số ngày hoàn thành công việc giảm

Số công nhân thực tế là: 28 + = 7 35 (Công nhân)

Gọi thời gian mà 35 công nhân hoàn thành công việc là x ngày (x 0)

Vì năng suất làm việc của mỗi công nhân là như nhau nên số công nhân tỉ lệ nghịch với số ngày hoàn thành công việc

Ta có: 28 28.210 168

x x

Vậy 35 công nhân hoàn thành xong ngôi nhà đó hết 168 ngày

Sau đó tôi đưa ra bài tập để các nhóm làm

Trang 8

Bài tập: Một đội công nhân gồm 35 người dự định xây một ngôi nhà trong

168 ngày Nhưng khi thực hiện đội công nhân giảm 7 người (giả sử năng suất làm việc của mỗi công nhân là như nhau) Số công nhân giảm thì số ngày hoàn thành công việc như thế nào? Hỏi đội công nhân đó hoàn thành công việc trong thời gian bao nhiêu ngày?

Giáo viên yêu cầu học sinh hoạt động nhóm để giải bài tập

Các nhóm thảo luận và đưa phương án trả lời

Lời giải

Số công nhân giảm thì số ngày hoàn thành công việc tăng lên

Số công nhân thực tế là: 35 − = 7 28 (Công nhân)

Gọi thời gian mà 28 công nhân hoàn thành công việc là x ngày (x>0)

Vì năng suất làm việc của mỗi công nhân là như nhau nên số công nhân tỉ lệ nghịch với số ngày hoàn thành công việc

Ta có: 3 5 3 5 1 6 8 2 1 0

x

x

Vậy 28 công nhân hoàn thành xong ngôi nhà đó hết 210 ngày

* Với tình huống thực tiễn đã lôi cuốn các em vào tiết học một cách tự nhiên, các em rất hào hứng, phát huy tính tích cực, tự giác Các em biết vận dụng kiến thức vào cuộc sống hàng ngày

- Khi dạy bài “Quan hệ giữa góc và cạnh đối diện trong tam giác”

(Toán 7, tập 2) Tôi đưa ra tình huống vào bài:

Ba bạn: Hạnh, Nguyên, Trang đi

đến trường theo ba con đường

Giáo viên yêu cầu học sinh thảo luận nhóm và đưa ra phương án trả lời

GV: Để biết câu trả lời chính xác thì bài học hôm nay chúng ta sẽ tìm ra câu trả lời

Trang 9

Sau khi học sinh biết được kiến thức cạnh đối diện với góc lớn hơn Giáo viên yêu cầu các nhóm vận dụng kiến thức để giải thích tình huống nêu ở phần đầu bài

Lời giải:

Xét D BCC là góc tù mà DB đối diện với C nên DB là cạnh lớn nhất

D B D C

  (quan hệ giữa góc và cạnh đối diện trong một tam giác) (1)

Ta có D BA là góc ngoài tại đỉnh B của D BC nên D B ACC là góc tù;

Vậy Hạnh đi xa nhất, Trang đi gần nhất

* Với tình huống trên sẽ kích thích trí tò mò của các em, từ đó tạo động lực giúp các em tìm tòi khám phá kiến thức

- Khi dạy bài “Tính chất ba đường trung trực của tam giác” (Toán 7 tập 2)

Để tạo hứng thú cho học sinh trước khi vào bài học mới Giáo viên đưa ra một tình huống như sau:

Ba gia đình quyết định đào chung một

cái giếng (hình vẽ) Phải chọn vị trí

của giếng ở đâu để các khoảng cách

2.2 Lật ngược vấn đề, xét tính tương tự, giải quyết một mâu thuẫn của bài toán + Lật ngược vấn đề

Trang 10

Bài tập 8/trang 109 Toán 7 - Tập 1: Cho tam giác ABC có Bˆ =Cˆ =400 Gọi Ax

là tia phân giác của góc ngoài tại đỉnh A Hãy chứng tỏ rằng Ax // BC

Giáo viên xây dựng hệ thống câu hỏi: Để chứng minh Ax // BC ta làm thế nào? Từ đó yêu cầu học sinh tính số đo góc A2 rồi vận dụng dấu hiệu nhận biết hai đường thẳng song song để suy ra điều cần chứng minh

 Ax // BC (dấu hiệu nhận biết hai đường thẳng song song)

Lật ngược vấn đề: Nếu tia Ax không phải là tia phân giác của yA B thì Ax có song song với BC không? Vì sao?

Hoặc nếu Bˆ Cˆ thì Ax có song song với BC không? Vì sao?

Từ đó giáo viên hướng dẫn học sinh có thể mở rộng bài toán này: Nếu Bˆ =Cˆ = n0

và với các giả thiết của bài toán thì luôn chứng minh được Ax // BC

- Khi dạy bài 7 “ Định lí Pitago” (Toán 7 tập 1) Khi các em đã biết “trong

một tam giác vuông, bình phương của cạnh huyền bằng tổng các bình phương của hai cạnh góc vuông” Để tạo vấn đề và gây ra sự chú ý tôi hỏi các em rằng: “Nếu một tam giác có bình phương một cạnh bằng tổng các bình phương của hai cạnh kia thì tam giác đó có là tam giác vuông không?”

Lúc này các em sẽ tư duy, phân tích và rất muốn tìm đáp án, khi nắm bắt được tâm lí học sinh thì tôi và các em tìm câu trả lời

Với tình huống này các em phải dùng sự tư duy, tìm tòi và nó thôi thúc các em

tìm ra đáp án và cũng là động lực giúp các em thích thú học toán hơn

+ Tính tương tự

Để ghi nhớ và khắc sâu kiến thức hơn trong quá trình dạy học từ dạng bài tập cơ bản

2 1

40 40

A

C B

x y

Trang 11

ban đầu tôi cho học sinh hoạt động nhóm để tìm ra các dạng bài tương tự hoặc yêu cầu học sinh phát triển các bài tập đó ở mức độ cao hơn và cùng tìm lời giải

từ đó phát triển tư duy logic cho học sinh cũng như tạo sự tò mò hứng thú hơn

trong học tập của học sinh

Ví dụ: Trong dạy học về tính chất của dãy tỉ số bằng nhau

Từ bài tập cơ bản trên tôi yêu cầu học sinh hoạt động theo nhóm với đề bài

Bài: Hãy tạo ra bài toán mới từ bài toán trên và lời giải cho bài toán đó

Hình ảnh: Học sinh hoạt động nhóm

Trang 12

Kết quả của học sinh:

Trang 16

2.3 Tạo hứng thú cho học sinh ngay từ các hoạt động mở đầu trong các tiết học

Từ việc kiểm tra bài cũ giáo viên dẫn dắt đến kiến thức bài mới

- Khi dạy bài “Cộng, trừ đa thức” (Toán 7, tập 2), đầu giờ tôi kiểm tra bài cũ như sau

Bài tập: Cho đa thức

Kết quả: 4x3 – 3 chính là tổng của hai đa thức M + N

Tương tự: Kết quả 2x2y – 2x3 – 2xy2 + 9 là hiệu của hai đa thức M – N

Với bài tập như vậy học sinh vừa củng cố được kiến thức cũ vừa thực hiện được kiến thức mới của toàn bộ tiết học, sau khi tôi dẫn dắt vào tiết học thì học sinh mới biết mình đã thực hiện luôn được kiến thức của bài mới Với tình huống học tập này gây bất ngờ cho học sinh, từ kiến thức cũ mà đã làm luôn được bài tập của kiến thức mới, lúc này học sinh sẽ có nhiều thời gian để làm bài tập và càng hiểu bài sâu hơn và là động lực để các em hứng thú, say mê học toán hơn

- Hay khi dạy bài “Quan hệ giữa ba cạnh của một tam giác Bất đẳng thức tam giác” (Toán 7, tập 2) Tôi kiểm tra bài cũ với hai bài tập ở hai tình

huống

Bài tập 1: Vẽ tam giác ABC biết AB = 2cm, AC = 3cm, BC = 4cm

Bài tập 2: Vẽ tam giác A’B’C’ biết A’B’ = 1cm, A’C’ = 2cm, B’C’ = 4cm

Với bài tập 1 học sinh sẽ vẽ được A B C , bài tập 2 học sinh sẽ không vẽ được A B C' ' 'Lúc này tạo cho các em sự tò mò vì sao ta có thể vẽ được A B C , còn

' ' '

A B C

 không vẽ được Vậy với điều kiện nào về ba cạnh của tam giác thì ta có thể vẽ được một tam giác

Trang 17

Hình ảnh: Học sinh thực hiện nhiệm vụ kiểm tra bài cũ

Lúc này khi tìm hiểu bài mới các em mới nhận thấy rằng “Trong một tam giác, tổng độ dài hai cạnh bất kì bao giờ cũng lớn hơn độ dài hai cạnh còn lại”, đây cũng là điều kiện để dựng được một tam giác khi biết độ dài ba cạnh

* Với tình huống này giúp học sinh khám phá, tò mò và bất ngờ hơn, sau khi học xong bài học các em sẽ nắm vững về tiết học và biết được vì sao một vấn đề không thể giải quyết được Giúp các em hiểu bài nhanh hơn từ đó tạo động lực để các em khám phá, tìm tòi, đam mê, hứng thú học Toán

2.4 Sử dụng kiến thức liên môn vào dạy học

- Khi dạy bài “Đại lượng tỉ lệ thuận” (Toán 7, tập 1)

?1 a Hãy viết công thức tính: Quãng đường đi được S (km) theo thời gian

t (h) của một vật chuyển động đều với vận tốc 15 (km/h)

Sau khi học sinh thực hiện nhiệm vụ học tập và tìm ra được công thức:

S = 15t (km)

Thông qua ?1 nói rằng nếu giả sử quãng đường đó là quãng đường em đến

trường, tức là em đã tham gia giao thông vậy thì ta phải làm gì khi tham gia giao thông?

Sau khi học sinh trả lời xong tôi tích hợp (trình chiếu hình ảnh)

Thế nhưng, vẫn còn nhiều em đi học tới trường chưa đủ tuổi điều khiển xe máy, chở ba không đội mủ bảo hiểm, một số em đi xe đạp điện không đội mũ bảo hiểm,

đi hàng hai – hàng ba vừa đi vừa nói chuyện trên đường, gặp tình huống bạn có hành vi như thế em sẽ làm gì?

Trang 18

Hình ảnh: Vi phạm luật giao thông của học sinh khi đi học

GV: Ở bài này ta thấy nếu học sinh đi hàng hai hay hàng ba nếu có tai nạn thì số lượng học sinh bị thương càng nhiều do đó để tránh tai nạn xảy ra thì em phải nhắc nhở các bạn chấp hành tốt luật giao thông

- Khi dạy bài “Một số bài toán về đại lượng tỉ lệ thuận” (Toán 7, tập 1)

Sau khi hình thành kiến thức mới Tôi đưa ra bài tập

Bài tập: 3 lít nước biển chứa

105 gam muối Hỏi 150 lít

nước biển chứa bao nhiêu kg

muối?

Hình ảnh: Cánh đồng muối ở Hải Hậu - Nam Định

GV yêu cầu học sinh thảo luận theo nhóm và trả lời

Trang 19

Lời giải

Gọi x là số gam muối chứa trong 150 lít nước biển (x>0)

Vì lượng nước biển và lượng muối chứa trong nước biển là hai đại lượng tỉ lệ thuận nên theo tính chất của đại lượng tỉ lệ thuận ta có:

x = = (g) (Thỏa mãn điều kiện)

Vậy 150 lít nước biển chứa 5250 g hay 5,250 kg muối

Sau đó tôi giới thiệu một số hình ảnh cách làm muối

(Người dân phải phơi cát khô và làm sạch trước khi cho “chát” lọc nước)

(Nước biển được người dân lọc qua “chát”, từ đó nước biển sẽ được đưa vào

thống chứa nước trước khi đổ ra các ruộng muối)

Trang 20

(Đổ nước vào sân phơi)

(Thu hoạch muối)

* Với tình huống thực tiễn lôi cuốn các em vào tiết học một cách tự nhiên, các em biết vận dụng kiến thức vào cuộc sống hàng ngày, biết được một số nghề

ở địa phương từ đó biết trân trọng sản phẩm của người nông dân, thêm yêu quê hương mình

2.5 Sử dụng mô hình trực quan

Phân môn hình học có nhiều khái niệm trừu tượng, kiến thức trong bài tập phong phú rất nhiều so với nội dung lí thuyết đòi hỏi học sinh phải có kỹ năng phân tích, so sánh, tổng hợp…dẫn đến học sinh tiếp thu kiến thúc chậm, sợ học hình, không hứng thú với môn học Vì vậy để học sinh tiếp thu kiến thức hình học tích cực tôi thường chọn phương pháp tạo tình huống có vấn đề từ mô hình trực

Trang 21

quan Sử dụng mô hình cho hình ảnh rất trực quan, giúp học sinh hình thành kiến thức một cách tự nhiên, không áp đặt nên học sinh nhớ bài lâu hơn và có thể tái lại kiến thức khi bị quên

- Khi dạy bài “Các góc tạo bởi một đường thẳng cắt hai đường thẳng”

(Toán 7, tập 1)

Để chuẩn bị cho tiết dạy tôi yêu cầu học sinh về làm mô hình giống dạng hình vẽ

Hình ảnh: Học sinh làm đồ dùng học tập ở xưởng gỗ của gia đình

Với mô hình này học sinh dễ nhận thấy mô hình có dạng một đường thẳng cắt hai đường thẳng

Để tạo hứng thú cho học sinh trước khi vào bài mới Tôi yêu cầu học sinh quan sát mô hình mà các em đã làm: Hãy tìm số đường thẳng, số góc được tạo thành? HS:

Sau đó cho cả lớp thực hành chỉ ra vị trí các góc trên mô hình mà mình đã làm (Có thể hỏi thêm: Chỉ ra cặp góc đối đỉnh trên mô hình)

Trang 22

Hình ảnh: Học sinh thực hiện kiến thức trực tiếp trên mô hình

Từ mô hình trên giáo viên có thể áp dụng dạy bài “Hai đường thẳng song song”

- Điều chỉnh sao cho hai thanh ngang có thể chạm vào nhau và yêu cầu học sinh nhận xét về số điểm chung, từ mô hình học sinh nhận thấy rằng: Hai đường thẳng cắt nhau có một điểm chung

- Điều chỉnh mô hình sao cho hai thanh ngang có vẻ sẽ không chạm vào nhau

dù chúng có kéo dài thêm bao nhiêu Yêu cầu học sinh nhận xét số điểm chung (lưu ý: Đường thẳng không bị giới hạn về hai phía) từ mô hình học sinh nhận thấy rằng: Hai đường thẳng song song là hai đường thẳng không có điểm chung

- Sau khi thực hiện?1sgk và nêu tính chất thừa nhận xong, cho học sinh xem

lại mô hình và chỉ ra khi nào thì hai đường thẳng song song (dựa vào dấu hiệu nhận biết hai đường thẳng song song)

Hoặc áp dụng dạy bài “Từ vuông góc đến song song” (Toán 7 tập 1)

Tôi điều chỉnh thanh dọc sao cho nó cùng vuông góc với hai thanh ngang hoặc hai thanh ngang song song với nhau, thanh dọc vuông góc với một trong hai thanh ngang từ đó học sinh được khắc sâu hơn kiến thức về mối quan hệ từ vuông góc đến song song

Qua việc thực hành trên mô hình học sinh được củng cố và khắc sâu kiến thức hơn Với tình huống này giúp các em hiểu bài nhanh hơn từ đó tạo động lực

để các em tìm tòi khám phá kiến thức, lôi cuốn các em vào tiết học, hứng thú học toán hơn

Ngày đăng: 07/03/2023, 16:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm