1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề tài lý luận về vi phạm pháp luật hình sự từ đó đưa ra giải pháp hữu hiệu trong phòng, chống vi phạm pháp luật hình sự ở việt nam hiện nay

17 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 819,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số nguyên nhân có thể kể đến như: Mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất; tàn dư và tập tục lỗi thời của xã hội cũ còn rơi rớt lại; trình độ dân trí và ý thức pháp luậ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TIỂU LUẬN CUỐI KỲ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

Đề tài: Lý luận về vi phạm pháp luật hình sự từ đó đưa ra giải pháp hữu hiệu trong phòng, chống vi phạm pháp luật hình sự ở

Việt Nam hiện nay

Giảng viên: TS Nguyễn Thị Lê Thu Sinh viên: Lê Thị Hương

Mã sinh viên: 20031428

Lớp: K65 QTDVDL&LH

Hà Nội – 2021

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CÁM ƠN 3

PHẦN MỞ ĐẦU 4

PHẦN NỘI DUNG 5

1 Khái niệm pháp luật, vi phạm pháp luật, các dấu hiệu cơ bản của vi phạm pháp luật, các loại vi phạm pháp luật 5

1.1 Khái niệm pháp luật 5

1.2 Vi phạm pháp luật 5

1.3 Các dấu hiệu cơ bản của vi phạm pháp luật 5

1.4 Các loại vi phạm pháp luật 7

2 Vi phạm pháp luật hình sự 8

2.1 Khái niệm: 8

2.2 Cấu thành vi phạm pháp luật hình sự 9

2.3 Đặc điểm của vi phạm pháp luật hình sự 11

2.4 Phân loại tội phạm hình sự 13

3 Giải pháp hữu hiệu trong phòng, chống vi phạm pháp luật hình sự ở Việt Nam hiện nay 14

PHẦN KẾT LUẬN 16

TÀI LIỆU THAM KHẢO 17

Trang 3

LỜI CÁM ƠN

Sau quãng thời gian học tập, rèn luyện môn Nhà nước và pháp luật đại cương, dù còn nhiều khó khăn do dịch bệnh và các yếu tố khác ảnh hưởng nhưng nhờ sự dạy dỗ và giúp đỡ nhiệt tình của giảng viên học phần em đã hoàn thành bài tiểu luận cuối kỳ để kết thúc học phần Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Lê Thu đã nhiệt tình dạy dỗ và đồng hành cùng em trong suốt thời gian vừa qua

Dù đã cố gắng hết sức nhưng có thể bài tiểu luận của em không thể tránh khỏi sự thiếu sót và hạn chế Kính mong thầy cô sẽ góp ý và chỉ dẫn để bài tiểu luận cuối kỳ của em được hoàn thiện hơn

Hà Nội, tháng 11 năm 2021 Người thực hiện

SV Lê Thị Hương

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

Xã hội đang ngày càng phát triển và biến đổi không ngừng kéo theo đó là sự xuất hiện ngày càng phổ biến những hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Đặc biệt ở nước ta hiện nay, hành vi vi phạm pháp luật đang diễn ra ngày một nghiêm trọng về mức độ và có sự trẻ hóa về độ tuổi Vậy nguyên nhân của thực trạng này là do đâu?

Một số nguyên nhân có thể kể đến như: Mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất; tàn dư và tập tục lỗi thời của xã hội cũ còn rơi rớt lại; trình độ dân trí và

ý thức pháp luật thấp của một số bộ phận người dân; hoạt động thù địch của các lực lượng phản động; những thiếu sót trong hoạt động quản lý của nhà nước; tồn tại một số

ít người bẩm sinh có xu hướng tự do vô tổ chức; do mặt trái của quá trình hội nhập; cùng với đó là sự phát triển nhanh chóng của mạng xã hội, sự xuất hiện của các hiện tượng mạng có thể kể đến như Khá Bảnh, Ngoài ra còn do sự phát tán nội dung không lành mạnh một cách thiếu kiểm soát trên mạng xã hội gây ảnh hưởng không nhỏ đến một số

bộ phận dân cư và đặc biệt là với trẻ dưới 18 tuổi Do vậy, việc nghiên cứu vấn đề vi phạm pháp luật sẽ có ý nghĩa rất lớn trong việc góp phần đề ra những biện pháp hữu hiệu để đấu tranh phòng chống những vi phạm pháp luật trong xã hội

Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn như vậy, tôi đã lựa chọn đề tài: “Lý luận

về vi phạm pháp luật hình sự từ đó đưa ra giải pháp hữu hiệu trong phòng, chống vi phạm pháp luật hình sự ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài của mình

Theo tôi đây là một đề tài mang nhiều ý nghĩa lý luận và thực tiễn, được quan tâm nhiều trong việc hoàn thiện thể chế pháp luật để xã hội được ổn định hơn nữa, tạo điều kiện cho đất nước phát triển

Trang 5

PHẦN NỘI DUNG

1 Khái niệm pháp luật, vi phạm pháp luật, các dấu hiệu cơ bản của vi phạm pháp luật, các loại vi phạm pháp luật

1.1 Khái niệm pháp luật

“Pháp luật được định nghĩa là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước được ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển phù hợp với lợi ích của giai cấp mình”

Ví dụ: Điều 5, Khoản 6 Luật phòng, chống ma túy của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định nghiêm cấm hành vi “ Sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy”

1.2 Vi phạm pháp luật

Vi phạm pháp luật là một loại sự kiện pháp lý đặc biệt Tìm hiểu bản chất, nguyên nhân của tình trạng vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng để đề ra các biện pháp đấu tranh một cách có hiệu quả nhằm lập lại trật tự và ổn định xã hội

Theo lý luận chung về pháp luật, vi phạm pháp luật nói chung là hành vi trái pháp luật xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ do các chủ thể có năng lực hành

vi thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý gây hậu quả thiệt hại cho xã hội

“Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật (hành động hoặc không hành động),

có lỗi của chủ thể có năng lực hành vi (năng lực trách nhiệm pháp lý) thực hiện, xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ đến quyền, lợi ích của con người”

Ví dụ: Hành vi sử dụng, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy

1.3 Các dấu hiệu cơ bản của vi phạm pháp luật

Pháp luật do nhà nước ban hành nhằm mục đích là điều chỉnh cách xử sự của công dân theo quy tắc, cách thức phù hợp với yêu cầu của xã hội và pháp luật phải được mọi người dân tôn trọng và thực hiện nghiêm minh Thế nhưng vẫn còn những hành vi vi

Trang 6

phạm pháp luật, vì vậy nhà nước phải đấu tranh để phòng chống vi phạm pháp luật Và

để xóa bỏ được vi phạm pháp luật trước hết cần hiểu rõ những dấu hiệu cơ bản của vi phạm pháp luật

Vi phạm pháp luật là một hiện tượng xã hội có những dấu hiệu cơ bản sau: Là hành xác định của con người, trái pháp luật, có lỗi và chủ thể thực hiện phải có năng lực trách nhiệm pháp lý

- Thứ nhất, là hành vi xác định của con người Vi phạm pháp luật là hành vi của con người hoặc là hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội,…Hành vi đó có thể biểu hiện dưới dạng hành động ( Ví dụ: Hành vi giết người, hành vi vượt đèn đỏ, hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác,…) hoặc không hành động ( Ví dụ: Gặp một vụ tai nạn khi tham gia giao thông mà có điều kiện giúp đỡ người bị tại nạn nhưng không giúp khiến người đó tử vong; Biết có người sử dụng trái phép chất ma tuy trong quán bar nhưng không tố cáo, )

- Thứ hai, tính trái pháp luật của hành vi Vi phạm pháp luật còn là hành vi trái pháp luật xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật xác lập và bảo vệ Những hành vi hợp pháp hay hành vi trái với các quy định của các tổ chức xã hội, trái với quy tắc tập quán, đạo đức, tín điều tôn giáo, mà không trái pháp luật thì không bị coi là vi phạm pháp luật ( Ví dụ: Đối với một người theo đạo Hồi, hành vi giết thịt và ăn thịt lợn được xem

là vi phạm nguyên tắc của đạo Hồi, tuy nhiên đây không phải là hành vi vi phạm pháp luật, ) Hành vi trái pháp luật là hành vi được thực hiện không phù hợp với quy định của pháp luật xâm hại tới quan hệ xã hội mà nhà nước xác lập và bảo vệ Tính trái pháp luật của hành vi được thực hiện dưới các dạng: Thực hiện những hành vi mà pháp luật ngăn cấm ( Ví dụ: Buôn bán ma túy, ) hoặc thực hiện không đúng những hành vi mà pháp luật cho phép ( Ví dụ: Lợi dụng quyền tự do ngôn luận của công dân để phát ngôn sai sự thật, ); Không thực hiện những hành vi mà pháp luật yêu cầu ( Ví dụ: Trốn thuế, ); Sử dụng quyền vượt quá giới hạn, phạm vi cho phép của pháp luật (Ví dụ: Vượt quá giới hạn của pháp luật trong phòng vệ chính đáng, )

- Thứ ba, có lỗi của chủ thể thực hiện hành vi Lỗi được hiểu là trạng thái tâm lý phản ánh thái độ tiêu cực của chủ thể đối với hành vi trái pháp luật của họ và hậu quả của hành vi chứ không phải là bản thân hành vi đó Thông thường, mỗi hành vi đều được

Trang 7

thực hiện dựa trên cơ sở nhận thức và kiểm soát của chủ thể Chỉ khi chủ thể nhận thức được hành vi và thấy trước hậu quả của hành vi do mình gây ra, được tự do quyết định

và lựa chọn phương án xử sự cho mình thì chủ thể mới bị coi là có lỗi và hành vi trái pháp luật đó mới có thể bị coi là vi phạm pháp luật ( Ví dụ: Vụ án Lê Văn Luyện giết người, cướp tài sản Trong vụ án này, hành vi của Lê Văn Luyện là hành vi có lỗi, nó xuất phát từ yếu tố tâm lý bên trong của Lê Văn Luyện làm y không kìm chế được cảm xúc mà ra tay giết người Đây là kết quả của sự lựa chọn tự đưa ra quyết định của y trong khi hắn có thể đưa ra quyết định không trái với quy định của pháp luật)

- Thứ tư, chủ thể thực hiện hành vi phải có năng lực trách nhiệm pháp lý Năng lực trách nhiệm pháp lý là khả năng của chủ thể phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý do nhà nước

áp dụng khi chủ thể vi phạm pháp luật Năng lực trách nhiệm pháp lý của cá nhân được xác định dựa vào độ tuổi và khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của cá nhân ở thời điểm hành vi được thực hiện Và đối với trẻ em, những người mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi của mình ở thời điểm thực hiện hành vi thì pháp luật quy định

họ không phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý

(Ví dụ: Điều 12 Bộ luật Hình sự Việt Nam quy định: “ Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự”)

Tóm lại, trên đây là những dấu hiệu để nhận diện vi phạm pháp luật, một hiện tượng cụ thể xảy ra trong đời sống chỉ bị coi là vi phạm pháp luật khi chứa đựng đầy đủ các dấu hiệu đã nêu

1.4 Các loại vi phạm pháp luật

Có thể thấy, vi phạm pháp luật xảy ra với rất nhiều mức độ tính chất và lĩnh vực khác nhau Chính vì thế, tùy theo tính chất lĩnh vực quan hệ xã hội bị xâm hại mà nhà làm luật phân các vi phạm pháp luật thành các loại:

- Vi phạm hình sự (Tội phạm) Đây là hành vi gây nguy hiểm cao và gây thiệt hại lớn cho xã hội (Ví dụ: Hành vi giết người, hành vi buôn bán trái phép chất ma túy, )

Trang 8

- Vi phạm hành chính Là hành vi ít nguy hiểm hơn và gây thiệt hại nhỏ hơn cho xã hội

so với tội phạm.(Ví dụ: Hành vi vượt đèn đỏ, chở quá số người quy định trong lái xe gắn máy khi tham gia giao thông, )

- Vi phạm dân sự Là hành vi có vi phạm quan hệ dân sự như: quan hệ hợp đồng dân sự hoặc quan hệ thừa kế (Ví dụ: Vi phạm hợp đồng thuê nhà, mua nhà, )

- Vi phạm kỷ luật Là hành vi vi phạm kỷ luật nhà nước, chỉ do các cán bộ, viên chức trong nội bộ bộ máy nhà nước thực hiện (Ví dụ: Hành vi cán bộ đi làm muộn, không đúng thời gian quy định, )

Trên đây là cơ sở lý luận về pháp luật, vi phạm pháp luật, các đấu hiệu cơ bản của

vi phạm pháp luật và các loại vi phạm pháp luật Từ đó, cho chúng ta cơ sở, nền tảng để nghiên cứu, tìm hiểu rõ hơn về vi phạm pháp luật hình sự ở Việt Nam hiện nay

2 Vi phạm pháp luật hình sự

2.1 Khái niệm:

Vi phạm pháp luật hình sự hay còn gọi là tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật XHCN

Ví dụ: - Vụ án giết người, cướp của tại tiệm vàng Ngọc Bích của Lê Văn Luyện xảy ra vào 24/08/2011

- Vụ án của ông Đinh La Thăng về tội “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát lãng phí”

Khái niệm tội phạm là khái niệm cơ bản nhất trong luật hình sự Việt Nam là cơ sở thống nhất cho việc xác định những tội phạm cụ thể và các chế định khác của luật hình

sự Các khái niệm khác tuy độc lập nhưng cũng chỉ là những khái niệm có tính chất cụ

Trang 9

thể hóa và hoàn toàn phụ thuộc vào khái niệm tội phạm Khái niệm tội phạm là cơ sở thống nhất cho việc nhận thức và áp dụng pháp luật hình sự một cách đúng đắn

2.2 Cấu thành vi phạm pháp luật hình sự

Cũng giống như các loại vi phạm pháp luật khác, vi phạm pháp luật hình sự cũng được cấu thành bởi: Mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể vi phạm pháp luật

2.2.1 Mặt khách quan của vi phạm pháp luật hình sự

Mặt khách quan của vi phạm pháp luật hình sự được biểu hiện ra bên ngoài của vi phạm pháp luật, bao gồm:

- Hành vi trái pháp luật Đây là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành của vi phạm pháp luật cũng như vi phạm pháp luật hình sự Nếu trong thực tiễn không tồn tại hành vi trái pháp luật của cá nhân hoặc tổ chức cụ thể thì sẽ không có vi phạm pháp luật xảy ra Một vi phạm pháp luật có thể chỉ có một hành vi hoặc cũng có thể gồm nhiều hành vi

Ví dụ: Trong vụ án của ông Đinh La Thăng, y đã có hành vi trái pháp luật là vi phạm quy định quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước

- Hậu quả gây ra cho xã hội Hậu quả là yếu tố quan trọng để đánh giá mức độ nguy hiểm cho hành vi vi phạm pháp luật Đới với vi phạm pháp luật hình sự thì hậu quả mà

nó gây ra mang mức độ cao nhất, gây tổn hại và nguy hiểm nhất cho xã hội

Ví dụ: Trong vụ án của ông Đinh La Thăng, hậu quả mà y gây ra đó là gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước, số tiền thiệt hại lên đến 830 tỉ đồng

- Mối quan hệ nhân quả Mối quan hệ này thể hiện ở chỗ hành vi trái pháp luật là hành

vi trực tiếp gây ra sự thiệt hại cho xã hội và ngược lại

Ví dụ: Vẫn là trong vụ án ông Đinh La Thăng, mối quan hệ nhân quả ở đây được thể hiện ở chỗ chính hành vi cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế đẫn đến sự thiệt hại nghiêm trọng về tài sản Nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội

Trang 10

Ngoài ra, mặt khách quan của vi phạm pháp luật hình sự còn được thể hiện qua các dấu hiệu khác như thời gian, địa điểm, công cụ, phương tiện vi phạm, cách thức vi phạm Có thể kể đến như vụ án hình sự về giết người của Lê Văn Luyện, với vụ án này, thời gian là vào ngày 24/08/2011, địa điểm vi phạm là tại tiệm vàng Ngọc Bích, công

cụ là dao, phương tiện vi phạm là dùng dao để đâm nạn nhân

2.2.2 Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật hình sự

Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật hình sự bao gồm các yếu tố sau:

- Lỗi của chủ thể vi phạm pháp luật hình sự Không phải tất cả những hành vi trái pháp luật đều là hành vi vi phạm pháp luật Chỉ có hành vi trái pháp luật do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý mới được coi là vi phạm pháp luật

Ví dụ: Trong vụ án của ông Đinh La Thăng hành vi của ông là cố ý và ông là người

có năng lực trách nhiệm pháp lý bình thường

Lỗi của vi phạm hình sự được thể hiện dưới hình thức cố ý (cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp); hoặc vô ý (vô ý do quá tự tin hoặc vô ý do cẩu thả)

- Động cơ vi phạm Động cơ ở đây là động lực thúc đẩy chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hình sự Ví dụ: Ở vụ án ông Đinh La Thăng, động cơ ở đây chính là trục lợi cho bản thân Hay ở vụ án của Lê Văn Luyện, động cơ owraaay chính là việc y lỡ cầm mất chiếc xe máy đi mượn, mang tiền tiêu mất nên không còn tiền để chuộc xe

- Mục đích vi phạm Mục đích ở đây được hiểu là kết quả cuối cùng mà chủ thể vi phạm mong muốn đạt được khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật

Ví dụ: Đối với vụ án Lê Văn Luyện, mục đích ban đầu của hắn chính là cướp được tài sản của tiệm vàng Ngọc Bích để có tiền tiêu, thế nhưng kết quả lại là gây ra thiệt mạng 3 người và 1 người bị thương

2.2.3 Chủ thể vi phạm pháp luật hình sự

Chủ thể vi phạm pháp luật hình sự là các cá nhân, tổ chức có năng lực trách nhiệm pháp lý, nghĩa là họ có khả năng tự chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm pháp luật trước

Ngày đăng: 16/12/2021, 20:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w