1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Skkn hóa học thpt (5)

89 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Skkn Hóa Học THPT (5)
Trường học Trường Trung Học Phổ Thông Lý Nhân Tông
Chuyên ngành Hóa học
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 7,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • I. ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN (3)
    • 1.1. Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến (3)
    • 1.2. Mục đích nghiên cứu (6)
    • 1.3. Đối tƣợng nghiên cứu (6)
    • 1.4. Phương pháp nghiên cứu (6)
    • 1.5. Phạm vi áp dụng (6)
    • 1.6. Đóng góp của SK (6)
  • II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP (7)
    • 2.1. Mô tả giải pháp trước khi có sáng kiến (7)
      • 2.1.1. Tình hình giảng dạy bộ môn Hóa học hiện nay (7)
      • 2.1.2. Tình hình giảng dạy bộ môn Hóa học tại trường THPT Lý Nhân Tông (10)
    • 2.2. Mô tả giải pháp khi có sáng kiến (10)
      • 2.2.1. Vấn đề cần nghiên cứu giải quyết (10)
      • 2.2.2. Tính mới của giải pháp (11)
      • 2.2.3. Sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ (11)
    • 2.3. Cách thức thực hiện và điều kiện áp dụng giải pháp (13)
      • 2.3.1. Thông qua nghiên cứu khoa học (13)
      • 2.3.2. Thông qua các sản phẩm STEM (28)
      • 2.3.3. Thông qua các thí nghiệm hóa học (42)
    • 2.4. Báo cáo sản phẩm và phân tích kết quả (47)
      • 2.4.1. Báo cáo sản phẩm (47)
      • 2.4.2. Phân tích kết quả đạt đƣợc (48)
      • 2.4.3. Thực nghiệm sƣ phạm (50)
  • III. HIỆU QUẢ DO SÁNG KIẾN ĐEM LẠI (52)
    • 3.1. Tính khả thi (52)
    • 3.2. Hiệu quả kinh tế (53)
    • 3.3. Hiệu quả về mặt xã hội (54)
  • IV. CAM KẾT KHÔNG SAO CHÉP HOẶC VI PHẠM BẢN QUYỀN (54)

Nội dung

Trong nhiều năm trở lại đây, dưới định hướng cụ thể, sự chỉ đạo sát sao của Bộ, Sở giáo dục tạo ra sự chuyển biến tích cực hiệu quả trong công tác giảng dạy: phương thức không còn đơn gi

ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN

Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến

Nền giáo dục Việt Nam ngày càng tiệm cận với xu hướng giáo dục thế giới, những xu hướng, quan niệm giáo dục được chỉ ra cụ thể mới nhất trong chương trình giáo dục phổ thông 2018 đó là: được xây dựng trên cơ sở quan điểm của Đảng, Nhà nước về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; kế thừa và phát triển những ưu điểm của các chương trình giáo dục phổ thông đã có của Việt Nam, đồng thời tiếp thu thành tựu nghiên cứu về khoa học giáo dục và kinh nghiệm xây dựng chương trình theo mô hình phát triển năng lực của những nền giáo dục tiên tiến trên thế giới; gắn với nhu cầu phát triển của đất nước, những tiến bộ của thời đại về khoa học - công nghệ và xã hội; phù hợp với đặc điểm con người, văn hoá Việt Nam, các giá trị truyền thống của dân tộc và những giá trị chung của nhân loại cũng như các sáng kiến và định hướng phát triển chung của UNESCO về giáo dục; tạo cơ hội bình đẳng về quyền được bảo vệ, chăm sóc, học tập và phát triển; quyền được lắng nghe, tôn trọng và được tham gia của học sinh; đặt nền tảng cho một xã hội nhân văn, phát triển bền vững và phồn vinh

Do đó để đáp ứng mục tiêu giáo dục mới, thay vì chỉ thiên về "dạy cái gì" cần chú trọng hơn về "dạy cách", từ chủ yếu quan tâm giúp học sinh "học cái gì" chuyển sang quan tâm hơn về "học nhƣ thế nào", sau khi học xong “ học sinh có thể…” như vậy, bản lĩnh và năng lực sáng tạo của giáo viên được khẳng định qua khả năng hướng dẫn tự học, tự tổng hợp và lắp ráp kiến thức theo hướng logic nhất, tự mình làm chủ kiến thức dẫn đến làm chủ cuộc sống

Nghề giáo dục là một nghề sáng tạo, bản lĩnh và đạo đức, những người thầy có tâm luôn tìm cách thay đổi cách thức truyền đạt, phương thức tổ chức, vì kết quả không chỉ thu được sau 10, 20 hay 45 phút mà có thể là 1 năm, 2 năm hay

Trong 2 năm từ 2019 đến 2022, toàn ngành giáo dục trong nước và trên thế giới gặp phải khó khăn chưa từng có do đại dịch Covid - 19: Các em học sinh không được đến trường, không được gặp gỡ giao tiếp với thầy, cô với bạn bè; sống trong không gian hẹp, tâm lý đè nặng cả từ phía phụ huynh và học sinh, năng lực vận động càng bị hạn chế Nhiều tỉnh thành việc đi học trở lại cũng không đồng đều, vấn đề đặt ra làm thế nào các em ở nhà vẫn có thể học tập, vẫn được tiếp cận với tri thức, được rèn luyện phẩm chất, năng lực Nhiều phương pháp và hình thức tổ chức dạy học trực tuyến được hình thành và phát huy thế mạnh như: Microsoft team; Zoom, google meet, OLM… phương pháp kiểm tra có: Azota, padet… đều mang lại hiệu quả tích cực

Thật may mắn địa bàn nhà trường đóng trên khu vực có công tác phòng chống dịch tốt, từ đầu năm học các em chỉ phải học online có 2 tuần, khi dịch bùng phát các em đều tiêm được 2 mũi, do đó kế hoạch giáo dục vẫn tiếp tục được triển khai Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa học trực tuyến và trực tiếp được triển khai đồng bộ bài giảng đƣợc thu phát trực tiếp cho những bạn phải nghỉ học cách ly tại nhà:

Hiện nay khoa học và công nghệ phát triển với sức mạnh thần tốc, kỳ diệu, đó là sự ra đời của máy tính và internet Nhưng bộ não là một phần lãnh thổ lớn nhất chưa được khám phá hết trên thế giới Bộ não giúp chúng ta tự học và học tập suốt đời, từ khi sinh ra cho đến khi không còn có mặt trên trái đất này Do đó việc phát triển năng lực sáng tạo và thực hành cho học sinh ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường là điều rất cần thiết Sự thực hành và sáng tạo trong cuộc sống chính là biết đề ra những ý tưởng mới, độc đáo, hữu ích, phù hợp với hoàn cảnh Nói cách khác là dám thách thức những ý kiến và phương pháp đã được mọi người chấp nhận để tìm ra những giải pháp hoặc khái niệm mới có tính đột biến cao hoặc mang tính kế thừa tích cực trên nền tảng cái cũ Cũng có thể hiểu đơn giản sáng tạo chỉ là tìm ra một cách mới để làm việc hoặc làm cho công việc đó trôi chảy hơn Một trong hai bán cầu não chi phối tới hoạt động thực hành và sáng tạo có cơ sở sinh lý thần kinh và tư duy của con người Tâm lý học đã nghiên cứu và đi đến kết luận rằng tất cả mọi người đều có khả năng sáng tạo và thực hành, sáng tạo nhỏ hay lớn Nếu được rèn luyện thì sự sáng tạo sẽ phát triển không ngừng cùng với năng lực thực hành khoa học và ngược lại nếu không rèn luyện thì sự sáng tạo và những kỹ năng thực hành sẽ dần bị mai một đi

Năng lực thực hành của học sinh chính là khả năng các em thực hiện được những điều mới mẻ trong bài học và thực tiễn cuộc sống Đó là biết làm thành thạo và luôn đổi mới, có những nét độc đáo riêng phù hợp với thực tế Luôn biết và đề ra những cái mới khi chưa được học, nghe giảng, đọc tài liệu hay tham quan về việc đó nhưng vẫn đạt kết quả cao Vì thế đối với học sinh nói chung và học sinh trung học phổ thông nói riêng, tất cả những gì mà họ “tự nghĩ ra“ khi giáo viên chưa dạy, học sinh chưa biết từ các nguồn khác nhau thì đều được coi là sáng tạo thực nghiệm Sáng tạo và thực hành trong cuộc sống là bước nhảy vọt trong sự phát triển nhận thức của học sinh Không có con đường logic để dẫn đến sự thực nghiệm, bản thân mỗi học sinh phải tự tìm lấy kinh nghiệm thông qua các hoạt động thực tiễn của mình hoặc dưới sự hướng dẫn của giáo viên, gia đình, nhà trường và xã hội Do đó, để phát triển năng lực nhận thức, sự chủ động thực hành và sáng tạo của học sinh thì người giáo viên phải biết đặt học sinh vào vị trí chủ thể để các em phải tự lực, chủ động, tự giác, tích cực, cố gắng để chiếm hữu được tri thức, rèn luyện đạo đức, phát triển tư duy sáng tạo thực hành của bản thân Trách nhiệm này đặt ra cho người giáo viên phải tìm ra được giải pháp hữu hiệu để rèn luyện năng lực cho học sinh ngay từ khi các em còn ngồi trên ghế nhà trường Ở đây thì học sinh cần phải làm chủ những hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ… phù hợp với lứa tuổi và kết nối chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra cho chính các em trong cuộc sống Phát triển năng lực, đặc biệt là năng lực thực hành sáng tạo của người học chính là mục tiêu của quá trình dạy học Vì thế vai trò quan trọng nhất của giáo dục chính là định hướng và giúp cho học sinh phát triển toàn diện các năng lực để giải quyết vấn đề một cách tư duy độc lập, có định hướng và tính sáng tạo trong thực nghiệm đột biến mà đặc biệt là đối với học sinh giỏi

Cá nhân tôi rút được kinh nghiệm từ nhiều tỉnh thành có dịch bùng phát từ năm 2019, nên luôn trăn trở làm thế nào công tác giáo dục bộ môn mình phụ trách luôn được đảm bảo, và phù hợp với đặc thù môn học Do đó, tôi nảy sinh sáng kiến “Xây dựng ngồn tài nguyên thí nghiệm nhằm rèn luyện phẩm chất, phát triển năng lực tư duy, năng lực thực hành và nâng cao chất lượng học tập môn Hóa học cấp THPT trên nền tảng ứng dụng CNTT” Qua những tiết thực hành, hoạt động trải nghiệm, giáo dục STEM, các em sẽ quay lại, chỉnh sửa làm tư liệu học tập đồng thời giúp đỡ những bạn không được tiến hành trực tiếp có cái nhìn đúng đắn, chân thực, nâng cao hứng thú môn học, tăng khả năng vận dụng kiến thức Hóa học vào thực tiễn, rèn kĩ năng công nghệ thông tin, kĩ năng nghiên cứu khoa học Đây là một trong những cách học rất tốt đảm bảo kết hợp nhuần nhuyễn giữa học trực tiếp và học trực tuyến.

Mục đích nghiên cứu

- Tạo nguồn tài nguyên học tập lâu dài cho học sinh các khóa học: video thí nghiệm, video ứng dụng kiến thức vào cuộc sống, video HS tham gia NCKH thông qua các cuộc thi…

- Đa dạng và vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học tích cực kiểm tra đánh giá: dạy học hợp đồng, hoạt động nhóm, kĩ thuật mảnh ghép, kĩ thuật

KLW; đánh giá bằng bảng kiểm và Robic

- Phát triển năng lực tư duy, năng lực thực hành, năng lực nghiên cứu khoa học, năng lực hợp tác, kiểm tra và rèn luyện kĩ năng CTTN của học sinh.

Đối tƣợng nghiên cứu

- Phương pháp dạy học thực hành, phương pháp dạy học STEM, phương pháp nghiên cứu khoa học

- Các thí nghiệm liên quan đến chương trình Hóa học 11, Hóa học 12

- Một số đề tài nghiên cứu và sản phẩm STEM

- Phương pháp kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh

- Một số phần mềm: chỉnh sửa ảnh, video…

Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp quan sát, điều tra, phỏng vấn

- Phương pháp thống kê số liệu

- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.

Phạm vi áp dụng

- Học sinh khối 11, 12 trường THPT Lý Nhân Tông

- Một số trường trên địa bàn tỉnh Nam Định( Trường THPT Mĩ Tho; THPT Tống Văn Trân)

- Trường THPT Trung Nghĩa – Phú Thọ.

Đóng góp của SK

- Phát triển khả năng tư duy, khả năng nghiên cứu khoa học cho học sinh

- Tăng cường khả năng tự vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn

- Kết hợp nhiều phương pháp, kĩ thuật dạy học với các phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại như phương tiện nghe nhìn, máy vi tính cùng phương pháp kiểm tra đánh giá hiện đại…để tạo ra các tổ hợp phương pháp dạy học hiệu quả

- Sự kết hợp liên môn tài tình tạo hướng tư duy mạch lạc, sản phẩm học tập đa dạng gây hứng thú và phục vụ thiết thực cho cuộc sống .

MÔ TẢ GIẢI PHÁP

Mô tả giải pháp trước khi có sáng kiến

2.1.1 Tình hình giảng dạy bộ môn Hóa học hiện nay

Hóa học là một môn học gần gũi, thiết thực thuộc ban Khoa học tự nhiên, là môn khoa học gắn liền giữa lí thuyết và thực nghiệm, yếu tố đặc trưng này chính là kim chỉ nam cho công tác nghiên cứu và giảng dạy bộ môn Hóa học

Do đó, phương pháp nhận thức đúng đắn về Hóa học là phải dựa trên những kết quả nghiên cứu kết hợp chặt chẽ với các lí thuyết cơ bản như các định luật, các học thuyết…Vì vậy việc sử dụng thí nghiệm trong dạy học hóa học là một phần không thể thiếu trong giảng dạy môn Hóa học

Trong nhiều năm trở lại đây, dưới định hướng cụ thể, sự chỉ đạo sát sao của

Bộ, Sở giáo dục tạo ra sự chuyển biến tích cực hiệu quả trong công tác giảng dạy: phương thức không còn đơn giản là một chiều truyền thụ kiến thức mà là sự tương tác hai chiều giữa định hướng của GV và mô hình sản phẩm học tập của học sinh; Dạy lí thuyết phải gắn với thực hành, thực nghiệm điều này thể hiện rõ trong nội dung các đề thi TN THPT, đề đánh giá định kì; đa dạng hóa các phương pháp, kĩ thuật dạy học và kiểm tra đánh giá Tiêu chí đánh giá kết quả học tập không chỉ giới hạn một tờ báo cáo trên giấy mà có thể là các sản phẩm công nghệ mô tả quá trình hoạt động nhóm, các sản phẩm hóa học là kết quả làm việc hoặc cuốn tập san, album (hồ sơ học tập)… Tất cả đều là các sản phẩm cụ thể có thể cầm, nắm, quan sát được Nắm được tinh thần như vậy, tất cả các Thầy, Cô giáo phụ trách môn Hóa học đều tích cực thay đổi, biến môn Hóa học không còn là môn học khô khan, “đáng sợ” mà trở thành môn học “ gỡ điểm”, thiết thực với cuộc sống nhất Sau đây là sự so sánh cụ thể về phổ điểm các môn thi TN THPT 2021

Phổ điểm môn Vật lý TN THPT 2021

Phổ điểm môn Hóa học

Phổ điểm môn Sinh học Đây là một trong những ưu thế của môn Hóa học khi các em lựa chọn trường đại học xác định nghề nghiệp cho tương lai, tạo cơ sở niềm tin bền vững cho phụ huynh và các lực lượng giáo dục khác

Tuy nhiên, hiện nay đang tồn tại một thực tế là rất ít số lượng tiết thực hành ở cả 3 khối lớp 10,11, 12 đều là 6/70 tiết chỉ chiếm khoảng 8,6% Trong khi những câu hỏi liên quan đến kĩ năng thực hành hóa học trong các đề TN THPT và nhu cầu học tập của học sinh tăng lên Đây cũng là một bất cập cần phải được giải quyết sớm

2.1.2 Tình hình giảng dạy bộ môn Hóa học tại trường THPT Lý Nhân

Về cơ sở vật chất nhà trường đã có: đầy đủ phòng học, phòng thực hành chuyên môn được trang thiết bị được đầu tư mua sắm mới, sử dụng có hiệu quả, đội ngũ giáo viên trẻ nhiệt tình nên các thầy cô luôn mang trong mình sự tâm huyết, tấm lòng yêu nghề, sẵn sàng giúp đỡ, chia sẻ cho đồng nghiệp những kinh nghiệm quý báu trong cuộc sống cũng như trong công tác góp phần nâng cao chất lượng giáo dục địa phương nói riêng và cả nước nói chung

Về phía học sinh, tuy số lượng học sinh chưa nhiều, chất lượng đầu vào chưa cao, chưa ổn định, và đa số các em đều ở xa trường Nhưng phần lớn các em đã xác định được mục tiêu học tập, từ một lớp chọn ban khoa học tự nhiên do nhà trường lựa chọn đến nay đã có thêm 2 – 3 lớp/ khối do bản thân các em lựa chọn để xác định khối thi và trường thi theo ước muốn

Trong 5 năm học gần đây, chất lượng giáo dục của nhà trường đã nâng lên đáng kể: Các em cũng tham gia đầy đủ, nhiệt tình và có hiệu quả những hoạt động của nhà trường và của Sở giáo dục phát động (học sinh giỏi văn hóa, thi làm đồ dùng học tập stem, khoa học kĩ thuật) Đó là minh chứng cho sự tiến bộ, là niềm động viên, an ủi giúp các thầy, cô có niềm tin, có động lực xây dựng những hoạt động giáo dục hay và hiệu quả Đặc biệt trong 2 năm từ 2019 –2022, nhà trường chủ động các công tác phòng chống dịch, chủ động các phương pháp, phương tiện dạy học trực tuyến, hoặc kết hợp nhuần nhuyễn giữa trực tuyến và trực tiếp trên nền tảng microsoft team (nhà trường mua bản quyền), OLM, kiểm tra, đánh giá trên Azota…đều được đánh giá tốt và hoàn thành nhiệm vụ năm học

Vì vậy, việc thiết kế và lựa chọn những phương pháp dạy học vừa đảm bảo cung cấp đầy đủ lí thuyết, vừa tiếp cận phương pháp nghiên cứu khoa học, vừa rèn luyện kĩ năng thực hành thành thạo, phát triển năng lực tư duy logic, năng lực sáng tạo, phẩm chất trung thực, tỉ mỉ, tính cẩn thận, tác phong nghiêm túc Theo tôi, sáng kiến dạy học này đáp ứng đầy đủ thông tin như vậy, thông qua việc làm thí nghiệm, nghiên cứu khoa học, trình bày sản phẩm bằng video còn giúp phát hiện đam mê ứng dụng CNTT vào học tập, giảm thời lượng chơi game, ngoài ra các em còn có thể tự làm video trở thành các youtober…Hơn nữa đây là phương pháp rất thiết thực đáp ứng diễn biễn phức tạp của dịch bệnh Covid – 19.

Mô tả giải pháp khi có sáng kiến

2.2.1 Vấn đề cần nghiên cứu giải quyết

- Nội dung các bài thực hành, các thí nghiệm kiểm chứng trong chương trình môn Hóa học

- Những yêu cầu khi vào phòng thí nghiệm, cách sử dụng các dụng cụ hóa chất, một số lưu ý trong quá trình tháo lắp dụng cụ thí nghiệm

- Một số phương pháp dạy học thực hành, phương pháp mảnh ghép, phương pháp hoạt động nhóm

- Trình tự các bước nghiên cứu khoa học, cách thức thực hiện các sản phẩm STEM

- Nghiên cứu các phần mềm chỉnh sửa ảnh, chỉnh sửa video, cách thức thành lập kênh youtobe riêng…

- Phương pháp đánh giá: đánh giá thông qua bảng kiểm, đánh giá bằng Robic…

- Phương pháp phân tích số liệu

2.2.2 Tính mới của giải pháp

So với những tiết thực hành thông thường, học sinh chỉ đơn thuần làm thí nghiệm, ghi lại kết quả và báo cáo lại thông qua bản tường trình thí nghiệm Trong sáng kiến mới này, các thầy cô sẽ linh hoạt sử dụng thực nghiệm hóa học trong : tiết dạy lí thuyết; giờ thực hành; hoạt động nghiên cứu sư phạm ứng dụng Khi thực hiện, tất cả các em cùng tham gia theo nhóm, quay lại quá trình thực hiện, chỉnh sửa video sản phẩm nghiên cứu thông qua các phần mềm; sau đó báo cáo trước lớp( trong quá trình báo cáo những bạn còn lại sẽ đóng vai trò là giám khảo đánh giá thông qua thang đo Robic); nộp lại do giáo viên, Thầy Cô sẽ lập kênh youtobe và đăng lên trang của trường để tất các các bạn học sinh đều được học tập, nghiên cứu, chia sẻ quan niệm học tập của cá nhân mình Việc học tập sẽ diễn ra mọi lúc, mọi nơi, có thể đầu năm dùng trong thời gian học tập, hoặc thời gian ôn thi cuối năm khi cần tổng hợp kiến thức… hơn nữa những video vận dụng kiến thức hóa học vào thực tiễn ủ phân hữu cơ - sản phầm NCKH, sản phẩm STEM như: Thiết kế dụng cụ ủ giá đỗ; tự làm thuốc trừ sâu sinh học, làm sữa chua, giấm ăn tại nhà, nấu rượu, muối dưa hành… vừa tiết kiệm, vệ sinh, an toàn, tạo hứng thú học tập, rèn tính cách, tạo niềm tin từ phụ huynh Như vậy các kiến thức Hóa học không chỉ phổ biến cho 1 học sinh mà còn phổ biến đến từng hộ gia đình, làng xóm nhất là tình trạng vệ sinh an toàn thực phẩm, ô nhiễm môi trường đang là vấn đề nhức nhối cho xã hội và toàn cầu

2.2.3 Sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ

Thực tế giảng dạy trước khi áp dụng sáng kiên, chúng tôi nhận thấy một trong những khó khăn lớn nhất là học sinh còn khá lúng túng trong khâu thực hành Những tiết thực hành đầu tiên, các em nói chuyện ồn ào, dụng cụ thực hành sử dụng tùy tiện, các nhóm được phân công chuẩn bị mẫu vật thì mang không đầy đủ Các em không biết trong nhóm, mình sẽ phải làm gì? Hiệu quả của các tiết thực hành này khá thấp Từ đó trong tôi nảy sinh rất nhiều câu hỏi: Tại sao kỹ năng thực hành của các em lại yếu? Cần làm gì để khắc phục tình trạng này? Phải làm thế nào để các em coi tiết thực hành như là một cơ hội để các em nghiên cứu, tìm tòi? Phải làm gì để nâng cao chất lượng của một tiết thực hành? Chính vì lẽ đó, chúng tôi đã suy nghĩ rất nhiều để tìm ra các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng của các bài dạy, đặc biệt là các bài thực hành

Sau khi áp dụng sáng kiến, có sự khác biệt ngay từ ý thức của các em: các em chủ động hơn, thích được xuống phòng thực hành hơn, nhớ kiến thức lâu hơn, kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng CNTT, kĩ năng giải quyết vấn đề tốt hơn

Một số hình ảnh tại PTN nhà trường Đặc biệt ý thức tự bảo vệ môi trường, tính tiết kiệm nguyên vật liệu, trách nhiệm của cá nhân trong gia đình: các em biết vận dụng kiến thức giúp bố mẹ một số công việc như muối dưa, muối cà, trổ tài làm sữa chua, làm dấm ăn, hay tự tay ủ phân hữu cơ từ rác thải sinh hoạt nông thôn vừa tiết kiệm, lại bảo vệ môi trường, tự tay chăm sóc những luống rau từ thuốc trừu sâu sinh học…

Hình ảnh: Hướng dẫn ủ phân hữu cơ vi sinh từ rác thải vùng nông thôn xã Yên Lợi (sản phẩm đạt giải nhì toàn quốc cuộc thi GREEN TEACH năm 2020 do trung tâm truyền thông – Bộ Tài Nguyên & Môi trường tổ chức).

Cách thức thực hiện và điều kiện áp dụng giải pháp

2.3.1 Thông qua nghiên cứu khoa học a Một số khái niệm

- Theo từ điển Bách Khoa toàn thư Wikipedia định nghĩa: Khoa học (tiếng

Anh: science) là toàn bộ hoạt động có hệ thống nhằm xây dựng và tổ chức kiến thức dưới hình thức những lời giải thích và tiên đoán có thể kiểm tra được về vũ trụ Thông qua các phương pháp kiểm soát, nhà khoa học sử dụng cách quan sát các dấu hiệu biểu hiện mang tính vật chất và bất thường của tự nhiên nhằm thu thập thông tin, rồi sắp xếp các thông tin đó thành dữ liệu để phân tích nhằm giải thích cách thức hoạt động, tồn tại của sự vật hiện tượng

- Theo Luật Khoa học và Công nghệ (Quốc hội, 2013), khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy

* Nghiên cứu khoa học (scientific research)

- Theo Luật Khoa học và Công nghệ (Quốc hội, 2013), Nghiên cứu khoa học là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn

- Phân loại NCKH : theo 2 cách

+ Theo chức năng nghiên cứu:

 Nghiên cứu mô tả (Descriptive research): nhằm đưa ra một hệ thống tri thức giúp con người phân biệt các sự vật, hiện tượng xung quanh; bao gồm mô tả định tính và mô tả định lượng, mô tả một sự vật, hiện tượng riêng lẻ hoặc so sánh giữa nhiều sự vật, hiện tượng khác nhau

 Nghiên cứu giải thích (Explanatory research): nhằm làm rõ các qui luật chi phối các hiện tượng, các quá trình vận động của sự vật

 Nghiên cứu dự báo (Anticipatory research): nhằm chỉ ra xu hướng vận động của các hiện tượng, sự vật trong tương lai

 Nghiên cứu sáng tạo (Creative research): nhằm tạo ra các qui luật, sự vật mới hoàn toàn

+ Theo tính chất của sản phẩm nghiên cứu:

 Nghiên cứu cơ bản (Fundamental research): các nghiên cứu nhằm phát hiện thuộc tính, cấu trúc bên trong của các sự vật, hiện tượng

 Nghiên cứu ứng dụng (Applied research): vận dụng thành tựu của các nghiên cứu cơ bản để giải thích sự vật, hiện tượng; tạo ra các giải pháp, qui trình công nghệ, sản phẩm để áp dụng vào đời sống và sản xuất

 Nghiên cứu triển khai (Implementation research): vận dụng các nghiên cứu cơ bản và ứng dụng để tổ chức triển khai, thực hiện ở qui mô thử nghiệm

- Một số khái niệm trong NCKH

+ Đề tài nghiên cứu (research project): Là một hình thức tổ chức NCKH do một người hoặc một nhóm người thực hiện để trả lời những câu hỏi mang tính học thuật hoặc ứng dụng vào thực tế Mỗi đề tài nghiên cứu có tên đề tài (research title), là phát biểu ngắn gọn và khái quát về các mục tiêu nghiên cứu của đề tài

+ Nhiệm vụ nghiên cứu (research topic): Là những nội dung được đặt ra để nghiên cứu trên cơ sở tên đề tài nghiên cứu đã được xác định

+ Đối tượng nghiên cứu (research focus): Là bản chất cốt lõi của sự vật hay hiện tượng cần xem xét và làm rõ trong đề tài nghiên cứu

+ Mục tiêu và mục đích nghiên cứu:

 Mục tiêu nghiên cứu (research objective): những nội dung cần được xem xét và làm rõ trong khuôn khổ đối tượng nghiên cứu đã xác định nhằm trả lời câu hỏi “Nghiên cứu cái gì?” Dựa trên mục tiêu, các câu hỏi nghiên cứu được xây dựng

 Mục đich nghiên cứu (research purpose): ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu Mục đích trả lời câu hỏi “Nghiên cứu nhằm vào việc gì?” hoặc

“Nghiên cứu để phục vụ cho cái gì?”

+ Khách thể nghiên cứu (research population): Là sự vật chứa đựng đối tượng nghiên cứu Khách thể nghiên cứu có thể là một không gian vật lý, một quá trình, một hoạt động, hoặc một cộng đồng

+ Đối tượng khảo sát (research sample): Là mẫu đại diện của khách thể nghiên cứu

+ Phạm vi nghiên cứu (research scope): Là sự giới hạn về đối tượng nghiên cứu, đối tượng khảo sát và thời gian nghiên cứu (do những hạn chế mang tính khách quan và chủ quan đối với đề tài và người làm đề tài)

* Phương pháp khoa học (scientific method)

- Theo Bernstein (1983) cho rằng, khác với việc các khoa học lấy thực tiễn chứng minh cho thực tiễn, đặc điểm nổi trội của phương pháp khoa học là cách thức thu thập kiến thức để ủng hộ một lý thuyết khi những dự đoán về một lý thuyết được xác nhận và thách thức một lý thuyết khi những dự đoán đó là không đúng

- Theo Slick (2002), phương pháp khoa học được sử dụng trong khoa học như một phương tiện đạt được sự hiểu biết về thế giới Về cơ bản, phương pháp khoa học bao gồm: Quan sát – Giả thuyết – Thu thập và xử lý dữ liệu – Giải thích và kết luận – Dự đoán Những dự đoán được đưa ra dựa trên những bằng chứng có được trong thực nghiệm

* Vai trò của nghiên cứu khoa học

Nghiên cứu khoa học có mục tiêu chủ yếu là tìm kiếm câu trả lời cho các câu hỏi đặt ra, nói cách khác là tìm kiếm kiến thức và sự hiểu biết Nói cách khác, bản chất của nghiên cứu khoa học là một quá trình vận dụng các ý tưởng, nguyên lý và phương pháp khoa học để tìm ra các kiến thức mới nhằm mô tả, giải thích hay dự báo các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan Nghiên cứu có nghĩa là trả lời những câu hỏi mang tính học thuật hoặc thực tiễn; làm hoàn thiện và phong phú thêm các tri thức khoa học; đưa ra các câu trả lời để giải quyết các vấn đề trong thực tiễn

Với cách nhìn như vậy, nghiên cứu khoa học còn có vai trò làm thay đổi cách nhìn nhận vấn đề của người đọc, thuyết phục người đọc tin vào bản chất khoa học và kết quả thực nghiệm nhằm đưa người đọc đến quyết định và hành động phù hợp để cải thiện tình hình của các vấn đề đặt ra theo chiều hướng tốt hơn b Qui trình nghiên cứu khoa học

Hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh đã có từ lâu với các cuộc thi sáng tạo kỹ thuật các cấp Vì vậy trong những năm học gần đây, phong trào học sinh tham gia nghiên cứu khoa học bắt đầu có sự lan tỏa mạnh mẽ, trong đó nhiều ý tưởng, sáng tạo có ý nghĩa thiết thực Những sản phẩm của hoạt động nghiên cứu khoa học ấy không chỉ là việc hiện thực hóa ý tưởng của các em học sinh, mà còn thắp lên ngọn lửa đam mê khoa học, tạo nền tảng, kiến thức, kỹ năng nghiên cứu khoa học cho học sinh trong tương lai

Việc đưa hoạt động nghiên cứu khoa học, công nghệ kỹ thuật vào trong học sinh không chỉ có ý nghĩa tạo sân chơi bổ ích, mà còn khơi dậy sự đam mê sáng tạo cho các em ngay từ lứa tuổi học trò Nếu các em học sinh được quan tâm, tạo điều kiện, động viên, khuyến khích, cùng với sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo thì những ý tưởng sáng tạo của các em sẽ trở thành những sản phẩm hữu ích phục vụ cuộc sống Chính vì điều đó, mà trong quá trình hướng dẫn học sinh tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học, giáo viên phải luôn chú ý rằng: Các sản phẩm sáng tạo KH - KT phải lấy ý tưởng từ cuộc sống

Báo cáo sản phẩm và phân tích kết quả

2.4.1 Báo cáo sản phẩm Để phù hợp với đối tượng học sinh trong trường, phương pháp dạy học chủ yếu sử dụng khi nghiên cứu các chủ đề STEM, NCKH, tiết dạy thực hành là phương pháp hoạt động nhóm, dạy học dự án và kĩ thuật mảnh ghép Theo kinh nghiệm thực hiện, chúng tôi nhận thấy để học sinh chủ động, tích cực trong hoạt động học, các em cần làm quen, nắm vững, hiểu rõ ý đồ của thầy cô trong từng kĩ thuật, phương pháp triển khai Do đó, chúng tôi kết hợp nhuần nhuyễn giữa hoạt động nhóm và kĩ thuật mảnh ghép để các em thành thạo và linh hoạt trong các phương pháp và kĩ thuật dạy học khác Đối với tiết thực hành, chủ đề STEM, NCKH…, tôi phân chia thời gian và thực hiện các hoạt động như sau:

- Thực hiện trong khoảng 15 phút

- Chia lớp thành 4 nhóm (mỗi nhóm 8 – 9 học sinh)

STT Tiêu chí đánh giá Xác nhận

1 Ống nghiệm có được rửa sạch (bằng cách cho vào một ít dung dịch kiềm, đun nóng đổ đi và tráng lại bằng nước cất) không?

2 Khi nhỏ từ từ dung dịch NH 3 vào ống nghiệm chứa dung dịch 1ml dd AgNO3 1% có xuất hiện kết tủa xám và kết tủa tan dần đến hết khi NH3 dư không?

3 Khi cho dd glucozo vào ống nghiệm chứa

AgNO3/ NH3, đun nóng nhẹ có xuất hiện kết tủa sáng bóng như gương không?

4 Khi tiến hành thí nghiệm có nên lắc đều không?

- Phân công nhiệm vụ cho từng nhóm ( Tìm hiểu tính chất vật lí; tính chất hóa học; ứng dụng và điều chế; hoặc nghiên cứu đề tài, lập dàn ý, khai thác thông tin trên mạng…) sao cho mỗi cá nhân làm việc độc lập và nắm vững nội dung của mình tìm hiểu, có thể trình bày lại, phát biểu lại, truyền tải lại cho đồng đội tại vòng 2 Trong nhóm sẽ bầu nhóm trưởng, thư kí và có bản theo dõi đánh giá cá nhân( đánh giá qua hồ sơ học tập)

- Hình thành nhóm 3 đến 6 người mới (1 – 2 người từ nhóm 1, 1 – 2 người từ nhóm 2, 1 – 2 người từ nhóm 3…)

- Các câu trả lời và thông tin của vòng 1 được các thành viên trong nhóm mới chia sẻ đầy đủ với nhau, hệ thống toàn bộ kiến thức của bài, sắp sếp thành 1 chỉnh thể

- Khi mọi thành viên trong nhóm mới đều hiểu được tất cả nội dung ở vòng 1 thì các nhóm tổng hợp và chuẩn bị sản phẩm báo cáo trong tiết học sau

- Các nhóm mới thực hiện nhiệm vụ, trình bày và chia sẻ kết quả Khi một nhóm lên trình bày sản phẩm, giáo viên và những bạn còn lại sẽ đánh giá nội dung kiến thức, hình thức trình bày, báo cáo thông qua thang đo Sau khi cộng điểm tất cả các bài chia bình quân sẽ ra điểm của nhóm

Trong tình hình dịch bệnh Covid 19 khó khăn nhưng cũng nảy sinh nhiều biện pháp hữu ích, nếu thời gian trao đổi trên lớp không đủ các em có thể lập nhóm, trao đổi bài trên Zalo, Messenger, Google Meet…Có thể luyện trong nhóm để tiết học sau báo cáo thật nhuần nguyễn và chuyên nghiệp Chúng tôi đánh giá cao phương pháp và kĩ thuật dạy học này, rất phù hợp với đối tượng học sinh trung bình và khá, bởi khi các em tự mình tìm hiểu – trình bày lại để khắc sâu và sửa lỗi – học lại bằng cách nghe lại từ bạn bè – nghe tổng hợp, phân tích khi phản biện giữa các nhóm báo cáo Như vậy sẽ được học lại bốn lần, thời gian áp dụng chỉ trong 2 tiết học, lượng biểu mẫu đánh giá không nhiều

2.4.2 Phân tích kết quả đạt đƣợc

Sau khi tổ chức thực hiện các hoạt động học, hoạt động kiểm tra, đánh giá là thước đo không thể thiếu, vậy lựa chọn các phương pháp, công cụ đánh giá như thế nào cho phù hợp với năng lực nhận thức người học?

Các quan niệm hiện đại về kiểm tra đánh giá chỉ rõ: đánh giá vì học tập; đánh giá là học tập và đánh giá kết quả học tập Các năng lực của học sinh được hình thành, rèn luyện và phát triển trong suốt quá trình dạy học môn học, do đó việc đánh giá mức độ năng lực của học sinh không thể chỉ thực hiện qua 1 bài kiểm tra kết thúc môn học mà phải được tiến hành thường xuyên trong suốt môn học, việc đánh giá cần tích hợp chặt chẽ với việc dạy học nhằm hình thành và phát triển năng lực cho học sinh Đồng thời khi tiến hành kiểm tra, đánh giá cần đảm bảo những nguyên tắc chung như: đảm bảo tính giá trị; độ tin cậy; tính công bằng và đảm bảo đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực HS THPT cần đảm bảo cả tính: toàn diện và linh hoạt; tính phát triển của học sinh; đảm bảo bối cảnh thực tiễn và đảm bảo đặc thù môn học Như vậy, đối tượng tham gia đánh giá rất đa dạng: GV đánh giá, HS tự đánh giá, HS đánh giá chéo, phụ huynh đánh giá và đoàn thể, cộng đồng đánh giá với mục đích chính là khuyến khích HS nỗ lực học tập, vì sự tiến bộ của HS

Vậy cần lựa chọn các phương pháp, công cụ phù hợp để đánh giá năng lực cho môn Hóa học cụ thể:

- Để đánh giá thành phần năng lực nhận thức hoá học: có thể sử dụng các câu hỏi (nói, viết), bài tập,… đòi hỏi HS phải trình bày, so sánh, hệ thống hoá kiến thức hay phải vận dụng kiến thức để giải thích, chứng minh, giải quyết vấn đề

- Để đánh giá thành phần năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ hoá học, có thể sử dụng các phương pháp, công cụ sau:

+ Bảng kiểm hoặc ghi chép kết quả quan sát của GV theo các tiêu chí đã xác định về tiến trình thực hiện thí nghiệm và các nhiệm vụ tìm tòi, khám phá của HS (đạt hiệu quả cao nhất đối với phương pháp thực hành)

+ Các câu hỏi, bài kiểm tra nhằm đánh giá hiểu biết của HS về kĩ năng thí nghiệm; khả năng suy luận để rút ra hệ quả, phương án kiểm nghiệm, xử lí các dữ liệu đã cho để rút ra kết luận; khả năng thiết kế thí nghiệm hoặc nghiên cứu Định hướng

Hỗ trợ, cố vấn, đánh giá

Tự đánh giá, tự điều chỉnh

Người học để thực hiện một nhiệm vụ học tập được giao và đề xuất các thiết bị, kĩ thuật thích hợp,…

+ Báo cáo kết quả thí nghiệm, thực hành, làm dự án nghiên cứu,… Để đánh giá thành phần năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học: có thể yêu cầu HS trình bày vấn đề thực tiễn cần giải quyết, trong đó phải sử dụng được ngôn ngữ hoá học, các bảng biểu, mô hình, kĩ năng thực nghiệm,… để mô tả, giải thích hiện tượng hoá học trong vấn đề đang xem xét; sử dụng các câu hỏi (có thể yêu cầu trả lời nói hoặc viết) đòi hỏi HS vận dụng kiến thức, kĩ năng vào giải quyết vấn đề học tập, đặc biệt là các vấn đề thực tiễn

Từ năm học 2020-2021, chúng tôi lên ý ưởng và tiến hành thực hiện năm

2021 – 2022, hướng dẫn học sinh xây dựng kho tài nguyên thực nghiệm phục vụ cho quá trình học tập và nghiên cứu Sáng kiến được chúng tôi áp dụng tại:

- Khối 11, 12 Trường THPT Lý Nhân Tông- Nam Định (117 HS)

- Khối 11 Trường THPT Mỹ Tho - Nam Định (70HS)

- Khối 12 Trường THPT Trung Nghĩa – Phú Thọ (70HS)

- Khối 11 Trường THPT Tống Văn Trân –Nam Định (70HS)

Sau khi tiến hành thực nghiệm, chúng tôi đánh giá kết quả học tập và đánh năng lực NCKH của học sinh tại 3 thời điểm: Trước, trong và sau thực nghiệm

Thời điểm Nội dung đánh giá Công cụ Phương pháp Trước thực nghiệm

Kĩ năng xác định vấn đề nghiên cứu

Kĩ năng tiến hành thí nghiệm

Kĩ năng xây dựng giả thuyết khoa học

Kiến thức phương pháp luận NCKH

Kiến thức có liên quan đến đề tài NCKH thực hiện

Kĩ năng xây dựng giả thuyết, lập kế hoạch nghiên cứu, thu thập thông tin, phân tích tổng hợp dữ liệu, thái độ NCKH

Kĩ năng làm thí nghiệm

Kĩ năng ứng dụng CNTT, thông qua các phần mềm lồng tiếng, chỉnh sửa ảnh, làm video Đề cương, bản kế hoạch nghiên cứu, kết quả đánh giá theo nhóm và của GV

Bảng đánh giá kĩ năng NCKH

Bảng Bài kiểm tra số 1,3

Bảng kiểm đánh giá quá trình làm thí nghiệm và báo cáo sản phẩm

Kĩ năng báo cáo sản phẩm

- Kiến thức phương pháp luận NCKH

HIỆU QUẢ DO SÁNG KIẾN ĐEM LẠI

Ngày đăng: 03/03/2023, 10:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w