Theo quy định của pháp luật hiện hành ở Việt Nam, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường là một loại trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng; theo đó, chủ thể tổ chức, cá n
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
TRẦN NGỌC HƯNG
MSHV : C20609093
CÁC ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT BVMT 2020 VỀ BỒI
THƯỜNG THIỆT HẠI DO LÀM Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
Tiểu luận môn học Luật Môi trường
TP HỒ CHÍ MINH - 2021
Trang 2CÁC ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT BVMT 2020 VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT
HẠI DO LÀM Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
Người viết: Trần Ngọc Hưng MSHV: C20609093
Ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
MỞ ĐẦU
Vấn đề môi trường luôn là vấn đề nóng trong xã hội bởi những vai trò quan trọng của nó đối với cuộc sống của mỗi người Hiện nay, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ngày càng được đẩy mạnh và phát triển, mang lại sự tiến bộ vượt bậc cả về khoa học kĩ thuật cũng như cơ sở hạ tầng phục vụ cuộc sống con người trở nên tốt đẹp hơn Tuy nhiên, đi kèm theo đó lại là tình trạng ô nhiễm môi trường do hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người Tình trạng này ngày càng trở nên trầm trọng hơn và đe dọa trực tiếp đến sự phát triển nền kinh tế thậm chí là sự tồn tại của đất nước
về sau Do vậy, vấn đề cấp thiết đặt ra hiện nay với các cấp quản lí, với các doanh nghiệp và với toàn xã hội là phải đưa ra các biện pháp giải quyết triệt
để các vấn đề về môi trường Một trong số đó và quan trọng hơn cả là việc giải quyết những vấn đề về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường, thể hiện tính răn đe của pháp luật nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức Để nghiên cứu rõ hơn vấn đề này, tác giả xin chọn đề tài: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường theo Luật bảo vệ môi trường 2020” làm tiểu luận nghiên cứu
Trang 3NỘI DUNG
1 Ô nhiễm môi trường và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường
Theo quy định tại khoản 1 điều 3 Luật bảo vệ môi trường 2020: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, tồn tại, phát triển của con người
và sinh vật” Như vậy, hành vi gây ô nhiễm môi trường được hiểu là hành vi tác động tới các yếu tố của môi trường như đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng…và gây ra những tổn hại, làm thay đổi tính chất của môi trường, khiến môi trường suy thoái, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái tự nhiên và trực tiếp gây ảnh hưởng xấu đến đời sống của con người
Hiến pháp năm 2013 (Điều 63) quy định “Tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường (ÔNMT), làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên và suy giảm
đa dạng sinh học phải bị xử lý nghiêm và có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại” Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, nhiều văn bản pháp luật khác cũng quy định cụ thể về trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại do hành vi gây ÔNMT
Theo quy định của pháp luật hiện hành ở Việt Nam, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường là một loại trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng; theo đó, chủ thể (tổ chức, cá nhân hoặc chủ thể khác) thực hiện hành vi vi phạm pháp luật môi trường làm suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường, gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và các chủ thể khác thì phải khắc phục ô nhiễm, phục hồi hiện trạng môi trường và bồi thường thiệt hại
do hành vi vi phạm pháp luật gây ra Do vậy, cơ sở pháp lý giải quyết các yêu cầu về bồi thường thiệt hại do vi phạm pháp luật về BVMT trước hết được thực hiện theo các quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của
Bộ luật Dân sự năm 2015 Cụ thể, Bộ luật Dân sự năm 2015 tại Điều 172 quy định: “Khi thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản thì chủ thể phải tuân theo quy định của pháp luật về BVMT; nếu làm ÔNMT thì phải chấm dứt hành vi gây ô nhiễm, thực hiện các biện pháp để khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại”, Điều 602 có nêu: " Chủ thể làm ô nhiễm môi trường mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật, kể
cả trường hợp chủ thể đó không có lỗi” Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường đối với các cá nhân, tổ chức gây ô nhiễm, suy thoái môi trường đã được Luật Dân sự quy định Theo các quy định này, chủ thể có
Trang 4hành vi làm ÔNMT đồng thời gây thiệt hại cho người khác thì phải bồi thường thiệt hại, kể cả trường hợp người gây ÔNMT không có lỗi
2 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Khi một nghĩa vụ dân sư được xác lập, các bên phải thực hiện nội dung của nghĩa vụ đó Nếu một bên vi phạm nghĩa vụ thì phải gánh chịu những hậu quảbất lợi mà pháp luật đã dự liệu
Trách nhiệm dân sự nói chung là một chế tài của ngành luật dân sự, còn trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ lại là một chế tài trong nghĩa vụ Có thể nói, trách nhiệm dân sự là một trong số những chế tài có giá trị nhất mà pháp luật quy định dùng để trừng phạt và răn đe đối với người phạm tội Và trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một trong số đó, được quy định tại BLDS 2015: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất, trách nhiệm bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần”
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng còn được gọi là trách nhiệm dân sự do gây thiệt hại Sự kiện gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật
là căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Trách nhiệm ở đây được hiểu là nghĩa vụ của người gây ra thiệt hại phải bồi thường cho người thiệt hại các quyền và lợi ích hợp pháp mà không có trong hợp đồng
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có các điều kiện được quy định tại BLDS: “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”
3 Điểm mới về trách nhiệm bồi thường theo quy định tại Luật bảo
vệ môi trường 2020
Bồi thường thiệt hại do ÔNMT đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể bị thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật môi trường gây ra Phương thức yêu cầu người khác phải bồi thường thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan, với những đặc điểm riêng, có vai trò to lớn
và được coi là một trong những phương thức hiệu quả nhất vì nó có thể khôi phục lại tình trạng ban đầu về mặt vật chất cho chủ thể bị thiệt hại Tại Luật BVMT năm 2014 đã quy định về thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường (Điều 163); Quy định nguyên tắc xử lý trách nhiệm đối với tổ chức, cá nhân
Trang 5gây ÔNMT (Điều 164); Quy định về xác định thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường (Điều 165); Quy định về giám định thiệt hại do suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường (Điều 166); Quy định về bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường (Điều 167)
Bên cạnh các quy định nêu trên, trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hành vi vi phạm pháp luật về BVMT cũng được quy định bởi một số đạo luật khác có liên quan: Luật Đất đai, Luật Khoáng sản Qua 6 năm thi hành, bên cạnh những ưu điểm, các quy định về bồi thường thiệt hại đã bộc lộ một
số vướng mắc, bất cập cần phải sửa đổi bổ sung và hoàn thiện trong thời gian tới Việc quy định chế định bồi thường thiệt hại về môi trường trong Luật BVMT 2020 tại mục 2 từ điều 130-135 bao gồm những điểm mới sau:
1 Bổ sung nguyên tắc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường như: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường của từng đối tượng được xác định theo loại chất gây ô nhiễm, lượng phát thải và các yếu tố khác; Trách nhiệm chi trả chi phí xác định thiệt hại và thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường thiệt hại của từng đối tượng được xác định tương ứng với tỷ lệ gây thiệt hại trong tổng thiệt hại đối với môi trường; trường hợp các bên liên quan hoặc cơ quan quản lý nhà nước về môi trường không xác định được tỷ lệ chịu trách nhiệm thì cơ quan trọng tài hoặc Tòa án quyết định theo thẩm quyền
2 Xác định chủ thể có trách nhiệm yêu cầu bồi thường thiệt hại và xác định thiệt, hại về môi trường
Trách nhiệm xác định thiệt hại và yêu cầu bồi thường thiệt hại do suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường được quy định như sau: UBND cấp xã có trách nhiệm yêu cầu bồi thường thiệt hại về môi trường gây ra trên địa bàn thuộc phạm vi quản lý của mình Trong trường hợp này, UBND cấp
xã có trách nhiệm đề nghị UBND cấp huyện tổ chức thu thập và thẩm định
dữ liệu, chứng cứ để xác định thiệt hại về môi trường; Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm yêu cầu bồi thường thiệt hại và tổ chức thu thập, thẩm định dữ liệu, chứng cứ để xác định thiệt hại đối với môi trường do ô nhiễm, suy thoái gây ra trên địa bàn từ 02 đơn vị hành chính cấp xã trở lên; tổ chức thu thập và thẩm định dữ liệu, chứng cứ để xác định thiệt hại đối với môi trường do ô nhiễm, suy thoái theo để nghị của Ủy ban nhân dân cấp xã; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm yêu cầu bồi thường thiệt hại và tổ chức thu thập, thẩm định dữ liệu, chứng cứ để xác định thiệt hại đối với môi trường do ô nhiễm, suy thoái gây ra trên địa bàn từ 02 đơn vị hành chính cấp
Trang 6huyện trở lên; Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm yêu cầu bồi thường thiệt hại và chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức thu thập và thẩm định dữ liệu, chứng cứ để xác định thiệt hại đối với môi trường do ô nhiễm, suy thoái gây ra trên địa bàn từ 02 đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên
Tổ chức, cá nhân bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp do suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường
tự mình hoặc ủy quyền cho cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân khác xác định thiệt hại và yêu cầu bồi thường thiệt hại về môi trường theo quy định của Luật BVMT và quy định khác của pháp luật có liên quan
3 Quy định trình tự, thủ tục yêu cầu bồi thường thiệt hại về môi trường
Để thực hiện công tác bồi thường có hiệu quả Luật BVMT 2020 quy định Quốc hội ủy quyền Chính phủ hướng dẫn cụ thể về trình tự, thủ tục yêu cầu bồi thường thiệt hại về môi trường Theo đó, thủ tục bồi thường thiệt hại
dự kiến sẽ bao gồm các nội dung: Thông báo về thiệt hại đối với môi trường; Thủ tục tiếp nhận thông báo thiệt hại đối với môi trường; Lựa chọn đơn vị cung cấp dịch vụ thu thập dữ liệu, chứng cứ, tính toán thiệt hại và xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại; Xác định các loại dữ liệu, chứng cứ cần thiết để tính toán thiệt hại đối với môi trường; Cách thức, phương pháp tính toán thiệt hại; Xác định kinh phí phải bồi thường và yêu cầu bồi thường Ngoài quy trình, thủ tục, Chính phủ sẽ hướng dẫn các biểu mẫu, hồ sơ kèm theo
4 Xác định thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường gồm những nội dung: Xác định phạm vi, diện tích, khu vực môi trường bị ô nhiễm, suy thoái; Xác định số lượng thành phần môi trường bị suy giảm, các loại hình
hệ sinh thái, các loài bị thiệt hại; Xác định mức độ thiệt hại của từng thành phần môi trường, hệ sinh thái, các loài
5 Hình thức giải quyết bồi thường thiệt hại về môi trường: Bồi thường thiệt hại về môi trường được giải quyết thông qua thương lượng giữa các bên Trong trường hợp không thương lượng được, các bên có thể lựa chọn giải quyết thông qua các hình thức: Hòa giải; Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài; Giải quyết tranh chấp bằng Tòa án Việc khởi kiện tại Tòa án được thực hiện theo quy định về bồi thường thiệt hại dân sự ngoài hợp đồng của Bộ luật Tố tụng dân sự trừ việc chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa
Trang 7hành vi vi phạm pháp luật về môi trường và thiệt hại xảy ra thuộc trách nhiệm của tổ chức, cá nhân vi phạm, gây ô nhiễm về môi trường
6 Chi phí bồi thường thiệt hại về môi trường được tính căn cứ vào các nội dung sau: Chi phí thiệt hại trước mắt và lâu dài do sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường; Chi phí xử lý, cải tạo môi trường; Chi phí giảm thiểu, triệt tiêu nguồn gây thiệt hại hoặc tổ chức ứng phó sự cố môi trường; Chi phí xác định thiệt hại và thực hiện thủ tục bồi thường thiệt hại về môi trường; Tùy điều kiện cụ thể có thể áp dụng các chi phí nói trên để tính chi phí thiệt hại về môi trường, làm căn cứ bồi thường và giải quyết bồi thường thiệt hại về môi trường Chi phí bồi thường thiệt hại do tổ chức, cá nhân chi trả trực tiếp hoặc nộp về Quỹ BVMT để tổ chức chi trả
7 Giám định thiệt hại do suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường: Bổ sung một điều mới là chi phí giám định thiệt hại sẽ do bên phải bồi thường chi trả
Các chế định về bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường gây ra đã được quy định khá đầy đủ trong hệ thống pháp luật hiện hành, như Luật bảo vệ môi trường, Bộ luật dân sự, Nghị định số 03/2015 của Chính phủ vv… Theo quy định của Luật bảo vệ môi trường năm
2020 thì việc bồi thường thiệt hại về môi trường được thực hiện theo 3 phương thức, thứ nhất, thông qua hòa giải; thứ hai, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài; thứ ba, giải quyết bằng tòa án Trên thực tế phương thức giải quyết thông qua trọng tài hầu như rất ít được áp dụng, vì chưa xác định được trọng tài nào sẽ giải quyết việc bồi thường thiệt hại về môi trường, trọng tài thương mại hay trọng tài kinh tế hầu như chỉ xem xét, giải quyết những tranh chấp các hợp đồng kinh tế, thương mại giữa các bên, trong khi các tranh chấp về bồi thường thiệt hại về môi trường là các tranh chấp ngoài hợp đồng
Do đó đối với những thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng của người dân trong các vụ việc do ô nhiễm môi trường gây ra, thường được giải quyết thông qua thỏa thuận thương lượng giữa các bên, hoặc khởi kiện ra tòa án Phương thức thỏa thuận, thương lượng, hòa giải ngoài tố tụng là phương thức thường được sử dụng nhiều nhất, vì đây là phương thức dễ thực hiện, tính chất đơn giản và hiệu quả hơn, bởi người bị hại sử dụng nhiều phương thức này là do việc thu thập chứng cứ, giám định thiệt hại, và chứng minh thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường của đối tượng vi phạm gây ra thường rất khó khăn, nhất là đối với cá nhân, do thời gian xảy ra hành vi gây
ô nhiễm có thể đã quá lâu, hay việc tích tụ gây ô nhiễm môi trường có thời gian quá dài, hay cá nhân không có phương tiện quan trắc, chi phí cho giám
Trang 8định và xác định thiệt hại cao Phương thức khởi kiện tại tòa án là phương thức thường được sử dụng, để đòi bồi thường thiệt hại đối với các vụ việc đã
có đủ hồ sơ, chứng cứ buộc tội người vi phạm, gây thiệt hại về môi trường, hoặc khi thương lượng, hòa giải không đạt được kết quả
Pháp luật về bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường mặc dù đã được quy định khá đầy đủ, tuy nhiên việc áp dụng các quy định này trên thực tế chưa nhiều, số lượng các vụ việc khiếu nại yêu cầu bồi thường thiệt hại về môi trường của các tổ chức, cá nhân cho thấy mỗi năm cả nước chỉ có khoảng 100 đến 200 vụ việc, và hầu hết những vụ việc này đều được giải quyết thông qua con đường thương lượng, thỏa thuận, rất ít vụ việc đưa ra tòa án giải quyết Rất nhiều vụ việc doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường không thực hiện bồi thường theo đúng nghĩa, mà chỉ thỏa thuận hỗ trợ người bị thiệt hại Để đòi yêu cầu bồi thường thiệt hại pháp luật quy định người khởi kiện phải có tài liệu chứng cứ chứng minh quyền lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại, nghĩa vụ chứng minh này là rất khó khăn, vừa không chỉ chứng minh thiệt hại đối với sức khỏe, tính mạng, tài sản và lợi ích hợp pháp của mình, mà còn chứng minh được mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại về môi trường tự nhiên với thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản
do thiệt hại về môi trường gây ra với hành vi gây ô nhiễm môi trường, bởi vậy để chứng minh được như vậy đối với cá nhân khởi kiện là có thể nói là bất khả thi, nếu không có sự vào cuộc của các cơ quan nhà nước Vụ xử lý đối với công ty formosa gây ô nhiễm môi trường là một ví dụ điển hình, ban đầu công ty kiên quyết không thừa nhận hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, Chính phủ đã chỉ đạo và giao Bộ tài nguyên và môi trường chủ trì phối hợp với các bộ, ngành củng cố hồ sơ, chứng cứ chứng minh sự vi phạm bằng hình ảnh, số liệu quan trắc, sơ đồ vận hành, kết luận thanh tra vụ việc vv… lãnh đạo công ty mới chịu thừa nhận hành vi vi phạm và chấp nhận bồi thường thiệt hại Từ đó cho thấy trách nhiệm của cơ quan nhà nước
là hết sức quan trọng và quyết định trong việc giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại về ô nhiễm môi trường, Luật bảo vệ môi trường năm 2020 đã quy định rõ trách nhiệm yêu cầu bồi thường thiệt hại và xác định thiệt hại môi trường, từ Ủy ban nhân dân cấp xã đến cấp tỉnh và của Bộ tài nguyên và môi trường Cơ quan quản lý nhà nước về môi trường có trách nhiệm kiểm tra, giám sát về môi trường, giải quyết khiếu nại về ô nhiễm môi trường, và giải quyết các yêu cầu bồi thường thiệt hại do gây ô nhiễm môi trường
Trang 9KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
Với thực trạng ÔNMT diễn ra ngày một nghiêm trọng tại Việt Nam hiện nay, việc xác định đúng đối tượng gây thiệt hại để có thể yêu cầu các chủ thể này chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự cho người bị hại là vô cùng quan trọng Những quy định pháp luật Việt Nam hiện hành đã gây ra rất nhiều khó khăn và bất hợp lý, tạo ra nhiều rào cản pháp lý khiến người bị thiệt hại luôn có xu hướng bỏ cuộc trong các vụ tranh chấp môi trường Tại
khoản 4 Điều 13 Nghị định số 03/2015/NĐ-CP đã đưa ra quy định: “Tổ
chức, cá nhân tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, có hệ thống xử lý chất thải đạt yêu cầu và chứng minh được rằng không gây ô nhiễm, suy thoái môi trường thì không phải bồi thường thiệt hại đối với môi trường và không phải chịu các chi phí liên quan đến xác định thiệt hại và thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường thiệt hại.” và cũng tại
khoản 5 của Điều này có quy định: “Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng
dẫn trình tự, thủ tục chứng minh tổ chức, cá nhân không gây ô nhiễm môi trường theo quy định tại Khoản 4 Điều này.” tuy nhiên cho đến nay, vẫn
chưa có quy định cụ thể nào thêm về vấn đề này (ngay cả trong Luật BVMT
2020 và Dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số nội dung của Luật Bảo
vệ môi trường 2020) Vì vậy, tác xin đưa ra kiến nghị hoàn thiện khung pháp
lý quy định, hướng dẫn các doanh nghiệp gây ÔNMT chứng minh hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình không gây thiệt hại môi trường như sau:
+ Tại Luật BVMT 2020 đã có sự ghi nhận nguyên tắc chứng minh thiệt hại theo phương thức giải quyết bằng Tòa Án cụ thể tại khoản 2 Điều 133 như sau: chủ thể yêu cầu bồi thường thiệt hại chỉ cần đưa ra căn cứ chứng minh có hành vi vi phạm pháp luật về môi trường, nghĩa vụ chứng minh tồn tại hay không mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm luật về môi trường
và thiệt hại xảy ra thuộc trách nhiệm của tổ chức, cá nhân vi phạm, gây ô nhiễm về môi trường Do đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường cần cụ thể hóa quy định về trình tự, thủ tục cũng như các giấy tờ cần thiết để người bị thiệt hại chứng minh có hành vi vi phạm luật về môi trường và tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh chứng minh không có mối quan hệ nhân quả giữa hành
vi gây ÔNMT và thiệt hại gây ra như quy định nêu trên với sự hỗ trợ từ các
cơ quan giám định tại địa phương nơi xảy ra hành vi gây ÔNMT;
+ Đối với trường hợp người dân chứng minh được nguy cơ gây ÔNMT của doanh nghiệp, cần có quy định trao thẩm quyền cho Tòa án có thể áp dụng nguyên tắc đề phòng thiệt hại môi trường và yêu cầu doanh nghiệp
Trang 10dừng hoạt động đến khi chứng minh được không có bất kì khả năng thiệt hại hoặc mối đe dọa gây thiệt hại nào từ hành động sản xuất, khai thác của doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp chứng minh đã đưa ra các biện pháp ngăn chặn cần thiết để khắc phục Bằng cách quy định như vậy Tòa Án ở một mức
độ nhất định đã chuyển nghĩa vụ chứng minh thiệt hại từ cộng đồng người dân bị ảnh hưởng sang cho doanh nghiệp gây ÔNMT
KẾT LUẬN
Ô nhiễm môi trường chúng ta đang sống là một trong những vấn đề lớn nhất chúng ta phải đối mặt hàng ngày Ô nhiễm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và các sinh vật khác trên trái đất Pha loãng độ tinh khiết của tài nguyên thiên nhiên xảy ra do ô nhiễm môi trường Các nghiên cứu về ô nhiễm môi trường khá phức tạp vì tất cả các yếu tố khác nhau của thiên nhiên Nếu chúng ta làm ô nhiễm một phần nhất định - một phần của hệ sinh thái như đất, không khí, nước, thì hậu quả của nó chắc chắn sẽ phản ánh trong các hình thức của sự mất cân bằng trong tự nhiên Chúng ta hãy có một cái nhìn đúng đắn nhất liên quan đến ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng của
nó đến cuộc sống để cùng nhau khắc phục, hạn chế và cùng nhau có ý thức, trách nhiệm bảo vệ, giữ gìn môi trường chung