Đặc biệt trong đó Môn Toán cấp tiểu học nhằm giúp học sinh đạt các mục tiêu chủ yếu sau: a Góp phần hình thành và phát triển năng lực toán học với yêu cầu cần đạt: thực hiện được các tha
Trang 1BÁO CÁO SÁNG KIẾN
I Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến
Như chúng ta đã biết, chương trình và sách giáo khoa hiện hành theo Nghị quyết số 40/2000/QH10 đã được triển khai trong toàn quốc từ 2002 đến nay Trong đó có chương trình và sách giáo khoa Toán Lớp 1 đã dược triển khai từ năm học 2002 - 2003 đến năm học 2019 - 2020 Mặc dù chương trình và sách giáo khoa hiện hành có nhiều ưu điểm so với trước đó, nhưng trước sự phát triển nhanh chóng của khoa học - công nghệ và khoa học giáo dục; trước những đòi hỏi hội nhập quốc tế, Chương trình và Sách giáo khoa hiện hành khó đáp ứng yêu cầu của đất nước trong giai đoạn mới
Bên cạnh đó xu thế phát triển về nội dung chương trình và Sách giáo khoa của thế giới thay đổi rất nhanh; nhiều nước có nền giáo dục phát triển đã chuyển hướng từ chương trình coi trọng nội dung giáo dục sang chương trình coi trọng phát triển năng lực người học Chương trình giáo dục Việt Nam cần đổi mới để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế
Vì vậy việc phải thay đổi nội dung chương trình và sách giáo khoa, trong
đó có nội dung chương trình và sách giáo khoa môn Toán là cấp thiết
Để thực hiện tốt Chương trình GDPT 2018, trong đó có chương trình MÔN TOÁN, chúng ta cần biết Chương trình GDPT mới khác chương trình GDPT hiện hành như thế nào?
- Thứ nhất, chương trình giáo dục phổ thông mới được xây dựng theo mô
hình phát triển năng lực, phẩm chất người học, giúp học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất và năng lực Còn chương trình giáo dục phổ thông hiện hành được xây dựng theo định hướng nội dung, nặng về truyền thụ kiến thức, chưa chú trọng giúp học sinh vận dụng kiến thức học được vào thực tiễn.Vì vậy, học sinh phải học và ghi nhớ rất nhiều nhưng khả năng vận dụng vào đời sống rất hạn chế
- Thứ hai, chương trình giáo dục phổ thông mới phân biệt rõ hai giai
đoạn: giai đoạn giáo dục cơ bản (từ lớp 1 đến lớp 9) và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp (từ lớp 10 đến lớp 12) Còn chương trình giáo dục phổ thông hiện hành có nội dung giáo dục gần như đồng nhất cho tất cả học sinh; việc định hướng nghề nghiệp cho học sinh, ngay cả ở cấp trung học phổ thông chưa được xác định rõ ràng
- Thứ ba, chương trình giáo dục phổ thông mới chú ý hơn đến tính kết nối
giữa chương trình của các lớp học, cấp học trong từng môn học và giữa chương trình của các môn học trong từng lớp học, cấp học Việc xây dựng Chương trình tổng thể, lần đầu tiên được thực hiện tại Việt Nam Còn trong chương trình giáo dục phổ thông hiện hành, sự kết nối giữa chương trình các cấp học trong một môn học và giữa chương trình các môn học chưa chặt chẽ; một số nội dung giáo dục bị trùng lặp, chồng chéo hoặc chưa thật sự cần thiết đối với học sinh phổ thông
Trang 2Thứ tư, chương trình giáo dục phổ thông mới bảo đảm định hướng thống
nhất và những nội dung giáo dục cốt lõi, bắt buộc đối với học sinh toàn quốc, đồng thời trao quyền chủ động và trách nhiệm cho địa phương và nhà trường trong việc lựa chọn, bổ sung một số nội dung giáo dục và triển khai kế hoạch giáo dục phù hợp với đối tượng giáo dục và điều kiện của địa phương, góp phần bảo đảm kết nối hoạt động của nhà trường với gia đình, chính quyền và xã hội Còn chương trình giáo dục phổ thông hiện hành thiếu tính mở nên hạn chế khả năng chủ động và sáng tạo của địa phương và nhà trường cũng như của tác giả sách giáo khoa và giáo viên
Xuất phát từ những yêu cầu về nội dung chương trình GDPT 2018, Chương trình môn Toán giúp học sinh đạt các mục tiêu chủ yếu sau:
a) Hình thành và phát triển năng lực toán học bao gồm các thành tố cốt lõi sau: năng lực tư duy và lập luận toán học; năng lực mô hình hoá toán học; năng lực giải quyết vấn đề toán học; năng lực giao tiếp toán học; năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán
b) Góp phần hình thành và phát triển ở học sinh các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung theo các mức độ phù hợp với môn học, cấp học được quy định tại Chương trình tổng thể
c) Có kiến thức, kĩ năng toán học phổ thông, cơ bản, thiết yếu; phát triển khả năng giải quyết vấn đề có tính tích hợp liên môn giữa môn Toán và các môn học khác như Vật lí, Hoá học, Sinh học, Địa lí, Tin học, Công nghệ, Lịch sử, Nghệ thuật, ; tạo cơ hội để học sinh được trải nghiệm, áp dụng toán học vào thực tiễn
d) Có hiểu biết tương đối tổng quát về sự hữu ích của toán học đối với từng ngành nghề liên quan để làm cơ sở định hướng nghề nghiệp, cũng như
có đủ năng lực tối thiểu để tự tìm hiểu những vấn đề liên quan đến toán học trong suốt cuộc đời
Đặc biệt trong đó Môn Toán cấp tiểu học nhằm giúp học sinh đạt các mục tiêu chủ yếu sau:
a) Góp phần hình thành và phát triển năng lực toán học với yêu cầu cần đạt: thực hiện được các thao tác tư duy ở mức độ đơn giản; nêu và trả lời được câu hỏi khi lập luận, giải quyết vấn đề đơn giản; lựa chọn được các phép toán và công thức số học để trình bày, diễn đạt (nói hoặc viết) được các nội dung, ý tưởng, cách thức giải quyết vấn đề; sử dụng được ngôn ngữ toán học kết hợp với ngôn ngữ thông thường, động tác hình thể để biểu đạt các nội dung toán học ở những tình huống đơn giản; sử dụng được các công cụ, phương tiện học toán đơn giản để thực hiện các nhiệm vụ học tập toán đơn giản
b) Có những kiến thức và kĩ năng toán học cơ bản ban đầu, thiết yếu về: – Số và phép tính: Số tự nhiên, phân số, số thập phân và các phép tính trên những tập hợp số đó
– Hình học và Đo lường: Quan sát, nhận biết, mô tả hình dạng và đặc điểm (ở mức độ trực quan) của một số hình phẳng và hình khối trong thực tiễn;
Trang 3tạo lập một số mô hình hình học đơn giản; tính toán một số đại lượng hình học; phát triển trí tưởng tượng không gian; giải quyết một số vấn đề thực tiễn đơn giản gắn với Hình học và Đo lường (với các đại lượng đo thông dụng)
– Thống kê và Xác suất: Một số yếu tố thống kê và xác suất đơn giản; giải quyết một số vấn đề thực tiễn đơn giản gắn với một số yếu tố thống kê và xác suất
c) Cùng với các môn học và hoạt động giáo dục khác như: Đạo đức, Tự nhiên và xã hội, Hoạt động trải nghiệm,… góp phần giúp học sinh có những hiểu biết ban đầu về một số nghề nghiệp trong xã hội
Đứng trước những yêu cầu về việc thực hiện Chương trình GDPT 2018, đặc biệt là việc giảng dạy Môn Toán Lớp 1 – năm học đầu tiên thực hiện chương trình và Sách giáo khoa Lớp 1 mới, tôi đã tích cực nghiên cứu, tìm hiểu và trực
tiếp thực hiện đúc rút kinh nghiệm: “Dạy Toán lớp 1 chương trình giáo dục phổ thông 2018” xin được chia sẻ cùng bạn bè đồng nghiệp
II Mô tả giải pháp
1 Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
1.1 Đặc điểm tình hình nhà trường
Trường Tiểu học Xuân Hồng thuộc xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định - nơi tôi đang công tác mới được sáp nhập từ ba trường tiểu học trong xã từ ngày 01 tháng 7 năm 2019 Phát huy thế mạnh của các Trường tiểu học A Xuân Hồng, Trường Tiểu học B Xuân hồng và Tiểu học C Xuân Hồng, nhà trường đã nhanh chóng ổn định, xây dựng nền nếp và quy chế hoạt động Với số lượng cán bộ, giáo viên, học sinh đông tương đương bằng 1/10 số lượng CBGV, học sính Tiểu học trong toàn huyện, song môi trường giáo dục nhà trường luôn đảm bảo dân chủ, thân thiện, đổi mới được các hoạt động giáo dục, đủ các điều kiện cho việc triển khai chủ trương thực hiện việc làm đổi mới của nhà trường Năm học
2019 – 2020, là năm học đầu tiên mang tên ngôi trường mới: trường Tiểu học Xuân Hồng, nhà trường vẫn duy trì và phát huy thành tích dạy và học Nhà trường được xếp thứ 1/ 20 trường Tiểu học của huyện nhà, đạt danh hiệu Tập thể lao động Xuất sắc, được UBND Tỉnh Nam Định tặng Bằng khen
Năm học 2020- 2021, trường có 45 lớp, trong đó có 8 lớp 1; mỗi lớp có 1 phòng học cố định
Để thực hiện tốt công tác chuyên môn, là một giáo viên trực tiếp giảng dạy lâu năm với kinh nghiệm 28 năm đứng lớp và 15 năm liên tục chủ nhiệm, giảng dạy lớp Một, trong quá trình đúc rút kinh nghiệm, bản thân tôi đã gặp những thuận lợi và khó khăn sau:
1.2 Thuận lợi
- Sĩ số /lớp luôn đảm bảo theo đúng quy định của điều lệ trường Tiểu học Luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của ban giám hiệu thông qua các việc: Chỉ đạo giáo viên lập kế hoạch chủ nhiệm, duyệt và góp ý cho giáo viên về kế hoạch chủ nhiệm đều đặn, giao chất lượng giáo dục học sinh cho giáo viên, định ra các tiêu chí thi đua lớp tiên tiến, lớp xuất sắc cho tập thể học sinh, lao động tiên tiến, lao động xuất sắc cho giáo viên, khen thưởng cho giáo viên đạt thành tích lao
Trang 4động tiên tiến, lao động xuất sắc, lớp tiên tiến, lớp xuất sắc, học sinh đạt các thành tích trong năm học
- Nhà trường luôn thực hiện nghiêm túc công tác chỉ đạo chuyên môn của các cấp lãnh đạo, đặc biệt là các công việc chuẩn bị và triển khai Chương trình GDPT 2018 Bước vào đầu năm học, được sự quan tâm chỉ đạo, giúp đỡ của của các cấp lãnh đạo, BCU, BGH nhà trường, tôi đã ổn định nề nếp sinh hoạt, công tác Tôi và đội ngũ GV dạy lớp 1 đã được tham gia đầy đủ các lớp tập huấn chuyên môn về nội dung chương trình và sử dụng SGK lớp 1 chương trình giáo dục phổ thông 2018
- Cơ sở vật chất nhà trường đảm bảo sạch sẽ, thoáng mát, tạo không khí
hồ hởi cho học sinh và giáo viên Lớp 1 là lớp có học sinh nhỏ tuổi nhất trường, nên luôn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của ban giám hiệu, sự cộng tác chặt chẽ của các giáo viên bộ môn Lớp 1 là lớp học đầu tiên mở đầu cho việc triển khai nội dung chương trình và sách giáo khoa mới nên được quan tâm, tạo điều kiện tốt nhất Các lớp học đều có ti vi màn hình lớn kết nối internet hỗ trợ cho dạy và học
- Đặc biệt, công nghệ thông tin phát triển, nên hầu hết phụ huynh học sinh đều có số điện thoại riêng, sự liên lạc giữa gia đình nhà trường và giáo viên chủ nhiệm dễ dàng hơn vì thế sự phối hợp giữa các bậc phụ huynh và giáo viên càng trở nên chặt chẽ Đại đa số cha mẹ học sinh còn trẻ, ít con nên có điều kiện chăm
lo cho con cái
1.3 Khó khăn
- Học sinh lớp Một còn nhỏ, ở lứa tuổi này các em chưa ý thức được tầm quan trọng của việc học, chưa có nề nếp, cũng chưa có ý thức tự học ở nhà Đến lớp, chưa chú ý vào các hoạt động học tập, còn thích chơi như ở lớp mẫu giáo, hay chọc ghẹo bạn, hay nói leo, nói tự do trong giờ học
- Là học sinh lớp đầu tiên bậc học Tiểu học, khi chuyển từ hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo ở trường mầm non sang hoạt động học tập ở trường tiểu học là một bước chuyển lớn Hơn nữa, thời gian nghỉ phòng chống dịch Covid 19 quá dài, các em quen với nếp ăn, chơi, nghỉ tự do ở gia đình đã ảnh hưởng đến ý thức tự giác tới trường của các em Thời gian tựu trường quá muộn
do vậy công tác tổ chức và chuẩn bị tâm thế cho học sinh bước vào năm học mới gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là việc xây dựng ý thức tổ chức, ý thức học tập cho học sinh lớp 1 Các em chưa kịp làm quen với môi trường và hoạt động ở trường tiểu học thì đã phải học luôn nội dung chương trình mới Một số học sinh đến trường còn khóc sướt mướt, bố mẹ còn bế trên tay nên việc xây dựng nề nếp sinh hoạt, học tập cho các em mất nhiều thời gian
- Đa số phụ huynh học sinh làm nghề nông, buôn bán hoặc đi làm ăn xa không có thời gian quản lý, kiểm tra đôn đốc nhắc nhở việc học hành cho con
em Một số phụ huynh học sinh còn mang tư tưởng "khoán trắng" cho nhà trường Họ coi việc giáo dục học sinh là trách nhiệm của nhà trường, của các thầy các cô
Trang 5- Ý thức tự giác học tập, rèn luyện của một số HS chưa tốt, còn ỷ lại Nhiều học sinh tiếp xúc sớm với điện thoại, vi tính, bố mẹ bận làm ăn nên có một số em chưa có khả năng tập trung vào học tập, lớp nào cũng có HS chậm phát triển, tăng động hoặc có những biểu hiện tăng động
- Năm học 2020 - 2021 là năm học đầu tiên Triển khai thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đối với lớp 1, giáo viên không tránh khỏi một số lúng túng, thời lượng giảng dạy môn Toán Lớp 1 lại giảm chỉ còn 3 tiết/tuần; có nhiều nội dung gắn với thực tiễn cuộc sống, sức ép từ phụ huynh học sinh về nội dung chương trình và sách giáo khoa mới còn băn khoăn: Liệu với chương trình
và sách giáo khoa mới chất lượng học tập của con em có tốt hơn không?
2 Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
Đứng trước thực trạng đó, nhận thức được sự cần thiết cần phải thực hiện tốt chương trình GDPT 2018, trong đó có nội dung chương trình môn toán lớp 1, tôi đã mạnh dạn đề ra một số giải pháp tích cực giúp giáo viên Dạy tốt môn Toán lớp 1 Chương trình GDPT 2018 như sau:
2.1 Giải pháp 1: Nắm chắc quan điểm xây dựng chương trình, mục tiêu của chương trình môn toán và những yêu cầu cần đạt của môn Toán lớp 1
2.1.1 Quan điểm xây dựng chương trình GDPT 2018
- Bảo đảm tính tinh giản, thiết thực, hiện đại
- Bảo đảm tính thống nhất, sự nhất quán và phát triển liên tục
- Bảo đảm tính tích hợp và phân hoá
- Bảo đảm tính mở
Việc xây dựng và triển khai chương trình môn Toán mới đã bảo đảm kế
thừa và phát triển những ưu điểm của các chương trình GDPT đã có của Việt Nam, đồng thời tiếp thu kinh nghiệm của những nền giáo dục tiên tiến trên thế giới
Danh mục các khái niệm về toán của chương trình mới so với chương
trình hiện hành không khác nhau nhiều Tuy nhiên, sự khác nhau về các nguyên tắc xây dựng, cấu trúc nội dung, cũng như phương pháp tiếp cận mới trong việc
trình bày tài liệu có thể làm cho quá trình học sâu sắc hơn, từ đó tạo điều kiện cho việc thực hiện các mục tiêu Nó cũng giống như từ những cặp nhiễm sắc thể như nhau nhưng bằng những cách tổ hợp khác nhau chúng ta đã lai tạo ra được những giống lúa với chất lượng rất khác nhau Làm tốt điều đó chính là tạo ra bản sắc riêng, tạo ra cái mới của chương trình và sách giáo khoa môn Toán trong
CT GDPT mới
Trong quá trình phát triển chương trình môn Toán, việc tìm hiểu các thông tin về xây dựng CT GDPT nói chung, chương trình môn Toán nói riêng, của các nước có nền giáo dục phát triển cao và các nước tương đồng với Việt Nam Từ đó phân tích, tổng hợp kinh nghiệm của một số quốc gia trong khu vực
và thế giới nhằm tìm hiểu những vấn đề cơ bản nhất về xu thế phát triển chương trình môn Toán trên thế giới và vận dụng trong phát triển chương trình môn
Trang 6Toán mới của Việt Nam
Chuyển một chương trình theo định hướng nội dung sang chương trình theo định hướng năng lực và quản lý dựa trên kết quả đầu ra chính là việc chuyển từ mục tiêu hướng tới nội dung dạy học sang mục tiêu hướng tới “cách học” của học sinh
So sánh Dạy học tiếp cận nội dung và dạy học phát triển phẩm chất, năng lực ( PC, NL)
Tiêu chí so
sánh
Dạy học tiếp cận nội dung Dạy học phát triển PC, NL
1.Mục tiêu - Chú trọng hình thành kiến
thức, kĩ năng, thái độ
- Mục tiêu dạy học được mô tả không chi tiết và khó có thể quan sát, đánh giá được
- Lấy mục tiêu học để thi, học
- Lấy mục tiêu học để sống, học để biết để làm
2 Về nội
dung
- Nội dung được lựa chọn dựa vào các khoa học chuyên môn, được quy định chi tiết trong chương trình
- Chú trọng hệ thống kiến thức
lý thuyết, sự phát triển tuần tự của các khái niệm, định luật, học thuyết khoa học SGK được trình bày liền mạch thành hệ thống kiến thức
- Việc quy định cứng nhắc những nội dung chi tiết trong chương trình dễ bị thiếu tính cập nhật
- Nội dung được lựa chọn nhằm đạt được kết quả đầu ra
đã quy định; chương trình chỉ quy định những nội dung chính
- Chú trọng các kĩ năng thực hành, vận dụng lí thuyết vào thực tiễn SGK không trình bày thành hệ thống mà phân nhánh, xen kẽ kiến thức với hoạt động
- Nội dung chương trình không quá chi tiết, có tính mở nên tạo điều kiện để người dạy dễ cập nhật tri thức mới
- Coi trọng các tổ chức hoạt động, trò chủ động tham gia
Trang 7động”, ít phản biện
- Giáo án thường được thiết kế theo trình tự đường thẳng, chung cho cả lớp
- Người học khó có điều kiện tìm tòi bởi kiến thức đã sẵn có trong sách
- GV sử dụng nhiều PP truyền thống (thuyết trình, hướng dẫn thực hành, trực quan,…)
các hoạt động Coi trọng hướng dẫn tự tìm tòi
- Giáo án được thiết kế phân nhánh, có sự phân hóa theo trình độ và năng lực
- Người học có nhiều cơ hội bày tỏ ý kiến, tham gia phản biện
- GV sử dụng nhiều PPDH tích cực (giải quyết vấn đề, tự phát hiện, trải nghiệm,…) kết hợp
ở vị trí trung tâm
- Có tính linh hoạt, người dạy không luôn luôn ở vị trí trung tâm
5 Về đánh
giá
- Tiêu chí đánh giá chủ yếu được xây dựng dựa trên kiến thức, kĩ năng, thái độ gắn với nội dung đã học, chưa quan tâm đầy đủ đến khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn
- Người dạy thường được toàn quyền trong đánh giá
- Tiêu chí đánh giá dựa vào kết quả “đầu ra”, quan tâm tới sự tiến bộ của người học, chú trọng khả năng vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn
- Người học được tham gia vào đánh giá lẫn nhau
2.2.2 Nội dung cụ thể và yêu cầu cần đạt ở MÔN TOÁN LỚP 1
SỐ VÀ PHÉP TÍNH
Số tự nhiên
Số tự nhiên Đếm, đọc, viết
các số trong phạm vi 100
- Đếm, đọc, viết được các số trong phạm vi 10; trong phạm vi 20; trong phạm vi 100
- Nhận biết được chục và đơn vị, số tròn chục
So sánh các số
trong phạm vi 100
Nhận biết được cách so sánh, xếp thứ tự các số trong phạm vi 100 (ở các nhóm có không quá 4 số) Các phép
tính với số
tự nhiên
Phép cộng, phép trừ
- Nhận biết được ý nghĩa của phép cộng, phép trừ
- Thực hiện được phép cộng, phép trừ (không nhớ) các số trong phạm vi 100
- Làm quen với việc thực hiện tính toán trong
Trang 8Nội dung Yêu cầu cần đạt
trường hợp có hai dấu phép tính cộng, trừ (theo thứ tự từ trái sang phải)
Tính nhẩm - Thực hiện được việc cộng, trừ nhẩm trong
phạm vi 10
- Thực hiện được việc cộng, trừ nhẩm các số tròn chục
Thực hành giải quyết vấn đề liên quan đến các phép tính cộng, trừ
- Nhận biết được ý nghĩa thực tiễn của phép tính (cộng, trừ) thông qua tranh ảnh, hình vẽ hoặc tình huống thực tiễn
- Nhận biết và viết được phép tính (cộng, trừ) phù hợp với câu trả lời của bài toán có lời văn
- Nhận biết được vị trí, định hướng trong không gian: trên - dưới, phải - trái, trước - sau, ở giữa
- Nhận dạng được hình vuông, hình tròn, hình tam giác, hình chữ nhật thông qua việc sử dụng
bộ đồ dùng học tập cá nhân hoặc vật thật
- Nhận dạng được khối lập phương, khối hộp chữ nhật thông qua việc sử dụng bộ đồ dùng học tập cá nhân hoặc vật thật
Thực hành lắp ghép, xếp hình gắn với một số hình phẳng và hình khối đơn giản
Nhận biết và thực hiện được việc lắp ghép, xếp hình gắn với sử dụng bộ đồ dùng học tập cá nhân hoặc vật thật
Đo lường
Đo lường Biểu tượng về
đại lượng và đơn vị đo đại lượng
- Nhận biết được về “dài hơn”, “ngắn hơn”
- Nhận biết được đơn vị đo độ dài: cm
(xăng-ti-mét); đọc và viết được số đo độ dài trong phạm
- Thực hiện được việc đo và ước lượng độ dài theo đơn vị đo tự quy ước (gang tay, bước chân, )
Trang 9Nội dung Yêu cầu cần đạt
- Thực hiện được việc đo độ dài bằng thước
thẳng với đơn vị đo là cm
- Thực hiện được việc đọc giờ đúng trên đồng hồ
- Xác định được thứ, ngày trong tuần khi xem lịch (loại lịch tờ hàng ngày)
- Giải quyết được một số vấn đề thực tiễn đơn giản liên quan đến đo độ dài, đọc giờ đúng và xem lịch (loại lịch tờ hằng ngày)
HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH VÀ TRẢI NGHIỆM Nhà trường tổ chức cho học sinh một số hoạt động sau và có thể bổ sung các hoạt động khác tuỳ vào điều kiện cụ thể
Hoạt động 1: Thực hành ứng dụng các kiến thức toán học vào thực tiễn, chẳng hạn:
- Thực hành đếm, nhận biết số, thực hiện phép tính trong một số tình huống thực tiễn hằng ngày (ví dụ: đếm số bàn học và số cửa sổ trong lớp học, )
- Thực hành các hoạt động liên quan đến vị trí, định hướng không gian (ví dụ: xác định được một vật ở trên hoặc dưới mặt bàn, một vật cao hơn hoặc thấp hơn vật khác, )
- Thực hành đo và ước lượng độ dài một số đồ vật trong thực tế gắn với đơn vị
đo cm; thực hành đọc giờ đúng trên đồng hồ, xem lịch loại lịch tờ hằng ngày Hoạt động 2: Tổ chức các hoạt động ngoài giờ chính khoá (ví dụ: các trò chơi
học toán, ) liên quan đến ôn tập, củng cố các kiến thức cơ bản
2.2 Giải pháp 2: Xác định nội dung, mục tiêu bài học
Việc thiết kế một bài học hay một nội dung bài học cụ thể trong chương
trình Toán Lớp 1 GDPT phải tuân theo các nguyên tắc: xây dựng trên cơ sở phát triển phẩm chất, năng lực người học, có tính đến việc lĩnh hội kiến thức, làm chủ các kỹ năng và ứng dụng được trong thực tế (hình thành năng lực cốt lõi) của cá nhân người học; biểu đạt theo hoạt động học tập chứ không phải theo hoạt động giảng dạy; và hướng tới kết quả học tập của đại đa số người học
Nội dung dạy học là sự cụ thể hoá của mục tiêu, do đó GV cần xác định
cụ thể những tri thức, kĩ năng, năng lực cần đạt cho HS
- Căn cứ vào chương trình môn học: Do nội dung bài học là sự cụ thể hoá nội dung chương trình môn học mà chương trình ( sau đây viết tắt là CT) môn học có tính pháp lí nên GV cần bám sát nội dung CT, không dạy cho HS những nội dung ngoài CT quy định
- Căn cứ vào mục tiêu của bài học đã đề ra: Nội dung phải phù hợp và phục
vụ cho việc giúp HS đạt được mục tiêu của bài Ngược lại, nếu nội dung không phù hợp với mục tiêu thì năng lực tương ứng cần phát triển cho HS không đạt được
- Nội dung bài học cần gắn liền với thực tiễn cuộc sống của HS, thực tiễn
Trang 10địa phương, điều kiện tự nhiên, xã hội của đất nước Những kiến thức thực tiễn
sẽ giúp HS hiểu rõ hơn bản chất của tri thức khoa học, tạo cho HS có thêm hứng thú học tập qua đó góp phần phát triển năng lực thực tiễn
- Tăng cường nội dung thực hành, nhất là qua hoạt động ứng dụng được
HS tiến hành chủ yếu vào thời gian ngoài giờ lên lớp ở gia đình, tại cộng đồng dân cư Những nội dung thực hành này gắn kiến thức, kĩ năng mà HS được hình thành qua các tiết học trên lớp với thực tiễn cuộc sống xung quanh mình
- Lựa chọn nội dung dạy học vừa sức tính đến cá nhân HS, nhóm, lớp
- Khai thác nội dung học tập từ nhiều nguồn thông tin khác nhau Ngoài sách giáo khoa, GV cần khuyến khích HS tìm hiểu nội dung học tập từ các nguồn thông tin trong thực tiễn, trên mạng Internet, … Những nội dung thông tin này không chỉ được HS tìm kiếm phát hiện mà còn được vận dụng vào cuộc sống hàng ngày
Như vậy, ở giai đoạn hết lớp 1 HS cần đạt được các yêu cầu về: Đếm, đọc, viết được các số trong phạm vi 10; trong phạm vi 20; trong phạm vi 100 Nhận biết được chục và đơn vị, số tròn chục Ở giai đoạn giữa học kỳ 1 HS chỉ cần đạt được các yêu cầu về: Đếm, đọc, viết, so sánh các số trong phạm vi 10
Trong từng giai đoạn cụ thể như vậy, cần xác định rõ KN tiến trình và các biểu hiện hành vi mà HS thể hiện qua các hoạt động học tập:
Ví dụ: Để có năng lực đếm, đọc, viết các số trong phạm vi 100 HS cần
phải thể hiện được năng lực thông qua các hoạt động học tập được kiểm soát ở các biểu hiện hành vi của hoạt động học tập như sau :
- Đếm được số lượng các nhóm có đến 100 đồ vật
- Biểu diễn được kết quả của việc đếm qua số đếm
- Lấy đúng số lượng đồ vật tương ứng với số đã cho
- Biết các cách biểu diễn số bằng nhiều cách: bằng chữ số , bằng lời đọc, bằng mô hình, biểu diễn qua cấu tạo thập phân,
Khi xác định rõ yêu cầu cần đạt về năng lực như vậy, người GV sẽ nhận
ra nếu HS chỉ đếm vẹt mà không hiểu được nghĩa thực của phép đếm không cảm nhận được số lượng thì chưa đạt được yêu cầu Hoặc nếu HS đếm được nhưng không biết dùng số để ghi lại số lượng là kết quả của phép đếm thì cũng chưa có năng lực này Hay nếu như HS chỉ biết xác định số lượng thông qua đếm mà không thực hiện được thao tác lấy đúng nhóm đồ vật có số lượng tương ứng với một số cho trước thì HS cũng chưa có năng lực này
Để đạt được yêu cầu đầu ra đã xác định, GV cần tuân thủ KN tiến trình, nghĩa là cần chú ý quá trình HS tư duy, suy nghĩ giải quyết vấn đề để đạt được những kết quả mong đợi về KT, KN về hành vi, thái độ… đã xác định
Trong yêu cầu về Đếm các số đến 100 vừa phân tích ở trên KN tiến trình thể
hiện ở việc HS đếm bằng cách nào, chẳng hạn: HS đếm bằng cách đếm lần lượt bắt đầu từ một, mỗi vật đếm tương ứng với một số đếm, hay HS đếm lần lượt
Trang 11nhưng bắt đầu từ một số nào đó (đếm từ 3; đếm từ 5, đếm từ 10,…), hoặc HS đếm cách, đếm xuôi, đếm ngược, đếm thêm, đếm bớt Với kỹ năng tiến trình như vậy thì GV sẽ tổ chức các hoạt động giúp HS học đếm: học đếm lần lượt đếm xuôi, đếm ngược, đếm cách, đếm thêm, đếm bớt và dùng số để ghi lại kết quả đếm GV cũng cần lựa chọn tiến trình dạy đếm phù hợp với trình độ nhận thức của HS phù hợp với lô gic của môn học Chẳng hạn: Dựa trên kinh nghiệm trải nghiệm trong cuộc sống HS có đếm các số đến 10, các số đến 20 Bước sang các số từ 21 đến 100 HS cần nhận ra những điểm mốc quan trọng trong quá trình đếm đó là các số 10, 20,…90, 100 Khái niệm chục, đơn vị khá trừu tượng với
HS lớp 1 cần được cân nhắc lựa chọn thời điểm và tiến trình dạy học để HS có thể tiếp nhận một cách tự nhiên phù hợp với nhận thức của trẻ mà không phải học thuộc lòng nhưng không hiểu bản chất Như vậy, trong dạy học phát triển năng lực mạch kiến thức số học vấn đề xác định kết quả đầu ra và kỹ năng tiến trình trong mỗi giai đoạn học tập là rất cần thiết Việc HS suy nghĩ thế nào, giải quyết vấn đề ra sao theo tiến trình lô gic nào sẽ giúp GV quyết định hoạt động học tập cần thiết phải tổ chức cho học sinh “Các năng lực cần hình thành và phát triển cho người học qua dạy học môn toán trong là: năng lực tư duy; năng lực giải quyết vấn đề; năng lực mô hình hóa toán học; năng lực giao tiếp; năng lực sử dụng các công cụ Toán học Tiếp cận về năng lực môn toán theo cách nghiên cứu các thành tố của nó cũng là cách tiếp cận phổ biến của các tổ chức
và các quốc gia trên thế giới Vì vậy, tôi quan niệm năng lực toán học bao gồm các thành tố cốt lõi: năng lực tư duy và lập luận toán học; năng lực mô hình hóa toán học; năng lực giải quyết vấn đề toán học; năng lực giao tiếp toán học; năng
nói riêng, ta có thể hiểu các thành phần năng lực môn Toán có những biểu hiện như sau:
Do việc hình thành, phát triển các năng lực đòi hỏi sự vận dụng phối hợp
các kiến thức, kĩ năng,… nên chương trình môn Toán chú ý tới tính tổng thể, tính tích hợp Logic khoa học bộ môn không phải là yếu tố duy nhất chi phối việc
tổ chức nội dung chương trình môn Toán Chương trình liên quan chặt chẽ đến các bình diện văn hóa và hoạt động rộng lớn nhưng không đặt vấn đề chú trọng tới việc cung cấp nhiều kiến thức của khoa học toán học mà chú ý lựa chọn, tổ chức các nội dung học tập một cách hợp lí, tạo cơ sở cho việc phát triển các năng lực của học sinh
Như vậy, trong một số trường hợp nào đó, việc mô tả mục tiêu phải đi kèm với các dấu hiệu hoặc các chỉ số để làm rõ hơn sự “hiểu”, sự “phát hiện”, hay “thực hiện được”… của học sinh
Trang 12Bảng các thuật ngữ mô tả biểu hiện của năng lực môn toán cấp Tiểu học
- Thực hiện được các thao tác tư duy
- Biết đặt và trả lời câu hỏi; biết chỉ ra chứng cứ và lập
luận
2 Năng lực mô
hình hóa toán
học
- Sử dụng được các phép toán và công thức số học
- Giải quyết được các bài toán liên quan
3 Năng lực
giải quyết vấn
đề toán học
- Nhận biết được vấn đề
- Nêu được cách thức giải quyết vấn đề
- Thực hiện và trình bày được cách thức giải quyết vấn đề
- Kiểm tra giải pháp đã thực hiện
4 Năng lực
giao tiếp toán
học
- Nghe hiểu, đọc hiểu vấn đề cần giải quyết
- Trình bày, diễn đạt (nói hoặc viết) được các nội dung, ý
tưởng, giải pháp toán học
- Biết sử dụng ngôn ngữ toán học
5 Năng lực sử
dụng công cụ,
phương tiện
học toán
- Biết tên gọi, tác dụng, quy cách sử dụng,
- Sử dụng các công cụ và phương tiện học toán
- Làm quen với máy tính cầm tay,
- Bước đầu nhận biết được một số ưu điểm, hạn chế của
những công cụ, phương tiện hỗ trợ để có cách sử dụng hợp lí
Các năng lực toán học này không hoàn toàn độc lập mà liên quan chặt chẽ
và có phần giao thoa với nhau Chính vì thế trong việc lựa chọn phương pháp và
tổ chức dạy học toán ở lớp 1 cần chú ý:
- Năng lực được hình thành và phát triển thông qua hoạt động học tập
và trải nghiệm cá nhân Cần xác định các cơ hội mà môn Toán góp phần hình thành và phát triển năng lực cho học sinh (năng lực chung cốt lõi và các năng
lực toán học với mức độ cần đạt phù hợp ở từng lớp, từng cấp học) Điều đó đòi
hỏi lựa chọn hệ thống tri thức, kỹ năng đưa vào nhà trường phổ thông phải tạo
được cơ hội thuận lợi để hình thành phát triển các năng lực cần đạt Do đó, chúng phải được đối chiếu với cấu trúc của các năng lực định hình thành và phát triển ở học sinh và cái đích cuối cùng (kết quả đầu ra cần đạt) là phải hình thành được các năng lực này ở người học Trong cấu trúc của CT(sau đây viết tắt là CT) môn Toán, các “mạch nội dung” và các “nhánh năng lực” cần liên kết chặt chẽ với nhau
Trang 13Như chúng ta đã biết, năng lực được hình thành, phát triển thông qua hoạt động và thể hiện ở sự thành công trong hoạt động thực tiễn Năng lực có thể hiểu là sự kết hợp của các kiến thức, kỹ năng, phẩm chất, thái độ và hành vi của một cá nhân để thực hiện một công việc có hiệu quả Bởi vậy, để phát triển năng lực môn Toán cần tổ chức cho học sinh thực hành khám phá, vận dụng, luyện tập kiến thức, kĩ năng toán học Thông thường, người ta cần tìm kiếm các cơ hội giúp học sinh phát triển các thành tố của năng lực môn Toán
Ví dụ về một tình huống tổ chức các hoạt động nhằm phát triển năng lực
môn Toán cho học sinh lớp 1:
Khi học về các phép tính cộng, trừ trong phạm vi
10, học sinh lớp 1 có bài toán: Xem tranh, viết phép
tính thích hợp vào ô trống:
Học sinh thực hiện các thao tác:
- Quan sát tranh và hình dung được tình huống:
trên cành có 3 con chim đang đậu, sau đó có thêm 1
con chim bay tới;
Ta có thể thay thế việc viết phép tính bằng việc ghép phép tính đó trên bộ
đồ dùng học tập nếu lớp học có đủ bộ đồ dùng sẽ giúp học sinh phát triển Năng
lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán
- Kiểm tra lại kết quả
Qua việc thực hiện bài toán này, học sinh có cơ hội phát triển năng lực
giải quyết vấn đề toán học
Hoặc khi dạy bài “Bảng cộng 1 trong phạm vi 10”, sau khi làm việc chung bằng việc dưới sự hướng dẫn của giáo viên, các em thao tác trên que tính (trong bộ đồ dùng) để lập được một số phép cộng như :
1+ 1 = 2
1+ 2 = 3
1+ 3 = 4 1+ 4 = 5 Giáo viên có thể giao cho các nhóm đôi (2 bạn cùng bàn) thao tác trên que tính (phát triển năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán) để tiếp tục lập thêm các phép tính 1 cộng với 1 số Với việc làm này chúng ta phát triển cho học sinh Năng lực giao tiếp toán học: các em nghe, hiểu yêu cầu của nhiệm vụ học tập, trình bày ý hiểu qua việc thao tác trên que tính để lập được 1 số phép cộng theo yêu cầu (khác với những phép cộng đã lập trước đó), năng lực hợp tác
Trang 14với bạn để hoàn thành việc nhiệm vụ học tập, bạn thao tác trên que tính, bạn thì ghép phép tính, để lập tiếp các phép cộng như:
Học sinh làm việc nhóm đôi với đồ dùng học tập môn toán
Học sinh làm việc nhóm đôi với đồ dùng học tập môn toán
- Hơn thế nữa, trong việc thực hiện yêu cầu, các nhóm phải thực hiện
được các thao tác tư duy (ở mức độ đơn giản), biết quan sát, tìm kiếm sự tương
đồng và khác biệt trong các phép tính cộng đã lập trước đó
Chẳng hạn, khi dạy Bài “ Bảng cộng 6 trong phạm vi 10”, giáo viên yêu cầu học sinh thao tác trên que tính và lập thêm các phép cộng 6 trong phạm vi
10 Với yêu cầu này, các em phải quan sát các phép cộng đã lập trước đó có gì giống và khác nhau để lập tiếp phép cộng 6 với một số, biết loại trừ các phép cộng đã lập để thao tác lập các phép cộng 1 với một số khác có kết quả trong phạm vị 10 Những tình huống quen thuộc và mô tả được kết quả của việc quan sát Đây chính là tạo cơ hội để phát triển cho học sinh Năng lực tư duy và lập luận toán học
Trang 15Học sinh lập được các phép cộng 6 trong phạm 10
- Hoặc ở bài tập dưới đây cần tạo cơ hội phát triển năng lực tư duy và lập luận toán học cho học sinh thông qua các việc:
Hình nào còn thiếu trong ô trống dưới đây?
HS quan sát tranh, nhận dạng hình và thấy được sự tương đồng: Các hình
trong tranh đều là hình tam giác
- Qua quan sát, HS nhận ra được sự khác biệt: Hình tam giác màu xanh, hình tam giác màu vàng, hình tam giác màu đỏ; Kích cỡ của hình tam giác ở các
màu cũng khác nhau
- Từ đó HS suy nghĩ và nhận ra được: Các hình tam giác được sắp xếp
theo một thứ tự nhất định: Hình màu xanh - hình màu vàng - hình màu đỏ
- Qua các thao tác tư duy trên, HS sẽ xác định được hình cần xếp vào trong ô trống là hình tam giác màu đỏ và đưa ra được những lí lẽ để lập luận cho
kết quả tìm được
- Tăng cường tính ứng dụng, gắn kết giữa nội dung môn Toán với đời
sống thực tế hay liên môn, gắn với xu hướng phát triển hiện đại của kinh tế, khoa học và đời sống xã hội, góp phần giúp học sinh hình thành, rèn luyện khả năng ứng dụng tri thức đã học trong thực tiễn và làm chủ các "kỹ năng sống"
Trong thực tế giảng dạy môn toán lớp 1 cho học sinh nhiều năm qua, tôi nhận thấy số lượng học sinh biết cách học Toán lớp 1 không nhiều, các em thường ỷ lại vào sự hướng dẫn của giáo viên, ít biết vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề có liên quan trong thực tế cuộc sống Những bài toán
dù rất đơn giản nhưng mang tính thực tế thì các em rất ngại suy nghĩ, chưa liên
hệ được với kiến thức đã học để giải quyết Các em học sinh và kể cả một số phụ huynh cho đó là các nội dung khó trong chương trình toán lớp 1 Trong năm học này, khi dạy chương trình Toán 1 - chương trình GDPT 2018, tôi thấy có rất nhiều nội dung bài tập mang tính mở, có nội dung gắn với thực tế cuộc sống mà các em cần liên hệ kiến thức toán đã học để giải quyết
Chính vì thế, với mỗi đơn vị kiến thức, bên cạnh những bài tập mang tính
Trang 16ứng dụng, tôi luôn tìm cách để gắn với thực tế cuộc sống, giúp các em thấy toán học rất gần gũi, dùng toán để giải quyết nhuwngc vấn đề có trong cuộc sống hằng ngày
Chẳng hạn khi dạy Bài 72: “So sánh các số có hai chữ số”, tôi có thể cho học sinh trả lời 1 số câu hỏi mở rộng liên quan đến thực tế về nội dung kiến thức này
+ Câu hỏi 1: Lớp mình có bao nhiêu bạn nữ? (19 bạn nữ)
+ Câu hỏi 2: Em hãy cho cô biết lớp mình có bao nhiêu bạn nam? (17 bạn nam) + Câu hỏi 3: Số bạn nữ nhiều hơn hay ít hơn số bạn nam?
Như vậy, để trả lời được câu hỏi số 1, số 2, các em phải có kiến thức thực tế: phân biệt ai là bạn nữ, ai là bạn nam trong các bạn của lớp mình; (Với nội dung thực tế này, ta thấy có tính liên môn giữa nội dung học tập môn toán với nội dung môn tự nhiên và xã hội); các em sẽ phân biệt và đếm riêng số lượng được biểu diễn bằng từ lớn hơn (dấu >); quan hệ ít hơn thường được biểu diễn bằng từ bé hơn (dấu <) Các em cần tư duy, muốn so sánh số bạn nữ với số bạn nam ta cần so sánh 2 số 19 (số học sinh nữ) với số 17 (số học sinh nam)
- Nội dung dạy học môn Toán, phải đi từ cụ thể đến trừu tượng, từ dễ đến khó Không chỉ coi trọng tính logic của Toán học như một khoa học suy diễn, mà
cần chú ý cách tiếp cận dựa trên vốn kinh nghiệm và sự trải nghiệm của học sinh
Cũng vẫn về Dạy so sánh các số có 2 chữ số, ở Bài 72 thì có thể đưa ví dụ mang tính cụ thể, gần gũi, sát thực với các em Nhưng đến Bài 93: “Ôn tập các
số trong phạm vi 100” thì nội dung so sánh các số có 2 chữ số lại mang tính trừu tượng mà vẫn gắn với thực tiễn cuộc sống
Ví dụ: Bài 5 trang 96 sách Toán 1, tập 2 - Vì sự bình đẳng và dân chủ
Trang 17Tương tự như việc so sánh số lượng (92) cây cam có nhiều hơn (lớn hơn)
số lượng (85) cây bưởi hay không?
Hay việc so sánh số lượng (85) cây bưởi có bằng số lượng (79) cây quýt hay không? Nếu em so sánh 2 số đó không bằng nhau thì có ý nhận xét 2 số lượng cây đó không bằng nhau để điiền chữ S vào ô trồng thứ 3
Nếu như ở phần a, các em chỉ cần so sánh nhóm 2 số có 2 chữ số để có thể làm bài thì ở phần b các em phải so sánh nhóm 3 số có 2 chữ số để nhận ra loại cây nào có số lượng nhiều nhất (tương ứng với số lớn nhất), loại cây nào có
số lượng ít nhất (tương ứng với số nhỏ nhất) trong nhóm 3 số đó Rõ ràng mức
độ khó đã được tăng dần và trừu tượng hơn so với việc so sánh số bạn nam với
số bạn nữ của lớp
Tăng cường tính ứng dụng của nội dung giáo dục toán học trong nhà trường Điều này có nghĩa là đảm bảo một cách hài hòa và thích hợp giữa nội
với đời sống thực tế của học sinh và gắn với xu hướng phát triển hiện đại của kinh tế, khoa học và đời sống xã hội, gắn bó mật thiết với việc góp phần giúp học sinh hình thành, rèn luyện và làm chủ các "kỹ năng sống"
- Việc rèn luyện phương pháp học tập có ý nghĩa quan trọng Việc kiểm tra đánh giá không chỉ kiểm tra khả năng tái hiện tri thức mà định hướng vào khả năng vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn
2.3 Giải pháp 3: Lựa chọn phương pháp, kĩ thuật và hình thức dạy học phát triển phẩm chất và năng lực học sinh
Sau khi xác định được mục tiêu, nội dung bài học, GV cần lựa chọn và vận dụng phương pháp dạy học (PPDH) thích hợp sao cho giúp HS giải quyết được các nhiệm vụ học tập, chiếm lĩnh được nội dung tương ứng và từ đó đạt được mục tiêu phát triển năng lực của bản thân
Trong dạy học, điều quan trọng nhất là HS giải quyết được những nhiệm
vụ học tập gì, chiếm lĩnh được nội dung đó như thế nào, tức là phát triển được những năng lực gì Do đó, có thể khẳng định quá trình học tập quan trọng hơn kết quả học tập vì quá trình học tập phù hợp sẽ dẫn đến kết quả học tập đúng đắn, còn kết quả đúng chưa hẳn đã đảm bảo được phát triển năng lực HS PPDH phản ánh quá trình học tập của HS Vì vậy cần coi PPDH là yếu tố cốt lõi ảnh hưởng mạnh mẽ đến phát triển năng lực HS
Nguyên tắc khi lựa chọn PPDH phải góp phần phát triển năng lực của HS, đạt được mục tiêu của bài học Do đó, khi lựa chọn PPDH cần quán triệt các quan điểm sau:
- Chú trọng đến dạy HS cách học và phát triển khả năng tự học của HS
Về bản chất, dạy học là quá trình HS biến những giá trị xã hội thành giá trị cá nhân dưới sự tổ chức, điếu khiển, hướng dẫn của GV Do đó, để bảo đảm học tập thành công, HS phải có phương pháp tự học đúng đắn
Tự học của HS phải được tổ chức theo con đường hợp lí sao cho phù hợp
Trang 18với logic khoa học của môn học và logic nhận thức của các em Việc tự học của
HS chủ yếu được tiến hành theo hình thức nhóm và cá nhân với sự hỗ trợ của những tài liệu, phương tiện, đổ dùng dạy học thích hợp
Tự học của HS không chỉ được thực hiện trên lớp, mà còn ở thư viện, gia đình (qua sách, báo, tạp chí, mạng internet ), ngoài xã hội (quan sát, điều tra những sự vật, hiện tượng có trong thực tiễn ) để mở rộng, làm giàu kiến thức, kinh nghiệm của mình và phát triển các năng lực tự học
- Thiết kế, tổ chức một chuỗi các hoạt động học tập cho HS
Những hoạt động được thiết kế, tổ chức phải là của HS, dành cho HS (nhằm mục tiêu phát triển năng lực HS với những PPDH mang tính thực hành Khi đó, HS cần sử dụng các giác quan khác nhau, trải nghiệm thực tiễn cuộc sống, khái quát những cảm nhận thông thường thành tri thức khoa học, đối chiếu tri thức được học qua các môn học với thực tiễn phong phú
- Coi trọng việc phát triển tư duy của HS
Trong dạy học, việc phát triển tư duy HS là cực kì quan trọng, bởi lẽ, nhờ
có tư duy mà HS mới có khả năng tự tìm tòi, phát hiện, tự làm giàu vốn kiến thức của mình, tự vận dụng vào thực tiễn cuộc sống, làm chủ được bản thân trong môi trường cuộc sống đa dạng, nhờ đó, các em phát triển được các năng lực khác Do đó, bài học phát triển năng lực HS không cho phép GV truyền đạt kiến thức, đưa ra các dạng bài mẫu để HS làm theo mà đòi hỏi phải tổ chức cho
HS phát hiện và giải quyết vấn đề
Quán triệt các quan điểm trên, khi thiết kế và tổ chức một bài học, GV cần lựa chọn và vận dụng PP trên cơ sở căn cứ vào những yếu tố sau:
- Căn cứ vào mục tiêu bài học đã xác định: Vì mục tiêu bài học là phát triển năng lực HS nên những PPDH được lựa chọn cần phát huy được tính tích cực học tập của HS, phát huy được vai trò chủ thể của HS trong quá trình học tập
- Căn cứ vào nội dung bài học đã dự kiến: Nội dung được cụ thể hoá qua các hoạt động học tập của HS (khởi động (trải nghiệm), phân tích khám phá rút
ra kiến thức, thực hành – luyện tập, vận dụng kiến thức vào thực tiễn)
- Căn cứ vào khả năng, trình độ nhân thức của mỗi HS trong lớp Ở mỗi lớp, HS có những kinh nghiệm, khả năng tham gia thực hiện các nhiệm vụ học
tập liên quan đến PPDH đã từng được vận dụng, ví như trò chơi - có lớp HS đã
quen với việc tham gia, thực hiện, có thể có lớp chưa từng biết tới Khi đó, việc vận dụng PP trò chơi đối với những lớp đã có kinh nghiệm rõ ràng thuận lợi hơn Hơn nữa, với những lớp có nhiều kinh nghiệm hên quan, tác động của GV đến HS “mờ nhạt” hơn so với những lớp thiếu kinh nghiệm đó Khi đó, đối với những lớp thiếu kinh nghiệm, GV cần hướng dẫn các em một cách tỉ mỉ, chi tiết,