-Về phương pháp: Coi trọng rèn luyện cho HS phương pháp tự học, tự khám phá và giải quyết vấn đề, phát huy sự tìm tòi tư duy độc lập sáng tạo của HS thông qua hoạt động học tập.. Bản ch
Trang 1PHẦN NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Một số xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hóa học ở trường phổ thông
Từ thực tế của ngành GD, cùng với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển đất nước, chúng ta đang tiến hành đổi mới PPDH chú trọng đến việc phát huy tính tích cực chủ động của HS, coi HS là chủ thể của quá trình dạy học Đây là nguyên tắc nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của quá trình dạy học Nguyên tắc này đã được nghiên cứu và phát triển mạnh mẽ trên thế giới và được xác định là một trong những phương hướng cải cách GD phổ thông Việt Nam Ta hãy xét những quan điểm, những tiếp cận mới hiện đang được thử nghiệm và áp dụng ở nước ta dùng làm
cơ sở cho việc đổi mới PPDH hoá học:
1.1 Dạy học hướng vào người học
Đây là quan điểm được đánh giá là tích cực vì việc dạy học chú trọng đến người học để tìm ra PPDH có hiệu quả Có thể nhấn mạnh những điểm quan trọng của
việc dạy học hướng vào người học như sau:
-Về mục tiêu dạy học: Chuẩn bị cho HS thích nghi với đời sống XH Tôn trọng nhu
cầu, hứng thú, khả năng và lợi ích của HS
-Về nội dung: Chú trọng bồi dưỡng, rèn luyện kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức,
năng lực giải quyết vấn đề học tập và thực tiễn, hướng vào sự chuẩn bị thiết thực cho
HS hoà nhập với XH
-Về phương pháp: Coi trọng rèn luyện cho HS phương pháp tự học, tự khám phá và
giải quyết vấn đề, phát huy sự tìm tòi tư duy độc lập sáng tạo của HS thông qua hoạt động học tập HS chủ động tham gia các họat động học tập GV là người tổ chức, điều khiển động viên, huy động tối đa vốn hiểu biết, kinh nghiệm, trí tưởng tượng của từng
HS trong việc tiếp thu kiến thức và xây dựng bài học
-Về hình thức tổ chức: Không khí lớp học thân mật tự chủ, bố trí lớp học linh hoạt
phù hợp với hoạt động học tập và đặc điểm của từng tiết học Giáo án bài dạy cấu trúc linh hoạt và có sự phân hoá, tạo điều kiện cho sự phát triển năng khiếu của từng cá nhân
-Về kiểm tra đánh giá: GV đánh giá khách quan, HS tham gia vào quá trình nhận xét
đánh giá kết quả học tập của mình (tự đánh giá), đánh giá nhận xét lẫn nhau Nội dung kiểm tra chú ý đến các mức độ: tái hiện, vận dụng, suy luận, sáng tạo
-Kết quả đạt được: Tri thức thu được vững chắc bằng con đường tự tìm tòi, HS được
phát triển cao hơn về nhận thức, tình cảm, hành vi,tự tin trong cuộc sống
Như vậy việc dạy học hướng vào người học đặt vị trí người học vừa là chủ thể vừa là mục đích cuối cùng của quá trình dạy học, phát huy tối đa tiềm năng của từng người học Do đó vai trò tích cực, chủ động, độc lập sáng tạo của được phát huy Người GV đóng vai trò là người tổ chức, hướng dẫn, động viên các hoạt động độc lập
Trang 21.2 Dạy học theo hướng “Hoạt động hoá người học”
1.2.1 Bản chất của việc đổi mới PPDH theo hướng hoạt động hoá người học
Định hướng hoạt động hoá người học chú trọng đến việc giải quyết các vấn đề:
- Dạy học thông qua hoạt động tự giác, tích cực và sáng tạo của người học
- Hình thành công nghệ kiểm tra, đánh giá
- Sử dụng phương tiện kĩ thuật trong dạy học, đặc biệt là công nghệ thông tin
Theo định hướng đó, các nhà nghiên cứu đã đề xuất:
- Học sinh phải được hoạt động nhiều hơn và trở thành chủ thể hoạt động, đặc biệt là hoạt động tư duy
- Các PPDH phải thể hiện được PP nhận thức khoa học bộ môn và tận dụng khai thác đặc thù của bộ môn để tạo ra các hình thức hoạt động đa dạng, phong phú của HS trong giờ học
- Chú trọng dạy HS phương pháp tự học, PP tự nghiên cứu trong quá trình học tập
1.2.2 Học tập và sáng tạo Vai trò mới của người giáo viên
Nét đặc trưng cơ bản của định hướng hoạt động hoá người học là sự học tập tự giác và sáng tạo của HS Để HS học tập tích cực tự giác cần làm cho HS biết biến nhu cầu của XH thành nhu cầu nội tại của bản thân mình Để có tư duy sáng tạo thì phải tập luyện hoạt động sáng tạo thông qua học tập Muốn vậy ngay trong bài học đầu tiên của môn học phải đặt HS vào vị trí của người nghiên cứu, người khám phá Ngược lại nhờ cách học nghiên cứu khám phá và cách học sáng tạo đó mà HS nắm vững kiến thức, biết sử dụng kiến thức một cách linh hoạt rồi tiếp tục sáng tạo ra cái mới Cách tốt nhất để hình thành và phát triển năng lực nhận thức, năng lực sáng tạo của HS là đặt họ vào vị trí chủ thể hoạt động tự lực, tự giác, tích cực của bản thân mà chiếm lĩnh kiến thức, phát triển năng lực sáng tạo, hình thành quan điểm đạo đức Vì vậy cần phải coi xây dựng phong cách “học tập sáng tạo” là cốt lõi của việc đổi mới PPDH
Ngày nay việc học tập của HS mang nhiều ý nghĩa tự học, còn người GV cần chú ý đến dạy cách học thông qua quá trình dạy học Trong khi khẳng định vai trò của người GV không hề suy giảm, cần phải thấy rằng tính chất của vai trò này đã thay đổi: người GV không phải là nguồn phát thông tin duy nhất, không chỉ lo truyền thụ kiến thức, không phải là người làm mọi việc cụ thể trên lớp Trách nhiệm chủ yếu của GV
là làm các công việc sau:
- Thiết kế: Lập kế hoạch, chuẩn bị kế hoạch dạy học, bao gồm: mục đích, nội dung,
PP, phương tiện và hình thức tổ chức (tức là soạn giáo án theo những yêu cầu mới, có chỉ rõ mục tiêu, nội dung, cách tổ chức và điều khiển họat động của HS, chỉ rõ hệ thống hoạt động của HS )
- Ủy thác, tạo động cơ: Biến ý đồ của dạy học của GV thành nhiệm vụ học tập tự
nguyện, tự giác của HS
- Điều khiển: Điều khiển và tổ chức hoạt động của HS theo cá nhân hay nhóm, kể cả
điều khiển về mặt tâm lý, bao gồm sự động viên, trợ giúp, đánh giá
Trang 3- Thể chế hoá: Biến những kiến thức riêng của từng HS thành tri thức khoa học của
XH mà HS cần tiếp thu, tạo điều kiện cho HS vận dụng tri thức thu được để giải quyết một số vấn đề liên quan trong đời sống và sản xuất
1.2.3 Các biện pháp hoạt động hoá người học
Trong dạy học hoá học cần sử dụng các biện pháp hoạt động hoá người học như:
+ Khai thác nét đặc thù môn hoá học tạo ra các hình thức hoạt động đa dạng phong phú giúp HS chủ động tự chiếm lĩnh kiến thức kĩ năng trong giờ học như:
- Tăng cường sử dụng các phương tiện trực quan
- Trong giờ học cần sử dụng phối hợp nhiều hình thức hoạt động của HS như: dự đoán lí thuyết, giải thích, thảo luận nhóm, liên tưởng, hình ảnh hóa kiến thức giúp
HS được hoạt động tích cực chủ động
+ Đổi mới hoạt động học tập của HS và tăng thời gian dành cho HS hoạt động trong giờ học Hoạt động của GV chú trọng đến việc thiết kế, hướng dẫn, điều khiển các
hoạt động và tư duy của HS khi giải quyết các vấn đề học tập thông qua các hoạt động
cá nhân và hoạt động nhóm GV cần động viên HS hoạt động nhiều hơn trong giờ học, giảm tối đa các hoạt động nhận thức thụ động.Việc tăng thời gian hoạt động của
HS có thể thực hiện bằng nhiều cách như:
- Giảm thuyết trình của GV xuống dưới 40% thời gian của một tiết học, tăng đàm thoại giữa thầy và trò, trong đó ưu tiên sử dụng PP đàm thoại nêu vấn đề Tập luyện cho HS được thảo luận, tranh luận
- Khi HS nghiên cứu sách giáo khoa tại lớp, GV cần đặt ra những câu hỏi tổng hợp đòi hỏi HS phải so sánh, khái quát hóa, suy luận nhằm khắc sâu và vận dụng sáng tạo kiến thức Cần yêu cầu HS phát biểu nội dung theo ý hiểu của các em mà không phụ thuộc vào từng từ trong sách, khuyến khích các em tìm cách diễn đạt mới
- Dành thời gian thích đáng để chỉ dẫn, uốn nắn PP học tập của HS trên cơ sở luyện tập cho HS được trình bày về PP tiếp cận vấn đề và vận dụng tổng hợp, sáng tạo kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề trong học tập hay trong thực tiễn
+ Tăng mức độ hoạt động trí lực chủ động tích cực sáng tạo của HS
Có thể thực hiện biện pháp này bằng nhiều cách như:
2.1 Khái niệm phương pháp dạy học tích cực
Phương pháp tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ
Trang 4người học.Vì vậy PPDH tích cực thực chất là những PPDH hướng tới việc hoạt động hoá, tích cực hoá hoạt động nhận thức của người người học chống lại thói quen học
tập thụ động
2.2 Những dấu hiệu đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực
Có thể đưa ra 5 dấu hiệu đặc trưng cơ bản sau, đủ để phân biệt với các PP thụ động:
1-Những PPDH có chú trọng đến việc tổ chức, chỉ đạo để người học trở thành chủ thể hoạt động, tự khám phá những kiến thức mà mình chưa biết Trong giờ học
người học được cuốn hút vào các hoạt động học tập do GV tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa biết chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được GV sắp đặt
2-Những PPDH có chú trọng đến việc rèn luyện kĩ năng, PP và thói quen tự học từ đó mà tạo cho HS sự hứng thú, lòng ham muốn, khát khao học tập, khởi động lòng ham muốn vốn có trong mỗi HS để giúp họ dễ dàng thích ứng với cuộc sống của
4-Những PPDH có sự phối hợp sử dụng rộng rãi các phương tiện trực quan, nhất là các phương tiện kĩ thuật nghe nhìn như: máy vi tính, các phần mềm dạy học .đáp ứng yêu cầu cá thể hoá hoạt động học tập theo năng lực và nhu cầu của mỗi
HS, giúp các em tiếp cận được với các phương tiện kĩ thuật hiện đại trong XH phát triển
5-Những PPDH có sử dụng các PP kiểm tra đánh giá đa dạng khác quan, tạo điều kiện để HS được tham gia tích cực vào hoạt động tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau
Những nét đặc trưng của PPDH tích cực đã thể hiện được quan điểm, xu hướng đổi mới PPDH hoá học Như vậy khi sử dụng các PPDH hoá học chúng ta cần khai thác những yếu tố tích cực của từng PPDH đồng thời cũng cần phối hợp các PPDH với các phương tiện trực quan, phương tiện kĩ thuật, tính đặc thù của PPDH hoá học để nâng cao tính hiệu quả của quá trình đổi mới PPDH hoá học
2.3 Những phương pháp dạy học tích cực cần được phát triển hiện nay
Áp dụng PPDH tích cực không có nghĩa là gạt bỏ các PPDH truyền thống Ta cần kế thừa, phát triển những mặt tích cực trong hệ thống PPDH đã quen thuộc, đồng thời phải học hỏi, vận dụng một số PP mới, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện dạy và học ở nước ta để từng bước tiến lên vững chắc.Theo hướng trên, chúng ta cần tập trung tìm hiểu,vận dụng, phát triển một số PP sau:
2.3.1 Vấn đáp tìm tòi (đàm thoại ơrixtic)
Trang 5Đây là PP mà trong đó GV là người tổ chức sự trao đổi ý kiến, kể cả tranh luận, giữa GV với cả lớp, giữa HS với HS, thông qua đó HS lĩnh hội được nội dung bài
học
Trong vấn đáp tìm tòi, GV dùng hệ thống câu hỏi được sắp xếp hợp lí để hướng dẫn HS từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính qui luật của hiện tượng đang tìm hiểu, kích thích tính tích cực tìm tòi, sự ham muốn hiểu biết Ở đây GV giống như người tổ chức sự tìm tòi, còn HS giống như người tự lực phát hiện kiến thức mới Khi kết thúc cuộc đàm thoại HS có được niềm vui của sự khám phá HS vừa nắm được kiến thức mới, vừa nắm được PP nhận thức và phát triển tư duy GV cần biết tận dụng các ý kiến của HS để bổ xung, chỉnh lí, kết luận vấn đề nghiên cứu; có như vậy HS mới hứng thú, tự tin vì thấy trong kết luận của thầy có phần đóng góp ý kiến của mình
Sự dẫn dắt theo PP này có mất nhiều thời gian hơn so với PP thuyết trình, giảng giải nhưng kiến thức HS lĩnh hội được sẽ chắc chắn hơn
2.3.2 Dạy học nêu và giải quyết vấn đề
Dạy học nêu và giải quyết vấn đề là một tiếp cận lí luận dạy học đang phát triển; là một hệ thống PPDH phức hợp bao gồm một tập hợp các PP kết hợp với nhau chặt chẽ và tương tác với nhau,trong đó việc xây dựng bài toán nhận thức tạo ra tình huống có vấn đề giữ vai trò trung tâm chủ đạo, gắn bó các PPDH khác trong tập hợp lại thành một hệ thống toàn vẹn
Cấu trúc một bài học (hoặc một phần trong bài học) theo PP này thường gồm các bước:
a Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức:
- Tạo tình huống có vấn đề
- Phát hiện và nhận dạng vấn đề nảy sinh
- Phát biểu vấn đề cần giải quyết
b Giải quyết vấn đề đặt ra:
- Đề xuất các giả thuyết
- Lập kế hoạch giải quyết vấn đề(theo các giả thuyết đặt ra)
- Thực hiện kế hoạch giải
c Kết luận:
- Thảo luận kết quả và đánh giá
- Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết nêu ra
- Phát biểu kết luận
- Đề xuất vấn đề mới
Khâu quan trọng của PPDH này là tạo tình huống có vấn đề, điều chưa biết là yếu
tố trung tâm gây ra sự hứng thú nhận thức, kích thích tư duy, tính tự giác tích cực trong hoạt động nhận thức của HS
Trong dạy học nêu và giải quyết vấn đề có các mức độ như:
Mức 1: GV nêu và giải quyết vấn đề Đó là PP thuyết trình ơrixtic
Trang 6Mức 2: GV nêu vấn đề, gợi ý để HS đề xuất cách giải quyết vấn đề và thực hiện cách
giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của GV khi cần Đó là PP đàm thoại ơrixitc
Mức 3: GV cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề HS phát hiện vào xác định vấn đề nảy sinh, tự lực đề xuất giả thuyết và lựa chọn giải pháp HS thực hiện cách giải quyết vấn đề GV và HS cùng đánh giá
Mức 4: HS tự phát hiện vấn đề, tự lực giải quyết vấn đề và đánh giá Đó là PP nghiên
Cấu trúc của quá trình dạy học theo nhóm:
Giáo viên Học sinh
↓ ↓ Hướng dẫn HS tự nghiên cứu Tự nghiên cứu cá nhân
Đánh giá,kết luận Tự đánh giá,điều chỉnh
Cấu tạo của một tiết học (một buổi làm việc) theo nhóm như sau:
- Phân công trong nhóm, từng cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi
- Cử đại diện trình bày kết quả làm việc của nhóm
3 Thảo luận, tổng kết trước toàn lớp:
- Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả
- Thảo luận chung
- GV tổng kết, đặt vấn đề cho vấn đề tiếp theo hoặc bài tiếp theo
II THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
Làm thế nào để giảm 80% thời gian học nhưng vẫn nhớ và hiểu bài nhiều hơn ?
Đó là một vấn đề khó khăn với số đông học sinh và cả giáo viên Hiện tượng thường thấy hiện nay là học sinh có quá nhiều áp lực trong học tập và thi cử, trong số các yếu
tố gây ra áp lực đó là số lượng bài học lớn, bài học dài, việc học cần nhiều thời gian
Trang 7Sau các năm dạy học tôi nhận thấy có một nguyên nhân gây ra tình trạng trên là
đa số học sinh ghi chép bài theo kiểu truyền thống Ghi chú theo kiểu truyền thống là ghi chú thành từng câu, từ trái sang phải tuần tự hết dòng này đến dòng khác Phương pháp ghi chú này có bốn bất lợi :
- Các nội dung trọng tâm bị chìm khuất
- Khó nhớ nội dung
- Lãng phí thời gian
- Không kích thích não sáng tạo
Việc thường xuyên ghi chú không hiệu quả sẽ gây ra một số hậu quả :
III CÁC BIỆN PHÁP ĐÃ TIẾN HÀNH ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 Tìm hiểu Sơ đồ tư duy – Công cụ giúp dạy và học hiệu quả
Phương pháp ghi chú kiểu truyền thống là phương pháp chúng ta được dạy và được hầu hết các học sinh sử dụng Ví dụ :
BÀI : TINH BỘT
1 Tính chất vật lí
Tinh bột là chất rắn, ở dạng bột vô định hình, màu trắng, không tan trong nước lạnh Trong nước nóng, hạt tinh bột sẽ ngậm nước và trương phồng lên tạo thành dung dịch keo, gọi là hồ tinh bột
2 Cấu tạo phân tử
Tinh bột thuộc loại polisaccarit, phân tử gồm nhiều mắt xích C6H10O5 liên kết với nhau và có công thức phân tử là (C6H10O5)n Các mắt xích liên kết với nhau tạo thành hai dạng : dạng lò xo không phân nhánh gọi là amilozơ, dạng lò xo phân nhánh gọi là amilopectin (hình a và b)
Amilozơ được tạo thành do các gốc glucozơ liên kết với nhau nên có phân tử khối lớn, vào khoảng 200 000 Còn amilopectin được tạo thành từ amilozơ và thêm các mạch nhánh nên có phân tử khối rất lớn, khoảng 1 000 000 a)
Trang 8b)
Tinh bột (trong các hạt ngũ cốc, các loại củ) đều chứa đồng thời cả hai loại amilozơ
và amilopectin, trong đó amilopectin thường chiếm tỉ lệ cao hơn Mạch tinh bột không kéo dài mà xoắn lại thành hạt có lỗ rỗng
Tinh bột được tạo thành trong cây xanh nhờ quá trình quang hợp Từ khí cacbonic và nước, dưới tác dụng của ánh sáng mặt trời và chất diệp lục, tinh bột được tạo thành theo sơ đồ phản ứng :
b) Phản ứng màu với iot
Thí nghiệm : Tiến hành thí nghiệm như ở
hình bên, ống nghiệm đựng hồ tinh bột và
I2 (b) cũng như mặt cắt củ khoai + I2 (c)
đều có màu xanh lục
Giải thích : Do cấu tạo mạch ở dạng xoắn
có lỗ rỗng, tinh bột hấp thụ iot cho màu
xanh lục
4 Ứng dụng
Tinh bột là một trong những chất dinh
dưỡng cơ bản của con người và một số
động vật Trong công nghiệp, tinh bột
được dùng để sản xuất bánh kẹo, glucozơ
và hồ dán
Trong cơ thể người, tinh bột bị thuỷ phân thành glucozơ nhờ các enzim trong nước bọt và ruột non Phần lớn glucozơ được hấp thụ trực tiếp qua thành ruột vào máu đi
Hình a) Ống nghiệm có dung dịch hồ tinh bột 2%
b) Nhỏ thêm vài giọt dung dịch loãng I2
Hình a) Cấu trúc phân tử amilozơ ; b) Cấu trúc phân tử amilopectin
Trang 9nuôi cơ thể ; phần còn dư được chuyển về gan Ở gan, glucozơ được tổng hợp lại nhờ enzim thành glicogen dự trữ cho cơ thể
Bài tinh bột thường được truyền thụ tới học sinh trong thời gian khoảng nửa tiết học (theo PPCT ban cơ bản của Sở GD&ĐT Lai châu)
Vấn đề đặt ra là bài học dài mà thời gian thì ít, giáo viên không những giúp học sinh hiểu bài, nhớ bài mà còn phải tạo thế chủ động cho học sinh trong tiếp thu kiến thức,
Thực tế chứng minh rằng, khi tất cả mọi người cùng làm theo một cách nào đó, không có nghĩa đó là cách tốt nhất
Sơ đồ tư duy (phát minh bởi Tony Buzan) : công cụ học tập tối ưu
Sơ đồ tư duy luôn lan tỏa từ một hình ảnh trung tâm Mỗi từ và hình ảnh được lan tỏa lại trở thành một tiểu trung tâm liên kết, cứ thế triển khai thành một chuỗi mắt xích gồm những cấu trúc phân nhánh tỏa ra hoặc hội tụ vào tâm điểm chung và có thể kéo dài vô tận Sơ đồ tư duy được vẽ trên mặt giấy phẳng nhưng lại biểu thị hiện thực
đa chiều (được xác định bởi không gian, thời gian, màu sắc)
Lợi ích của sơ đồ tư duy
- Tiết kiệm thời gian học vì nó chỉ tận dụng các từ khóa
- Phát huy tối đa hoạt động của não bộ : sự hình dung, sự liên tưởng, … vì não được kích thích bởi các từ khóa, hình ảnh, màu sắc,
Ví dụ : Bài tinh bột dưới dạng sơ đồ tư duy được sử dụng khi giảng dạy :
Trang 10Còn đây là nội dung ghi bài tinh bột của học sinh.(Bài của Hoàng Tú Anh, 12A1, năm học 2011-2012, hiện là sinh viên trường ĐH Nông nghiệp 1 Hà nội)
Vậy là toàn bộ nội dung bài tinh bột được thể hiện sinh động trên một mặt giấy A4 mà không thiếu một nội dung quan trọng nào
Sơ đồ tư duy giúp học sinh nhớ kiến thức lâu hơn, dễ dàng ôn bài, bổ sung chi tiết và thỏa sức sáng tạo
2 Sơ đồ tư duy được lập như thế nào
2.1 Các bước vẽ sơ đồ tư duy
BƯỚC 1 : Vẽ chủ đề ở trung tâm
Bước đầu tiên trong việc tạo ra một sơ đồ tư duy là vẽ chủ đề trung tâm trên một mảnh giấy (đặt nằm ngang)
Trang 11BƯỚC 2 : Vẽ các tiêu đề
Vẽ các tiêu đề theo quy tắc sau :
Viết bằng CHỮ IN HOA nằm trên các nhánh dày để làm nổi bật
Gắn liền với trung tâm
Tiêu đề nên được vẽ theo hướng chéo góc để nhiều nhánh phụ khác có thể được vẽ tỏa ra một cách dễ dàng
Ví dụ : chủ đề tinh bột có bốn tiêu đề : polisaccarit, lý tính, hóa tính, chuyển hóa
BƯỚC 3 : Trong từng tiêu đề, vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ
Chỉ nên tận dụng các từ khóa, ký hiệu và hình ảnh Có thể dùng những biểu
tượng, cách viết tắt để tiết kiệm không gian vẽ và thời gian
Mỗi từ khóa, hình ảnh vẽ trên một vạch liên kết riêng Trên mỗi vạch liên kết chỉ chứa tối đa một từ khóa
Nhánh liên kết và các từ luôn cùng độ dài
Tất cả các nhánh của một ý nên tỏa ra từ một điểm
Tất cả các nhánh tỏa ra từ một điểm (thuộc cùng một ý) nên có cùng một màu
Trang 12Thay đổi màu sắc khi đi từ một ý chính ra đến các ý phụ cụ thể hơn
Thay đổi kích cỡ hình ảnh, chữ in, vạch liên kết
Thay đổi kích cỡ để chỉ mức độ quan trọng tương đối của các thành phần trong cùng phân cấp
Ví dụ