1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phương hướng và giải pháp chủ yếu để tiếp tục đổi mới và phát triển HTX NN ở tỉnh Thái Bình..DOC

88 293 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 344 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo luật HTX 03/4/1996 của nớc ta thì HTX đợc định nghĩa nh sau:“HTX là một tổ chức kinh tế tự chủ do những ngời lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập

Trang 1

Lời nói đầu

Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Hợp tác xã nông nghiệp (HTX NN) là loại hình tổ chức kinh tế đã tồn tại trên một thế kỷ và phát triển ở hầu hết các nớc trên thế giới Tại nhiều nớc, phong trào HTX phát triển rất mạnh, có những đóng góp đáng kể vào sự tăng trởng kinh tế và góp phần đáng kể vào việc tạo ra sự ổn định, công bằng xã hội

ở nớc ta, HTX NN đã có quá trình phát triển hơn 40 năm, đợc Đảng và Nhà

n-ớc quan tâm, chăm lo, hỗ trợ về nhiều mặt Tuy nhiên, trong từng giai đoạn lịch sử với những cơ chế tổ chức quản lý khác nhau thì vai trò chức năng và nội dung hoạt động của HTX NN cũng có nhiều thay đổi

Cùng với quá trình đổi mới nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trờng có sự quản lý điều tiết của nhà nớc; kinh tế hộ dần đợc nhìn nhận là một đơn vị kinh tế tự chủ và càng ngày càng đợc khẳng định vai trò của mình Sự thừa nhận kinh tế hộ nông dân là một đơn vị kinh tế tự chủ, một mặt làm bộc lộ rõ sự bất hợp lý của mô hình HTX NN kiểu cũ, mặt khác làm xuất hiện những nhu cầu bức thiết về hợp tác mới giữa các hộ nông dân với nhau, cũng nh giữa

Đó cũng chính là lý do để tôi chọn đề tài: “Đổi mới và phát triển HTX NN ở tỉnh Thái Bình” để làm đề tài tốt nghiệp, nhằm phân tích thực trạng đổi mới và phát triển HTX NN ở tỉnh Thái Bình từ đó đề ra phơng hớng, giải pháp và một số kiến nghị

để tiếp tục hoàn thiện

Đối tợng và phạm vi của nghiên cứu

Đối tợng nghiên cứu của đề tài là sự hình thành và phát triển HTX NN từ trớc năm 1980 đến nay

Phạm vi nghiên cứu: Các HTX NN trên địa bàn tỉnh Thái Bình

Mục đích nghiên cứu của đề tài

Trên cơ sở tập trung nghiên cứu các loại hình kinh tế hợp tác xã và các mô hình HTX NN ở tỉnh Thái Bình để phân tích thực trạng và quá trình đổi mới, phát triển HTX NN nhằm khẳng định những kết quả đạt đợc, chỉ ra những tồn tại và nguyên nhân chủ yếu để tiếp tục nghiên cứu và giải quyết; đồng thời đề xuất các phơng hớng

Trang 2

đổi mới, các giải pháp và kiến nghị để phát triển HTX NN phù hợp với đặc điểm điều kiện của Thái Bình, phù hợp với xu hớng vận động của nền nông nghiệp nớc ta.

Nội dung nghiên cứu

Ngoài lời mở đầu, kết luận, đề tài gồm có 3 chơng:

Chơng I: Cơ sở khoa học về kinh tế hợp tác và HTX trong nông nghiệp

Chơng II: Thực trạng đổi mới và phát triển HTX NN ở tỉnh Thái Bình trong thời

Tôi xin chân thành cám ơn!

Trang 3

Chơng I Cơ sở khoa học về kinh tế hợp tác và HTX trong

nông nghiệp

I lý luận về kinh tế hợp tác và hợp tác xã trong nông nghiệp

1 Các khái niệm

Các hình thức hợp tác tơng trợ trong sản xuất và đời sống của con ngời có lịch

sử lâu dài - từ khi con ngời mới xuất hiện trên trái đất và tồn tại cho đến ngày nay ở mỗi trình độ phát triển của sản xuất có những hình thức hợp tác tơng ứng: Thời nguyên thuỷ, để tồn tại và chống chọi với sự khắc nghiệt của thiên nhiên, thú dữ con ngời phải hợp tác với nhau, sống thành bầy đàn và quan hệ hợp tác này tồn tại dới những hình thức đơn giản nhất Cùng với sự phát triển của lực lợng sản xuất và nhu cầu ngày cang đa dạng của con ngời làm nảy sinh những yêu cầu cao của sự hợp tác Các hình thức hợp tác cũng ngày một đa dạng hơn: tổ đổi công, hội nghề nghiệp, hợp tác xã

Hợp tác xã là phơng thức tất yếu trong lao động sản xuất và hoạt động kinh tế của con ngời Sự phát triển của hợp tác gắn liền và bị quy định bởi sự tiến triển của quá trình xã hội hoá của hoạt động kinh tế của con ngời Ngợc lại, sự phát triển các hình thức và tính chất thích hợp của hợp tác lại có một tầm quan trọng lớn đối với sự phát triển của kinh tế, đặc biệt là trong việc chuyển từ một nền kinh tế chậm phát triển sang nền kinh tế phát triển, bởi vì hợp tác chính là cái tạo ra sức sản xuất xã hội của lao động

1.1 Kinh tế hợp tác

Kinh tế hợp tác là việc chung sức chung vốn để cùng tiến hành một công việc, một lĩnh vực hoạt động sản xuất, dịch vụ nào đó theo kế hoạch nhằm một mục đích chung và mang lại lợi ích vật chất cụ thể cho các thành viên tham gia hợp tác Kinh tế hợp tác là hình thức liên kết tự nguyện của những lao động cá thể, kết hợp sức mạnh tập thể với sức mạnh của từng thành viên để giải quyết có hiệu quả những vấn đề sản xuất kinh doanh và đời sống

Sức mạnh của kinh tế hợp tác chính là sự liên kết, hỗ trợ, giúp đỡ nhau trong quá trình sản xuất, kinh doanh, tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật chung ngày càng tăng giúp cho sản xuất và đời sống phát triển, ổn định và bền vững

Trang 4

Theo luật HTX (03/4/1996) của nớc ta thì HTX đợc định nghĩa nh sau:

“HTX là một tổ chức kinh tế tự chủ do những ngời lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo qui định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nớc”

có hiệu quả các hoạt động dịch vụ hỗ trợ cho kinh tế hộ gia đình của các xã viên và kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và kinh doanh các ngành nghề khác ở nông thôn phục vụ cho sản xuất nông nghiệp”

2 Vai trò của kinh tế hợp tác và HTX NN

2.1 Vai trò của kinh tế hợp tác trong nền kinh tế quốc dân

Thực tiễn phát triển kinh tế ở các nớc trên thế giới cũng nh ở nớc ta cho thấy: Kinh tế hợp tác có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân của mọi quốc gia,

ở mọi thời kỳ cho dù quốc gia đó là nớc có nền kinh tế phát triển hay đang phát triển

ở nớc ta, tổ chức và phát triển nền kinh tế hợp tác nhằm giúp những ngời sản xuất nhỏ có sức cạnh tranh chống lại sự chèn ép của các doanh nghiệp lớn trong nền kinh tế thị trờng, cùng với kinh tế nhà nớc (là chủ đạo) dần trở thành nền tảng trong nền KTQD và đó cũng là nền tảng chính trị-xã hội của đất nớc để đạt đợc mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh

Bên cạnh đó, việc phát triển kinh tế hợp tác còn nhằm mục tiêu xã hội: tạo ra sức mạnh liên kết trong sản xuất, kinh doanh giữa những ngời lao động nghèo, góp phần xoá đói giảm nghèo Các tổ chức kinh tế hợp tác, nhất là trong nông thôn không chỉ gắn bó về kinh tế mà còn đợc hình thành và phát triển trên cơ sở “tình làng nghĩa xóm” Các tổ chức này mặc dù tồn tại trong cơ chế thị trờng khắc nghiệt nhng không thôn tính lẫn nhau mà giúp đỡ nhau cùng phát triển: Ngời có điều kiện giúp đỡ ngời gặp khó khăn, quan tâm đến nhau và cho vay u đãi với các hộ nghèo

Điều quan trọng là các hình thức hợp tác không dựa vào sự trợ cấp của nhà nớc, không trở thành gánh nặng gây khó khăn cho việc sản xuất kinh doanh của tập thể

Nó tạo điều kiện thuận lợi, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và đời sống của các thành viên tham gia hợp tác

2.2 Vai trò của HTX NN

Trang 5

HTX NN ở nớc ta đã có một quá trình phát triển khá dài và trải qua nhiều bớc thăng trầm gắn liền với nhiều biến động lịch sử của đất nớc Từ khi phong trào hợp tác hoá trong nông nghiệp diễn ra (năm 1958) đến nay đã trải qua hơn 40 năm, kết quả

đạt đợc tuy còn khiêm tốn song cũng đã khái quát đợc vai trò của HTX NN đối với nền kinh tế quốc dân nói chung, trong nông nghiệp-nông thôn nớc ta nói riêng:

Đã góp phần quan trọng trong việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật ở nông thôn, đặc biệt là việc khai hoang, phục hoá, làm thuỷ lợi, cải tạo đồng ruộng, phát triển giao thông nông thôn, xây dựng nông thôn mới

Sản xuất trong các HTX NN tuy có thăng trầm qua từng thời kỳ song đã góp phần đa nền nông nghiệp nớc ta đạt đợc những bớc phát triển nhất định Nhiều tiến bộ

kỹ thuật nh giống mới, chế độ mùa vụ mới, biện pháp canh tác mới đã đợc áp dụng vào sản xuất nông nghiệp

Đã đóng góp sức ngời, sức của cho sự nghiệp giải phóng miền Nam và nghĩa vụ quốc tế; góp phần chống trả cuộc chiến tranh phá hoại trên miền Bắc với qui mô ác liệt Chế độ phân phối bình quân và bao cấp của HTX trong thời chiến đã tạo ra sự ổn

định nông thôn Hiệu quả của chính sách hậu phơng quân đội, sự đoàn kết tơng trợ, tình làng nghĩa nớc trong nông thôn đã thật sự cổ vũ, động viên chiến sĩ chiến đấu trên các chiến trờng

Sau chiến tranh, các HTX NN đã có vai trò quan trọng trong việc khôi phục kinh tế, khai hoang phục hoá, xây dựng lại nông thôn

Trong giai đoạn hiện nay, HTX NN chính là con đờng đa nông dân đến giàu có văn minh Trớc đổi mới, mô hình HTX NN cũ đã giam hãm kinh tế nông nghiệp, nông thôn Việc giải phóng tình trạng đó bắt đầu từ chỉ thị 100CT/TW (13/01/1981) của Ban bí th và Nghị quyết 10 của Bộ chính trị (05/4/1988), đã khẳng định vai trò tự chủ của ngời nông dân, đa họ trở thành ngời chủ mới Sức sản xuất đợc giải phóng, hình thức tổ chức sản xuất đợc cải thiện có hiệu quả, từng bớc nâng cao mức sống của ngời nông dân và đổi mới bộ mặt nông thôn

Thực tế, lực lợng sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn nớc ta ở nhiều trình độ khác nhau; điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội ở từng vùng, từng địa phơng có sự khác nhau nên các hình thức tổ chức HTX cũng phong phú đa dạng HTX chính là hình thức xã hội hoá lực lợng sản xuất Xuất phát từ lợi ích của chính mình, ngời nông dân

sẽ tự nguyện tham gia HTX Tuy nhiên, để phát huy tính tích cực của ngời dân và vai trò hỗ trợ của các HTX NN đối với nông dân thì Nhà nớc cần có sự quan tâm giúp đỡ

về vốn, đào tạo và cả sự quản lý đúng pháp luật đối với các tổ chức này, nhất là trong

điều kiện hiện nay khi mà ngời nông dân đang trong môi trờng sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trờng HTX NN hỗ trợ các hộ nông dân về những mặt nh: dịch vụ đầu vào, dịch vụ đầu ra, dịch vụ BVTV, tới tiêu nớc tạo điều kiện để hộ nông dân sản

Trang 6

xuất kinh doanh tốt, khai thác đợc thị trờng trong và ngoài nớc, đảm bảo góp phần cải thiện và không ngừng nâng cao mức sống của ngời dân ở nông thôn.

Trong nền kinh tế thị trờng, bên cạnh những u điểm nó còn có nhiều khuyết tật

và xã hội phải gánh chịu và nông dân ít nhiều cũng bị ảnh hởng Sự cạnh tranh quyết liệt làm cho khoảng cách giàu nghèo có xu hớng tăng lên đòi hỏi các hiệp hội đứng ra giải quyết, giúp đỡ Tuỳ theo các điều kiện cụ thể của mỗi cá nhân mà HTX có các hình thức phù hợp nh cho vay vốn hoặc đứng ra bảo lãnh làm thủ tục vay vốn, hỗ trợ

về kỹ thuật, tìm thị trờng tiêu thụ nông sản phẩm giúp các xã viên vơn lên khỏi cuộc sống nghèo đói

Tóm lại, kinh tế hợp tác và HTX trong nông nghiệp có tác dụng tích cực trong việc hỗ trợ kinh tế hộ gia đình phát triển, tạo sự liên kết, hợp tác giữa những ngời sản xuất nhỏ, tăng sức cạnh tranh trong cơ chế thị trờng, khai thác các tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật, góp phần thúc đẩy quá trình xã hội hoá sản xuất, thực hiện tốt vai trò cầu nối giữa các hộ xã viên với các tổ chức kinh tế nhà nớc Kinh tế hợp tác và HTX NN đã góp phần quan trọng vào giải quyết việc làm, tăng thu nhập và bảo đảm

đời sống cho xã viên và lao động làm việc trong các HTX NN cũng nh trong các loại hình hợp tác giản đơn khác

3 Nguyên tắc, đặc trng, quyền và nghĩa vụ của các HTX NN

3.1 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HTX NN

Ngày 02-03-1958, khi đến thăm nông dân HTX NN Cầu Thành, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, Bác Hồ đã nói:

“Một cây làm chẳng nên non

Ba cây chụm lại lên hòn núi cao”

“Muốn làm cho hòn núi cao, phải vào tổ đổi công và HTX, vì nhiều ngời hợp lại thì làm đợc nhiều đợc tốt

Muốn xây dựng tổ đổi công, HTX đợc tốt, phải đoàn kết, phải làm cho mọi

ng-ời tự nguyện tham gia, phải bàn bạc dân chủ và phải tính toán cho công bằng hợp lý”

Phát huy t tởng đó của Ngời, trong Điều 3 - Điều lệ mẫu HTX NN, ban hành kèm theo Nghị định số 43/CP (29/04/1997) của Chính phủ, HTX NN đợc tổ chức và hoạt động theo các nguyên tắc sau:

Tự nguyện gia nhập và ra hợp tác xã: Tất cả nông dân và những ngời lao động

có đủ điều kiện theo qui định của luật HTX, tán thành Điều lệ HTX NN, đều có thể trở thành xã viên HTX NN; xã viên có quyền ra HTX theo qui định của Điều lệ từng HTX NN

Quản lý dân chủ và bình đẳng: Xã viên HTX NN có quyền tham gia quản lý, kiểm tra, giám sát mọi hoạt động của HTX NN và có quyền ngang nhau trong biểu quyết

Trang 7

Tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi: HTX NN tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động dịch vụ, sản xuất, kinh doanh; tự quyết định về phân phối thu nhập, đảm bảo HTX và xã viên cùng có lợi.

Việc chia lãi phải đảm bảo lợi ích của xã viên và sự phát triển của HTX: Sau khi thực hiện xong nghĩa vụ nộp thuế, lãi đợc trích lại một phần để đa vào quỹ HTX, phần còn lại chia cho xã viên theo vốn góp, công sức đóng góp, theo mức độ sử dụng dịch vụ của HTX và do Đại hội xã viên quyết định

Hợp tác và phát triển cộng đồng: Xã viên phải phát huy và nâng cao ý thức hợp tác giữa các HTX trong nớc và ngoài nớc theo qui định của pháp luật

3.2 Đặc trng của HTX NN trong giai đoạn hiện nay

HTX NN phải đảm bảo tính tự nguyện, dân chủ, cùng có lợi, phải tự chủ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ Nhà nớc không trực tiếp can thiệp vào hoạt

động của HTX, mà chỉ quản lý về mặt nhà nớc thông qua pháp luật và chính sách HTX NN tự chịu trách nhiệm về các hoạt động trớc pháp luật với t cách là một pháp nhân kinh tế

HTX NN hình thành theo luật HTX dựa trên cở sở quyền tự chủ kinh doanh của các hộ nông dân Các hộ nông dân xã viên là chủ thể của HTX, tự nguyện góp vốn, góp sức, tham gia hoạt động của HTX, cùng hởng kết quả, cùng chịu rủi ro của HTX theo mức góp vốn, góp sức vào HTX Mỗi xã viên có quyền biểu quyết bình đẳng, ngang nhau, không phụ thuộc vào số cổ phần nhiều hay ít

HTX NN phải thực hiện có hiệu quả các dịch vụ đầu vào và đầu ra của kinh tế

hộ nông dân xã viên, tập trung vào các khâu mà hộ nông dân có yêu cầu vì tự họ không làm đợc hoặc làm đợc nhng không hiệu quả bằng HTX làm Hoạt động dịch vụ của HTX nhằm bảo vệ lợi ích của các hộ nông dân xã viên trong cơ chế thị trờng HTX hoạt động nhằm phục vụ kinh tế hộ nông dân xã viên chứ không phải để thay thế, xoá bỏ kinh tế hộ nông dân xã viên nh trớc đây Kinh tế hộ nông dân là cơ sở tồn tại và phát triển của tổ chức HTX NN nói riêng, của các hình thức kinh tế hợp tác nói chung

Mục tiêu hàng đầu của HTX NN không phải là lợi nhuận mà là sự phát triển và hiệu quả của kinh tế hộ nông dân Nhng không phải vì thế mà các HTX NN không thực hiện các hoạt động kinh doanh tạo ra lợi nhuận nh tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ thơng nghiệp ở nông thôn, nhằm giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho các hộ nông dân và tạo ra lợi nhuận

HTX NN chủ yếu thực hiện các hoạt động dịch vụ hỗ trợ cho kinh tế hộ gia

đình xã viên và kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất, chế biến, tiêu thụ các nông sản phẩm và kinh doanh ngành nghề khác ở nông thôn dựa trên yêu cầu của thị trờng, xã hội HTX phân phối thu nhập và lợi nhuận làm ra hàng năm theo lao động, theo mức

độ sử dụng dịch vụ và theo cổ phần của xã viên

Trang 8

3.3 Quyền và nghĩa vụ của HTX NN

Quyền của HTX NN

Điều 4-Điều lệ mẫu HTX NN quy định các quyền của HTX NN nh sau:

(1).Lựa chọn hoạt động dịch vụ, sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực nông, lâm, thuỷ sản và các ngành nghề sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khác theo nhu cầu,lợi ích của xã viên và khả năng của từng HTX NN

(2).Quyết định hình thức và cơ cấu tổ chức dịch vụ, sản xuất, kinh doanh của HTX NN

(3).Xuất khẩu, nhập khẩu, liên doanh, liên kết với các tổ chức cá nhân ở trong nớc và ngoài nớc theo quy định của pháp luật

(4).Thuê lao động trong trờng hợp xã viên không đáp ứng đợc yêu cầu dịch vụ, sản xuất, kinh doanh của HTX NN theo quy định của pháp luật

(5).Quyết định kết nạp xã viên mới, giải quyết việc xã viên ra HTX, khai trừ xã viên theo Điều lệ của từng HTX NN

(6).Quyết định việc phân phối thu nhập, xử lý các khoản lỗ của HTX

(7).Quyết định khen thởng những cá nhân có nhiều thành tích xây dựng và phát triển HTX NN, thi hành kỷ luật đối với xã viên vi phạm Điều lệ HTX NN; buộc xã viên bồi thờng các thiệt hại đã gây ra cho HTX NN

(8).Vay vốn ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, huy động vốn của xã viên

và đợc bảo lãnh cho xã viên vay vốn tại các tổ chức tín dụng

(9).Đợc tham gia góp vốn để trở thành thành viên của Quỹ tín dụng Nhân dân

và đợc vay vốn ở tổ chức này

(10).Đợc bảo hộ bí quyết công nghệ theo quy định của pháp luật

(11).Từ chối yêu cầu của các tổ chức, cá nhân trái với quy định của pháp luật.(12).Đợc mở chi nhánh, văn phòng đại diện của HTX NN ở ngoài huyện, tỉnh theo quy định của pháp luật

(13).Đợc quyền tham gia Liên hiệp HTX, Liên minh HTX

Ngoài ra, HTX NN còn có các quyền khác có liên quan theo quy định của pháp luật

Nghĩa vụ của HTX NN

Cũng theo điều lệ mẫu HTX NN, nghĩa vụ của HTX NN đợc quy định nh sau (Điều 5):

(1).Hoạt động dịch vụ, sản xuất, kinh doanh đúng ngành nghề, mặt hàng đã

Trang 9

(4).Bảo toàn và phát triển vốn của HTX NN, quản lý và sử dụng đất đợc Nhà

n-ớc giao theo quy định của pháp luật

(5).Chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và các nghĩa vụ khác bằng toàn bộ vốn và tài sản thuộc sở hữu của HTX NN

(6).Bảo vệ môi trờng sinh thái, cảnh quan, di tích lịch sử và các công trình quốc phòng an ninh theo quy định của pháp luật

(7).Bảo đảm các quyền của xã viên và thực hiện các cam kết kinh tế đối với xã viên

(8).Thực hiện nghĩa vụ đối với các xã viên trực tiếp lao động cho HTX NN và ngời lao động do HTX thuê, khuyến khích và tạo điều kiện để những ngời lao động trở thành xã viên HTX NN

(9).Đóng bảo hiểm cho xã viên theo quy định của pháp luật

(10).Chăm lo giáo dục, đào tạo, bồi dỡng, nâng cao trình độ, cung cấp thông tin

để mọi xã viên tích cực tham gia xây dựng HTX NN

4 Sự cần thiết phát triển kinh tế hợp tác và HTX trong nông nghiệp, nông thôn nớc ta.

Hợp tác là đặc tính lao động của con ngời Nó xuất hiện cùng với sự xuất hiện của loài ngời và tồn tại đến ngày nay

ở nớc ta, từ xa xa, trong nông nghiệp và nông thôn nớc ta đã có nhiều loại hình

tổ chức hợp tác, tơng trợ giữa các hộ nông dân với những nội dung đơn giản và quy ớc không thành văn nhng đợc các thành viên trong cộng đồng ở nông thôn tự giác thực hiện nghiêm chỉnh qua nhiều thế hệ, nhiều khi còn tồn tại cho đến ngày nay nh hội hiếu, hỷ, hội làm nhà, đổi công sản xuất, quỹ nghĩa thơng

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ở các vùng tự do Nông hội các cấp đã hớng dẫn nông dân phát triển các tổ đổi công tơng trợ nhau, khắc phục khó khăn do thiếu lao động, sức kéo để làm đất, gieo cấy, thu hoạch kịp thời vụ

Sau khi hoà bình lập lại ở miền Bắc, đến năm 1957 cuộc cải cách ruộng đất kết thúc Một phần ba triệu hecta ruộng đất đợc đem chia cho nông dân Nhng do trình độ canh tác còn rất lạc hậu, mới thoát thai từ chế độ thực dân nửa phong kiến, nông dân

đã tổ chức nhau lại thành các tổ vần công, đổi công, nhằm giúp nhau trong sản xuất

và đời sống Hình thức hợp tác này tuy còn rất giản đơn, mới chỉ là hợp tác về lao

động xong đã giúp ngời nông dân giải quyết đợc khó khăn về sức kéo, giúp nhau làm kịp thời vụ, nhất là đối với những gia đình neo đơn Sau cuộc cải cách ruộng đất, phong trào tổ đổi công phát triển nhanh: năm 1956 ở miền Bắc có 190.000 tổ đổi công, thu hút 50% số hộ nông dân (1,35 triệu hộ); đến năm 1958 có 244.000 tổ đổi công thu hút 56% số hộ nông dân Điều đó chứng tỏ hình thức hợp tác đơn giản này phù hợp với đặc điểm và yêu cầu của các hộ nông dân tự chủ sản xuất; đồng thời nó

đã tạo ra không khí làm việc vui vẻ trên tinh thần tơng trợ và tin tởng lẫn nhau, dựa

Trang 10

trên sức mạnh cộng đồng - một sức mạnh tinh thần mà những ngời làm ăn đơn lẻ không thể có đợc.

Tuy nhiên quá trình này cha đủ dài để phát huy hiệu quả trong nền kinh tế thì chỉ một thời gian ngắn sau đó cuộc vận động đa nông dân, nông thôn đi vào con đờng hợp tác hoá nông nghiệp đã đợc tiến hành rầm rộ ở miền Bắc (và ở miền Nam sau ngày thống nhất đất nớc - 1975) Đây là bớc ngoặt trong đời sống kinh tế và chính trị

ở nớc ta Phong trào HTX đã có nhiều đóng góp vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong thời kỳ chống Mỹ cứu nớc Song do cấu trúc cha phù hợp nên mặc

dù đã có gần 30 năm hoạt động nhng khi nền kinh tế chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc thì hầu hết các HTX NN tan rã hoặc chỉ còn là hình thức, cản trở sự phát triển của sản xuất

Cùng với sự đổi mới cơ chế kinh tế, hộ nông dân đã đợc xác định là đơn vị kinh

tế tự chủ, đợc giao quyền sử dụng đất ổn định lâu dài, đợc tự do làm ăn, tự do tiêu thụ sản phẩm tại thị trờng có lợi nhất Các HTX NN, hầu hết đã ngừng hoạt động nhng không giải thể đợc vì nợ nần chồng chất (chỉ còn tồn tại hình thức) cản trở sự phát triển sản xuất nông nghiệp Trong khi đó, không phải hộ nông dân nào khi trở thành

đơn vị kinh tế tự chủ cũng tiến hành sản xuất có hiệu quả Vừa mới thoát khỏi cơ chế tập trung bao cấp, lại phải bơn chải ngay trong cơ chế thị trờng đầy biến động, ngời nông dân gặp phải không ít khó khăn mới trong sản xuất, kinh doanh và đời sống Với cơ sở vật chất kỹ thuật lạc hậu, cơ sở hạ tầng yếu kém, lại thờng xuyên bị thiên tai tàn phá làm cho thu nhập của họ vốn đã thấp lại càng thấp hơn Trong điều kiện đó, từng hộ đơn lẻ không thể khắc phục hết những khó khăn để vơn lên, nhất là tăng nguồn lực về mọi mặt để mở rộng sản xuất, tăng sức cạnh tranh trên thị trờng với các thành phần kinh tế khác Những yếu tố đó đã làm nảy sinh nhu cầu hợp tác của kinh

tế hộ và là vấn đề tất yếu khách quan để hỗ trợ nhau về vốn, lao động, áp dụng công nghệ kỹ thuật mới vợt qua phạm vi khả năng của hộ Nhu cầu hợp tác mới này đã và

đang xuất hiện ở khắp các địa phơng trong cả nớc Ngời lao động tự nguyện lập ra các hình thức kinh tế hợp tác rất đa dạng, từ nhỏ đến lớn và đang hoạt động có hiệu quả thiết thực ngay trong lòng các HTX cũ

Do vậy việc đổi mới và phát triển các HTX NN nói riêng, phát triển kinh tế hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn nớc ta là một đòi hỏi cấp bách, mang tính khách quan, phù hợp với nhu cầu và nguyện vọng của ngời lao động trong thời kỳ mới

Trang 11

II Khái quát tình hình phát triển kinh tế hợp tác trong nông nghiệp nớc ta Sự cần thiết phải đổi mới và nội dung đổi mới HTX nông nghiệp

1 Khái quát tình hình phát triển kinh tế hợp tác trong nông nghiệp nớc ta

Các hình thức hợp tác trong nông nghiệp nớc ta đợc hình thành từ lâu đời với những hình thức giản đơn nh: vần công, đổi công, tổ vần công, tổ đổi công, tổ đờng n-ớc Đến năm 1958, một hình thức hợp tác mới trong nông nghiệp xuất hiện, có tổ chức chặt chẽ, có điều lệ thành văn, đó là HTX sản xuất NN Đến nay, sau hơn 40 năm phát triển, HTX NN đã trải qua những bớc thăng trầm và đang có những thay đổi

để khẳng định vị trí đích thực trong thời kỳ đổi mới với nền kinh tế nhiều thành phần theo định hớng XHCN Quá trình phát triển nông nghiệp theo định hớng XHCN ở nớc

ta có thể chia thành các giai đoạn sau:

1.1 Từ năm 1958 đến 1980

Đây là thời kỳ kinh tế tập thể đợc coi trọng, kinh tế hộ từng bớc bị tróc hết cơ

sở kinh tế-xã hội của nó Ban đầu là việc tập thể hoá không hoàn toàn ruộng đất và các t liệu sản xuất trong ngành trồng trọt, sau đó mức độ tập thể hoá đợc nâng cao: ruộng đất và toàn bộ những t liệu sản xuất chủ yếu đợc tập thể hoá triệt để không những trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp mà cả các lĩnh vực khác nữa Trong giai

đoạn này, kinh tế hộ chỉ còn là một bộ phận rất nhỏ gọi là kinh tế phụ gia đình-đó là những ngành phụ, quy mô rất nhỏ, không thể tập thể hoá đợc nh chăn nuôi gia cầm , gia đình sử dụng mảnh đất 5% của tập thể giao cho để thực hiện kinh tế phụ Điều kiện để phát triển kinh tế phụ gia đình rất hạn hẹp, tất cả những điều kiện vật chất để làm kinh tế phụ chỉ đợc coi là “hợp pháp” khi đã làm tròn nghĩa vụ đối với tập thể hoặc không ảnh hởng đến tập thể Trên thực tế đã tồn tại một nghịch lý là thu nhập của kinh tế hộ từ sự phân chia của HTX ngày càng ít ỏi, làm cho đời sống của nông dân rất khó khăn và chỉ với 5% diện tích đất canh tác kinh tế phụ gia đình lại chiếm quá nửa thu nhập, ngời nông dân ngày càng quan tâm đến kinh tế phụ hơn Việc sản xuất tập thể, phân phối bình quân làm cho ngời nông dân không còn hứng thú sản xuất vì ngời làm tốt cũng nh ngời làm không tốt đều đợc hởng sản phẩm nh nhau Từ

đó dẫn đến tình trạng ruộng đất, mặt nớc, đồi rừng sử dụng kém hiệu quả, nhiều vùng

bỏ hoang, tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt dần Thêm vào đó là tình trạng yếu kém trong khâu tổ chức quản lý - đó là mảnh đất tốt cho những tàn d tiêu cực của chế độ làng xã cổ truyền trỗi dậy và tình trạng mất dân chủ trong nông thôn - làm cho mô hình HTX NN ở nớc ta thời kỳ này lâm vào khủng hoảng toàn diện, đứng trớc nguy cơ diệt vong

1.2 Từ năm 1981 đến 1987

Trang 12

Sau hơn 20 năm thực hiện hợp tác hoá nông nghiệp từ bậc thấp lên bậc cao, chúng ta đã thực hiện nhiều cuộc vận động lớn ở nông thôn nhằm tăng cờng củng cố HTX NN Song do nhận thức giản đơn về CNXH, nhận thức không đầy đủ và coi th-ờng quy luật tự nhiên, kinh tế-xã hội, muốn nhanh chóng xoá bỏ nghèo nàn, ngăn chặn tự phát t bản nên chúng ta đã xây dựng mô hình hợp tác hoá nông nghiệp một cách ồ ạt, áp đặt và dùng nhiều hình thức cỡng bức nông dân tham gia HTX NN Sở hữu tập thể đợc thiết lập trên cơ sở xoá bỏ sở hữu của ngời nông dân về ruộng đất và các t liệu sản xuất khác, làm cho ngời nông dân bị tha hóa, không còn thiết tha với ruộng đồng, triệt tiêu động lực của ngời lao động Tình trạng đó, cùng với hậu quả của thiên tai (lụt năm 1969, 1970, 1979; rét đậm kéo dài 1975, 1976 ) và hậu quả của chiến tranh là nguyên nhân làm cho kinh tế-xã hội nông thôn ngày càng sa sút nghiêm trọng, nhiều mục tiêu kinh tế đề ra không đạt đợc, ruộng đất bị bỏ hoang

Đứng trớc thực trạng đó, một số cán bộ quản lý HTX NN và bà con xã viên đã năng

động, nhạy cảm áp dụng khoán sản phẩm cho ngời lao động (còn gọi là “khoán chui”) gắn trách nhiệm của ngời lao động với sản phẩm một cách trực tiếp hơn nên phát huy tốt hơn tính tích cực lao động, tạo động lực mới phát triển sản xuất Hiện tợng “khoán chui” ngày càng mở rộng; nảy sinh nhiều quan điểm trái ngợc nhau gây nhiều tranh cãi Sau khi khảo sát thực tiễn, lắng nghe ý kiến cơ sở, tâm t nguyện vọng của ngời nông dân, ngày 21/10/1980 Ban Bí th đã ra thông báo số 22, tiếp đến là Chỉ thị 100 (13/01/1981) khẳng định chủ trơng và mở rộng hình thức “khoán sản phẩm cuối cùng

đến nhóm và ngời lao động”

Chỉ thị 100 đã nêu rõ mục đích là phải đảm bảo phát triển sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế trên cơ sở lôi cuốn đợc mọi ngời hăng hái lao động, kích thích tăng năng suất lao động, sử dụng tốt đất đai và các cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, tiết kiệm chi phí sản xuất, củng cố và tăng cờng quan hệ sản xuất XHCN ở nông thôn, không ngừng nâng cao thu nhập và đời sống của xã viên

Chỉ thị 100 ra đời đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của xã viên, đã khơi dậy sinh khí mới trong nông thôn, ngăn chặn sa sút, tạo đà đi lên, gợi mở một hớng mới để tìm tòi đổi mới cơ chế quản lý trong nông nghiệp Mặc dù bị ảnh hởng bởi nhiều yếu tố song do tác động tích cực của cơ chế “khoán sản phẩm” nên sản xuất nông nghiệp thời kỳ này vẫn phát triển khá: tổng sản lợng lơng thực cả nớc liên tục tăng và đáng

kể, bình quân 5 năm 1981-1985 đạt 17 triệu tấn (năm 1980 chỉ đạt 14,3 triệu tấn), tốc

độ tăng bình quân mỗi năm đạt 5%, dẫn đến lơng thực bình quân đầu ngời tăng lên rõ rệt: năm 1981 là 273 kg; 1984 là 303kg; 1985 là 304kg Cây công nghiệp ngắn ngày

và dài ngày cũng có bớc phát triển đáng kể cả về diện tích và sản lợng; chăn nuôi gia

đình phát triển khá; chăn nuôi tập thể của HTX đã có bớc chấn chỉnh lại, chú ý đến hiệu quả kinh tế, kết hợp hai hình thức: vừa chăn nuôi tập trung, vừa khoán cho gia

đình xã viên nuôi cho HTX

Trang 13

Tuy nhiên chỉ thị 100 cũng có nhiều hạn chế: nguyên tắc đa ra vẫn còn cứng nhắc, cơ chế quản lý về cơ bản vẫn là bao cấp, phân phối theo công điểm, thu nhập từ kinh tế tập thể còn thấp, mức khoán không ổn định, tệ quan liêu mệnh lệnh và tình trạng tham ô trong HTX tiếp tục tăng và trở nên phổ biến Động lực lao động vừa đợc tạo ra đã dần bị triệt tiêu Từ năm 1986 trở đi sản xuất nông nghiệp lại giảm sút, tình trạng xã viên nợ sản phẩm HTX tăng lên, nhiều nơi nông dân đã trả bớt ruộng khoán cho HTX Nguyên nhân là do nông dân xã viên mới làm chủ đợc một phần trong sản xuất, còn một phần quan trọng vẫn do HTX điều hành, mà phần này thì ngày càng sút kém, không đảm bảo số lợng và thời gian, chi phí tăng làm cho mức khoán tăng, trong khi đó mức thu nhập thực tế của xã viên giảm.

Thực trạng trên một lần nữa khẳng định phải tiếp tục điều chỉnh, đổi mới cơ chế quản lý nông nghiệp, đổi mới chính sách quản lý của Nhà nớc đối với HTX và nông dân mà chỉ thị 100CT/TW mới chỉ là bắt đầu

1.3 Từ năm 1988 đến nay

Đại hội Đảng VI đã khẳng định một bớc ngoặt trên con đờng đổi mới, khẳng

định sự tồn tại lâu dài của nền kinh tế nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị ờng có sự điều tiết của Nhà nớc theo định hớng XHCN; nhấn mạnh quy luật: quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất

tr-Trên cơ sở kế thừa sự đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp giai đoạn trớc, nhiều

địa phơng đã tiến hành đổi mới thử trên các mặt: điều chỉnh quan hệ sở hữu về t liệu sản xuất, khẳng định vai trò của hộ xã viên bằng việc thực hiện cơ chế “khoán gọn”, khoán ổn định ruộng đất lâu dài cho hộ và đã tạo ra sự phấn khởi trong nông dân, sức sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn đợc giải phóng thêm một bớc, cơ sở vật chất đợc tăng cờng; nông dân gắn bó với đồng ruộng, tích cực bỏ vốn vào sản xuất nông nghiệp và các ngành nghề khác

Tổng kết thực tiễn, ngày 05/04/1988 Bộ chính trị đã ban hành Nghị quyết “về

đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp” còn gọi là Nghị quyết 10, hay “khoán 10” với nội dung chủ yếu là: Tổ chức lại sản xuất trong HTX NN; HTX NN là một đơn vị kinh tế tự chủ, tự quản; xác định rõ vai trò của hộ xã viên, khoán gọn đến hộ và nhóm hộ; điều chỉnh quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý giữa HTX và hộ xã viên; xoá bỏ chế

độ phân phối theo công điểm; khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn; từng bớc xây dựng nông thôn mới Có thể nói Nghị quyết

10 là mốc quan trọng đánh dấu sự đổi mới toàn diện trong nông nghiệp, nông thôn

n-ớc ta

Cùng với Nghị quyết 10, Nghị quyết TW6 khoá VI (1988); Nghị quyết TW5 khoá VII (1993) và sự đổi mới của nhiều chính sách có liên quan đã khẳng định hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ; đợc nhận ruộng đất ổn định lâu dài gắn liền với 5 quyền: quyền sử dụng, quyền chuyển đổi, chuyển nhợng, thừa kế và thế chấp HTX

Trang 14

NN tiến hành hoá giá, bán lại cho hộ xã viên những TLSX mà HTX quản lý, sử dụng không có hiệu quả Nhiều cơ sở vật chất của HTX nh nhà trẻ, mẫu giáo, đờng điện sáng đợc giao lại cho UBND xã quản lý để phục vụ cho nhu cầu chung của xã, HTX chỉ quản lý những cơ sở vật chất kỹ thuật có liên quan trực tiếp đến sản xuất và đời sống chung của xã viên HTX từ chỗ chỉ đạo, điều hành trực tiếp kế hoạch sản xuất chuyển sang hớng dẫn sản xuất, làm dịch vụ cho hộ xã viên ở những khâu mà hộ xã viên không làm đợc hoặc làm không hiệu quả; hộ xã viên tự bố trí sản xuất kinh doanh, tự do lao động, thuê dịch vụ, mua vật t, bán sản phẩm và quan hệ với HTX bình đẳng thông qua hợp đồng kinh tế Xã viên chỉ có nghĩa vụ nộp thuế và thanh toán các chi phí dịch vụ cho HTX.

Sự đổi mới đó có tác động rất lớn đối với sản xuất nông nghiệp Trong thời kỳ này, sản xuất nông nghiệp nớc ta có những thành tựu đáng kể:

Sản lợng lơng thực tăng mạnh và khá vững chắc; đã hình thành nhiều vùng lơng thực hàng hoá có quy mô lớn; đa nớc ta từ chỗ là một nớc thiếu đói lơng thực thờng xuyên trở thành một nớc xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới với số lợng mỗi năm một tăng

Cùng với cây lơng thực, các loại cây trồng khác cũng phát triển rất nhanh, đặc biệt là cây công nghiệp, cây ăn quả tập trung với quy mô lớn, có trình độ thâm canh cao

Việc nuôi trồng và đánh bắt thuỷ hải sản cũng nh sản xuất lâm nghiệp có bớc tiến đáng kể làm thay đổi cơ cấu nội tại của sản xuất nông nghiệp theo hớng tiến bộ:

tỷ trọng của nông nghiệp giảm dần, tỷ trọng của lâm nghiệp và đặc biệt là ng nghiệp tăng dần trong tổng giá trị sản xuất nông-lâm-ng nghiệp

Nông nghiệp nớc ta từng bớc chuyển dần từ nền kinh tế tự cung tự cấp sang nền kinh tế hàng hoá và hớng mạnh ra xuất khẩu với các mặt hàng chủ yếu: lúa gạo, cà phê, chè, cao su, thuỷ sản

Cơ sở hạ tầng trong nông nghiệp, nông thôn đợc cải tạo và xây dựng mới ở nhiều vùng, địa phơng nhờ vốn và công sức của nông dân kết hợp với nhà nớc

Thu nhập và đời sống của nông dân có bớc cải thiện rõ rệt, bộ mặt nông thôn có nhiều thay đổi theo hớng tiến bộ

Tuy nhiên bên cạnh những mặt đạt đợc, giai đoạn này cũng nảy sinh nhiều vấn

đề bức xúc: ruộng đất và tranh chấp ruộng đất; chính sách xã hội và chính sách kinh

tế cha nhất quán với nhau; đổi mới tổ chức quản lý và sự tồn tại của mô hình HTX

NN kiểu cũ

Sự điều chỉnh, đổi mới chủ trơng, quan điểm và chính sách của nền kinh tế nói chung, hợp tác hoá nói riêng cho phù hợp quy luật là quá trình tổng kết thực tiễn, tìm tòi hình thức kinh tế phù hợp với đặc điểm nông nghiệp, nông thôn, nông dân nớc ta

Sự đổi mới đó đã đa đến những bớc phát triển mới trong nông nghiệp, nông thôn nhng

Trang 15

thực trạng kinh tế-xã hội nông thôn lại có những mâu thuẫn mới, những vấn đề nảy sinh rất gay go và đòi hỏi phải đợc tiếp tục giải quyết.

2 Sự cần thiết phải đổi mới và nội dung đổi mới HTX NN

2.1 Sự cần thiết phải đổi mới HTX NN

HTX NN có vai trò rất to lớn trong nông nghiệp, nông thôn cũng nh trong nền kinh tế quốc dân Với thời gian xây dựng và phát triển HTX NN ở nớc ta đã để lại không ít dấu ấn và kinh nghiệm

Các HTX NN trớc đây là kết quả của phong trào tập thể hoá nông nghiệp và đã

có đóng góp không nhỏ vào quá trình phát triển kinh tế-xã hội của đất nớc Tuy nhiên, trớc những đòi hỏi thử thách của quá trình đổi mới của nền kinh tế cũng nh quá trình phát triển của các HTX NN cho thấy: hình thức tổ chức, nội dung hoạt động, phơng thức quản lý của các HTX NN trớc đây không còn phù hợp, không thích nghi với điều kiện mới, thậm chí còn cản trở sự phát triển của sản xuất nông nghiệp Động lực phát triển không đợc phát huy mà bị triệt tiêu, các nguồn lực sản xuất trong nông nghiệp không đợc khai thác tốt và sử dụng kém hiệu quả Đây là một thực tế đòi hỏi phải đổi mới các HTX NN nhằm tạo ra một động lực phát triển mới, phát huy vai trò của HTX trong điều kiện mới Việc đổi mới này đồng thời cũng là khẳng định quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của hộ xã viên, phát huy tối đa năng lực tự chủ sản xuất kinh doanh của từng hộ, phù hợp với tâm t, nguyện vọng của nhân dân Sự đổi mới các HTX NN không phải là phủ nhận hay xoá bỏ mà là sự kế thừa có chọn lọc để sao cho các HTX

NN ngày càng phát triển, phát huy đợc vai trò của nó trong nền KTQD

Việc đổi mới các HTX NN không chỉ đơn thuần là sự giải thể các HTX làm ăn kém hiệu quả hoặc chỉ còn tồn tại hình thức mà nó còn bao gồm cả quá trình phát triển các hình thức kinh tế hợp tác đa dạng trong nông nghiệp, nông thôn trên cơ sở tự nguyện, dân chủ và cùng có lợi

Đổi mới HTX NN là tất yếu khách quan, là cần thiết để phát huy sức mạnh của kinh tế nông nghiệp trong nền KTQD, vì vậy cần đợc tôn trọng và thực hiện một cách nghiêm túc, khoa học Bởi thành công trong việc đổi mới HTX NN, sẽ đem lại kết quả

to lớn cho việc phát triển kinh tế của đất nớc, nhất là trong sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn

2.2 Nội dung đổi mới HTX NN

Hiện nay, đổi mới HTX NN bao gồm các nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất: Đổi mới quan hệ sở hữu

Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, HTX NN là chủ sở hữu các TLSX và là chủ sử dụng ruộng đất Khi chuyển sang cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc thì chế độ sở hữu đó không còn phù hợp Hộ xã viên đã đợc thừa nhận cả về phơng diện pháp lý và kinh tế-hộ là chủ thể kinh tế và sở hữu tập thể đợc chuyển sang sở hữu cá thể HTX NN trả lại quyền sở hữu, sử dụng và tự chủ đối với các loại TLSX cho

Trang 16

ngời lao động và cho xã viên HTX NN HTX chỉ còn sở hữu trong phạm vi hạn chế: trạm bơm điện, công trình thuỷ lợi

Quan hệ sở hữu chuyển dần từ sở hữu tập thể sang sở hữu hộ xã viên là một nội dung quan trọng vì điều đó góp phần thúc đẩy tính sáng tạo, năng động của hộ xã viên, đồng thời cho phép kết hợp hài hoà giữa lợi ích tập thể với lợi ích cá nhân, giữa lợi ích của Nhà nớc và lợi ích của tập thể ở đây, HTX có chức năng thay mặt Nhà nớc giao quyền sử dụng đất lâu dài, ổn định cho hộ xã viên theo phơng thức khoán gọn Các TLSX khác nh trâu bò, cũng đợc chuyển sang sở hữu t nhân để phát huy hiệu quả kinh tế của nó

Thứ hai: Đổi mới quan hệ quản lý điều hành

Đây là một nội dung quan trọng trong đổi mới HTX NN Khi quan hệ sở hữu và

sử dụng lao động thay đổi thì quan hệ quản lý, điều hành trong HTX cũng phải thay

đổi theo bởi vì trong cơ chế khoán mới, nội dung của quan hệ quản lý gắn liền với nội dung quan hệ sở hữu Hộ xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ, có quyền sở hữu các TLSX,

có quyền điều hành lao động và phân phối sản phẩm thì nội dung quản lý, điều hành sản xuất, kinh doanh cũng thuộc về hộ xã viên

Việc đổi mới quan hệ quản lý điều hành của HTX NN phải làm sao cho phù hợp với cơ chế hạch toán, đảm bảo tăng hiệu quả, nâng cao tính độc lập tự chủ và tự chịu trách nhiệm của HTX NN trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phục vụ hộ xã viên Hoạt động của HTX và hoạt động của hộ xã viên vừa độc lập, vừa phụ thuộc hỗ trợ nhau phát triển hài hoà

Thứ ba: Đổi mới quan hệ phân phối

Quan hệ phân phối trong HTX NN gắn liền với quan hệ sở hữu và quan hệ quản

lý điều hành Trong những năm trớc đổi mới, quan hệ phân phối trong các HTX NN thực hiện theo cơ chế phân phối bình quân bao cấp tràn lan, không gắn lợi ích với công sức đóng góp của ngời lao động và cán bộ quản lý HTX HTX giữ vai trò quyết

định trong việc phân phối kết quả sản xuất, kinh doanh và hộ xã viên chỉ là đối tợng hởng quyền lợi Trong cơ chế mới, quan hệ này cũng đợc thay đổi Hộ xã viên là đơn

vị kinh tế tự chủ nên có quyền phân phối sản phẩm thu đợc từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình; trong đó có phần nộp thuế và thanh toán các chi phí dịch vụ cho HTX Lãi của HTX NN từ hoạt động dịch vụ, sản xuất, kinh doanh, ngoài phần nộp thuế và trích quỹ, phần còn lại phân phối cho xã viên theo công lao và đóng góp thực

sự của từng xã viên

Thứ t: Đổi mới bộ máy quản lý HTX NN

Đổi mới bộ máy quản lý HTX là một yêu cầu khá cấp bách và bao gồm nội dung sau:

Xác định lại chức năng, nhiệm vụ của Ban quản lý

Đổi mới cán bộ quản lý theo hớng tăng chất lợng và giảm số lợng

Trang 17

Cân đối giữa nhiệm vụ và biên chế để có thể hợp lý hoá tổ chức và nhân sự theo hớng tinh giảm, gọn nhẹ và có hiệu lực.

Sự tồn tại của bộ máy quản lý HTX NN cồng kềnh và đồ sộ nh thời kỳ kế hoạch hoá tập trung là không thích hợp và không theo kịp với hoàn cảnh mới Ban quản lý HTX NN kiểu mới phải thật gọn nhẹ, cán bộ quản lý phải là ngời có năng lực, có hiểu biết về thị trờng dịch vụ Nhng đổi mới ở đây không phải là xoá bỏ các tổ chức cũ, thay thế hoàn toàn cán bộ mà điều quan trọng là phải chọn lọc cái đợc, cái thích hợp

để giữ lại và điều chỉnh cho phù hợp

Thứ năm: Đổi mới quan hệ giữa Nhà nớc với HTX NN

Trong cơ chế thị trờng, vai trò của Nhà nớc đối với HTX NN là rất quan trọng, thể hiện sự quản lý của Nhà nớc đối với nông nghiệp, nông thôn và nông dân Song Nhà nớc không trực tiếp quản lý HTX nh trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung mà thể hiện gián tiếp qua các chính sách vĩ mô, đầu t xây dựng cơ sở hạ tầng, bồi dỡng và

đào tạo cán bộ Sự hỗ trợ của nhà nớc đối với các HTX NN trong cơ chế hộ tự chủ, thực chất là một bộ phận đầu t của Nhà nớc trong nông nghiệp, nông thôn nhằm bảo

đảm an toàn lơng thực, ổn định xã hội và tăng trởng kinh tế nói chung theo định hớng XHCN

Tóm lại, quan hệ giữa Nhà nớc với HTX NN trớc kia là quan hệ bao cấp thì nay

đó là quan hệ bảo hộ, t vấn, “bà đỡ”, định hớng và hỗ trợ cho HTX NN phát triển một cách thuận tiện và lành mạnh

III Một số quan điểm về sự đổi mới HTX NN ở nớc ta Những tiêu chí

đánh giá

1 Một số quan điểm về sự đổi mới HTX NN ở nớc ta

Các giải pháp chuyển đổi và hình thức chuyển đổi HTX NN kiểu cũ ở nớc ta trong cơ chế mới là rất khác nhau Để đánh giá đúng sai cần dựa trên một số quan

điểm nền tảng sau đây:

Một là:Việc chuyển đổi hình thức kinh tế HTX NN đợc đặt trong bối cảnh mới

là một nền kinh tế nhiều thành phần, sản xuất hàng hoá vận hành theo cơ chế thị ờng, theo định hớng XHCN Đó là điều khác biệt rất căn bản với trớc kia - kinh tế tập thể trong nền kinh tế kế hoạch tập trung cao Điều đó có nghĩa là nền kinh tế thừa nhận có sở hữu t nhân với nhiều hình thức sở hữu khác nhau Có nghĩa là chấp nhận

tr-sự cạnh tranh và hợp tác Một doanh nghiệp thuộc bất kỳ sở hữu nào chỉ có thể tồn tại khi tự mình vợt qua đợc thử thách của cạnh tranh Có nghĩa là một nền kinh tế thừa nhận còn có bóc lột ở các mức độ khác nhau và chấp nhận sự phân hoá giàu nghèo trong cộng đồng dân c, mà vai trò của Nhà nớc là rất cần thiết để điều chỉnh một cách hợp lý mối quan hệ phức tạp này

Trang 18

Hai là: Trên thế giới đang tồn tại 2 loại HTX Loại HTX trên cơ sở duy trì sở

hữu cá thể về TLSX của xã viên, tự nguyện vào HTX với mu cầu đạt đợc hiệu quả kinh doanh cao hơn, từ đó phần mà xã viên thu đợc gồm 2 phần: một là lợi tức về cổ phần và hai là tiền công lao động của mỗi ngời; xã viên trong HTX vẫn là những ngời hữu sản Loại HTX này tồn tại ở nhiều nớc trên thế giới, đợc tổ chức thành “Liên minh các HTX”

Loại HTX thứ hai là loại HTX trên cơ sở tập thể hoá toàn bộ TLSX của xã viên, xã viên trở thành “ngời vô sản” và chỉ đợc hởng một phần thu nhập theo ngày công Loại HTX này chỉ có ở các nớc XHCN Với ý nghĩa đó thì khi tập thể hoá TLSX sẽ không còn khái niệm HTX nữa mà chỉ là một doanh nghiệp tập thể

Bởi vậy khi xem xét chuyển đổi không nên lẫn lộn loại HTX tập thể hoá với loại HTX hợp tác hoá

Ba là: Chuyển đổi từ hình thức kinh doanh này sang hình thức kinh doanh

khác, thậm chí từ một sở hữu này sang một sở hữu khác thì lấy gì làm thớc đo cho sự tốt xấu và đúng sai?

 Về mặt kinh tế: Ta lấy sự tăng trởng của doanh lợi làm số đo tốt xấu Đó là: mở rộng sản xuất, tăng sản phẩm, tăng doanh số, tăng nộp ngân sách Nhà nớc

 Về mặt xã hội: Ta đo lờng đúng sai bằng sự tăng thêm công ăn việc làm cho ngời lao động, giải quyết nạn thất nghiệp, sự tăng thêm thu nhập cho xã viên Bởi vậy, không nên câu lệ vào hình thức kinh tế mà bằng nội dung kinh tế-xã hội của hình thức chuyển đổi mà đánh giá đúng sai

Bốn là: Chấp nhận sự phân hoá giàu nghèo giữa ngời làm tốt và ngời làm không

tốt, giữa ngời có của và ngời có công Đoạn tuyệt với phơng thức ăn chia bình quân

Đó là một đòi hỏi của cơ chế thị trờng và cũng là sự công bằng xã hội Việc điều chỉnh sự giầu nghèo chỉ có thể bằng các chính sách xã hội của Chính phủ nh xoá đói giảm nghèo, “mái nhà tình nghĩa”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”

là ngời hiểu rõ thực trạng của mình và các khó khăn mình đang gặp phải cũng nh nhu cầu phát triển Do vậy, quyết định gia nhập HTX NN của một xã viên phải trên cơ sở nhận thức rõ mục tiêu của tổ chức và hoàn toàn tự nguyện

(2).Nguyên tắc cùng có lợi đợc tôn trọng: là tiêu chí quan trọng thứ hai cho sự tồn tại và phát triển lâu bền của HTX Tiêu chí cùng có lợi phải đợc thấm sâu trong

Trang 19

Điều lệ của từng HTX Từ quy định về vốn góp để tổ chức hoạt động kinh doanh, phân phối lợi ích và cách tổ chức làm việc của HTX Chỉ có thể kết hợp sức mạnh của tập thể với sức mạnh của hộ xã viên trên cơ sở xử lý hài hoà các lợi ích theo nguyên tắc cùng có lợi.

(3).Quyền làm chủ của xã viên đợc đảm bảo: là tiêu chí quan trọng trong hoạt

động của HTX Muốn HTX đi đúng hớng, đáp ứng nguyện vọng của xã viên thì phải tôn trọng quyền làm chủ của xã viên Điều đáng lu ý là trong tổ chức kinh doanh của kinh tế hợp tác phải đợc làm từ dới lên chứ không phải từ trên xuống Cuộc sống đa dạng và phong phú sẽ tạo ra các mô hình HTX năng động, đa dạng chứ không thể theo những khuôn mẫu định sẵn từ bên trên

Bất kỳ loại hình kinh tế hợp tác nào theo đúng nghĩa một HTX đích thực cũng phải đảm bảo các tiêu chí cơ bản trên

IV Kinh nghiệm phát triển kinh tế hợp tác trong nông nghiệp ở một

HTX trong nông nghiệp nớc Mỹ bắt đầu xuất hiện từ những năm 60-70 của thế

kỷ XIX nhng ảnh hởng của nó đến sản xuất nông nghiệp thời gian này cha nhiều Đến năm 1922, quốc hội Mỹ thông qua đạo luật thừa nhận quyền của những ngời nông dân chủ trang trại tham gia các tổ chức HTX dịch vụ cung ứng để mua TLSX, vật t kỹ thuật và bán các sản phẩm nông nghiệp-tức là HTX không những đã trở thành các tổ chức kinh tế mà còn đợc thừa nhận về mặt pháp lý Điều này đã tạo bớc phát triển mới cho các HTX trong nông nghiệp nớc Mỹ

Từ những năm 50 đến những năm 90 của thế kỷ XX, số lợng HTX và xã viên HTX trong nông nghiệp giảm đi nhiều (số lợng HTX giảm đi gần một nửa và số lợng xã viên giảm đi gần 1/4) nhng điều đó không có nghĩa là kinh tế hợp tác trong nông nghiệp giảm sút đi Nguyên nhân ở đây là do lao động nông nghiệp chuyển sang các lĩnh vực phi nông nghiệp tăng làm cho số lợng xã viên trong HTX NN giảm đi và do

Trang 20

quy mô các HTX cơ sở tăng, phạm vi hoạt động rộng ra nên số lợng HTX NN cũng giảm đi Việc tăng quy mô và giảm số lợng HTX sẽ tạo điều kiện tập trung, tăng cờng vốn và năng lực kinh doanh của các HTX.

Kinh tế hợp tác trong nông nghiệp nớc Mỹ có một hệ thống tổ chức HTX từ địa phơng cơ sở đến các bang hoặc liên bang, bao gồm 3 cấp: HTX cơ sở; Liên hiệp HTX theo ngành, sản phẩm ở từng vùng sản xuất và Liên đoàn HTX cấp bang hoặc liên bang

Các HTX đợc tổ chức theo nguyên tắc đóng góp vốn cổ phần và mỗi xã viên

đ-ợc một phiếu bầu, không kể số cổ phần nhiều hay ít

Trong hoạt động của các HTX, Đại hội xã viên cơ sở và Đại hội đại biểu xã viên các Liên hiệp HTX có quyền quyết định về hoạt động kinh doanh của HTX Hàng năm, Đại hội xã viên bầu ra Hội đồng giám đốc của HTX với chức năng là duyệt các quyết định về tài chính và các quyết định khác trong lĩnh vực quản lý nh kế hoạch phát triển HTX, kế hoạch vay và sử dụng vốn Những ngời nh tổng quản lý và các phụ tá, các kế toán viên, kỹ thuật viên, các chuyên gia cố vấn về các lĩnh vực kinh doanh của HTX là do HTX thuê ngời làm

Các loại hình HTX trong nông nghiệp ở Mỹ rất đa dạng, có thể kể đến:

− HTX tiêu thụ nông sản của các trang trại

− HTX cung ứng vật t-kỹ thuật nông nghiệp

− HTX thuỷ nông

− HTX chăn nuôi bò trên đồng cỏ của các chủ trang trại chăn nuôi

− HTX cải tiến giống bò sữa

Trong đó, HTX tiêu thụ nông sản của các trang trại giữ vị trí hàng đầu trong hệ thống HTX phục vụ nông nghiệp của nớc Mỹ vì kinh tế trang trại nớc này tạo ra một khối lợng nông sản vào loại lớn nhất thế giới và đi vào chuyên môn hoá sản xuất nông sản ở từng vùng rất cao, nên tiêu thụ nông sản là vấn đề sống còn của các trang trại ở Mỹ

Hoạt động của hệ thống các HTX không chỉ làm các dịch vụ đơn thuần mà còn tiến hành các hoạt động nghiên cứu khoa học kỹ thuật, nghiên cứu thị trờng, quảng cáo hàng hoá Coi trọng việc tuyển chọn các chuyên gia kinh tế kỹ thuật, đào tạo cán

bộ làm việc ở các HTX, Liên hiệp HTX

Kinh tế hợp tác trong nông nghiệp nớc Mỹ có mạng lới rộng rãi ở hầu khắp các vùng nông thôn với một lực lợng thành viên đông đảo gồm hàng triệu trang trại phân tán ở các địa phơng, vừa là ngời tiêu thụ vừa là ngời sản xuất cung cấp nông sản hàng hoá Các HTX có mối quan hệ chặt chẽ với xã viên nên nắm bắt kịp thời nhu cầu mua vào bán ra của thị trờng nông thôn; có khả năng phản ứng linh hoạt nhạy bén trớc biến động diễn ra trên thị trờng nông thôn

Trang 21

Để nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh; cạnh tranh với các đối thủ, các HTX NN đã liên tục cải tiến các phơng thức hoạt động dịch vụ; loại bỏ những khâu trung gian không cần thiết, giảm chi phí lu thông, tạo ra những điều kiện thuận lợi tối

đa cho các đối tác-khách hàng đồng thời là các thành viên của HTX nh phát triển việc giao dịch mua bán hàng qua điện thoại, mạng internet, đa hàng đến từng trang trại nhằm đem lại lợi ích cho cả bên bán và bên mua

Xu thế phát triển HTX trong nông nghiệp nớc Mỹ là mở rộng phạm vi hoạt

động của các Liên hiệp HTX thuộc các ngành có nhiều tiềm năng bằng cách thu hút các HTX nhỏ và các công ty t nhân nhỏ vào HTX

Cũng giống nh Mỹ, ở Hà Lan rất phát triển các loại hình HTX dịch vụ chuyên ngành phục vụ nông nghiệp, nh:

− HTX cung ứng: cung cấp phân hoá học, thức ăn gia súc cho các nông trại

− HTX chế biến và tiêu thụ nông sản

− Thúc đẩy, khuyến khích các hình thức tổ chức hoạt động hợp tác kinh

tế trong nông nghiệp

− Bảo vệ quyền lợi của HTX và xã viên

Từ năm 1983, Hội đồng HTX quốc gia về nông nghiệp đã sử dụng trờng Đại học nông nghiệp để giảng dạy môn học chuyên đề về lịch sử, lý luận và thực tiễn của

tổ chức HTX trong nông nghiệp ở Hà Lan

1.3 ở Nhật Bản

Trang 22

Khác với các nớc Âu Mỹ là nơi phát triển mạnh các HTX chuyên ngành, ở Nhật bản lại phổ biến là các HTX NN đa chức năng về tổ chức (số lợng xã viên) và hoạt động kinh doanh Các HTX NN đơn chức năng tổ chức tiêu thụ một số nông sản nhất định, song số lợng những HTX nh vậy đã giảm đáng kể-nguyên nhân là do sản l-ợng các nông sản này bị giảm sút, việc kinh doanh gặp nhiều khó khăn, nhiều HTX kiểu này đã giải tán hoặc sáp nhập với các HTX NN đa chức năng khác.

Về tiêu chuẩn xã viên: Trong luật HTX có quy định cụ thể nông dân là “Những ngời tham gia kinh doanh nông nghiệp”, hay “Những ngời làm nghề nông”, đợc các HTX NN thừa nhận có diện tích canh tác hoặc có số ngày làm nghề nông (tính theo năm) tối thiểu

Hầu hết các nông dân ở Nhật bản đều tham gia vào các HTX đa chức năng Vì các HTX này không chỉ làm các dịch vụ phục vụ đầu vào và đầu ra của sản xuất nông nghiệp mà còn làm các dịch vụ phục vụ sinh hoạt cho nông dân xã viên

Hệ thống HTX NN ở Nhật bản gồm 3 cấp: Các HTX cơ sở cấp quận, huyện, thị trấn, và làng xã; Các liên hiệp HTX cấp tỉnh và cấp trung ơng đã đợc thành lập nh ở bảng 1

Căn cứ vào Luật HTX NN ở Nhật bản, thì các HTX NN có thể thực hiện các hoạt động chủ yếu sau:

− Giáo dục, phổ biến kiến thức, chỉ đạo kinh doanh, kỹ thuật nông nghiệp,

Đào tạo kỹ thuật nông nghiệp, đào tạo để hớng tới kinh doanh, cải thiện đời sống văn hoá

− Hoạt động phục vụ sản xuất nông nghiệp: Cải tạo, mở mang đất nông nghiệp, phối hợp canh tác nông nghiệp, nâng cao hợp tác hoá trong nông nghiệp, lắp đặt các thiết bị để tăng năng suất lao động

− Nhận uỷ thác đất nông nghiệp, kinh doanh nông nghiệp từ xã viên

− Làm dịch vụ tiêu thụ sản phẩm; cung ứng vật t phục vụ sản xuất nông nghiệp và đời sống cho xã viên, dịch vụ y tế (lắp đặt thiết bị bệnh viện, phòng khám)

− Chế biến nông sản

− Hoạt động tín dụng, hoạt động bảo hiểm cộng đồng, hoạt động sử dụng tập thể các cơ sở vật chất kỹ thuật của HTX NN

Trang 23

Bảng 1: Sơ đồ hệ thống tổ chức HTX NN Nhật bản đến năm 2000

Cấp trung

-ơng

Cấp tỉnh

Liên minh HTX trung ơng

Nhật bản –2ENCHU

Ngân hàng HTX nông-lâm-ngư

nghiệp trung ương Liên hiệp HTX NN hoạt động tín dụng

Liên hiệp toàn quốc các HTX NN

hoạt động bảo hiểm cộng đồng

Liên hiệp toàn quốc các

liên hiệp HTX NN

Liên hiệp toàn quốc các HTX NN

hoạt động phúc lợi

Hiệp hội le-no-Hiraki

Liên đoàn báo chí HTX NN quốc gia

Liên hiệp HTX NN hoạt động bảo hiểm cộng đồng

Liên hiệp kinh tế HTX NN

Liên hiệp HTX NN hoạt động phúc lợi

Các liên minh HTX NN khu vực Các HTX NN đa chức năng

Các xã viên

Trang 24

Ngoài ra HTX có thể tiến hành những hoạt động khác có liên quan và phù hợp với quy định của pháp luật nhằm cung cấp cho xã viên mọi loại hình dịch vụ đáp ứng mọi lĩnh vực sản xuất và đời sống của xã viên.

Trong tơng lai, các HTX NN ở Nhật bản phát triển theo hớng sáp nhập các HTX để tăng cờng các chức năng của HTX cơ sở, dần dần thực hiện các chức năng của Liên hiệp HTX để các HTX NN cấp trung ơng phát triển thành các HTX cấp khu vực

1.4 ở Trung Quốc

Cách mạng Trung Quốc thành công năm 1949, liền sau đó thực hiện cải cách ruộng đất, nông dân đợc chia ruộng đất Nhu cầu hợp tác trong nông nghiệp phát triển với các hình thức giản đơn nh tổ đổi công, HTX về sản xuất nông nghiệp bậc thấp Từ năm 1955 đến 1957, phong trào hợp tác hoá diễn ra rất nhanh với 87% số hộ nông dân vào HTX Khi đã trở thành cao trào, các hợp tác xã bậc cao đợc xây dựng, kinh tế tập thể giữ vai trò bao trùm: sức kéo, súc vật và nông cụ đợc tập trung vào HTX, hoá giá và trả tiền dần trong 5 năm

Năm 1958, Trung Quốc đã tiến hành chuyển các HTX sản xuất nông nghiệp thành các công xã nhân dân với quy mô và trình độ công hữu hóa cao hơn HTX bậc cao, đồng thời cấm đoán, kiểm soát ngặt việc phát triển kinh tế phụ gia đình

Hệ thống tổ chức công xã nhân dân ở Trung Quốc theo mục tiêu: Nhất

đại (quy mô lớn), nhị công (công hữu hoá cao), thủ tiêu quyền sở hữu t nhân ở nông thôn, thủ tiêu chủ thể kinh tế là ngời nông dân đã làm cho sản xuất nông nghiệp lâm vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng, nông dân nhiều nơi thiếu đói

Từ năm 1978, Trung Quốc đã tiến hành cải cách nông nghiệp, xoá bỏ hệ thống tổ chức công xã nhân dân và khoán ruộng đất cho từng hộ nông dân.Hiện nay, Trung Quốc đã phát triển các hình thức hợp tác trong nông nghiệp, xây dựng HTX NN tự nguyện phù hợp với yêu cầu nguyện vọng của nông dân Trung Quốc

2 Nhận xét

Sự hình thành và phát triển kinh tế hợp tác trong nông nghiệp ở một số

n-ớc trên thế giới cho thấy:

- Kinh tế hợp tác trong nông nghiệp là sản phẩm tất yếu của nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá trong quá trình CNH, dựa trên cơ sở tự chủ của kinh

tế hộ nông dân Từ thời kỳ bắt đầu CNH (giữa thế kỷ XVIII của các nớc công nghiệp cổ điển Âu Mỹ và giữa thế kỷ XX của các nớc công nghiệp mới) cho

đến khi hoàn thành CNH và trở thành các nớc công nghiệp phát triển, mạng lới HTX vẫn giữ vai trò tích cực trong nông nghiệp và nông thôn Khi chuyển sang kinh tế hàng hoá các quan hệ thị trờng trở thành cơ sở cho hoạt động kinh tế

Trang 25

của mỗi hộ nông dân HTX là hình thức thực hiện các quan hệ hợp tác trong sản xuất, kinh doanh đem lại lợi ích cho mỗi thành viên tham gia.

- Hợp tác kinh tế không thể là phong trào áp đặt duy ý chí, mà phải dựa trên cơ sở tự nguyện của nông dân khi phát sinh nhu cầu hợp tác trong quá trình sản xuất kinh doanh nông nghiệp Các tổ chức kinh tế hợp tác trong nông

nghiệp-nông thôn rất đa dạng với các loại hình, nội dung, tên gọi, phơng thức hoạt động, chứ không theo một khuôn mẫu thống nhất nào

- Hệ thống tổ chức HTX trong nông nghiệp mỗi nớc tuỳ thuộc vào loại hình và tính chất hợp tác; tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của lực lợng sản xuất

và điều kiện cụ thể của từng quốc gia

- Mô hình HTX dịch vụ phục vụ nông nghiệp phát triển ở hầu hết các quốc gia trên thế giới (ở Ixraen, tổ chức sản xuất nông nghiệp tập thể kiểu công xã-Kibút vẫn tồn tại và phát triển) đợc nông dân các nớc chấp nhận là do có những nội dung và phơng thức hợp tác phù hợp với đặc điểm của sản xuất nông nghiệp, cần có sự tồn tại của kinh tế hộ nông dân và bổ xung thêm sức mạnh cho kinh tế hộ nông dân, phù hợp với tâm lý tập quán sản xuất của nông dân vì HTX dịch vụ là hiệp hội của các hộ nông dân, chỉ xã hội hoá một phần sản xuất trên cơ sở vẫn duy trì và phát triển kinh tế hộ nông dân xã viên, HTX phục vụ kinh tế hộ nông dân Và vì vậy, càng đi lên sản xuất nông sản hàng hoá thì các

hộ nông dân-chủ trang trại càng cần đến HTX dịch vụ Còn mô hình HTX sản xuất nông nghiệp trên cơ sở tập thể hoá toàn bộ TLSX không đợc nông dân đi vào sản xuất hàng hoá tự nguyện tiếp nhận vì nó triệt tiêu động lực phát triển sản xuất, xoá bỏ triệt để kinh tế hộ gia đình Trên thực tế, hình thức tổ chức hợp tác sản xuất trong nông nghiệp tập trung 2-3 hộ nông dân, cùng làm chung một

số việc trên cơ sở từng hộ vẫn quản lý ruộng đất và TLSX riêng vẫn tồn tại ở một số nớc nh Pháp, Mỹ tuy số lợng không nhiều và cũng không có chiều h-ớng phát triển

Trang 26

Chơng II Thực trạng đổi mới và phát triển HTX nông nghiệp

ở tỉnh Thái bình thời gian qua

I Vài nét tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội có ảnh hởng đến sự đổi mới và phát triển HTX nông nghiệp của tỉnh

1 Điều kiện tự nhiên

1.1 Vị trí địa lý, địa hình

Thái Bình là một tỉnh đồng bằng ven biển, nằm ở phía Nam châu thổ sông Hồng, có địa hình tơng đối bằng phẳng, cao trình biến thiên phổ biến từ 1-2m so với mực nớc biển, đất đai phì nhiêu màu mỡ do lợng phù sa từ các con sông lớn nh sông Hồng, sông Luộc đổ về bồi tụ Thái Bình nằm ở toạ độ địa lý:

20,17 đến 20,44 vĩ bắc và 106,06 đến 106,39 độ kinh đông

Phía Đông giáp vịnh Bắc bộ; phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Nam Định; phía Bắc giáp các tỉnh Hng Yên, Hải Dơng và thành phố Hải Phòng Từ Tây sang Đông dài 54km; từ Bắc xuống Nam dài 49km

Thái Bình nằm trong vùng ảnh hởng trực tiếp của tam giác tăng trởng kinh tế phía Bắc: Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh.Có hệ thống đờng thuỷ, đờng

bộ thuận lợi cho giao lu, phát triển kinh tế của tỉnh Đặc biệt chỉ cách thành phố Hải Phòng 70km, cách thủ đô Hà nội 110km-đó là thị trờng tiêu thụ lớn, là trung tâm hỗ trợ kỹ thuật, kinh nghiệm quản trị, chuyển giao công nghệ, thông tin cho Thái Bình

1.2 Thời tiết khí hậu

Thái Bình nằm trong vùng nhiệt đới nóng ẩm châu á Hàng năm tổng nhiệt độ từ 8400 đến 85000C; nhiệt độ trung bình hàng năm là 23-240C Số giờ nắng trong năm từ 1600 đến 1800 giờ, từ tháng 5 đến tháng 10 (dơng lịch) là khoảng thời gian có số giờ nắng và lợng bức xạ lớn Độ ẩm không khí duy trì ở mức 80% đến 90%; lợng ma trung bình 1700-2000 mm Từ tháng 11 năm trớc

đến tháng 4 năm sau có gió mùa đông bắc lạnh nhng những ngày giá lạnh ờng không kéo dài liên tục mà xen kẽ những ngày ấm áp và thờng ấm hơn các tỉnh nằm sâu trong đất liền Điều kiện thời tiết khí hậu của Thái Bình rất thuận lợi cho việc phát triển đa dạng sản phẩm trong nông nghiệp; tuy nhiên cũng gặp không ít khó khăn về mùa ma bão, lũ lụt

th-1.3 Diện tích đất đai

Tỉnh Thái Bình chia thành 8 khu vực hành chính: 1 thị xã và 7 huyện, thị trấn với tổng diện tích tự nhiên là 153.780ha, trong đó diện tích đất nông

Trang 27

nghiệp là 105.954,4ha; chiếm 68,9% tổng diện tích tự nhiên (trong đó diện tích

đất canh tác là 97.160ha, chiếm 91,7% diện tích đất nông nghiệp)

Bảng 2: Số liệu diện tích đất đai của tỉnh Thái Bình 2000)

(*) so với tổng diện tích tự nhiên

(**) so với tổng diện tích đất nông nghiệp

2.2 Về văn hoá xã hội

Các lĩnh vực văn hoá, xã hội ở Thái Bình thời gian qua có bớc phát triển

đáng kể; nhiều mặt đợc đổi mới về nội dung và hình thức, cả về chiều rộng và chiều sâu Các hoạt động văn hoá, giáo dục, y tế phát triển đều khắp; đã xây dựng đợc hệ thống hạ tầng tơng đối hoàn thiện, phục vụ và nâng cao đời sống của nhân dân trong tỉnh:

+ Công tác dân số kế hoạch hoá gia đình có bớc tiến bộ quan trọng; tỷ lệ sinh giảm từ 2,26% năm 1990 xuống 1,63% năm 1999 Tỷ lệ số ngời sinh con thứ 3 trở lên từ 24% (1990) giảm xuống còn 11,2% (1999)

+ Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân đã có nhiều tiến bộ, hầu hết cơ

sở vật chất kỹ thuật của ngành y tế đợc nâng cấp, cải tạo và xây dựng mới (Bệnh viện Đa khoa, Trung tâm y tế dự phòng ) Trang thiết bị y tế đợc nâng cấp ở các tuyến, chất lợng khám chữa bệnh từng bớc đợc nâng lên

+ Sự nghiệp giáo dục đào tạo: Chất lợng học tập của học sinh tiếp tục tăng ở các bậc học, ngành học Nội dung chơng trình giảng dạy từng bớc đợc hoàn thiện theo hớng giáo dục toàn diện, chất lợng giáo dục đào tạo đợc nâng lên một bớc đáng kể Cơ sở vật chất kỹ thuật đợc nâng cấp, cải thiện rõ rệt Đến

Trang 28

năm 2000, toàn tỉnh đã hoàn thành tiêu chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học, 8 huyện thị đều đạt tiêu chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở.

Bảng 3: Dân số và lao động của tỉnh (1990-1995-2000)

1990

Năm 1995

Năm 2000

- Lao động trong độ tuổi có

nhu cầu việc làm

So với nguồn lao động

- Lao động đang làm việc

- Lao động cha có việc làm

So với lao động có nhu

896,854

83495,8

833,86657,8575,827,872,41192,215,514

1,7

17511,741,23

942,555

85991,2

832,4665,4881,22857,72141,51726,6

3,1

18031,591,09

102156,5

96094,1

945694131,745,374204,22015

1,56

Nguồn: Phòng kế hoạch & đầu t tổng hợp-Sở NN&PTNT tỉnh Thái bình

+ Các hoạt động văn hóa, thông tin, thể thao đã có nhiều đóng góp tích cực trong việc thực hiện cuộc vận động xây dựng đời sống văn hoá cơ sở Ch-

ơng trình đa văn hoá về cơ sở, mở rộng phủ sóng phát thanh và truyền hình đơc thực hiện có hiệu quả Đến năm 2000, có khoảng 60% số hộ đợc xem truyền hình Trung ơng và địa phơng, hơn 90% số hộ đợc nghe đài tiếng nói Việt nam

2.3 Sự phát triển kinh tế của tỉnh

Trong những năm qua Thái Bình đã tập trung mọi nỗ lực, vợt qua nhiều khó khăn, thách thức đa nền kinh tế phát triển tơng đối toàn diện Tổng sản phẩm nội địa (GDP) trên địa bàn tỉnh (theo giá so sánh 1994): năm 1990 đạt 2.251,2 tỷ đồng; năm 1995 tăng lên 3.665,5 tỷ đồng và năm 1999 đạt 4.417 tỷ

đồng; ớc thực hiện năm 2000 là 4.710 tỷ đồng Trong giai đoạn 1991-2000 nhịp

Trang 29

độ tăng GDP bình quân hàng năm đạt 7,7% (Đồng bằng sông Hồng: 5,67%), trong đó bình quân giai đoạn 1991-1995 đạt 10,2% Giai đoạn 1996-2000 ớc

đạt 5,0% thấp hơn mức bình quân chung của cả nớc (6.7%); song đây là mức tăng khá trong điều kiện kinh tế-chính trị có nhiều biến động và những khó khăn vốn có của một tỉnh có nền kinh tế thuần nông nh Thái Bình

Cơ cấu nền kinh tế của Thái Bình đã có sự chuyển hớng tích cực: nông nghiệp chiếm 76,46% cơ cấu GDP năm 1990, đến năm 2000 giảm xuống còn 57,7%; tơng ứng công nghiệp & XDCB tăng từ 8,84% lên 12,5%; dịch vụ tăng

từ 14,7% (1990) lên 29,8% (năm 2000)

Nông nghiệp đã có sự chuyển dịch theo hớng thị trờng và hiệu quả kinh

tế, cơ cấu cây trồng, vật nuôi đợc chuyển dịch theo hớng tăng tỷ trọng các loại sản phẩm có năng suất và hiệu quả kinh tế cao; tập trung phát triển một số cây, con có tiềm năng xuất khẩu Cơ cấu ngành trồng trọt đã giảm từ 84,6% (năm 1990) xuống 77,8% (năm 2000), tơng ứng ngành chăn nuôi tăng từ 12,8% lên 19,0%; ngành thuỷ sản từ 2,6% lên 6,4% Riêng ngành thuỷ sản những năm qua phát triển cả về nuôi trồng và khai thác (nhất là khai thác hải sản) đây là ngành có tốc độ tăng trởng lớn nhất trong lĩnh vực nông nghiệp nói chung của tỉnh (tốc độ tăng bình quân năm trên 12,6%)

Trong công nghiệp đã hình thành một số ngành mũi nhọn nh: dệt, may, sản xuất vật liệu xây dựng (gạch ốp lát, gạch men ), đồ uống (bia, nớc khoáng ), chế biến lơng thực, thực phẩm

Các ngành dịch vụ vẫn duy trì hoạt động và có bớc phát triển nâng cao chất lợng phục vụ, đáp ứng nhu cầu tăng trởng nền kinh tế và đời sống dân c; nhịp độ tăng trởng bình quân hàng năm đạt 10,2%

Sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của tỉnh thời gian qua đã góp phần làm tăng thu nhập bình quân đầu ngời từ 162.000 đồng/tháng (1994) lên 236.000 đồng/tháng (1999)

GDP bình quân đầu ngời tăng từ 519.000 đồng (năm 1990) lên 3,08 triệu (1999) và năm 2000 ớc đạt 3,37 triệu đồng

Lơng thực bình quân đầu ngời tăng từ 453kg (1990) lên 568 kg năm

1995 và lên 636 kg năm 2000

Số hộ đói không còn, số hộ nghèo giảm từ 8,2% (1994) xuống 6,83% (1999) Đời sống của ngời dân từng bớc đợc nâng cao cả về vật chất lẫn tinh thần Bộ mặt nông thôn ngày càng đợc đổi mới

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đạt đợc trên đây, Thái Bình vẫn còn những mặt hạn chế, những yếu kém cần phải khắc phục, đó là: Thái Bình vẫn là một tỉnh thuần nông, cơ cấu kinh tế tuy có chuyển đổi theo hớng tích cực nhng còn chậm Tình hình nông thôn đã đợc ổn định nhng cha vững chắc Số lao

động thiếu việc làm còn nhiều và đang là sức ép lớn đối với nền kinh tế-xã hội

Trang 30

của tỉnh (tính đến thời điểm 01/04/1999, tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị chiếm 7,84%, ở nông thôn thời gian sử dụng lao động mới đạt 73,2%) Chất lợng lao

động cha cao, chủ yếu là lao động phổ thông (82,5%), lao động chuyên môn kỹ thuật và lao động lành nghề còn ít, trong khi đó công tác nâng cao tay nghề, dạy nghề cho ngời lao động cha đợc quan tâm đúng mức Các tệ nạn xã hội nh

cờ bạc, trộm cắp, ma tuý, mại dâm đang là vấn đề nhức nhối

II Tình hình triển HTX NN ở tỉnh Thái Bình giai đoạn trớc Nghị quyết 10

Cũng nh ở các địa phơng khác, thời kỳ này, các HTX NN ở Thái Bình tiến hành quản lý theo mô hình tập trung thống nhất chế độ kinh tế hiện vật gắn liền với cơ chế tập trung quan liêu của Nhà nớc theo cơ chế cấp phát giao nộp trên cơ sở tập thể hoá hoàn toàn TLSX, sức lao động, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho sản xuất kinh doanh của HTX

Nhìn chung, cơ cấu bộ máy quản lý HTX NN của tỉnh thời kỳ này nh sau:

- Ban quản lý : 5-7 thành viên, trong đó có 1 chủ nhiệm,1 phó chủ nhiệm

và 3-5 thành viên

- Ban kiểm soát : 3-5 ngời

- Ban tài vụ : 5-9 ngời

- Thủ kho, thủ quỹ : 2 ngời

- Mỗi đội sản xuất có 1 đội trởng và một đội phó (mỗi HTX có nhiều đội sản xuất)

Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào quy mô và phơng hớng cụ thể của HTX NN

mà cơ cấu bộ máy quản lý HTX có sự sai khác nhất định

Ngoài các đội sản xuất trong các HTX sản xuất nông nghiệp ở Thái Bình

đã xuất hiện một số đội chuyên khâu nh đội thủy lợi, đội chuyên giống, đội thú

y, đội bảo vệ thực vật

Trang 31

Là một tỉnh thuần nông, cây lúa chiếm vị thế độc canh nên hoạt động chính của HTX NN ở Thái Bình thời kỳ này là sản xuất lúa gạo Các HTX tiến hành quy trình sản xuất tập thể ở tất cả các khâu theo cơ chế quản lý tập trung mệnh lệnh, trên ra lệnh dới thi hành Những kỹ thuật nh giống, làm đất, tới tiêu nớc do các đội chuyên khâu đảm nhiệm nh : đội thuỷ lợi đảm nhiệm khâu tới tiêu; giống do đội giống đảm nhiệm; đội BVTV thực hiện khâu phòng trừ sâu bệnh, phun thuốc trừ sâu Các khâu còn lại nh gieo cấy, chăm sóc, thu hoạch thì do các đôị sản xuất đảm nhiệm theo cơ chế quản lý của HTX Các xã viên trong HTX đợc chấm công theo công điểm của từng khâu, từng ngày làm việc Sản phẩm sau thu hoạch đợc tập trung vào kho HTX Sau khi đã giao nộp đủ cho Nhà nớc và trính quỹ HTX, khối lợng sản phẩm còn lại đợc HTX phân chia cho xã viên theo công điểm mà họ thực hiện trong mùa vụ đó Cán bộ quản lý HTX thì đợc hởng thù lao quản lý HTX trích từ các quỹ HTX Chính vì vậy mà với thời gian làm nhiều việc hơn, thu nhập của xã viên HTXNN thay đổi thất thờng, phụ thuộc vào nhiều nhân tố và kết quả của từng mùa vụ, còn thu nhập của cán bộ HTX thì luôn ổn định và cao hơn.

Trang 32

Bảng 4 : Một số chỉ tiêu chủ yếu phản ánh tình hình KT-XH của

tỉnh Thái Bình

Stt Chỉ tiêu Đơn vị tính Năm 1990 Năm 1995 2000Năm 1

- GDP bình quân đầu ngời

Giá trị xuất khẩu

Học sinh đợc đào tạo

+ Đào tạo Đại học tại chức

+ Đào tạo cao đẳng

+ Đào tạo trung cấp

+ Đào tạo nghề

Giá trị sản xuất NN (giá 94)

Giá trị sản xuất CN (giá 94)

188,52,87

142,8

3906241050898810061,713,0125,29223118,19,88,328,2372193146334,9620,8020,8753,020,2653393960

4331111,23049,1228,4711,3681

60873516765180610057,712,529,833763292327380,33182,456146,84651,02812,3851,7841,3076,3412,95340261398

400181720009,50215,7151050

Nguồn: Phòng kế hoạch và đầu t tổng hợp - Sở NN & PTNT tỉnh Thái Bình

Trang 33

Bảng 5: Một số chỉ tiêu phản ánh tình hình sản xuất nông nghiệp

Diện tích cây công nghiệp

- Diện tích cây đay

- Diện tích cây cói

- Diện tích cây dâu

TấnTấnTấn

KgTạ/haHaHaHaHaTấnTấnConConCon

188.350181.175173.4387.737

351.100337.72216.378

29738,54.8939637012192.1923.636213.32356.633

189.100156.800155.10010.680

480.400457.80022.600

35159,48.2682.4762.1001.1506.09011.994486.84451.110320.300

201.800177.100156.90020.270

486.000437.20049.060

34555,89.3263.5502.5001.1017.64915.693433.74248.805213.000

Nguồn: Phòng kế hoạch & đầu t tổng hợp - Sở NN & PTNT tỉnh Thái Bình

Với sự tổ chức, quản lý nh trên, thời gian đầu, các HTX NN ở Thái Bình

đã đợc sự ủng hộ nhiệt tình của đông đảm nhân dân và bà con nông dân trong tỉnh Sức mạnh đợc tăng lên, tinh thần đợc củng cố, các hộ xã viên hăng hái tham gia sản xuất Trong trồng trọt đã dần phá thế độc canh cây lúa, đa cây công nghiệp và cây thực phẩm vào sản xuất; áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh từ khâu ngâm ủ, chọn giống, cấy đúng thời vụ, cấy dầy hợp lý và thẳng hàng đến bón phân cân đối đã đa năng suất lúa của tỉnh Thái Bình từ 3-4 tấn(1959-1960) lên 5 tấn/ha/năm (1969); 7 tấn/ha/năm (1975) góp phần đa sản lợng lơng thực bình quân đầu ngời từ 297 kg (1960) lên 351kg (1971- 1975) Trong chăn nuôi, từng bớc phát triển toàn diện cả đàn trâu bò, lợn, gia cầm và nuôi cá nớc ngọt

Giai đoạn này, các HTX đã biết tận dụng, huy động đợc sức lao động trong điều kiện thiếu sức kéo, phơng tiện làm đất và thiếu lao động (vì phải tập trung sức ngời và sức của cho tiền tuyến) bằng cách phân công hợp lý khả năng

Trang 34

từng loại lao động trong các khâu sản xuất : ngời khỏe làm đất, vận chuyển;

ng-ời yếu gieo cấy, chăm sóc, thu hoạch tạo ra mỗi ngng-ời đều có việc làm, giúp đỡ nhau trong sản xuất và có số ngày công nhất định để đợc chia lơng thực Đồng thời, đã xây dựng đợc hệ thông cơ sở vật chất kỹ thuật khá lớn phục vụ cho sản xuất nh; 2,9 triệu m2 sân phơi, 21.00 gian nhà kho, 2000 nhà chế biến phân bón,

1500 máy bơm dầu, 2000 bể ngâm ủ giống, 16.000 gian chuồng lợn tập thể, nhiều hệ thống kênh mơng tới tiêu nớc

Song, do trình độ của hầu hết cán bộ quản lý HTX còn thấp (chủ yếu là bần cố nông) dẫn đến sự yếu kém trong việc tổ chức, quản lý hoạt động của HTX; cơ sở vật chất kỹ thuật bị hao mòn, lãng phí; vốn và tài sản của HTX bị thất thoát và sử dụng kém hiệu quả; hiện tợng tham nhũng, thiếu trách nhiệm, chấm công không công minh của cán bộ quản lý HTX - ngời làm tốt cũng đợc hởng nh ngời không làm tốt Thu nhập của xã viên ngày càng thấp, không đáp ứng đủ nhu cầu lơng thực và nhu cầu tiêu dùng Ngời nông dân xã viên không còn gắn bó, chăm lo cải tạo đồng ruộng; họ không còn hứng thú làm việc trong tập thể nữa, làm cho HTX không có khả năng trả nợ và giao nộp đủ cho Nhà n-

ớc Đời sống của ngời nông dân - xã viên rơi vào tình trạng bấp bênh, nhiều gia

+ Cơ chế quản lý tập trung thống nhất không phù hợp với tình hình thực

tế luôn biến động, đồng thời có nhiều lỗ hổng dẫn đến tình trạng tham ô, lãng phí, thiếu trách nhiệm và ngày càng bộc sự bất hợp lý Chế độ phân phối theo lao động không đợc thực hiện, mà thực tế là bình quân công điểm làm cho ngời nông dân - xã viên ngày càng không quan tâm đến sản xuất, kinh tế tập thể ngày càng sa sút

Trang 35

+ Việc tập thể hoá t liệu sản xuất, sức lao động dẫn đến tình trạng kinh tế

hộ gia đình bị phá vỡ (gia đình chỉ đợc sử dụng mảnh đất 5% của tập thể giao cho để thực hiện kinh tế phụ với điều kiện không làm ảnh hởng đến lợi ích của tập thể), động lực phát triển HTX bị triệt tiêu, sức sản xuất nông nghiệp bị kìm hãm

Tình trạng trên là do nhiều nguyên nhân, có những nguyên nhân khách quan bắt nguồn từ sự nghèo nàn, lạc hậu của nền kinh tế nớc ta nói chung, của tỉnh Thái Bình nói riêng và từ hậu quả của cuộc chiến tranh Nhng có thể nói rằng khuyết điểm, sai lầm chủ yếu là do nguyên nhân chủ quan trong việc tổ chức và quản lý HTX NN ở nớc ta thời kỳ này, trong đó có tỉnh Thái Bình, đó là:

+ Nhận thức đơn giản về CNXH; cha nhận thức đúng và tôn trọng các quy luật tự nhiên, kinh tế-xã hội và đặc điểm của một nớc nông nghiệp với xuất phát điểm thấp nh ở nớc ta Hơn nữa, do chủ quan, gò ép, mệnh lệnh, thiếu tôn trọng quy luật khách quan, thiếu dân chủ, nóng vội muốn nhanh chóng xóa bỏ nghèo nàn lạc hậu mà chúng ta đã thiết lập quan hệ sản xuất mới Khi phong trào hợp tác hoá bộc lộ những yếu kém khó khăn thì Ban quản lý các HTX NN trong tỉnh đã không nhạy bén với cái mới, với những kinh nghiệm thực tiễn và sáng tạo của hộ xã viên- ngời lao động, không tìm ra nguyên nhân chính mà chỉ nhấn mạnh những yếu kém trong tổ chức thực hiện, những lệch lạc từ phía quần chúng

+ Mô hình tổ chức quản lý HTX NN ở tỉnh Thái Bình không phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất, với đặc điểm của sản xuất nông nghiệp Đồng thời, không phù hợp với cả tâm lý, nguyện vọng của nhân dân Bắt đầu từ t tởng coi HTX là tổ chức kinh tế duy nhất; xoá bỏ vai trò, vị trí của kinh tế hộ đi đến đối lập kinh tế tập thể với kinh tế hộ nông dân; tập thể hoá triệt để TLSX và sức lao động của nông dân; thực hiện quản lý tập trung, điều hành thống nhất

+ Việc tổ chức, quản lý thống nhất thờng mang nặng tính chất mệnh lệnh hành chính, phô trơng hình thức, không tôn trọng thực tiễn, không lắng nghe bên dới, không tin cơ sở, ít vi phạm dân chủ, làm cho HTX NN mất quyền tự quản, thiếu chủ động sáng tạo trong sản xuất kinh doanh cũng nh trong quản lý

và phân phối

+ Trình độ tổ chức quản lý cũng nh trình độ chuyên môn của HTX còn yếu kém; một bộ phận bảo thủ trì trệ, bộ phận khác bị biến chất Bên cạnh đó, trình độ nhận thức của ngời lao động cũng còn thấp kém, hầu hết nông dân cha học hết cấp I cũng góp phần làm cho việc tổ chức, quản lý hoạt động của HTX

NN kém hiệu quả

2 Giai đoạn thực hiện chỉ thị 100CT/TW của Ban Bí th (1981 - 1987)

Trang 36

Trớc tình hình khó khăn chung về kinh tế-xã hội của đất nớc và tình trạng sa sút của kinh tế tập thể, một số địa phơng và HTX NN đã tự tìm lối thoát bằng cách “khoán chui” sản phẩm đến ngời lao động - hộ xã viên với tính thuyết phục là hiệu quả nh ở Vĩnh Yên, Hải Phòng Trên cơ sở khảo sát thực tiễn, ngày 13/01/1981 Ban Bí th đã ra Chỉ thị 100 cho phép các địa phơng và cơ

sở thực hiện “ Khoán sản phẩm đến nhóm và ngời lao động” khởi đầu cho sự

đổi mới mô hình tổ chức, quản lý HTX NN nớc ta nói chung, ở tỉnh Thái Bình nói riêng

2.1.Tình hình phát triển

Đầu năm 1981, khi mà các HTX NN của tỉnh Thái Bình đang đứng trớc những bế tắc trong sản xuất thì chỉ thị 100CT/TW ra đời với việc “khoán sản phẩm cuối cùng đến với nhóm và ngời lao động”, mà thực chất là “khoán hộ”

đã đáp ứng đợc yêu cầu, nguyện vọng của ngời nông dân, tạo ra động lực mới, thu hút nông dân tham gia vào HTX và hăng hái sản xuất Bởi vì, với hình thức này xã viên vợt khoán bao nhiêu thì sẽ đợc hởng toàn bộ phần vợt đó

Các HTX NN trong tỉnh đã thực hiện việc giao khoán ruộng đất và các TLSX khác cho hộ nông dân xã viên sử dụng HTX không còn là một tổ chức tổng quản, quán xuyến từ sản xuất đến đời sống xã viên nữa

Trong sản xuất, HTX NN đảm nhận các khâu quan trọng và các khâu hộ xã viên không làm đợc nh thuỷ nông, giống, BVTV, quản lý và phân phối phân bón các khâu công việc khác nh gieo trồng, chăm sóc thu hoạch thì do hộ

đảm nhiệm

Bộ máy quản lý HTX NN thời kỳ này cũng có sự thay đổi về số lợng:

- Ban quản lý: 3- 4 ngời

- Ban kiểm soát : 2 ngời

- Ban tài vụ : 2- 3 ngời

- Thủ kho : 1 ngời

- Thủ quỹ 1 ngời

- Các đội sản xuất cũng chỉ cần một đội trởng

Khi đợc giao khoán ruộng đất và công cụ lao động, ngời nông dân- hộ xã viên hởng ứng một cách nhiệt tình Họ đổ thêm phân tro, công sức lên luống cày ruộng khoán nhằm tăng năng suất tối đa, bởi vì tất cả phần “ vợt khoán” sẽ

đợc cất gọn trong bồ của họ Nhiều xã viên HTX không còn phân biệt đâu là ruộng tập thể, đâu là ruộng 5% - tất cả đều nhằm vào mục tiêu “vợt khoán”

Khi thu hoạch sản phẩm, các hộ xã viên tự thu hoạch đem về nhà, sau đó giao nộp cho HTX 57% sản lợng (trong đó cho Nhà nớc 35%, cho tập thể 22%), xã viên đợc hởng 43% Do đợc làm chủ ruộng đất, lại đợc hởng 43% sản lợng trên động ruộng của mình nên ngời nông dân - hộ xã viên hăng say sản xuất Kết quả là sản lợng lơng thực quy thóc tăng từ 460,7 nghìn tấn (1980) lên

Trang 37

590,2 nghìn tấn (1985), sản lợng lơng thực quy thóc bình quân đầu ngời cũng tăng từ 299.7 kg (1980) lên 356,6 kg (1985).

Tuy nhiên do không kịp thời đổi mới trong khâu tổ chức và quản lý của Ban quản lý HTX NN HTX vẫn hoạt động theo chế độ tập trung bao cấp, quan liêu mệnh lệnh Tình trạng thiếu trách nhiệm của cán bộ HTX dẫn đến mức khoán cho các hộ xã viên không còn ổn định và thờng là “ khoán trắng”,“khoán mặc kệ”; các khâu HTX đảm nhiệm hiệu quả không cao và dần dần do hộ tự lo hết, HTX chỉ còn đảm nhận khâu thuỷ lợi, giống, BVTV Hộ xã viên ngày càng chịu nhiều khoản đóng góp và chỉ còn đợc hởng 26% sản lợng, những ngời nhận khoán 3 khâu chỉ còn nhận đợc 15,6% sản lợng Nạn “rong công phóng

điểm” của chế độ khoán việc vẫn tiếp tục “di căn” với hình thức khoán sản phẩm đã làm cho giá trị ngày công giảm sút Phần thóc thu đợc từ ngày công giảm dần: năm 1982, một ngày công đợc 1,4 kg thóc; năm 1983 và 1984 chỉ còn 1,2 kg thóc; năm 1986 ở các huyện Tiền Hải, Thái Thuỵ, Quỳnh Phụ, Kiến Xơng mỗi ngày công chỉ thu đợc từ 0,6 - 0,7 kg thóc Ngời nông dân không còn hăng hái sản xuất nữa ở nhiều HTX xã viên xin trả bớt ruộng khoán cho Ban quản lý nh ở HTX Đông Cơ, huyện Tiền Hải trong 3 năm (1985,1986,1987) xã viên đã trả laị 265 mẫu ruộng trong số 1208 mẫu của tập thể giao khoán Hiện tợng nợ sản phẩm HTX ngày càng gia tăng và lên, ngành nghề giảm sút, hoạt

động của kinh tế tạp thẻ suy yếu trông thấy Do vậy thời gian về sau chỉ thị 100/CT/TW của ban bí th không còn là động lực thúc đẩy, không còn là nguồn sinh khí mới trong nông nghiệp, nông thôn nữa

2.2 Nhận xét

Thời kỳ 1981-1987, mô hình tổ chức, quản lý HTX NN ở Thái Bình bớc

đầu đã có những thay đổi, góp phần làm cho sức sản xuất nông nghiệp đợc phục hồi, đời sống dân c trong tỉnh đợc nâng cao hơn thời kỳ trớc, song cũng còn nhiều nhợc điểm hạn chế cần phải khắc phục

- Ưu điểm

+ Việc giao khoán ruộng đất và một vài công cụ, lao động nhỏ cho hộ xã viên - ngời lao động đã tạo ra đợc cơ chế quản lý mà ngời lao động - hộ xã viên phát huy đợc vai trò làm chủ của mình; khơi dậy động lực kinh tế, dùng lợi ích kinh tế là sản lợng vợt khoán để kích thích gia đình hộ xã viên bỏ vốn, bỏ sức đầu t trực tiếp trên luống cày ruộng khoán của mình Việc “khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và ngời lao động” ở các HTX đã phần nào gắn quyền lợi

và trách nhiệm của ngời lao động với kết quả sản xuất cùng; làm cho ngời nông dân gắn bó, quan tâm đến đồng ruộng và HTX hơn Đời sống nhân dân dần ổn

định

Bảng 6 : Một số chỉ tiêu chủ yếu phản ánh kết quả sản xuất nông

nghiệp của tỉnh giai đoạn 1981-1987

Trang 38

Stt Chỉ tiêu Đơn vị

tính

Bình quân 1981-1985

Năm 1986 Năm 1987

1 Diện tích gieo trồng ha 206.035 206.152 207.621

2 Diện tích cây lơng thực ha 176.228 174.210 176.156+ Diện tích cây lúa ha 157.140 156.923 157.672

+ Mức khoán cho hộ xã viên không ổn định làm cho hộ xã viên không yên tâm sản xuất, ruộng đất đợc khoán ở mỗi năm là khác nhau nên các hộ không chăm lo bồi dỡng đất đai làm cho ruộng đất ngày càng bạc màu, mất đi

độ màu mỡ, tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt Thu nhập từ ngày công của hộ xã viên ngày một giảm trong khi đó phần thu do vợt khoán không những không tăng mà chững lại hoặc giảm xuống Tình trạng nợ đọng sản phẩm HTX gia tăng làm cho quỹ cuả HTX rơi vào tình trạng bị động, việc thực hiện các kế hoạch, mục tiêu, phơng hớng của Đảng trở nên khó khăn hơn

- Nguyên nhân của những hạn chế trên là do :

+ Cha có nhận thức đúng đắn về quy luật tự nhiên, kinh tế- xã hội và

đặc điểm của sản xuất nông nghiệp Mô hình tổ chức, quản lý HTXNN vẫn bị ràng buộc trong tổng thể cơ chế quản lý tập trung bào cấp Nhà nớc nên cò cứng nhắc thiếu sáng tạo

+ Trình độ quản lý và chuyên môn của cán bộ HTX còn hạn chedé,

ch-a đợc nâng cch-ao nên chch-a có nhận thức đúng về vch-ai chò củch-a THTX NN và củch-a bản

Trang 39

thân mình đối với hộ xã viên, cũng nh việc thực hiện thiếu đúng đắn, thiếu trách nhiệm các thông t, chỉ thị từ trên xuống Muốn quan hệ giữa HTXNN và

hộ nông dân xã viên không còn gắn bó chặt chẽ với nhau nữa

III- tình hình đổi mới và phát triển HTX NN từ sau nghị quyết 10 của Bộ chính trị đến năm 1995

1 Thời kỳ thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (1988 đến 1995)

Yêu cầu phải tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý trong nông nghiệp đồng thời phải đổi mới chính sách vĩ mô của Nhà nớc đối với nông nghiệp và nông dân là một đòi hỏi khách quan Trên cơ sở tổng kết những điển hình về nhân tố mới trong nông nghiệp, ngày 05/4/1998, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết

10 NQ/TW về “Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp” - gọi tắt là Nghị quyết 10 hay “khoán10” với các quan điểm hết sức thiết thực:

- Về tổ chức sản xuất: HTX là đơn vị tự chủ, tự quản Hộ xã viên là

- Về quan hệ phân phối: Thực hiện xoá bỏ chế độ hạch toán và phân phối theo công điểm, xã viên chỉ có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nớc và đóng góp quỹ xây dựng HTX Các hoạt động dịch vụ, sản xuất giữa HTX và hộ xã viên đều đợc thông qua quan hệ hàng hoá tiền tệ Hộ xã viên đợc quyền làm chủ về kinh tế và đợc hởng trên 40% sản lợng khoán

Thực hiện tinh thần “ Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp” của Nghị quyết 10 NQ/TW, Ban Thờng vụ Tỉnh uỷ tỉnh Thái Bình đã banh hành nghị quyết số 10 (1998 ) xác định “hộ là một đơn vị kinh tế và chủ trơng đổi mới nội dung, phơng thức hoạt động của HTX NN” - nh một luồng gió mới, nhanh chóng đi vào cuộc sống rất sôi động, tạo khí thế mới trên mặt trận sản xuất nông nghiệp, thúc đẩy kinh tế hộ và kinh tế HTX NN phát triển

1.1 Mô hình tổ chức.

Năm 1988, Thái Bình có 292 HTX NN, trong đó có 29 HTX quy mô thôn và liên thôn, còn lại là 263 HTX quy mô toàn xã Đến năm 1990, số HTX quy mô thôn, liên thôn là 58 HTX, số HTX quy mô toàn xã là 257 HTX, đa số

Trang 40

HTX toàn tỉnh lên 315 HTX Số HTX tăng lên 100% là do HTX quy mô toàn xã tách ra để phù hợp với khả năng quản lý và tập quán của thôn, liên thôn.

Quan hệ sở hữu TLSX đã thực sự đợc đổi mới:

- Về ruộng đất: HTX thực hiện giao ruộng đất ổn định lâu dài đến hộ xã viên theo quỹ đất:

+ Quỹ đất 1: Chiếm 75% diện tích, đợc HTX giao cho hộ nông dân - xã viên theo phơng thức chia theo nhân khẩu, bình quân mỗi nhân khẩu đợc 1,18 sào (424,8 m2) trong thời hạn 10 năm Trong thời gian ổn định, nếu hộ nào có ngời chết, ngời chuyển đi nơi khác (trừ cán bộ, xã viên HTX đợc cử đi đào tạo

về phục vụ cho HTX) thì HTX có thể rút ra sau 1 vụ sản xuất kể từ khi chết hoặc chuyển đi nơi khác để điều chỉnh cho những nhân khẩu tăng nên trong HTX Ngời nông nhận quỹ đất 1, mỗi năm phải đóng từ 35 - 35,5 kg thóc/sào (chủ yếu là thuỷ lợi phí ) - tuỳ điều kiện từng HTX

+ Quỹ đất 2 : chiếm 25% - HTX cho đấu thầu hoặc giao theo khả năng, gồm 2 phần :

* Phần quỹ ruộng dự phòng (10 - 12% ) : HTX giao khoán cho một

số hộ có khả năng sản xuất thâm canh với thời gian ngắn (1-3 năm)

để rút ra điều chỉnh cho những nhân khẩu tăng lên trong HTX

* Phần cho đấu thầu hoặc giao cho những hộ có kinh nghiệm thâm canh với thời hạn ổn định từ 5 đến 10 năm

Với quỹ đất này ngời nông dân, phải nộp từ 70 - 80 kg thóc/sào/năm gồm

đóng thuế, thuỷ lợi phí và quỹ HTX

- Các TLSX khác nh trâu, bò, máy móc đợc các HTX NN trong tỉnh tổ chức bán đấu gía, chuyển giao cho hộ sử dụng, HTX chỉ giữ lại trạm bơm điện, các máy bơm dầu để đáp ứng cho việc thực hiện các khâu dịch vụ mà hộ không làm đợc, hoặc làm không hiệu quả

- Các tài sản phúc lợi nh nhà trẻ, nhà mẫu giáo, đờng điện sáng đã đợc các HTX chuyển giao cho UBND xã Bình quân mỗi HTX chuyển giao 580 triệu đồng gía trị tài sản phúc lợi (giá cố định năm 1994) Cơ cấu giá trị tài sản

cố định trực tiếp phục vụ cho sản xuất giảm mạnh, có HTX giảm tới 40%

1.2 Mô hình quản lý.

Trong thời kỳ này các HTX NN ở tỉnh Thái Bình đã có những đổi mới thực sự về quan hệ quản lý HTX xác định rõ vai trò tự chủ của các hộ xã viên, các hộ xã viên đợc quyền tự chủ trong việc đầu t thâm canh phát triển sản xuất HTX đóng vai trò hớng dẫn, tạo điều kiện cho hộ xã viên phát triển kinh tế bằng các kế hoạch định hớng và làm dịch vụ ở những khâu mà hộ không có khả năng làm hoặc không hiệu quả bằng HTX làm

Ngày đăng: 21/04/2015, 22:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Sơ đồ hệ thống tổ chức HTX NN Nhật bản đến năm 2000 - Phương hướng và giải pháp chủ yếu để tiếp tục đổi mới và phát triển HTX NN ở tỉnh Thái Bình..DOC
Bảng 1 Sơ đồ hệ thống tổ chức HTX NN Nhật bản đến năm 2000 (Trang 23)
Bảng 4 : Một số chỉ tiêu chủ yếu phản ánh tình hình KT-XH của - Phương hướng và giải pháp chủ yếu để tiếp tục đổi mới và phát triển HTX NN ở tỉnh Thái Bình..DOC
Bảng 4 Một số chỉ tiêu chủ yếu phản ánh tình hình KT-XH của (Trang 32)
Bảng 5: Một số chỉ tiêu phản ánh tình hình sản xuất nông nghiệp - Phương hướng và giải pháp chủ yếu để tiếp tục đổi mới và phát triển HTX NN ở tỉnh Thái Bình..DOC
Bảng 5 Một số chỉ tiêu phản ánh tình hình sản xuất nông nghiệp (Trang 33)
Bảng 7: Một số chỉ tiêu về mức sống của dân c tỉnh Thái Bình - Phương hướng và giải pháp chủ yếu để tiếp tục đổi mới và phát triển HTX NN ở tỉnh Thái Bình..DOC
Bảng 7 Một số chỉ tiêu về mức sống của dân c tỉnh Thái Bình (Trang 42)
Bảng 8: Các chỉ tiêu chủ yếu phản ánh kết quả sản xuất nông nghiệp - Phương hướng và giải pháp chủ yếu để tiếp tục đổi mới và phát triển HTX NN ở tỉnh Thái Bình..DOC
Bảng 8 Các chỉ tiêu chủ yếu phản ánh kết quả sản xuất nông nghiệp (Trang 43)
Bảng 10: Kết quả đăng ký lại xã viên HTX NN ở 14 HTX điểm - Phương hướng và giải pháp chủ yếu để tiếp tục đổi mới và phát triển HTX NN ở tỉnh Thái Bình..DOC
Bảng 10 Kết quả đăng ký lại xã viên HTX NN ở 14 HTX điểm (Trang 51)
Bảng 12: Tổng hợp định mức bình quân khâu BVTV của các HTX - Phương hướng và giải pháp chủ yếu để tiếp tục đổi mới và phát triển HTX NN ở tỉnh Thái Bình..DOC
Bảng 12 Tổng hợp định mức bình quân khâu BVTV của các HTX (Trang 53)
Bảng 13: Kết quả sản xuất nông nghiệp của tỉnh Thái bình giai đoạn sau - Phương hướng và giải pháp chủ yếu để tiếp tục đổi mới và phát triển HTX NN ở tỉnh Thái Bình..DOC
Bảng 13 Kết quả sản xuất nông nghiệp của tỉnh Thái bình giai đoạn sau (Trang 58)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w