Bài viết nghiên cứu mức tăng trưởng GDP; các khu vực kinh tế tham gia vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh Thái Bình. Để nắm chi tiết nội dung nghiên cứu, mời các bạn cùng tham khảo bài viết.
Trang 1Thông tin Khoa học Thống kê - Số chuyên san thống kê địa phương 2006 11
Một số nhận xét tăng trưởng kinh tế 2001- 2005
và mục tiêu 2006 – 2010 của tỉnh Thái Bình
Vũ Tiêu Cục trưởng Cục Thống kê Thái Bình
tăng trưởng khá Hầu hết các chỉ tiêu đạt và
vượt kế hoạch Một số chỉ tiêu đạt sớm so
với kế hoạch như tổng sản phẩm (GDP) sau
5 năm tăng bình quân 7,30% (mục tiêu
7,0%) tỷ lệ tăng tự nhiên dân số sau 2 năm
đạt 0,97% (mục tiêu dưới 1%)…
Tỷ lệ huy động GDP vào ngân sách
tăng dần từ 8,05% năm 2002 lên 13,14%
năm 2005 Tiêu dùng được đảm bảo và tăng
tích luỹ: Năm 2001 tích luỹ đạt 25,3%, năm
2004 tích luỹ đạt 28,0% trong tổng GDP của
tỉnh (cả nước năm 2004 tích luỹ 31%)
Qua số liệu thống kê của tỉnh Thái Bình
và các tỉnh khác trong vùng Đồng bằng sông
Hồng có thể đưa ra một số nhận xét về mức
tăng trưởng kinh tế của Thái Bình thời kỳ
2001-2005 và xây dựng mục tiêu cho thời kỳ
2006-2010
Kinh tế Thái Bình tăng trưởng liên tục
qua các năm với mức tăng trưởng khá,
nhưng thấp hơn các tỉnh xung quanh
Mức tăng trưởng GDP
Thời kỳ 1996 – 2000 (Thời kỳ mất ổn định
kéo dài), tăng trưởng mỗi năm từ 3% đến 5,7%,
tăng trưởng bình quân 5 năm đạt 4,45%
Thời kỳ 2001 - 2005 tăng trưởng mỗi năm
từ 4,84% - 10,25%, bình quân đạt 7,30%
Năm 2005, dự kiến GDP của Thái Bình
tăng 8,3%, tuy nhiên mức tăng trưởng còn
khiêm tốn nếu so với các tỉnh khác trong vùng
như: Nam Định 9%, Hưng Yên 12,9%, Ninh Bình 12,5%, Nam Hà 10%, Hải Dương 10,5%
Về số tuyệt đối, GDP theo giá so sánh của Thái Bình năm 2005 đạt 6485 tỷ, gấp 4,4 lần năm 1985 (năm cuối của thời kỳ bao cấp), gấp 1,7 lần năm 1995
Tuy tốc độ tăng GDP của Thái Bình không bằng nhiều tỉnh trong vùng Đồng bằng Sông Hồng nhưng về số tuyệt đối GDP của Thái Bình gấp 2,3 lần Ninh Bình; 2,2 lần
Hà Nam; 1,4 lần Bắc Ninh; 1,3 lần Hưng Yên; 1,1 lần Vĩnh Phúc; 1,05 lần Nam Định
Và chỉ đứng sau 4 tỉnh trong vùng là Hà Nội, Hải Phòng, Hà Tây, Hải Dương
GDP theo giá thực tế của Thái Bình năm 2005 đạt 10911 tỷ đồng, cao hơn 6 tỉnh trong vùng Đồng bằng Sông Hồng Bình quân đầu người đạt 381 USD (bằng 5,9 triệu VNĐ), tăng 85% so với năm 2000 Chỉ tiêu này cao hơn 4 tỉnh: Ninh Bình, Hà Nam, Hà Tây, Nam Định Song GDP bình quân đầu người mới bằng 2/3 bình quân của cả nước
Đến năm 2005, cơ cấu nền kinh tế tỉnh Thái Bình chuyển dịch tích cực theo hướng giảm khu vực I, tăng khu vực II và khu vực III (số liệu chi tiết về cơ cấu khu vực và mục tiêu
đến năm 2010 đưa ra trong phần phụ lục)
+ Đến năm 2005, hầu hết các tỉnh xung quanh đều có cơ cấu như mục tiêu năm
2010 của Thái Bình
Trang 2Thông tin Khoa học Thống kê - số chuyên san thống kê địa phương 2006
12
Những năm qua, GDP trên địa bàn tỉnh
Thái Bình đạt cao hơn 7 tỉnh trong vùng
Đồng bằng Sông Hồng Nhưng tăng trưởng
GDP lại thấp hơn các tỉnh này vì GDP tạo ra
từ các ngành nông nghiệp, thuỷ sản (chiếm
44%) dễ bị rủi ro, một số loại cây con tăng
trưởng thấp khi đã đạt đến độ thâm canh
cao Điều này cho thấy, đẩy nhanh tăng
trưởng kinh tế của Thái Bình những năm tới
là bức thiết nhưng cũng rất khó khăn
Các khu vực kinh tế tham gia vào
tăng trưởng
Bình quân 5 năm 2001 – 2005, ba khu
vực kinh tế đóng góp vào tăng trưởng chung
của tỉnh lần lượt như sau:
Khu vực I: 2,0%
Khu vực II: 2,6%
Khu vực III: 2,7%
Mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân 5
năm thời kỳ 2006-2010 là 11% Mục tiêu chi tiết
của một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu như sau:
Khu vực I:
Mục tiêu 5 năm tới giá trị sản lượng tăng
4,5% năm Đẩy mạnh tăng trưởng giá trị sản
xuất ở các mảng còn nhiều tiềm năng
- Đưa GTSX chăn nuôi từ 8,4% (2001 -
2005) lên 13% (2006 - 2010)
- Đưa tỷ trọng chăn nuôi từ 30% (2001 -
2005) lên 40% (2006 - 2010)
- Đưa giá trị sản xuất ngành thuỷ sản từ
10% (2001 – 2005) lên trên 12%
Dự kiến khu vực I đóng góp vào tăng
trưởng chung là 2,5%
Khu vực II:
Mục tiêu 5 năm tới GTSX tăng từ 16,1% năm lên 23% năm
Khu vực II, bao gồm giá trị sản xuất xây dựng (xây lắp, xây dựng cầu đường, kênh mương) và giá trị sản xuất công nghiệp, mục tiêu 5 năm tới là:
Mảng xây dựng từ 10% năm lên 15% năm Mảng công nghiệp từ 17,8% năm lên 25% năm
Mảng công nghiệp với mục tiêu tăng trưởng giá trị sản xuất khá cao (đến năm
2010 giá trị sản xuất công nghiệp đạt xấp xỉ 10.000 tỷ đồng), giá so sánh 1994 Do vị trí quan trọng của hoạt động công nghiệp trong khu vực II chiếm hơn 80% giá trị sản xuất trong khu vực II vì vậy phải đạt tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp trên 25% năm thì mới đảm bảo được mục tiêu tăng trưởng của khu vực II và đóng góp của khu vực II vào tăng trưởng chung 11% năm Đây là việc rất khó khăn của Thái Bình
Song song với việc phát triển các cơ sở sản xuất công nghiệp nhỏ và vừa, Thái Bình cần đầu tư đột biến, tạo cơ sở sản xuất quy mô lớn có giá trị sản phẩm từ 500 tỷ đến
1000 tỷ năm
Khu vực III:
GTSX các ngành dịch vụ tăng 8,35% một năm Trong 5 năm qua, có 2 năm tăng trưởng trên 10% là 2003 và 2005 Mục tiêu tăng trưởng GTSX 11% năm giai đoạn 2006
- 2010 Tập trung phát triển mạnh 6 ngành
có khả năng tăng trưởng cao như:
Hoạt động vận tải duy trì mức tăng GTSX 20% năm giai đoạn 2006 - 2010
Trang 3Thông tin Khoa học Thống kê - Số chuyên san thống kê địa phương 2006 13
Hoạt động bưu chính viễn thông đưa
tăng trưởng từ 11% năm lên 15% năm
Hoạt động ngành thương nghiệp đưa
tăng trưởng từ 10,5% lên 15%
Hoạt động ngành khách sạn nhà hàng
đưa tăng trưởng từ 3,7% lên 10% năm
Hoạt động phục vụ cá nhân cộng đồng
đưa tăng trưởng từ 8% lên 12% năm
Các ngành còn lại của khu vực III có khả
năng tăng trưởng cao và phụ thuộc vào tỷ lệ
tăng ngân sách hàng năm cho ngành đó,
chẳng hạn năm 2003 tăng 13% là có tác động
của yếu tố này Mặt khác phần thu của các
đơn vị sự nghiệp không thể tăng mạnh như thu
học phí, thu tiền khám sức khoẻ, lãi vay ở
ngân hàng, khấu hao nhà ở của nhân dân…
Nhóm ngành này lại có giá trị sản xuất
chiếm đa số (65% tổng GTSX của khu vực
III) Vì vậy phải phấn đấu đạt tăng trưởng
cao ở các ngành trên thì mới thực hiện được
mục tiêu tăng trưởng khu vực III và đóng góp
vào tăng trưởng chung
Hiện nay GTSX của Thương nghiệp,
khách sạn, nhà hàng mới chiếm 15% tổng
giá trị sản xuất của các ngành dịch vụ trong
khu vực III, hoạt động khách sạn nhà hàng
du lịch cần được đẩy mạnh trong các năm
tới Bình quân 5 năm 2001-2005 nhóm
ngành này mới tăng gần 4%
Tăng trưởng GTSX của khu vực III bình
quân 5 năm 2001 – 2005 của cả nước là
6,4%, Hà Tây 8,3%, Nam Định 7,5%, Hải
Dương 9,8%, Hà Nam 10% và Thái Bình là
8,35% Điều này nói lên để đạt được mục
tiêu tăng trưởng 11% trong khu vực II phải có
nhiều giải pháp mang tính đồng bộ hơn
Dự kiến xuất khẩu năm 2005 đạt 95 triệu USD, tăng bình quân 5 năm 16,5% kết quả cao hơn 4 tỉnh: Hà Tây, Bắc Ninh, Hà Nam, Ninh Bình Mục tiêu 5 năm tới đạt 260 triệu USD, tăng bình quân 17%
Như vậy song song với đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm chế biến thuỷ hải sản, nông sản, sản phẩm thủ công mỹ nghệ, cần đẩy mạnh công nghiệp may xuất khẩu Nếu ngành này khó khăn không mở rộng được sẽ
ảnh hưởng tới mục tiêu xuất khẩu
Tóm lại: Tổng sản phẩm năm 2005 đạt
6485 tỷ đồng (giá so sánh 1994) cao hơn 6 tỉnh Đồng bằng Sông Hồng, nhưng tăng trưởng GDP đạt thấp so với các tỉnh xung quanh (xem bảng dưới)
Tăng bq 2001-2003
Tăng bq 2006-2010
Để đạt mức tăng trưởng bình quân thời
kỳ 2006-2010 là 11% đòi hỏi tỉnh Thái Bình phải có chính sách đầu tư theo hướng tập trung và hiệu quả vào khu vực công nghiệp
và dịch vụ Chúng ta tin tưởng rằng dưới sự lãnh đạo cả tỉnh uỷ, UBND và HĐND các cấp, tỉnh Thái Bình sẽ đạt được các mục tiêu