Một số giải pháp phát triển kinh tế tư nhân trong thời gian tới của tỉnh Thái Bình
Trang 1Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới với việc chuyển sang nềnkinh tế hàng hoá nhiều thành phần, kinh tế tư nhân ở nước ta nói chung và ởtỉnh Thái Bình nói riêng được phát triển nhanh chóng Đến nay khu vực kinh
tế tư nhân đã đóng góp vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm, thu hút vốn,tăng thu nhập cho dân cư, góp phần vào việc tăng trưởng kinh tế Trong nhiềungành, kinh tế tư nhân chiếm tỷ trọng lớn, đây là khu vực kinh tế có nhiềutiềm năng, đa dạng, phức tạp và còn có nhiều khuyết tật, hạn chế Do đó, việcnghiên cứu đánh giá tiềm năng, ưu thế và hạn chế về tình hình và xu hướngphát triển của kinh tế tư nhân ở Thái Bình là vấn đề cấp bách hiện nay
Đến nay, việc quản lý Nhà nước đối với nền kinh tế nhiều thành phần ởnước ta nói chung, ở Thái Bình nói riêng trong đó có kinh tế tư nhân vẫn cònnhiều bất cập Trước yêu cầu mới về phát huy nội lực của lĩnh vực kinh tế, từbài học ở các nước trong khu vực cho thấy việc đổi mới quản lý Nhà nước đốivới kinh tế tư nhân nhằm giải phóng năng lực sản xuất, phát huy ưu thế củakinh tế tư nhân và khơi dậy mọi tiềm năng trong dân để phát triển kinh tế làvấn đề cấp bách và lâu dài ở tỉnh Thái Bình
Trong điều kiện kinh tế mở cửa, giao lưu quốc tế ngày càng tăng, xuhướng hội nhập quốc tế và khu vực ngày càng phát triển, việc đổi mới quản lýNhà nước đối với kinh tế tư nhân cho phù hợp với tình hình ở Thái Bình,trong nước và quốc tế là một yêu cầu quan trọng và cấp thiết, vừa nhằm tuânthủ các hệ thống luật pháp trong nước, vừa nhằm phát huy lợi thế so sánh ởThái Bình, tăng khả năng cạnh tranh của khu vực kinh tế tư nhân trong nước
Trang 2Việc nghiên cứu đánh giá thực trạng kinh tế tư nhân và đề ra những giảipháp nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân ở Thái Bình, đẩy nhanh quátrình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn ở Thái Bình.
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu đề tài “ một số giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhântỉnh Thái Bình” với 3 mục đích :
- Làm rõ một số vấn đề về lý luận và quan điểm của Đảng về kinh tế tưnhân; bản chất, đặc điểm, vai trò của kinh tế tư nhân ở nước ta
- Thực trạng kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Thái Bình
- Đề xuất những giải pháp tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách khuyếnkhích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh Thái Bình
3 Đối tượng và nội dung nghiên cứu của đề tài
Đề tài chủ yếu nghiên cứu kinh tế tư nhân ở tỉnh Thái Bình được thànhlập sau khi có Luật doanh nghiệp, Luật công ty, Doanh nghiệp Nhà nướcchuyển sở hữu thành công ty cổ phần
Đề tài chia thành 3 nội dung chính :
- Những vấn đề lý luận chung về kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
- Thực trạng hoạt động của khu vực kinh tế tư nhân ở tỉnh Thái Bình
- Một số giải pháp phát triển kinh tế tư nhân trong thời gian tới của tỉnhThái Bình
4 Các kết quả dự kiến đạt được
Qua việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng của khu vực kinh tế tư nhântỉnh Thái Bình làm rõ những điểm mạnh và hạn chế của khu vực kinh tế này
để có những định hướng và giải pháp phù hợp nhằm thúc đẩy kinh tế tư nhânphát triển, thúc đẩy kinh tế tỉnh phát triển, đẩy mạnh quá trình công nghiệphoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn
Trang 3Chương 1 : Những vấn đề lý luận chung về kinh tế tư nhân ở nước ta
I - Bản chất, vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
1 Quá trình phát triển, đổi mới tư duy về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân trong phát triển kinh tế ở nước ta
Với những thành tựu thu được sau hơn 20 năm đổi mới đã chứng minhtính đúng đắn của Đảng trong việc không ngừng đổi mới nhận thức, quanđiểm, chính sách về vấn đề sở hữu và các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá
độ lên Chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Trước đây, trên phương diện lý luận, chúng ta thừa nhận nền kinh tếtrong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội có nhiều thành phần, nhưng trênthực tế cũng như trong hành động không thực sự thừa nhận nền kinh tế nhiềuthành phần Nền kinh tế được chia thành : kinh tế xã hội chủ nghĩa (gồm kinh
tế quốc doanh và kinh tế tập thể) và kinh tế phi xã hội chủ nghĩa (gồm kinh tế
tư bản tư nhân, kinh tế cá thể, tiểu chủ…) Với chủ trương sớm xây dựng vàphát triển kinh tế xã hội chủ nghĩa chiếm tỷ trọng lớn trong lĩnh vực sản xuất
và lưu thông bằng làn sóng quốc doanh hoá, tập thể hoá thông qua các biệnpháp hành chính là chủ yếu Các thành phần kinh tế phi XHCN thì bị ngăncấm không cho phát triển, bị thu hẹp dần, cải tạo và dần bị xoá bỏ… Trongkhi kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, bên cạnh những thành tích đónggóp vào công cuộc bảo vệ xây dựng miền Bắc XHCN và giải phóng miềnNam thống nhất đất nước thì các khu vực này ngày càng bộc lộ những yếukém, làm cho tình trạng trì trệ, kém phát triển và khủng hoảng kinh tế - xã hộităng lên và dẫn đến công cuộc đổi mới từ năm 1986
Trang 4Sự nghiệp đổi mới, trong đó có đổi mới kinh tế do Đảng ta khởi xướng
và lãnh đạo đã thừa nhận trên cả lý luận và thực tiễn của nền kinh tế nhiềuthành phần trong thời kỳ quá độ lên CNXH, trong đó có kinh tế tư nhân
Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (12-1986), sau khiphê phán “những biểu hiện nóng vội muốn xoá bỏ ngay các thành phần kinh
tế phi XHCN, nhanh chóng biến kinh tế tư bản tư nhân thành quốc doanh”,mắc bệnh “chủ quan, duy ý chí, giản đơn hoá”, “chưa thật sự thừa nhận nhữngquy luật của sản xuất hàng hoá đang tồn tại khách quan” Đại hội khẳng địnhđường lối đổi mới, chỉ rõ “nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặctrưng của thời kỳ quá độ”, chỉ rõ 6 thành phần kinh tế : kinh tế quốc doanh,kinh tế tập thể, kinh tế gia đình, kinh tế tiểu sản xuất hàng hoá, kinh tế tư bản
tư nhân, kinh tế tư bản Nhà nước
Tuy nhiên, khái niệm kinh tế tư nhân được chính thức sử dụng từ Hộinghị lần thứ 6 của Trung ương khóa VI (tháng 3 – 1989) Nghị quyết chỉ rõ :trong điều kiện của nước ta, các hình thức kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tưbản tư nhân) vẫn cần thiết lâu dài cho nền kinh tế và nằm trong cơ cấu củanền kinh tế hàng hoá đi lên XHCN
Về mặt quy định pháp lý, việc ban hành Luật công ty và Luật doanhnghiệp tư nhân (năm 1990) đã đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho việc hình thành
và phát triển các doanh nghiệp tư nhân với các loại hình công ty trách nhiệmhữu hạn, công ty cổ phần và doanh nghiệp tư nhân
Đại hội lần thứ IX của Đảng (4 – 2001) quyết định : “khuyến khíchphát triển kinh tế tư bản tư nhân rộng rãi trong những ngành nghề sản xuất,kinh doanh mà pháp luật không cấm Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi vềchính sách, pháp lý để kinh tế tư nhân phát triển trên những định hướng ưutiên của Nhà nước, kể cả đầu tư ra nước ngoài; khuyến khích chuyển thànhdoanh nghiệp cổ phần, bán cổ phần cho người lao động, liên doanh liên kết
Trang 5với nhau, với kinh tế tập thể và kinh tế nhà nước Xây dựng quan hệ tốt giữachủ doanh nghiệp và người lao động”.
Trong nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 của Trung ương khoá IX (3 –2002) đã chỉ rõ : “kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nềnkinh tế quốc dân Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trongphát triển kinh tế nhiều thành phần định hướng XHCN”
2 Khái niệm và bản chất của kinh tế tư nhân
2.1 Khái niệm kinh tế tư nhân
Kinh tế tư nhân trước hết là một đơn vị kinh tế ngoài Nhà nước, quyền
sở hữu các doanh nghiệp này thuộc cá nhân, tổ chức (những người tham giagóp vốn), đăng ký kinh doanh và hoạt động theo quy định của pháp luật.Trong khuôn khổ pháp luật, chủ doanh nghiệp của tư nhân có quyền tự dokinh doanh và chủ động trong mọi hoạt động kinh doanh (trừ một số ngànhnghề mà pháp luật cấm sản xuất kinh doanh) và tự chịu trách nhiệm trướcpháp luật về hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Quyền sở hữu về tưliệu sản xuất, quyền thừa kế về vốn, tài sản và các quyền và lợi ích hợp phápkhác của chủ doanh nghiệp tư nhân, các thành viên công ty được Nhà nướcbảo hộ theo pháp luật
Ở nước ta hiện nay đang có nhiều cách lý giải khác nhau về kinh tế tưnhân : Có người cho kinh tế tư nhân đồng nghĩa với kinh tế tư bản tư nhân, cóngười lại đồng nhất kinh tế tư nhân với kinh tế ngoài quốc doanh Quan điểmhiện nay của Đảng Cộng sản Việt Nam nêu ở Hội nghị Trung ương 5 khoá IX(3 – 2002) : “kinh tế tư nhân gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và khuyến khích tưbản tư nhân hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hìnhdoanh nghiệp tư nhân…” Như vậy, do chưa có sự thống nhất chung nên đếnnay vẫn có thể hiểu khái niệm kinh tế tư nhân qua các cấp độ khác nhau :
Trang 6- Theo cấp độ khái quát nhất : kinh tế tư nhân là khu vực kinh tế nằmngoài quốc doanh (ngoài khu vực kinh tế nhà nước), bao gồm các doanhnghiệp trong và ngoài nước, trong đó tư nhân nắm trên 50% vốn đầu tư.
- Theo cấp độ hẹp hơn : kinh tế tư nhân gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ vàkinh tế tư bản tư nhân
Do có những quan niệm khác nhau về kinh tế tư nhân nên số liệu thống
kê về loại hình kinh tế này cũng rất khác nhau, khó theo một hệ thống nhấtquán theo các năm Nhưng có thể khái quát chung về khái niệm kinh tế tưnhân như sau :
Kinh tế tư nhân là loại hình kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệusản xuất và tương ứng với phương thức quản lý, phân phối phù hợp với hìnhthức sở hữu đó
2.2 Bản chất của kinh tế tư nhân
Bản chất của các thành phần kinh tế do quan hệ sở hữu tư liệu sản xuấtquyết định Kinh tế tư nhân dựa trên quan hệ sở hữu tư nhân về tư liệu sảnxuất, lợi ích cá nhân là động lực để các cá nhân hoạt động kinh tế, sản xuất vàkinh doanh Trong hình thức sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, mục đích củasản xuất hàng hoá không phải là sản xuất ra giá trị sử dụng mà thông qua giátrị sử dụng để thực hiện giá trị của hàng hoá và từ đó đạt được lợi nhuận Đểlàm được điều này, trước hết phải xác định rõ quan hệ hàng hoá, sau đó mớixác định quan hệ lợi ích được thực hiện trong hàng hóa Do quan hệ hàng hoáđược sản xuất ra từ các tư liệu sản xuất, nên muốn xác định quan hệ hàng hoáthì phải xác định được các quan hệ sản để sản xuất ra hàng hoá đó Quan hệ
sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất cơ bản đã đáp ứng điều này vì đặc trưngcủa quan hệ này là thừa nhận lợi ích cá nhân
Trong xã hội có giai cấp, ý thức về quyền sở hữu là thuộc tính của mỗicon người, con người chỉ cảm thấy thực sự có động cơ khi họ hoạt động “cho
Trang 7mình”, tức là vì lợi ích, trước hết là lợi ích cho chính bản than, sau đó mới vìcác mục đích khác Do đó, quyền sở hữu được coi là một quyền tự nhiên củacon người trong xã hội có giai cấp Kinh tế tư nhân ra đời từ rất sớm, từ khixuất hiện chế độ chiếm hữu nô lệ, và vẫn tồn tại và phát triển đến ngày naybởi đặc trưng về sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất.
Chủ doanh nghiệp của kinh tế tư nhân, chủ hộ kinh doanh cá thể lànhững người trực tiếp sở hữu vốn, tài sản, các quan hệ liên quan tới tài sảnnhư thế chấp, thuê mướn và các tranh chấp được giải quyết rõ ràng, sòngphẳng Doanh nghiệp của tư nhân gắn với sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuấtnên có thể truyền lại, thừa kế cho các thế hệ con cháu, kể cả kinh nghiệm,kiến thức kinh doanh và tạo ra động lực thúc đẩy phát triển hoạt động kinhdoanh Kinh tế tư nhân sở hữu vốn gắn với quản lý nên quan hệ giữa quyềnhạn, trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi gắn chặt với nhau, tạo ra tính chủ động,năng động trước thị trường, bộ máy quản lý gọn nhẹ,đơn giản
Mục đích hoạt động của kinh tế tư nhân là thu lợi nhuận tối đa; vốn, tàisản kinh doanh là của mình nên các chủ doanh nghiệp vừa phải thận trọngnhưng đồng thời cũng phải chớp thời cơ kinh doanh, không để mất cơ hội để
có thể kinh doanh thu lợi nhuận
3 Các loại hình kinh tế tư nhân
Kinh tế tư nhân được hình thành trên cơ sở sở hữu tư nhân về tư liệusản xuất Sở hữu tư nhân được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, đanxen nhau từ đó hình thành nhiều loại hình tổ chức kinh tế tư nhân khác nhau
Kinh tế tư nhân bao gồm : các hộ kinh doanh cá thể, tiểu chủ và doanhnghiệp tư nhân Luật doanh nghiệp đã được Quốc hội nước Cộng hoà XHCNViệt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 đã quy định việcthành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của các loại hình doanh nghiệp:
Trang 8- Công ty trách nhiệm hữu hạn : công ty trách nhiệm hữu hạn hai thànhviên trở lên và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
- Công ty cổ phần
- Công ty hợp danh
- Doanh nghiệp tư nhân
- Nhóm công ty
3.1 Các hộ sản xuất kinh doanh cá thể tiểu chủ
Địa bàn, ngành nghề hoạt động của loại hình này chủ yếu chuyên sảnxuất nông, lâm, ngư nghiệp có tính chất tự sản, tự tiêu, buôn bán nhỏ Chủyếu là sử dụng lao động của gia đình, quy mô nhỏ, vốn ít Nhưng hiện nay cómột số lượng lớn hộ sản xuất kinh doanh đang hoạt động nên có một vị tríquan trọng trong khu vực kinh tế tư nhân
Đối với một số hộ sản xuất kinh doanh ở quy mô lớn hơn như trangtrại, nuôi trồng thuỷ sản, … có thể thuê mướn thêm lao động
3.2 Công ty trách nhiệm hữu hạn
3.2.1 Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên
Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là doanh nghiệptrong đó :
- Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượtquá năm mươi
- Thành viên không chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sảnkhác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanhnghiệp
- Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định tạiđiều 43, 44 và 45 của Luật doanh nghiệp
Công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phần
Trang 93.2.2 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổchức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công
ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công tytrong phạm vi số vốn điều lệ của công ty
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được phát hành cổphần
3.3 Công ty cổ phần
Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó vốn điều lệ được chia thànhnhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; sốlượng cổ đông tối thiểu là 3 và không hạn chế sổ lượng tối đa Cổ đông chỉchịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệptrong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp và có quyền tự do chuyểnnhượng cổ phần của mình cho người khác
Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán để huy động vốn
3.4 Công ty hợp danh
Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó phải có ít nhất hai thànhviên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tênchung (gọi là thành viên hợp danh); ngoài các thành viên hợp danh có thể cóthành viên góp vốn Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệmbằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty Thành viên gópvốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn
đã góp vào công ty
Công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào
3.5 Doanh nghiệp tư nhân
Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tựchịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh
Trang 10Nhóm công ty bao gồm các hình thức sau :
- Công ty mẹ - công ty con
- Tập đoàn kinh tế
- Các hình thức khác
4 Tính tất yếu khách quan tồn tại và phát triển kinh tế tư nhân ở nước ta
Phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướngXHCN là một xu hướng tất yếu, một chủ trương đúng đắn và nhất quán củaĐảng Bởi vì :
- Trong xã hội có giai cấp, sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân luôn mangtrong nó một động lực mạnh mẽ - động lực cá nhân, một thuộc tính tồn tại lâudài với đời sống con người và xã hội loài người Việc theo đuổi lợi ích thiếtthân của bản thân con người trong thời đại hiện nay vẫn chưa thể mất đi, do
đó, nó đòi hỏi phải hình thành một cơ chế vừa có thể kích thích con người,vừa có thể thực hiện mục tiêu xã hội Đó chính là cơ chế thị trường cùng với
sự tồn tại khách quan của các hình thức sở hữu đa dạng, trong đó sở hữu tưnhân và tương ứng với nó là thành phần kinh tế tư nhân được coi là động lựcquan trọng của sự phát triển
Nếu so sánh đối chiếu với các hình thức sở hữu khác, thì các nhà kinh
tế học đã thừa nhận rằng, trong nền kinh tế thị trường, sở hữu tư nhân về tưliệu sản xuất là hình thức sở hữu phù hợp hơn cả Quan hệ sở hữu tư nhân về
Trang 11tư liệu sản xuất đã xác định được quan hệ hàng hoá, xác định được quan hệlợi ích được thực hiện trong hàng hoá bởi một đặc trưng chủ yếu của nền kinh
tế thị trường là thừa nhận lợi ích cá nhân Thực tế cho thấy, nếu không có sựgiao dịch, chuyển nhượng tài sản giữa các doanh nghiệp, giữa các cá nhân sảnxuất hàng hoá, thì cũng không có cạnh tranh về giá cả và thị trường theo đúngnghĩa của nó, do vậy, cũng không có nền kinh tế thị trường thực sự
- Sự xuất hiện và phát triển kinh tế tư nhân là một tất yếu khách quantrong tiến trình phát triển của xã hội loài người Kinh tế tư nhân dựa trên chế
độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, sở hữu tư nhân tồn tại cùng với sự pháttriển của lịch sử loài người Sự phân công lao động đã làm xuất hiện chế độ tưhữu, chế độ tư hữu đã tạo nên động lực cho con người trong việc tham giatrực tiếp vào các hoạt động kinh tế - xã hội, gắn bó họ với các hoạt động ấy và
sự quan tâm thường xuyên của họ tới việc tạo ra của cải vật chất và bảo vệthành quả lao động Ý thức về quyền sở hữu là thuộc tính của mỗi con người,con người chỉ cảm thấy có động cơ khi họ hoạt động vì lợi ích mà trước hết làlợi ích kinh tế của bản thân Nó đang tiếp tục phát huy tác dụng trong thời đạingày nay và sẽ còn tồn tại lâu dài trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
- Trong xã hội có giai cấp và trong nền kinh tế thị trường hiện nay, sựphát triển của lực lượng sản xuất không thể tách rời sự phát triển hài hoà giữahai khu vực kinh tế cơ bản bản : kinh tế Nhà nước và kinh tế tư nhân Kinh tếNhà nước và kinh tế tư nhân luôn gắn bó chặt chẽ, mật thiết với nhau, tạođiều kiện để cùng tồn tại và phát triển Kinh tế Nhà nước nắm giữ một số lĩnhvực, ngành nghề quan trọng nhất của nền kinh tế, phần còn lại kinh tế tư nhân
có nhiệm vụ phát triển tương xứng với tầm vóc và vị trí của mình Kinh tếNhà nước đảm bảo sự phát triển ổn định nền kinh tế, thực hiện công bằng xãhội ở những lĩnh vực mà kinh tế tư nhân không tham gia hoặc không muốntham gia, giữ vững ổn định chính trị xã hội Kinh tế tư nhân và kinh tế Nhà
Trang 12nước có vai trò, vị trí và chức năng đặc thù trong một cơ cấu phát triển chung,
vì thế chúng không thể thay thế nhau, không lấn át nhau Vì vậy, nền kinh tếchỉ có thể đạt được các mục tiêu tăng trưởng cao, lâu dài và ổn định khi haikhu vực kinh tế đó hỗ trợ, bổ sung cho nhau để thực hiện chức năng riêng củamình trong một hệ thống phát triển chung Ở nước ta hiện nay, trong mốiquan hệ giữa kinh tế Nhà nước và kinh tế tư nhân, kinh tế Nhà nước giữ vaitrò chủ đạo, quyết định bản chất và định hướng cho sự phát triển của toàn bộnền kinh tế, còn kinh tế tư nhân là “chỗ dựa thiết yếu”, “có vai trò quan trọng,
là một trong những động lực của nền kinh tế”
Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin đã khẳng định sự tồn tại của kinh
tế tư nhân là một tất yếu khách quan trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
và việc cải tạo thành phần kinh tế này là một trong những nhiệm vụ kinh tế tưbản, lâu dài của cả thời kỳ quá độ Thực tiễn cho thấy, việc phát triển kinh tế
tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một chủtrương đúng đắn và nhất quán của Đảng ta dựa trên cơ sở khoa học, phù hợpvới quy luật kinh tế khách quan, là sự vận dụng một cách tạo chủ nghĩa Mác –Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của đất nước Phát triểnkinh tế tư nhân ở nước ta hiện nay là một tất yếu khách quan vì những lý do :
Thứ nhất : Khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành đượcchính quyền và bước vào xây dựng xã hội mới thì đòi hỏi cấp bách và kháchquan là từng bước xây dựng cơ sở kinh tế - xã hội của chế độ mới Bên cạnhkinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể được hình thành trên cơ sở chế độ sở hữu
xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất thì còn tồn tại một lực lượng rất lớn kinh
tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân
Thứ hai : Việt Nam bước vào thời kỳ quá độ từ một nước thuộc địa nửaphong kiến, sản xuất nông nghiệp lạc hậu Sự chênh lệch giữa các vùng, cácngành và trong nội bộ từng vùng về tính chất, trình độ phát triển của lực
Trang 13lượng sản xuất không phải là nhỏ Sự tồn tại kinh tế cá thể của nông dân, thợthủ công, của những người làm dịch vụ, buôn bán nhỏ và một bộ phận nhỏkinh tế tự nhiên, tự cung, tự cấp của một bộ phận dân cư ở vùng núi cao Nhưvậy, phát triển kinh tế tư nhân là điều kiện cần và đủ để thúc đẩy kinh tế cáctỉnh, vùng và kinh tế cả nước phát triển
Thứ ba : Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, tiềm lực và khảnăng của các thành phần kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể chưa đủ mạnh để
có thể đảm đương được việc đáp ứng nhu cầu xã hội Kinh tế tư nhân đã vàđang tiếp tục chứng tỏ vai trò động lực của nó đối với sự phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước
Thứ tư : Sự phát triển của kinh tế tư nhân trong hơn 20 năm đổi mớivừa qua đã đóng góp không nhỏ vào việc giải quyết các vấn đề kinh tế xã hộicủa đất nước Kinh tế tư nhân đã góp phần giải quyết một lượng rất lớn công
ăn việc làm, huy động, khai thác các nguồn lực của đất nước, thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế, phát triển đất nước, đảm bảo ổn định và cải thiện đời sống củađại bộ phận dân cư và ổn định chính trị - xã hội của đẩt nước
Như vậy, nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội tồn tạinhiều thành phần kinh tế trong đó kinh tế tư nhân tồn tại và phát triển là mộttất yếu khách quan
5 Vai trò của kinh tế tư nhân ở nước ta
Kinh tế tư nhân ngày càng chứng tỏ vai trò của nó, trở thành một đốichứng hiện thực năng động để các khu vực kinh tế khác phấn đấu vươn lên,
tự đổi mới, tự hoàn thiện và nâng cao hiệu quả trong nền kinh tế thị trường.Kinh tế tư nhân được coi là một trong những bộ phận cấu thành quan trọngcủa nền kinh tế quốc dân, được đối xử và hoạt động bình đẳng như các khuvực kinh tế khác
Trang 14Từ khi thực hiện đường lối đổi mới, kinh tế tư nhân có điều kiện pháttriển với nhiều hình thức và quy mô khác nhau với hàng chục ngàn doanhnghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần,… ra đời vàhoạt động trong các tất cả các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, thươngmại, dịch vụ,… Đặc biệt là từ khi Quốc hội ban hành luật doanh nghiệp tưnhân và luật công ty (1990), kinh tế tư nhân có bước phát triển rất nhanhchóng Sự xuất hiện ngày càng nhiều chủ thể sản xuất, kinh doanh thuộc khuvực kinh tế tư nhân trong tất cả các lĩnh vực, các ngành sản xuất, kinh doanh
đã đẩy lùi tình trạng độc quyền, làm cho sản xuất hàng hoá phát triển, thịtrường được mở rộng, các quy luật kinh tế thị trường phát huy được tác dụng,đẩy lùi cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp vốn đã ăn sâu trong tiềmthức xã hội Thông qua việc phát triển kinh tế tư nhân mà quyền làm chủ củanhân dân, trước hết là quyền làm chủ về kinh tế được phát huy Kinh tế tưnhân là “chỗ dựa thiết yếu”, “có vai trò quan trọng, là một trong những độnglực của nền kinh tế” Sở dĩ kinh tế tư nhân có vai trò như vậy là vì những lý
Trang 15Thứ hai, kinh tế tư nhân tạo ra động lực mạnh mẽ, đóng góp ngày cànglớn vào ngân sách Nhà nước, tham gia tích cực và hiệu quả trong việc thựchiện các mục tiêu xã hội
Đóng góp của kinh tế tư nhân vào ngân sách Nhà nước ngày càng nhiềuhơn, từ 6% năm 2000 lên trên 7,5% năm 2005 Ngoài ra, kinh tế tư nhân đãgóp phần tăng nguồn thu ngân sách như thuế môn bài, thuế VAT trong nhậpkhẩu và các loại phí khác Kinh tế tư nhân phát triển là nhân tố quan trọnglàm kích thích và làm sống động đời sống kinh tế đất nước, tạo áp lực cạnhtranh, thúc đẩy các doanh nghiệp Nhà nước đổi mới hoạt động kinh doanh
Thứ ba, ở Việt Nam, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, kinh tế
tư nhân đã và đang từng bước khẳng định vị trí “chỗ dựa thiết yếu” của nótheo đúng quy luật của nền kinh tế thị trường Nó đã thực sự trở thành một bộphận của kinh tế dân doanh Kinh tế tưu nhân đang có cơ hội phát triển mạnh
mẽ cả về bề rộng lẫn chiều sâu, cả về quy mô số lượng lẫn chất lượng
Khu vực kinh tế tư nhân chính là nơi thu hút, tạo việc làm cho xã hội :tạo ra khoảng 2 triệu chỗ làm mới Sự phát triển của kinh tế tư nhân không chỉtạo ra việc làm mà còn góp phần thúc đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu laođộng vốn đang mất cân đối và góp phần đáng kể vào tăng trưởng kinh tế vàxoá đói giảm nghèo
Thứ tư, kinh tế tư nhân góp phần quan trọng tạo môi trường kinh doanhbình đẳng, đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Quá trình hội nhậpkinh tế của Việt Nam sẽ không thực hiện được nếu không có sự tham gia củakinh tế tư nhân Bên cạnh đó, kinh tế tư nhân phát triển sẽ thúc đẩy sự pháttriển của các thị trường : thị trường hàng hoá và dịch vụ, thị trường lao động,thị trường vốn, thị trường công nghệ, thị trường bất động sản
Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của kinh tếđất nước, thúc đẩy quá trình quá độ đi lên xã hội chủ nghĩa ở nước ta Vì vậy,
Trang 16trong nghị quyết đại hội lần thứ IX, Đảng ta khẳng định : tiếp tục thực hiệnnhất quán chủ trương phát triển mạnh các thành phần kinh tế, xoá bỏ mọi sựphân biệt đối xử theo hình thức sở hữu, tạo môi trường đầu tư, kinh doanhbình đẳng, minh bạch, thông thoáng và thuận lợi hơn, ổn định chính sách, bảođảm quyền của mọi người dân được tự do kinh doanh trong những ngànhnghề mà pháp luật không cấm.
Sự phát triển của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa là sản phẩm gắn liền với chủ trương đúng đắn củaĐảng về phát triển kinh tế nhiều thành phần Những thành tựu kinh tế quantrọng đạt được qua 20 năm đổi mới đất nước là bằng chứng sinh động, xácnhận một cách thuyết phục sự khởi sắc của nền kinh tế nói chung và triểnvọng tiềm tàng của kinh tế tư nhân nói riêng Bởi vậy, có thể nói, đối vớinước ta trong giai đoạn hiện nay, phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề có ýnghĩa chiến lược, lâu dài trong tiến trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa Đây có thể coi là một trong nhữngnhiệm vự quan trọng của công cuộc đổi mới của đất nước trong những nămsắp tới
II – Các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển kinh tế tư nhân của tỉnh Thái Bình
1 Các chính sách và biện pháp hỗ trợ của Nhà nước
1.1.Nhà nước xây dựng khung pháp luật, ban hành các chính sách khuyến khích sự phát triển của kinh tế tư nhân
Việc Nhà nước ban hành Luật công ty, Luật doanh nghiệp tư nhân năm
1990 là cơ sở pháp lý đầu tiên cho việc hình thành và phát triển khu vực kinh
tế tư nhân; năm 1999, Quốc hội thông qua Luật doanh nghiệp, luật này quyđịnh việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của các loại hình doanhnghiệp, luật này được sửa đổi, bổ sung vào năm 2005 Quốc hội khoá X, kỳ
Trang 17họp thứ 10 Luật doanh nghiệp (1999) đánh một dấu mốc quan trọng trongnhững nỗ lực của Nhà nước nhằm tạo điều kiện cho khối kinh tế tư nhân pháttriển Luật đã chế hoá và hiện thực hoá quyền tự do kinh doanh bao gồmquyền tự do lựa chọn loại hình doanh nghiệp, tự do thành lập doanh nghiệp,
tự do tổ chức quản lý, tự do lựa chọn quy mô, địa bàn, ngành nghề, trừ một sốngành nghề bị cấm theo quy định của pháp luật Luật doanh nghiệp (2005)tiếp tục củng cố thành quả và hoàn thiện thêm một bước luật doanh nghiệp(1999) bằng việc xoá bỏ một cách cơ bản các phân biệt và khác biệt trongquản lý giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, tạomột mặt bằng pháp lý cho các doanh nghiệp và bổ sung các quy định bảo vệcác nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nhỏ, và các quy định về quản lý củaNhà nước đối với doanh nghiệp
Ngoài việc ban hành các bộ luật, Nhà nước còn có các chính sách hỗtrợ phát triển kinh tế tư nhân
- Cải cách thủ tục hành chính tạo điều kiện cho các doanh nghiệp gianhập thị trường
Nghị quyết 38/CP của Chính phủ ngày 4/5/1994 về việc cải cách mộtbước thủ tục hành chính trong việc giải quyết công việc của công dân và đãxác định “thành lập doanh nghiệp và đăng ký kinh doanh” là một lĩnh vực ưutiên cải cách Đến năm 1998, một số cải cách đơn giản hoá thủ tục thành lập
và đăng ký kinh doanh đã được thực hiện Luật doanh nghiệp (1999) đã cóthay đổi mang tính đột phá là xoá bỏ thủ tục xin phép thành lập doanh nghiệpkéo theo sự xoá bỏ hơn 150 giấy phép kinh doanh và đơn giản hoá tối đa thủtục đăng ký kinh doanh
- Chính sách thuế
Hệ thống chính sách thuế từng bước được áp dụng thống nhất và bìnhđẳng với tất cả các thành phần kinh tế trong đó có kinh tế tư nhân, tạo ra cơ sở
Trang 18hạ tầng pháp lý của môi trường kinh doanh, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh,đảm bảo bình đẳng về nghĩa vụ thuế giữa các thành phần kinh tế và phù hợpvới cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước.
Trong số các luật thuế được ban hành từ năm 1986 đến nay thì Luậtthuế giá trị gia tăng và Luật thuế thu nhập doanh nghiệp được coi là có ảnhhưởng lớn đối với doanh nghiệp, công ty tư nhân Ngoài ra còn kể đến cácchính sách ưu đãi thuế trong Luật khuyến khích đầu tư tư nhân (1994) và Luậtkhuyến khích đầu tư tư nhân sửa đổi năm 1998 Đó là các chính sách về :miễn, giảm thuế sử dụng đất; miễn thuế nhập khẩu; ưu đãi thuế thu nhậpdoanh nghiệp đối với các dự án thuộc diện khuyến khích đầu tư
- Chính sách tín dụng
Các cải cách trong lĩnh vực ngân hàng đã góp phần khơi thông nguồntín dụng cho khu vực kinh tế tư nhân Năm 1990, hai pháp lệnh về ngân hàng
ra đời, pháp lệnh về ngân hàng Nhà nước và ngân hàng thương mại, hợp tác
xã tín dụng và công ty tài chính Đối với tín dụng đầu tư phát triển của Nhànước, Quỹ hỗ trợ phát triển cung cấp tín dụng của Nhà nước hỗ trợ cho các dự
án đầu tư của các thành phần kinh tế thuộc một số ngành, lĩnh vực cần khuyếnkhích đầu tư theo quy định của Chính phủ Từ năm 1999, theo nghị định43/1999/NĐ-CP về tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, hình thức cấpnguồn vốn đầu tư phát triển đựơc chuyển sang cho vay
- Chính sách đất đai
Luật đất đai được xây dựng ngày 14/7/1993 và đến nay đã được sửa đổi
ba lần Ngoài ra, các quy định về ưu đãi, hỗ trợ đất đai và cơ sở hạ tầng cònđược quy định nhiều trong Luật khuyến khích đầu tư tư nhân, quy định một sốhình thức hỗ trợ của Nhà nước cho nhà đầu tư như : công bố công khai quyhoạch sử dụng đất, xây dựng các khu công nghiệp với quy mô vừa và nhỏ ở
Trang 19các địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, xây dựng các công trình hạtầng ngoài hàng rào khu công nghiệp, khu chế xuất.
Thực hiện các biện pháp hỗ trợ, ưu đãi miễn giảm tiền thuê đất, tiền sửdụng đất, thuế sử dụng đất cho nhà đầu tư
- Chính sách hỗ trợ phát triển kinh doanh
Nghị định 90/2001/NĐ-CP của Chính phủ về hỗ trợ phát triển doanhnghiệp, theo nghị định này, các đơn vị kinh doanh trong nước có đăng ký kinhdoanh, không tính đến sở hữu Nhà nước hay tư nhân, có vốn đăng ký dưới 10
tỷ đồng, có số lao động thường xuyên không quá 300 lao động sẽ được hưởngnhững chính sách hỗ trợ Sự hỗ trợ sẽ được thực hiện thông qua nhiều chươngtrình khác nhau
1.2 Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, tạo môi trường cho khu vực kinh
tế tư nhân hoạt động
Nước ta đã tiến hành xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, tạo nềntảng cho kinh tế tư nhân phát triển
- Xây dựng các khu công nghiệp nhỏ và vừa, hình thành cụm côngnghiệp địa phương tạo điều kiện cho doanh nghiệp khu vực kinh tế tưnhân có mặt bằng đầu tư kinh doanh
- Xây dựng hệ thống giao thông vận tải : đường bộ, đường thuỷ, đườngkhông trong cả nước tạo điều kiện cho giao lưu kinh tế giữa các tỉnhtrong nước
- Đào tạo nguồn lao động đáp ứng cho nhu cầu lao động của nền kinh tế.Với việc thi hành Luật doanh nghiệp và hàng loạt các biện pháp cảicách khác, môi trường kinh doanh ở nước ta trong mấy năm gần đây đã cónhững cải thiện quan trọng theo hướng mở rộng quyền tự do kinh doanh củangười dân trên nguyên tắc doanh nghiệp và người dân được tự do kinh doanhtất cả các lĩnh vực mà pháp luật không cấm, khuyến khích người dân làm ăn,
Trang 20kinh doanh làm giàu cho mình và cho đất nước, khuyến khích mọi doanhnghiệp tham gia các ngành xuất khẩu, chú trọng hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ
và vừa… Chính trong môi trường đó, khu vực kinh tế tư nhân và đặc biệt làdoanh nghiệp tư nhân đã nhanh chóng phát triển cả về số lượng và chất lượng,đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội của đất nướctrên các mặt : tạo công ăn việc làm, tăng vốn đầu tư phát triển, mở rộng xuấtkhẩu, thúc đẩy tăng trưởng các ngành kinh tế công nghiệp, nông nghiệp, dịch
vụ, thúc đẩy phát triển các thị trường, đổi mới kinh tế và hành chính…
1.3 Thực hiện quản lý Nhà nước đối với kinh tế tư nhân
Phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa là một xu thế khách quan Tuy nhiên, để đưa kinh tế tư nhânphát triển đúng quỹ đạo, đúng định hướng xã hội chủ nghĩa lại là một nhiệm
vụ hết sức phức tạp, lâu dài và khó khăn Kinh tế tư nhân chỉ có thể phát triểnđúng định hướng xã hội chủ nghĩa khi Đảng và Nhà nước có chính sách vàbiện pháp quản lý phù hợp, không làm mất động lực phát triển của nó, nhưngcũng không để nó vận động một cách tự phát, ngoài vòng pháp luật Nếukhông đảm bảo sự phát triển hài hoà, cân đối giữa các thành phần kinh tế cóthể dẫn đến những hệ quả về chính trị và xã hội khó lường
Để nền kinh tế nhiều thành phần, nhất là kinh tế tư nhân phát triển đúngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước phải vận dụng các công cụ về kinh tế,pháp luật để quản lý
Nhà nước ban hành các bộ Luật, nghị định và các quy định… để hướngdẫn, tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân phát triển Các luật như : Luật doanhnghiệp, luật cạnh tranh, luật thương mại, luật đất đai, …
2 Sự mở rộng và giao lưu kinh tế đất nước là điều kiện cho các doanh nghiệp tư nhân trong tỉnh phát triển
Sự nghiệp đổi mới, trong đó có đổi mới kinh tế, mở rộng giao lưu kinh
Trang 21tế giữa các vùng, miền trong cả nước tạo điều kiện cho phát triển kinh tế, kinh
tế tư nhân có cơ hội phát triển và nở rộ
Khu vực kinh tế tư nhân phát triển nhanh chóng trong thời gian qua còn
do một nguyên nhân khác, đó là do tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của đấtnước, khởi đầu từ khi đất nước đổi mới, mở cửa nền kinh tế, và đặc biệt pháttriển từ giữa thập kỷ 1990, khi nước ta lần lượt tham gia ASEAN, ASEM,APEC và không ngừng mở rộng quan hệ song phương với các nước khác trênthế giới Thị trường các nước mở rộng dần cho các sản phẩm của Việt Nam
đã tạo cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam, trong đó có kinh tế tư nhânphát triển sản xuất, kinh doanh các sản phẩm của mình trên thị trường khuvực và quốc tế Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh thị trường trongnước còn hạn hẹp do tình trạng nước nghèo, mức thu nhập và khả năng tiêudùng còn thấp, các doanh nghiệp còn thiếu đầu ra Các quan hệ thương mại vàđầu tư rộng mở cũng tạo cho doanh nghiệp Việt Nam cơ hội có các đối táclàm ăn, cơ hội học hỏi kinh nghiệm quản lý, tiếp thu công nghệ của họ, đàotạo nguồn nhân lực cho mình và trưởng thành dần qua hợp tác và cạnh tranh
Khi nước ta tham gia WTO, các cơ hội này lại càng mở rộng, nhữngrào cản sẽ được dỡ bỏ, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có vị trí bình đẳng,không bị phân biệt đối xử trên thị trường các nước Họ sẽ có quyền không chỉxuất nhập khẩu, tiếp nhận đầu tư, mà còn mở rộng nhiều phương thức hợp táckhác và đầu tư ra thị trường nước ngoài, khai thác tối đa những lợi thế cạnhtranh của mình và vận dụng sự phân công lao động quốc tế, tham gia mạnglưới kinh doanh và chuỗi giá trị toàn cầu theo cách có lợi nhất cho mình.Tham gia WTO cũng thúc đẩy nước ta cải thiện mạnh mẽ môi trường pháp lý,chính sách cho kinh doanh, tạo thuận lợi cho cạnh tranh và phát triển của mọidoanh nghiệp
Trang 223 Lực lượng lao động
Thái Bình là một tỉnh đông dân với dân số là 1.850 ngàn người(năm2005), chiếm 2,23% so với dân số cả nước, dân số tăng bình quân mỗi nămkhoảng 14 nghìn người nên lượng lao động bổ sung hàng năm của tỉnh rấtlớn, khoảng 19.000 người mỗi năm Số người trong độ tuổi lao động là 1.073ngàn người, trong đó, lao động trong khu vực nông lâm nghiệp chiếm 74,3%,công nghiệp và xây dựng chiếm 17%, khu vực dịch vụ thương mại chiếm8,7%
Với lực lượng lao động dồi dào, giá nhân công rẻ là thuận lợi rất lớnvới các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cácmặt hàng sử dụng nhiều lao động
Nguồn lao động đã qua đào tạo trong tỉnh là một ưu thế, giúp các doanhnghiệp không phải mất công đào tạo lao động, tiết kiệm thời gian và chi phícho doanh nghiệp, đẩy nhanh được quá trình sản xuất Lao động qua đào tạocủa tỉnh chiếm 23,5% lực lượng lao động toàn tỉnh Trong đó, công nhân kỹthuật và nghiệp vụ chiếm 13,5%; trung học chuyên nghiệp chiếm 5,5%; caođẳng, đại học và trên đại học chiếm 4,5%
4 Sự tồn tại và phát triển của các nghề và làng nghề truyền thống
Thái Bình là tỉnh có nhiều nghề và làng nghề truyền thống Tính đếncuối năm 2005, toàn tỉnh có 173 làng nghề, trong đó 162 làng nghề được cấpbằng công nhận, 11 làng nghề đạt tiêu chuẩn, 100% số xã có nghề Thái Bìnhnổi tiếng với các nghề truyền thống như : chạm bạc, dệt vải, dệt khăn, dệtchiếu, mộc mỹ nghệ, đúc đồng, thêu … Năm 2008, toàn tỉnh hiện có 219làng nghề đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh cấp bằng công nhận các làng nghề
đã tạo việc làm cho khoảng 168.000 lao động có thu nhập tương đối ổn định
Sự tồn tại của các nghề và làng nghề truyền thống là một điều kiệnthuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển Trước đây, các hộ gia đình chỉ sản
Trang 23xuất nhỏ lẻ, sản phẩm sản xuất ra chủ yếu tiêu thụ ở thị trường nội tỉnh và cáctỉnh lân cận Trong bối cảnh nền kinh tế đất nước đang mở cửa, sự hợp tácgiao lưu giữa các vùng kinh tế trong nước và với nước ngoài, các hộ gia đình
có điều kiện rất thuận lợi khi chuyển từ sản xuất manh mún sang sản xuấthàng hoá tập trung, bởi thị trường tiêu thụ sản phẩm đã được mở rộng trong
cả nước và cả với nước ngoài, sản phẩm hàng hoá đã được biết đến từ lâu đời
III - Những đóng góp của kinh tế tư nhân đối với sự phát triển kinh tế của tỉnh Thái Bình
Sự vận động phát triển của khu vực kinh tế tư nhân ở Thái Bình trêncác lĩnh vực nông lâm thuỷ sản, công nghiệp và xây dựng, thương mại - dịch
vụ gắn liền với nhịp độ phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Kinh tế tư nhân ở tỉnh Thái Bình đã đạt được những thành quả to lớn,
có thể khẳng định đây là lực lượng kinh tế có vị trí, vai trò quan trọng trong
sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
1 Kinh tế tư nhân góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, tăng nguồn thu ngân sách của tỉnh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cùng với kinh tế Nhà nước, khu vực kinh tế tư nhân có những bướcphát triển khá, hiện nay ở tỉnh có 2.114 doanh nghiệp và hàng trăm tổ hợp tác,làng nghề truyền thống… thực sự vẫn là khu vực đầy tiềm năng, năng động,
có ý nghĩa quan trọng trong việc khai thác nguồn lực, tiền vốn, sản xuất nhiềusản phẩm hàng hoá, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu Với số lượngdoanh nghiệp lớn và nhiều loại hình đa dạng phong phú, kinh tế tư nhân đãgóp phần đáng kể vào sự tăng trưởng nền kinh tế của tỉnh và đóng góp tíchcực cho Ngân sách Nhà nước, hàng năm chiếm tỷ trọng cao trong các ngànhkinh tế của tỉnh
Trong những năm qua, kinh tế tư nhân đóng góp với tỷ trọng khá lớnvào sự ổn định trong GDP Kinh tế tư nhân đóng góp gần 80% trong tổng
Trang 24GDP của các thành phần kinh tế trong sản xuất công nghiệp toàn tỉnh vàchiếm gần 45% GDP toàn tỉnh
Sự phát triển của kinh tế tư nhân sẽ thúc đẩy các ngành sản xuất pháttriển, góp phần mở mang nhiều ngành nghề và lưu thông hàng hoá, sản phẩmngày càng đa dạng, phong phú, góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế củatỉnh
2 Kinh tế tư nhân đã huy động được ngày càng nhiều nguồn vốn trong xã hội đầu tư vào sản xuất kinh doanh
Với đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần, đa dạng hoá các loạihình sản xuất kinh doanh nên khu vực kinh tế tư nhân ở tỉnh ta đã huy độngđược lượng vốn lớn trong dân và tận dụng được các nguồn vốn khác để đưavào quá trình chu chuyển và khai thác khả năng tiềm ẩn tạo ra được nhiều sảnphẩm hàng hoá có giá trị trong nước và xuất khẩu như : các loại vải, khănmặt, phụ tùng xe đạp, xe máy, các mặt hàng thủ công mỹ nghệ,…
Vốn đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân ngày càng được tăng thêm từnhiều nguồn : tự huy động trong dân, huy động vốn đầu tư từ các tỉnh khác,vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài…
Tổng số vốn đăng ký kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc thànhphần kinh tế tư nhân đến cuối năm 2008 là 11.668 tỷ đồng, tăng gấp 7,7 lấn sovới năm 2005 Số vốn đầu tư của các hộ kinh doanh cá thể là 839.930 triệuđồng
3 Kinh tế tư nhân phát triển đã giải quyết việc làm, tăng thu nhập và
ổn định đời sống cho người lao động
Hiện nay, lao động làm việc trong khu vực kinh tế tư nhân chiếm tớihơn 90% tổng số lao động đang làm việc tại các khu vực kinh tế trongtỉnh.Kinh tế tư nhân đã thu hút được trên 300.000 lao động ,ngoài ra còn tạoviệc làm cho trên 150 ngàn lao động vệ tinh, lao động ở các làng nghề Kinh
Trang 25tế tư nhân đã chuyển một bộ phận lao động trong nông nghiệp sang khu vựccông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, tạo sự phân công, phân bổ cơcấu lao động một cách hợp lý giữa các ngành kinh tế
Kinh tế tư nhân đã giúp cải tạo được thu nhập cho người lao động trongtỉnh Trước đây thu nhập trung bình của người lao động trong tỉnh là từ 250 –
350 ngàn đồng/người/tháng Thu nhập bình quân của người lao động hiện nay
đề kinh tế - xã hội của tỉnh trong những năm qua
4.Kinh tế tư nhân đã khơi dậy và thúc đẩy sự phát triển các tiềm năng sẵn có của tỉnh
Kinh tế tư nhân không những thúc đẩy phát triển nông nghiệp, côngnghiệp, đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với xu thế pháttriển của nền kinh tế thị trường, mà còn là chất “xúc tác” kích thích, khơi dậytiềm năng thế mạnh, đưa hoạt động của trên 100 làng nghề, xã nghề trở thànhnhững trung tâm trong việc phát triển kinh tế, thu hút và giải quyết việc làmcho nhiều lao động
Kinh tế tư nhân còn tận dụng được nguồn lao động sẵn có và dồi dàocủa tỉnh Với lực lượng lao động đông, lượng lao động được bổ sung thêmhàng năm lớn, sự phát triển của kinh tế tư nhân đã tạo ra rất nhiều chỗ làmviệc mới cho người lao động, giảm sức ép về dân số và lao động ở tỉnh
Trang 26Sự phát triển của kinh tế tư nhân còn giúp khai thác được những tiềmnăng sẵn có về du lịch, tài nguyên khoáng sản…
5 Góp phần công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn ở tỉnh
Kinh tế tư nhân phát triển đã tác động tới các ngành sản xuất khác, thúcđẩy sản xuất nông nghiệp phát triển, làm cầu nối giữa nông nghiệp tới thịtrường tiêu thụ sản phẩm trong và ngoài nước
Khi kinh tế tư nhân mở rộng và phát triển đã thu hút một lượng lớn laođộng từ nông nghiệp chuyển sang, lượng lao động dư thừa trong nông nghiệp
sẽ giảm, cùng với sự phát triển của công nghiệp, nông nghiệp có thể đưa cácứng dụng của công nghiệp vào trong sản xuất giúp tăng năng suất, chất lượngtrong nông nghiệp
Như vậy, sự phát triển của kinh tế tư nhân đã đóng góp quan trọng vào
sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế xã hội của tỉnh, như huy độngđược nhiều nguồn vốn đầu tư với số lượng lớn vào sản xuất kinh doanh, gópphần nâng cao sức sản xuất của xã hội, tạo thêm nhiều việc làm mới chongười lao động, thúc đẩy sự hình thành và phát triển các loại thị trường, làmtăng sức cạnh tranh của hàng hoá, tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng giữa cácthành phần kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh, vừa góp phần tạo nêntốc độ tăng trưởng kinh tế cao, vừa tham gia giải quyết các vấn đề xã hội…Nhờ vậy, đã khơi dậy và phát huy được tiềm năng về vốn, đất đai, lao động,kinh nghiệm sản xuất của các tầng lớp nhân dân vào công cuộc công nghiệphoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn ở tỉnh và công cuộc công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước Chính vì những lý do đó, có thể khẳng định, sựphát triển của kinh tế tư nhân đã góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá,hiện đại hoá
Trang 27
Chương 2 : Thực trạng hoạt động của khu vực kinh tế tư nhân ở
tỉnh Thái Bình
I - Đặc điểm kinh tế xã hội tỉnh Thái Bình
1 Giới thiệu khái quát về tỉnh Thái Bình
1.1 Vị trí địa lý
Thái Bình là một tỉnh đồng bằng ven biển, nằm ở phía nam châu thổsông Hồng với diện tích 1.647,7km2 Phía bắc giáp tỉnh Hưng Yên, HảiDương và thành phố Hải Phòng; phía tây và tây nam giáp tỉnh Nam Định và
Hà Nam; phía đông giáp vịnh Bắc Bộ; và là một tỉnh đồng bằng có địa hìnhtương đối bằng phẳng với độ dốc nhỏ hơn 1% Toàn tỉnh có 01 thành phố, 7huyện, trong đó có 284 xã, phường, thị trấn
Thái Bình nằm trong vùng ảnh hưởng trực tiếp của tam giác tăngtrưởng : Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Đây là một thuận lợi lớn trongviệc giao lưu kinh tế với các trung tâm kinh tế lớn của nước
Thái Bình nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa : mùa nóng, mưa nhiều từtháng 5 đến tháng 10; mùa lạnh, khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 nămsau Nhiệt độ trung bình trong năm là 23 – 24 0C (thấp nhất là 40C và cao nhất
là 390C) Lượng mưa trung bình từ 1.500mm – 1.900mm Độ ẩm trung bìnhhàng năm vào khoảng 85 – 90% Thời tiết vào mùa nóng luôn có những ngàydịu mát do ảnh hưởng của khí hậu biển Điều kiện khí hậu thích hợp với câynhiệt đới vốn rất đa dạng, vào mùa đông cho phép phát triển nhiều loại raumàu có giá trị kinh tế cao
Ngoài ra, tỉnh nằm ở hạ lưu sông Hồng,có đường biển và hệ thống sôngngòi thuận lợi cho việc giao thông bằng đường thuỷ Thái Bình được bao bọc
Trang 28bởi hệ thống sông biển khép kín, có bờ biển dài trên 50 km và có 4 sông lớnchảy qua địa phận của tỉnh : sông Hoá, sông Luộc, hạ lưu của sông Hồng,sông Trà Lý
1.2 Dân số và nguồn nhân lực
Thái Bình là một tỉnh đông dân, là một trong những tỉnh có mật độ dân
số cao nhất trong cả nước nhưng đại đa số là sống ở nông thôn Năm 2005,dân số trung bình của Thái Bình là 1.850 ngàn người, chiếm 9,85% so với dân
số vùng đồng bằng sông Hồng và khoảng 2,23% so với dân số của cả nước.Mật độ dân số trung bình là 1.196,7 người/km2, gấp 1,32 lần so với đồng bằngsông Hồng và 3,6 lần so với cả nước, bình quân nhân khẩu là 3,75 người/hộ;
tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên là 1,02%
Biểu đồ thể hiện tỷ lệ dân số giữa nam và nữ của
tỉnh Thái Bình năm 2005
nam nữ
Biểu đồ thể hiện tỷ lệ dân số giữa nông thôn và thành thị của tỉnh Thái Bình năm
2005
dân số nông thôn dân số thành thị
Trang 29Do dân số Thái Bình vẫn còn tăng ở mức cao so với yêu cầu của pháttriển kinh tế - xã hội, nên nguồn lao động của Thái Bình hàng năm cũng được
bổ sung và tăng lên khá nhanh (khoảng 19.000 người) từ các nguồn: bộ độihết nghĩa vụ, học sinh tốt nghiệp phổ thông không đủ điều kiện học tiếp vàođại học, trung học chuyên nghiệp, số học sinh học nghề, cao đẳng, đại học tổtnghiệp về tỉnh làm việc
Bảng : Số người trong độ tuổi lao động ở Thái Bình qua các năm
Bảng : Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo so với tổng số lao động qua
các năm
Đơn vị : %
Nguồn : Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thái Bình
Trang 30Năm 2005, lao động làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân chiếmkhoảng 94% số người trong độ tuổi lao động, trong đó lao động khu vực quốcdoanh chiếm tỷ trọng 4,73%; lao động ngoài quốc doanh chiếm 95,27% Tỷ lệlao động được đào tạo đã tăng qua các năm, năm 2005 đạt 30%.
Theo các kết quả điều tra thống kê thì số lao động được giải quyết việclàm bình quân trong giai đoạn 2001 – 2005 khoảng 22.400 người/năm; tỷ lệlao động chưa có việc làm đến năm 2005 khoảng 5%
Như vậy, Thái Bình là một tỉnh đông dân,lượng lao động dồi dào,hàngnăm lại được bổ sung thêm một lượng lớn lao động, đây là một thuận lợinhưng cũng gây nên áp lực rất lớn về giải quyết việc làm Trình độ của laođộng chưa cao nên ưu tiên phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động thủcông
1.3 Tài nguyên thiên nhiên
Thái Bình là một tỉnh đồng bằng ven biển, trong lòng đất vùng ven biển
có nguồn tài nguyên khí đốt Mỏ khí Tiền Hải khai thác từ năm 1981 với sảnlượng bình quân cung cấp mỗi năm hàng chục triệu m3 khí thiên nhiên Lượngkhí này khai thác chủ yếu phục vụ cho phát triển công nghiệp sản xuất đồ sứtráng men, vật liệu xây dựng ở khu công nghiệp Tiền Hải
Mỏ nước khoáng Tiền Hải với sản lượng khai thác hàng năm khoảnghơn 10 triệu lít đã được thị trường trong và ngoài nước biết đến với nhãn hiệunước khoáng Vital, nước khoáng Tiền Hải
Ở huyện Hưng Hà đã thăm dò và phát hiện mỏ nước nóng 570C ở độsâu 50m và nước nóng 720C ở độ sâu 178m, bước đầu đã khai thác phục vụsản xuất cá giống
Trong lòng đất tỉnh Thái Bình còn có than nâu thuộc bể than nâu vùngđồng bằng sông Hồng, được đánh giá có trữ lượng rất lớn (hơn 30 tỷ tấn) vàđầu năm 2009 đã ký kết khai thác với tổng công ty than Việt Nam
1.4 Đất đai và cơ sở hạ tầng
Trang 31Đất đai của Thái Bình chủ yếu là đất bồi tụ bởi hệ thống sông Hồng nênnhìn chung tốt, thuận lợi để phát triển nền nông nghiệp toàn diện, với cơ cấucây trồng vật nuôi phong phú đa dạng Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh năm
2005 là 164.770 ha, đã khai thác và sử dụng như sau :
Bảng : Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Thái Bình năm 2005
Cơ cấu (%)
Đất cho hoạt động khoáng sản 312,3 0,2 Đất sản xuất vật liệu xây dựng, gốm sứ 112,4 0,1
5 Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 7.157 4,3
1 Đất có mặt nước ven biển nuôi trồng thuỷ sản 621 0,4
Trang 32Nguồn : Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thái Bình
Tỉnh đã quy hoạch và xây dựng 7 khu công nghiệp, 18 cụm côngnghiệp trên địa bàn toàn tỉnh, xây dựng đường vào tới chân rào của các khucông nghiệp, rất thuận lợi cho các doanh nghiệp trong việc vận chuyển hànghoá
Giao thông ở Thái Bình thuận lợi đi các tỉnh trong vùng và với cả nước.Đường giao thông với các trục đường chính : quốc lộ 10 Nam Định - HảiPhòng, quốc lộ 39 Thái Bình – Hưng Yên, quốc lộ
Hệ thống thông tin liên lạc cũng đã rất phát triển Trong tỉnh có 99,9%
số hộ sử dụng điện, tất cả các xã, huyện, thành phố đều có trạm thu phát sóngđiện thoại
1.5 Tiềm năng phát triển kinh tế của tỉnh
Thái Bình là một tỉnh đông dân, có lực lượng lao động dồi dào, hàngnăm lại được bổ sung một lượng lớn lao động nên có thể ưu tiên phát triển cácngành sử dụng nhiều lao động như dệt may, giầy da, …
Là một tỉnh với nền nông nghiệp truyền thống, các sản phẩm nôngnghiệp đa dạng, các sản phẩm của thuỷ sản cũng phong phú (gồm thuỷ sảnnước mặn, thuỷ sản nước lợ, thuỷ sản nước ngọt) nên việc phát triển cácngành công nghiệp chế biến là hoàn toàn hợp lý
Với đa dạng nguồn tài nguyên thiên nhiên, việc phát triển công nghiệpkhai thác tài nguyên của tỉnh đã và đang được thực hiện
1.6 Những thuận lợi và khó khăn về phát triển kinh tế của tỉnh
1.6.1 Thuận lợi
Tình hình kinh tế trong nước sau 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới
đã đạt được những thành tựu to lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tếcủa tỉnh phát triển
Trang 33Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, việc Việt Nam tham gia vàocác tổ chức kinh tế của khu vực và thế giới như ASEAN, AFTA, và đặc biệt
là tham gia vào WTO đã tạo cơ hội cho kinh tế nước ta được giao lưu, mởrộng thị trường
Thái Bình nằm gần các trung tâm đô thị lớn, đặc biệt là thủ đô Hà Nội
và Hải Phòng, đó là những thị trường rộng lớn, là trung tâm hỗ trợ đầu tư, kỹthuật, kinh nghiệm quản lý, chuyển giao công nghệ và cung cấp thông tin chotỉnh, tác động rất lớn tới hoạt động kinh tế của tỉnh, tới quá trình sản xuấthàng hóa và tiêu thụ sản phẩm
Với ưu thế về địa giới hành chính gọn, địa hình bằng phẳng, thông tinliên lạc thuận tiện và kết cấu hạ tầng nông thôn tương đối phát triển; mạnglưới giao thông đường bộ và hệ thống sông và các cửa biển; mạng lưới giaothông đường thuỷ phát triển sẽ có tác động thúc đẩy sự giao lưu hàng hoá củatỉnh với các tỉnh trong vùng, cả nước và quốc tế, nhất là với khu vực namTrung Quốc và các nước trong khu vực Đông Nam Á
Thái Bình có nguồn lao động dồi dào, có trình độ văn hoá, giá nhâncông rẻ, đó là lợi thế trong việc thu hút các dự án đầu tư, nhất là các dự án sảnxuất hàng công nghiệp nhẹ sử dụng nhiều lao động
Hạ tầng kinh tế xã hội sau nhiều năm được đầu tư xây dựng là mộttrong những điều kiện tương đối thuận lợi cho phát triển kinh tế
1.6.2 Khó khăn
Thái Bình vốn là một tỉnh nông nghiệp, điểm xuất phát và tích luỹ nội
bộ thấp, mất cân đối giữa nhu cầu và khả năng đầu tư phát triển Nguồn vốnngân sách dành cho đầu tư phát triển còn hạn hẹp, lĩnh vực kinh tế đối ngoại(xuất nhập khẩu, ODA, FDI) còn nhiều khó khăn, nguồn vốn đầu tư nướcngoài thu hút chậm… sẽ làm cho tiến trình công nghiệp hoá, tạo công ăn việc
Trang 34làm, tăng thu nhập cho người dân và tích luỹ cho nền kinh tế càng khó khănhơn.
Hạ tầng cơ sở kỹ thuật tuy đã được quan tâm đầu tư cải thiện, nhưngthiếu đồng bộ, chưa đủ đáp ứng cho một nền sản xuất hàng hoá và phát triểndịch vụ trong điều kiện cạnh tranh gay gắt và chưa đủ sức hấp dẫn với các nhàđầu tư trong nước cũng như ngoài nước
Nền kinh tế hàng hoá còn yếu, chất lượng thấp, khối lượng hàng hóanhỏ, manh mún, sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và các nước trongkhu vực thấp
Đất hẹp, người đông cùng với các khó khăn vốn có của nền kinh tếthuần nông, sức ép về gia tăng dân số, giải quyết việc làm không chỉ là nhữnghạn chế trước mắt mà còn là vấn đề bức xúc cho phát triển kinh tế trongnhững năm tới đối với Thái Bình
Các chính sách kinh tế còn thiếu đồng bộ, nhất quán, môi trường đầu tưchậm được cải thiện… làm hạn chế việc đầu tư phát triển sản xuất kinh doanhcủa các thành phần kinh tế
Những bức xúc trong lĩnh vực xã hội, tình hình nông thôn chưa thực sự
ổn định, hạn chế một phần tính năng động sáng tạo vươn lên trong phát triểnkinh tế xã hội của tỉnh
Tập quán làm ăn nhỏ lẻ, trì trệ, ỷ lại, kém năng động của một tỉnh nôngnghiệp đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh
Quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới mở ra nhữngthuận lợi mới để tỉnh phát triển nhưng đồng thời cũng tạo sức ép cạnh tranhquyết liệt
2 Những thành tựu phát triển kinh tế của tỉnh
Trong những năm qua, kinh tế xã hội của tỉnh có bước phát triển rõ rệt
Trang 35Trong 5 năm 2001 – 2005 nền kinh tế tỉnh Thái Bình đã có bước pháttriển khá, đạt khoảng 7,21%/năm, vượt mục tiêu đại hội đề ra ( 7%), gần bằngmức tăng bình quân của cả nước (7,5%) Phát triển tương đối toàn diện cả vềkinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội và môi trường.
Giá trị sản xuất ngành công nghiệp và xây dựng tăng bình quân16,02%/năm Trong đó sản xuất công nghiệp tăng bình quân 17.82%/năm.Khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 37,8% GDP tăng thêm trong giaiđoạn 2001 – 2005 Ngành dịch vụ tăng trưởng bình quân 9,65%/năm Khuvực dịch vụ đóng góp 33,5% GDP tăng thêm trong giai đoạn 2001 – 2005
Bảng 2 Nhịp độ tăng trưởng GDP giai đoạn 1996 – 2005
Đơn vị : %Nhịp độ tăng trưởng
1996 - 2000 2001 - 2005 19996 - 2005
Nguồn : Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thái Bình, 11/2005
Tổng sản phẩm nội tỉnh ( GDP – giá cố định 1994 ) năm 2008 ước đạt7.146,7 tỷ đồng, tăng 10,56% so với năm 2007 Trong đó khu vực nông, lâm,thuỷ sản đạt 3.274,8 tỷ đồng, tăng 4,09%; khu vực công nghiệp – xây dựngđạt 1.654,5 tỷ đồng, tăng 22,5%; khu vực dịch vụ đạt 2.217,4 tỷ đồng tăng12,7%
Trang 36Bảng 3 Cơ cấu kinh tế giai đoạn 1995 – 2008
Nguồn : Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thái Bình, 11/2005
Kinh tế Thái Bình với nền kinh tế nhiều thành phần, đặc biệt là sự pháttriển của kinh tế tư nhân đã thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng Kinh tế tư nhântrên địa bàn tỉnh có xu hướng phát triển nhanh, ngành nghề sản xuất kinhdoanh đa dạng, mở rộng thị trường tiêu thụ, đã có sản phẩm xuất khẩu, tạođược nhiều công ăn việc làm cho người lao động, đóng góp đáng kể vào quátrình tăng trưởng kinh tế và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh
Kim ngạch xuất khẩu trong 5 năm 2001 – 2005 đạt 344,33 triệu USD,tốc độ tăng nhanh, bình quân giai đoạn 2001 – 2005 là 23,6%/năm Kimngạch xuất khẩu năm 2008 : 130 triệu USD, tăng 28,7%, kim ngạch nhậpkhẩu : 115 triệu USD, tăng 14,6% so với năm 2007, chủ yếu xuất khẩu cácmặt hàng nông sản, hang công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp Một sốmặt hàng có kim ngạch nhập khẩu cao như vải, phụ liệu hàng dệt may,…
Trang 37Bảng : Giá trị các sản phẩm sản xuất trên địa bàn tỉnh Thái Bình
(theo giá so sánh 1994)
Các sản phẩm chủ yếu
Đơn vị tính
Giá trị qua các năm Nhịp tăng (%)
1996-2000
2005
Quần áo may sẵn xuất
-Kim ngạch xuất khẩu tr USD 4,6 29,87 84,5 45,5 23,1
Nguồn : Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thái Bình
Trang 38Năm 2008, đã giải quyết việc làm mới cho 26 ngàn người, giảm tỷ lệ
hộ đói nghèo xuống còn 14,5% theo chuẩn nghèo mới
II - Thực trạng hoạt động của khu vực kinh tế tư nhân ở tỉnh Thái Bình
1 Quá trình hình thành và phát triển của kinh tế tư nhân tỉnh Thái Bình
Từ sau đổi mới kinh tế 1986 đến nay, kinh tế tư nhân của tỉnh mới thực
sự được quan tâm và tạo điều kiện cho phát triển Tỉnh đã thực hiện các chínhsách khuyến khích phát triển kinh tế nhằm thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển
Từ việc phát triển manh mún, nhỏ lẻ với kinh tế hộ gia đình là chủ yếu,sản xuất chủ yếu là tự cung tự cấp, rất ít giao lưu trao đổi hàng hoá với cácvùng khác; đến nay, kinh tế tư nhân tỉnh đã và đang phát triển mạnh mẽ vớinhiều hình thức đa dạng, phong phú các loại hình doanh nghiệp cùng đan xencạnh tranh và phát triển trên thị trường, tập hợp thành một hệ thống kinh tếphát triển trên mọi lĩnh vực
Trong những năm gần đây, kinh tế ngoài quốc doanh nói chung và kinh
tế tư nhân nói riêng ở tỉnh Thái Bình đã có bước phát triển mạnh trên tất cảcác mặt, là động lực chính thúc đẩy sự phát triển kinh tế của tỉnh
2 Cơ cấu của khu vực kinh tế tư nhân
Việc phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nước ta hiệnnay đã thúc đẩy kinh tế trên cả nước và ở tỉnh Thái Bình phát triển mạnh mẽ.Các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh của tỉnh Thái Bình năm 2008 đãchiếm gần 45% GDP của tỉnh, đóng góp tích cực vào việc phát huy nguồnvốn, sử dụng lao động, làm sống động thị trường ở tất cả các lĩnh vực : côngnghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ
Việc quy hoạch, xây dựng các khu công nghiệp và cụm công nghiệptrên địa bàn tỉnh đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có điều kiện về cơ sở,nhà xưởng để tiến hành sản xuất
Trang 39Những năm gần đây tỉnh đã tiến hành quy hoạch xây dựng các khucông nghiệp tập trung : Phúc Khánh (diện tích 300 ha), Nguyễn Đức Cảnh(diện tích 102 ha), Tiền Hải (diện tích 128,2 ha), Cầu Nghìn (diện tích 97,5ha), Gia Lễ (diện tích 100 ha) và các huyện, thành phố cũng xây dựng một sốcụm công nghiệp : Phong Phú (thành phố), Đông La (Đông Hưng), Đồng Tu,Thái Phương (Hưng Hà), thị trấn Quỳnh Côi (Quỳnh Phụ), thị trấn Vũ Thư,Tam Quang (Vũ Thư), Vũ Quý, Cầu Bùi (Kiến Xương), Trà Lý (Tiền Hải),Thuỵ Hà (Thái Thuỵ)…
Kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh có xu hướng phát triển nhanh, ngànhnghề sản xuất kinh doanh đa dạng, mở rộng được thị trường tiêu thụ, đã cósản phẩm xuất khẩu; tạo được công ăn việc làm cho người lao động; đóng gópđáng kể vào quá trình tăng trưởng kinh tế và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấukinh tế của tỉnh
Trước năm 2000, có 395 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh, có số vốnđăng ký là 424,4 tỷ đồng; từ năm 2000 (khi luật doanh nghiệp có hiệu lực)đến tháng 6/2005 có 968 doanh nghiệp thành lập mới, với tổng số vốn đăng
ký là gần 1.499,8 tỷ đồng Đến cuối năm 2008, tổng số doanh nghiệp đăng kýkinh doanh là 2.114 doanh nghiệp với số vốn đăng ký là 11.668 tỷ đồng
2.1 Cơ cấu của các loại hình kinh tế tư nhân
Tính đến hết năm 2008, trên địa bàn tỉnh đã có 2.114 doanh nghiệpthuộc kinh tế tư nhân Trước khi luật doanh nghiệp có hiệu lực (1/1/2000) thì
cả tỉnh chỉ có 395 doanh nghiệp thuộc kinh tế tư nhân, sau khi luật được thihành, số lượng doanh nghiệp tư nhân tăng lên rất nhanh, vốn đăng ký của cácdoanh nghiệp trong tỉnh là 11.668 tỷ đồng Hiện nay, ở Thái Bình chưa cócông ty hợp danh va nhóm công ty, chủ yếu vẫn là các công ty trách nhiệmhữu hạn, doanh nghiệp tư nhân và công ty cổ phần
Trang 40Bảng : Cơ cấu các loại hình kinh tế tư nhân qua các năm
Năm
Loại hình kinh tế tư nhân
1 Công ty trách nhiệm hữu hạn 358 1.374
Ngu ồn : Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thái Bình
Số lượng các doanh nghiệp trong tỉnh tăng lên nhanh chóng từ khi luậtdoanh nghiệp được ban hành, năm 2008 số doanh nghiệp gấp 2,8 lần số doanhnghiệp năm 2002 và gấp 5,3 lần số doanh nghiệp năm 2000 Trong đó, công
ty trách nhiệm hữu hạn chiếm đại đa số, chiếm 48% năm 2002 và tăng lên65% năm 2008 trong tổng số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh
Theo số lượng điều tra của các ngành chức năng thì hộ kinh tế cá thểtrong các ngành và các lĩnh vực khoảng 70.000 hộ, trong đó số hộ có đăng kýkinh doanh là 18.084 hộ, tổng số vốn đầu tư của các hộ kinh tế cá thể là839.930 triệu đồng
Số lượng các doanh nghiệp phân bố trên địa bàn tỉnh không đồng đều,chủ yếu tập trung ở thành phố Thái Bình và trung tâm các huyện Thành phốThái Bình có 1.064 doanh nghiệp, chiếm 50% tổng số doanh nghiệp trên địabàn tỉnh Số hộ kinh doanh cá thể phân bố khá đồng đều ở các huyện và thànhphố