MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 1 I Sự cần thiết của việc quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân 1 II Những quy định trong BLHS năm 2015 về TNHS đối với pháp nhân 6 1 Khái niệm TNHS đối với pháp nhâ[.]
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I Sự cần thiết của việc quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân 1
II Những quy định trong BLHS năm 2015 về TNHS đối với pháp nhân 6
1 Khái niệm TNHS đối với pháp nhân 6
2 Những quy định của BLHS năm 2015 về TNHS đối với pháp nhân 7
III Đánh giá những quy định của BLHS năm 2015 về TNHS của pháp nhân 12
KẾT LUẬN 22
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
Trang 2MỞ ĐẦU
Trong những năm qua, nền kinh tế nước ta đang có những bước phát triển mạnh
mẽ tạo ra nhiều lợi nhuận, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân Tuy nhiên,bên cạnh đó mặt trái của nền kinh tế thị trường đã tạo ra tâm lý hưởng thụ, tìm kiếmlợi nhuận bằng mọi cách đã khiến một số chủ thể tiến hành các hoạt động sản xuấtkinh doanh bất chấp luật, vi phạm nghiêm trọng lợi ích của Nhà nước, quyền và lợiích hợp pháp của tổ chức và công dân trong một số lĩnh vực như sản xuất kinh doanh,quản lý kinh tế, xã hội, chứng khoán, đầu tư, bảo hiểm, đầu thầu xây dựng Để bảo
vệ quyền và lợi ích của Nhà nước, cơ quan tổ chức, công dân, ngay từ khi xây dựng
Bộ luật hình sự năm 1999, chúng ta đã tiến hành nghiên cứu quy định trách nhiệmhình sự không chỉ đối với cá nhân (thể nhân) mà còn đặt vấn đề đối với pháp nhân,nhưng vấn đề này chưa được sự đồng thuận của các đại biểu Quốc hội và các nhà khoahọc Cho đến khi Bộ luật hình sự năm 2015 ra đời, Trách nhiệm hình sự của phápnhân đã được pháp điển hóa, nhưng vẫn còn gây ra rất nhiều ý kiến xung quanh vấn đề
này Vì vậy, em xin chọn đề tài số 03: “Quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về
trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại phạm tội” làm đề tài tiểu luận.
ra trong tất cả các ngành, các lĩnh vực, trong đó lĩnh vực pháp luật nói chung, phápluật hình sự nói riêng cũng được Nhà nước xem là một trọng tâm trong tiến trình cảicách, đổi mới, là một trong những yêu cầu bức bách của việc hoàn thiện bộ máy Nhànước, phục vụ tốt nhất cho công cuộc đổi mới đất nước
Trang 3Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) (sau đây gọi làBLHS năm 1999)đã có những tác động tích cực đối với công tác phòng, chống tộiphạm, bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần tíchcực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa,bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân Tuy nhiên, trong thời gian qua, bêncạnh những tích cực, những thành tựu đạt được thì kinh tế thị trường đã phát sinhnhững mặt trái, trong đó là tình hình và tỷ lệ tội phạm gia tăng cả về mức độ lẫn tínhchất nguy hiểm của hành vi phạm tội, nổi lên là loại tội phạm do pháp nhân thực hiệnnhư tội phạm trong lĩnh vực kinh tế, tội phạm môi trường gây ra những thiệt hại lớncho đất nước, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự - an ninh xã hội nhưng chưa đượcquy định trong BLHS như là một tội phạm.
Trong nền kinh tế thị trường không ít tổ chức kinh tế (pháp nhân thương mại, sauđây gọi chung là pháp nhân) vì chạy theo lợi nhuận cục bộ đã có sự thông đồng thựchiện nhiều hành vi trái pháp luật mang tính chất tội phạm Đặc biệt trong lĩnh vực kinh
tế như trốn thuế, kinh doanh trái phép, đầu cơ, buôn lậu hoặc vì lợi ích cục bộ đãkhông thực hiện các biện pháp mà pháp luật đòi hỏi để bảo vệ môi trường, gây hậuquả nghiêm trọng Việc núp bóng dưới danh nghĩa pháp nhân để phạm tội ngày càngtăng, tính chất nguy hiểm ngày càng cao Các hành vi vi phạm pháp luật mang tínhchất tội phạm do pháp nhân thực hiện trong thời gian qua diễn ra ngày càng tăng nhưbuôn lậu, buôn bán hàng cấm, gian lận thương mại, kinh doanh trái phép, xâm phạmquyền sở hữu công nghiệp; tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán… Đa số nhữngtrường hợp trên là do cơ quan lãnh đạo, người đại diện của pháp nhân thực hiện vì lợiích của pháp nhân hoặc trong khuôn khổ hoạt động của pháp nhân với những thủ đoạnngày càng tinh vi, xảo quyệt, có tổ chức cao và có những trường hợp mang tính quốc
tế, gây thiệt hại nghiêm trọng cho kinh tế - xã hội và cho đời sống của người dân, đòihỏi cần phải có giải pháp mạnh để phòng ngừa và đấu tranh
Ví dụ như vụ công ty Vedan có vốn đầu tư nước ngoài (Đài Loan) thực hiệnhành vi gian lận tinh vi trong việc xả chất thải ra sông Thị Vải, gây thiệt hại lớn khôngchỉ là ô nhiễm chết cả một dòng sông mà thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, kinh tếcủa người dân…nhưng việc xử lý mới chỉ dừng lại ở xử lý hành chính và bồi thường
Trang 4dân sự nên chưa đủ sức răn đe1… Hay như vụ các cơ quan chức năng của tỉnh ThanhHóa tiến hành điều tra, xác định bước đầu các hố chôn chất thải thuốc bảo vệ thực vật(BVTV) tại khu vực xưởng sang chai, đóng gói của công ty CP Nicotex Thanh Thái(trụ sở tại xã Cẩm Vân, huyện Cẩm Thủy, Thanh Hóa) Tại khu vực thi công số 1 gồmcó: bao bì chứa thuốc BVTV, vỏ chai đựng thuốc nghiền nhỏ, cát trộn lẫn thuốcBVTV lẫn đất (ước khoảng hơn 20 tấn) Ngoài ra, đất nghi ngờ nhiễm thuốc BVTVước khoảng 150 tấn2 Hay vào ngày 14/4/2010, Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm
về môi trường Bộ Công an (C36) phát hiện vụ xả thải trái phép ra sông Ghẽ từ khuvực sản xuất khung nhôm định hình tại Công ty Tung Kuang (100% vốn Đài Loan) ởhuyện Cẩm Giàng, Hải Dương, vụ việc được đánh giá nghiêm trọng như Vedan Nhàmáy cồn rượu thuộc Công ty cổ phần Đường Quảng Ngãi xả thải hơn 20.575 m3 hèm
ra sông Trà Khúc chưa qua xử lý gây ô nhiễm từ tháng 5/2009 - 4/20103
Thực tiễn áp dụng pháp luật thời gian qua đã cho thấy, cơ chế xử phạt vi phạmhành chính và bồi thường thiệt hại áp dụng đối với pháp nhân vi phạm tỏ ra bất cập,kém hiệu quả Mặc dù quy trình xử phạt vi phạm hành chính đối với pháp nhân có ưuđiểm là nhanh, kịp thời nhưng lại thiếu tính chuyên nghiệp, minh bạch và không giảiquyết được triệt để quyền lợi của người dân bị thiệt hại mà họ phải tự chứng minhthiệt hại để yêu cầu bồi thường Cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành chính không cóđội ngũ cán bộ chuyên trách để điều tra, chứng minh vi phạm cũng như hậu quả của viphạm Như vụ sự cố tràn dầu tại cảng Cát Lái (Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh) dotàu Neptune Aries (Singapore) gây ra vào ngày 03/10/1994 làm tràn gần 1.700 tấn dầuvào nguồn nước, làm ô nhiễm diện tích khoảng 65.000 ha, trong đó gần 40.000 ha bị ônhiễm nặng4 Giá trị thiệt hại mà các tổ chức và cá nhân thuộc tỉnh Đồng Nai và thànhphố Hồ Chí Minh phải gánh chịu ước tính 20.000.000 USD, trong khi đó, Tòa án chỉbuộc công ty sở hữu tàu bồi thường thiệt hại hơn 03 tỷ đồng – một con số quá nhỏ so
1 Thanh Nhật (2009), “Vedan là thủ phạm giết sông Thị Vải”, giet-song-thi-vai-2150486.html]
[http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/vedan-la-thu-pham-2 Hoàng Lam (2013), “Vụ chôn thuốc trừ sâu: Victex vận chuyển chất thải khỏi hiện trường”,
tpov.html]
[http://www.tienphong.vn/xa-hoi/654765/vu-chon-thuoc-tru-sau-nicotex-van-chuyen-chat-thai-khoi-hien-truong-3 PV (2010), “Xử phạt hành chính nhà máy cồn rượu – Công ty đường Quảng Ngãi”,
Ngai-1959945/]
[http://www.baoquangngai.vn/channel/2024/201009/Xu-phat-hanh-chinh-Nha-may-con-ruou-Cong-ty-duong-Quang-4 Sở tài nguyên và môi trường Tp Hồ Chí Minh, Ứng phó sự cố tràn dầu tại cảng Sài Gòn Petro Cát Lái,
[http://hepa.gov.vn/]
Trang 5với thiệt hại ban đầu Những người gây ra hành vi tràn dầu này cũng chỉ bị xử lý hànhchính, theo quy định của pháp luật hành chính lúc này, hành vi vi phạm thuộc lĩnh vựcbảo vệ môi trường chỉ có thể bị xử phạt tối đa là 70 triệu đồng.
Mặt khác, trong điều kiện chúng ta đang triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013
và tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Luật đầu
tư và Luật doanh nghiệp được Quốc hội thông qua đã có nhiều đổi mới theo hướng
mở rộng quyền cho các doanh nghiệp, đồng thời, theo mô hình doanh nghiệp hiện nay,nhiều quyết định quan trọng của pháp nhân là doanh nghiệp do tập thể thông qua (Hộiđồng thành viên, Hội đồng quản trị hoặc Đại hội cổ đông) Vì vậy, nếu trong trườnghợp này chỉ quy định trách nhiệm hình sự đối với cá nhân thì sẽ không công bằng.Hơn nữa, có trường hợp khó xác định được cụ thể người phải chịu trách nhiệm chính
để xử lý hình sự Ngoài ra, trên thực tế cũng đã có trường hợp cá nhân lợi dụng danhnghĩa tập thể để thực hiện hành vi phạm tội nhằm trốn tránh trách nhiệm Ngoài ra,thực tiễn cho thấy có một số khoảng trống trong việc xử lý vi phạm của pháp nhân,nhất là trong lĩnh vực tham nhũng, rửa tiền, buôn bán người, khủng bố, tài trợ khủng
bố thể hiện ở chỗ đối với cá nhân có hành vi vi phạm này thì bị xử lý hình sự,trong khi đó nếu pháp nhân cũng thực hiện các hành vi này, thậm chí là ở quy mô vàmức độ nghiêm trọng hơn thì không xử lý được kể cả hình sự lẫn hành chính, gây ratình trạng bỏ lọt tội phạm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến công tác đấu tranh phòng,chống tội phạm, và gây cản trở cho tiến trình hội nhập kinh tế thế giới của đất nước ta.Đây là bất cập cần được khắc phục và điều này cũng góp phần thực thi điều ước cóliên quan mà nước ta là thành viên Nếu chỉ xử lý về hình sự đối với người đại diện,những người được ủy quyền hoặc những nhân viên thừa hành thực hiện thì rõ ràng là
bỏ lọt tội phạm, trái với nguyên tắc công bằng trong Bộ luật Hình sự (sau đây gọi làBLHS) Đã đến lúc vấn đề TNHS của pháp nhân - tổ chức phải được giải quyết về mặthình sự một cách trực tiếp
Có thể thấy, liên quan đến chế định TNHS của pháp nhân là một chuỗi các vấn
đề cần được quy định từ chủ thể chịu trách nhiệm bao gồm những loại pháp nhân nào,
tổ chức không phải là pháp nhân có phải chịu trách nhiệm, tội phạm cụ thể có thể quy
Trang 6kết, điều kiện quy kết trách nhiệm đến hệ thống hình phạt áp dụng5 Do đó, việc bổsung quy định TNHS đối với pháp nhân vào BLHS sẽ làm thay đổi hoàn toàn cácquan niệm trước đây về cơ sở TNHS, năng lực trách nhiệm hình sự, lỗi, hình phạt.Đồng thời, việc quy định TNHS đối với pháp nhân sẽ đáp ứng được tinh thần cải cách
tư pháp mà Đảng và Nhà nước ta đang thực hiện, thể hiện thông qua 02 Nghị quyếtquan trọng, đó là Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về Một
số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết số49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đếnnăm 2020
Hiện nay, theo thống kê mới nhất thì trên thế giới có 119 nước quy định tráchnhiệm hình sự đối với pháp nhân như Nhật Bản, Trung Quốc, Anh, Pháp, Mỹ, Canada,Australia, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Phần Lan, Vương quốc Bỉ, Thụy Sĩ, Tây Ban Nha,Slovakia, Hungari, Lavia, Estonia, Croatia,… trong đó, khu vực ASEAN có 06 nướcnhư Singapo, Malaixia, Thái Lan, Philipin, Indonexia và Campuchia Đặc biệt,TrungQuốc là nước có nhiều nét tương đồng về truyền thống lập pháp với nước ta cũng đã
có quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân Như trong BLHS Trung Quốc quyđịnh chủ thể của tội phạm xâm phạm tài nguyên rừng là pháp nhân tại Điều 346 BLHSTrung Quốc: "Đơn vị nào phạm những tội quy định từ Điều 338 đến Điều 345 củaMục này sẽ bị phạt tiền; đối với những người quản lý trực tiếp và những nhân viênchịu trách nhiệm trực tiếp khác sẽ bị xử phạt theo quy định tại các điều nói trên củaMục này"6
Pháp luật hình sự hiện hành, cụ thể là BLHS năm 1999 chưa có quy định xử lýđối với pháp nhân, hay cụ thể hơn là chưa quy định trách nhiệm hình sự (sau đây gọi
là TNHS) đối với pháp nhân Pháp luật hình sự nước ta đến nay, theo quy định tạiĐiều 2 BLHS về cơ sở của TNHS thì "Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luậthình sự quy định mới phải chịu TNHS" Và trong phần khái niệm của tội phạm BLHScũng quy định "Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộluật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố sý hoặc
5 Lê Cảm (2000), Trách nhiệm hình sự của pháp nhân - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Tạp chí Tòa án, số 4, Hà Nội
6 Đinh Bích Hà (2007), Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, NXB Tư pháp, Hà Nội
Trang 7vô ý" Qua đó cho thấy, BLHS của nước ta quy định chỉ truy cứu TNHS đối với các cánhân phạm tội, chứ không áp dụng cho các đối tượng là pháp nhân.
Đứng trước những vấn đề đang đặt ra , ngày 27/11/2015, tại kỳ họp thứ 10, Quốchội khóa XIII đã thông qua Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự quy định vềtrách nhiệm hình sự của pháp nhân và việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đốivới pháp nhân phạm tội
Lần đầu tiên trong lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật hình sự nước ta,BLHS và BLTTHS năm 2015 đã ban hành những quy định về TNHS của pháp nhân,
cụ thể hóa các Nghị quyết của Đảng và Hiến pháp năm 2013 Nhằm phát huy hơn nữavai trò của 02 Bộ luật với tư cách là công cụ pháp lý sắc bén, hữu hiệu trong đấu tranhphòng, chống tội phạm; góp phần bảo vệ chủ quyền, an ninh của đất nước, bảo vệ chế
độ, bảo vệ các quyền con người, quyền công dân, bảo vệ và thúc đẩy nền kinh tế thịtrường xã hội chủ nghĩa phát triển đúng hướng, đấu tranh chống tham những có hiệuquả, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, tạo môi trường xã hội và môi trường sinh thái antoàn, lành mạnh cho mọi người dân, đồng thời đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế củađất nước
II NHỮNG QUY ĐỊNH TRONG BLHS NĂM 2015 VỀ TNHS ĐỐI VỚI PHÁP NHÂN
1 Khái niệm TNHS đối với pháp nhân
Để nắm rõ những quy định mới trong BLHS năm 2015 về TNHS đối với phápnhân, chúng ta cần hiểu rõ về khái niệm của TNHS đối với pháp nhân Theo đó:
TNHS là trách nhiệm của người phạm tội phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi vềhành vi phạm tội của mình, bao gồm nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt độngtruy cứu TNHS, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của TNHS là hình phạt, biệnpháp tư pháp và mang án tích7 TNHS của pháp nhân không vượt ra khỏi nội hàm củakhái niệm TNHS, chỉ khác ở điểm, thay vì trước đây TNHS chỉ áp dụng cho cá nhânngười phạm tội thì nay có thể áp dụng cho pháp nhân Như vậy, TNHS của pháp nhântrong khoa học pháp luật hình sự có thể hiểu là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tộiphạm và được thể hiện bằng việc áp dụng hình phạt đối với pháp nhân do luật hình sựquy định
7 Trường ĐH Luật Hà Nội (2009), Giáo trình luật Hình sự Việt Nam, NXB CAND, Hà Nội, tr.164
Trang 8Khoản 1 Điều 8 BLHS năm 2015, quy định khái niệm tội phạm, trong đó bổ
sung chủ thể là pháp nhân thương mại, cụ thể: “1 Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho
xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự” Theo đó khi pháp nhân thực hiện hành vi
bị coi là tội phạm, xâm hại đến các giá trị, quan hệ xã hội được Nhà nước và pháp luậtbảo vệ thì pháp nhân sẽ phải chịu trách nhiệm, tức phải chịu TNHS - hậu quả pháp lýbất lợi được biểu hiện cụ thể ở những biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhànước áp dụng, tước bỏ hay hạn chế các quyền và lợi ích của pháp nhân không bị bất
kỳ sự cản trở nào Pháp nhân phải tự mình gánh chịu TNHS, không thể ủy thác hoặcchuyển cho một pháp nhân khác như cơ quan quản lý cấp trên hay cho một pháp nhâncon của mình chịu thay được
TNHS của pháp nhân sẽ được áp dụng thông qua một trình tự thủ tục chặt chẽ dopháp luật quy định để đảm bảo tính khách quan, trung thực trong hoạt động tố tụng.TNHS của pháp nhân cũng phải được thể hiện rõ ràng trong bản án hay quyết định củaTòa án và một pháp nhận cũng chỉ bị coi là có tội khi bị kết án bằng bản án của Tòa án
đã có hiệu lực pháp luật Bản án là cơ sở pháp lý khẳng định một pháp nhân có tội haykhông, quy định các hình thức TNHS mà pháp nhân phạm tội phải gánh chịu Bản ánhay quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật sẽ được đưa ra thi hành và có hiệulực bắt buộc đối với các cơ quan nhà nước cũng như mọi cá nhân và như vậy, TNHSđối với pháp nhân sẽ được bảo đảm thi hành trên thực tế
2 Những quy định của BLHS năm 2015 về TNHS đối với pháp nhân
2.1 Loại pháp nhân phải chịu TNHS (Điều 2)
Chỉ coi chủ thể của tội phạm là các pháp nhân thương mại
Theo quy định tại Điều 175 Bộ luật dân sự, để trở thành pháp nhân phải có bốnđiều kiện: Được thành lập hợp pháp; Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; Có tài sản độc lậpvới cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó và Nhân danh mình
Trang 9tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập Cần lưu ý doanh nghiệp tư nhânkhông được coi là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân vì người đứng đầu doanhnghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình về hoạtđộng của doanh nghiệp Do đó, doanh nghiệp tư nhân không phải là pháp nhân.
2.2 Về phân loại tội phạm đối với pháp nhân (Khoản 2 Điều 9)
Tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện được phân loại căn cứ vào tínhchất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội theo quy định tại khoản 1Điều này và quy định tương ứng đối với các tội phạm được quy định tại Điều 76 của
áp dụng những quy định có tính chất đặc thù đối với pháp nhân tại Chương này, đồngthời áp dụng những quy định khác không trái với quy định của Chương này
2.4 Điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại (Điều 75)
a) Điều kiện chịu TNHS của pháp nhân thương mại (Khoản 1 Điều 75)
Đây là một trong những quy định mang tính tiên quyết trong việc xem xét TNHScủa pháp nhân
Theo đó, chỉ truy cứu TNHS đối với pháp nhân khi hội đủ cả 04 căn cứ sau đây:
- Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại
Để truy cứu TNHS đối với pháp nhân, điều đầu tiên người thực hiện hành viphạm tội phải nhân danh pháp nhân, có nghĩa là dưới danh nghĩa của pháp nhân.Trường hợp thực hiện hành vi mang danh nghĩa của cá nhân thì không thể đặt vấn đềtruy cứu TNHS đối với pháp nhân ngay cả khi họ là người đại diện hợp pháp của phápnhân
Người thực hiện hành vi nhân danh pháp nhân có thể là người lãnh đạo, ngườiđiều hành pháp nhân, người được pháp nhân ủy quyền
- Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại
Trang 10Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhânlà việc người đại diệnthực hiện hành vi nhằm mang lại lợi ích chung cho pháp nhân.Trường hợp thực hiệnhành vi trên danh nghĩa pháp nhân nhưng lại mang lại lợi ích cho cá nhân thì cũngkhông thể truy cứu TNHS đối với pháp nhân.
- Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận củapháp nhân thương mại
Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận củapháp nhân Căn cứ này phản ánh dấu hiệu “lỗi” của pháp nhân thông qua việc đánhgiá ý thức chủ quan của người đứng đầu, Ban lãnh đạo pháp nhân Như vậy, phápnhân chỉ phải chịu TNHS khi người đứng đầu pháp nhân hoặc Ban lãnh đạo của phápnhân nhận thức rõ hành vi mà người đại diện thực hiện là trái pháp luật mà vẫn chỉđạo, trực tiếp điều hành hoặc chấp thuận cho người đại diện thực hiện hành vi đó
- Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 và khoản
3 Điều 27 của Bộ luật này
Việc xác định thời hiệu truy cứu TNHS đối với pháp nhân được xác định thôngqua việc xác định thời hiệu truy cứu TNHS của cá nhân nhưng chỉ trong phạm vi 33tội danh được quy định tại Điều 76 BLHS
b) Mối quan hệ giữa TNHS của cá nhân người đại diện và pháp nhân thương mại(Khoản 2 Điều 75)
Khoản 2 Điều 75 BLHS năm 2015 quy định nguyên tắc xác định mối quan hệgiữa trách nhiệm hình sự của cá nhân và trách nhiệm của pháp nhân, cụ thể:
“Việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ tráchnhiệm hình sự của cá nhân”
Điều này có nghĩa trong mọi trường hợp, người trực tiếp thực hiện hành vi phạmtội luôn phải chịu trách nhiệm hình sự về cùng tội danh với pháp nhân trừ trường hợpthuộc một trong các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự Quy định này nhằmchống lại việc một số cá nhân phạm tội, lợi dụng vỏ bọc pháp nhân, đổtội cho phápnhân để thoát tội
II.5 Loại tội phạm mà pháp nhân thương mại phải chịu TNHS (Điều 76)
Điều 76 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định 33 tội mà pháp nhân phải chịu tráchnhiệm hình sự gồm: Điều 188 (tội buôn lậu); Điều 189 (tội vận chuyển trái phép hàng
Trang 11hóa, tiền tệ qua biên giới); Điều 190 (tội sản xuất, buôn bán hàng cấm); Điều 191 (tộitàng trữ, vận chuyển hàng cấm); Điều 192 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả); Điều 193(tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm); Điều
194 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh); Điều 195(tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y,thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi); Điều 196 (tội đầu cơ); Điều 200 (tộitrốn thuế); Điều 203 (tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ); Điều
209 (tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứngkhoán); Điều 210 (tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán); Điều 211(tội thao túng thị trường chứng khoán); Điều 213 (tội gian lận trong kinh doanh bảohiểm); Điều 216 (tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệpcho người lao động); Điều 217 (tội vi phạm quy định về cạnh tranh); Điều 225 (tộixâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan); Điều 226 (tội xâm phạm quyền sở hữucông nghiệp); Điều 227 (tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai tháctài nguyên); Điều 232 (tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng); Điều
234 (Tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã); Điều 235 (tội gây ônhiễm môi trường); Điều 237 (tội vi phạm phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môitrường); Điều 238 (tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều
và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông); Điều 239 (tộiđưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam); Điều 242 (tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản);Điều 243 (tội huỷ hoại rừng); Điều 244 (tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ độngvật nguy cấp, quý, hiếm); Điều 245 (tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồnthiên nhiên); Điều 246 (tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại), Điều 300(tội tài trợ khủng bố) và Điều 324(tội rửa tiền)
II.6 Về các hình phạt áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội
Điều 33 BLHS quy định hệ thống các hình phạt đối với pháp nhân thương mạiphạm tội:
- Các hình phạt chính bao gồm:
+ Phạt tiền;
+Đình chỉ hoạt động có thời hạn;
+Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;
Trang 12- Các hình phạt bổ sung bao gồm:
+ Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định;
+ Cấm huy động vốn;
+ Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính
II.7 Các biện pháp tư pháp áp dụng đối với pháp nhân
Điều 82 quy định các biện pháp tư pháp áp dụng đối với pháp nhân thương mạiphạm tội gồm:
- Các biện pháp tư pháp quy định tại Điều 47 và Điều 48 của Bộ luật này;
- Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu;
- Buộc thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tụcxảy ra
Căn cứ vào từng trường hợp phạm tội cụ thể, Tòa án có thể quyết định buộc phápnhân thương mại phạm tội phải thực hiện một hoặc một số biện pháp tư pháp áp dụngchung cho cả cá nhân quy định tại Điều 47 (tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tộiphạm) và Điều 48 (Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại, buộc công khaixin lỗi)
Đồng thời có thể áp dụng một hoặc nhiều biện pháp sau đây:
- Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu (Khoản 2 Điều 82)
Tòa án có thể quyết định áp dụng biện pháp tư pháp buộc pháp nhân thươngmại phạm tội phải khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do hành vi phạmtộicủa mình gây ra
- Buộc thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tụcxảy ra (Khoản 3 Điều 82)
2.8 Căn cứ quyết định hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự áp dụng đối với pháp nhân
a) Về căn cứ quyết định hình phạt
Điều 83 Bộ luật hình sự quy định khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vàoquy định của Bộ luật này, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội củahành vi phạm tội, việc chấp hành pháp luật của pháp nhân thương mại và các tình tiếtgiảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự áp dụng đối với pháp nhân thương mại.b) Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự