Đặc điểm phương ngữ Bắc Trung Bộ Page 1 MỤC LỤC 1 Dẫn nhập 1 2 Định nghĩa phương ngữ, phân chia các vùng phương ngữ và giới thiệu về phương ngữ Bắc Trung Bộ 2 3 Đặc điểm phương ngữ BTB 3 1 Đặc điểm ng[.]
Trang 1MỤC LỤC:
1 Dẫn nhập:………1
2 Định nghĩa phương ngữ, phân chia các vùng phương ngữ và giới thiệu về phương ngữ Bắc Trung Bộ: ……… 2
3 Đặc điểm phương ngữ BTB: 3.1 Đặc điểm ngữ âm: ……….3
3.2 Đặc điểm về từ vựng và ngữ nghĩa:……… 12
3.3 Đặc điểm về ngữ pháp:……… 19
4 Kết luận: ……… 21
5 Thư mục tài liệu tham khảo: ……… 23
Trang 21 Dẫn nhập:
Tiếng Việt được dùng phổ biến trên phạm vi toàn quốc Người ở cực Bắc – địa đầu tổ quốc thuộc tỉnh Hà Giang và người ở cực Nam –tận cùng đất nước của lãnh thổ trên đất liền thuộc tỉnh Cà Mau và ở trên các hải đảo, quần đảo có thể
hiểu được tiếng nói của nhau Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của dân tộc và
mở mang lãnh thổ vào phương Nam, tiếng Việt do chịu ảnh hưởng của các yếu tố
về địa lý, lịch sử…đã hình thành nên tiếng địa phương ( phương ngữ ) ở các vùng
với những nét đặc trưng riêng và sự khác biệt nhất định (về từ ngữ, giọng nói, lối hành văn…) Chỉ cần nghe giọng nói là ta dễ dàng nhận ra người nói gốc vùng nào.Đặc biệt là những người ở vùng Bắc Trung Bộ
Trang 31 Định nghĩa phương ngữ, phân chia các vùng phương ngữ và giới thiệu về phương ngữ Bắc Trung Bộ
- Định nghĩa phương ngữ:
“ Phương ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phương cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay với một phương ngữ khác”
( theo Hoàng Thị Châu)
- Có nhiều quan điểm trong việc phân chia phương ngữ lãnh thổ tiếng Việt:
+ H Maspéro -1912, Nghiên cứu ngữ âm lịch sử tiếng Việt: 2 phương ngữ: Bắcvà Trung Theo ông thì người Việt ở miền Nam là gốc ở miền Bắc mới vào sinh sống không lâu, do đó tiếng miền Nam về cơ bản là giống phương ngữ Bắc cho nên có thể xếp chung một nhóm với phương ngữ Bắc Còn phương ngữ Trung
thì đối lập với phương ngữ Bắc ở điểm còn giữ lại những nét cổ xưa
+ Hoàng Phê: 2 phương ngữ: Bắc và Nam còn Trung bộ là một chuỗi phương
ngữ nhỏ có tính chuyển tiếp
+ Nguyễn Bạt Tụy-1950, Hoàng Thị Châu-1963 và nhiều nhà nghiên cứu: 3
phương ngữ: Bắc – Trung – Nam
+ Nguyễn Kim Thản-1982, L.Cadière-1902 :4 phương ngữ: Bắc, Trung Bắc,
Trung Nam, Nam
+ Nguyễn Bạt Tụy-1961: 5 phương ngữ: Bắc ( Bắc Bộ và Thanh Hóa), Trung Trên( từ Nghệ An đến Quảng Trị), TRung giữa ( từ Thừa Thiên đến quãng Ngãi),
Trung dưới ( từ Bình Định đến Bình Tuy) , Nam ( từ Bình Tuy trở vào)
+ Có người cho rằng không thể phân chia vì có trạng thái chuyển tiếp từ vùng nọ
sang vùng kia
Trang 4Trong đó giải pháp phân chia phương ngữ tiếng Việt ra làm 3 phương ngữ được nhiều người chấp nhận và hợp lý hơn cả
Sau đây chúng ta sẽ xét về đặc điểm phương ngữ vùng Bắc Trung Bộ ( bao gồm các tỉnh từ Thanh Hóa đến đèo Hải Vân)
Vào khoảng thế kỷ IX, X đến thế kỷ XI, XII, sự phân hóa giữa vùng Mường Hòa Bình , Sơn La với vùng Việt ở châu thổ sông Hồng càng ngày càng đậm nét Nhưng càng đi sâu vào dải đất hẹp Trung bộ thì sự phân hóa đó càng yếu dần Vào khoảng đời nhà Lý có thể xem vùng ngôn ngữ ven biển Nghệ Tĩnh chỉ như là một vùng hơi bị Việt hóa chưa xa cách các thổ ngữ Mường bao nhiêu Sau này ảnh hưởng của ngôn ngữ Bắc Bộ tràn vào miền Trung ngày càng mạnh mẽ, vùng xuôi ngày càng Việt hóa mạnh hơn, trở thành một phương ngữ Việt, trong lúc ở miền núi vẫn còn sử dụng ngôn ngữ gần với thổ ngữ Mường Vùng Bắc Trung Bộ còn được gọi là khu IV và là vùng còn bảo lưu nhiều nét cổ của ngôn ngữ Việt
- Phương ngữ Bắc Trung Bộ cũng có thể chia thành 3 phương ngữ nhỏ hơn:
+ Phương ngữ Thanh Hoá
Trang 5quãng trường,…) Nhưng vùng Bình Trị Thiên về mặt điệu tính các thanh lại giống với thanh điệu Nghệ Tĩnh
+ Vùng Nghệ Tĩnh: không phân biệt thanh ngã với thanh nặng( cái võng → cái vọng, đôi đũa → đôi đụa, mỡ ( dầu mỡ) > mợ, đã > đạ, … hay một số thổ ngữ cũng không phân biệt thanh hỏi với thanh nặng: phải > phại, đủ > đụ
- Hệ thống phụ âm đầu:
Số lượng: 23 phụ âm
Trong số 23 phụ âm trên, hơn phương ngữ Bắc 3 phụ âm uốn lưỡi /ş/, /z/,/ / (chữ
quốc ngữ ghi bằng s, r, tr) Trong nhiều thổ ngữ có 2 phụ âm bật hơi / f/, /
χ/(giống như chữ viết đã ghi lại) thay cho 2 phụ âm xát /f, χ/ trong phương ngữ
Bắc 3 phụ âm uốn lưỡi /ʂ/,/ ʐ/, /ʈ/ (chữ quốc ngữ ghi bằng s, r, tr)
Phương ngữ này cũng giữ lại một số phụ âm tắc đang trong quá trình xát hóa
như /k/ / ᵧ / (ví dụ: cấy, so với gái trong phương ngữ Bắc Bộ), /d/ /z /(đao/dao)…
Nhà ngôn ngữ học Hoàng Thị Châu đã khảo sát về sự phân biệt phụ âm /ʈ/ /c/ở
Thanh Hóa Kết quả là tại các huyện ven biển: Nga Sơn (ở phía đông bắc)
và Quảng Xương, Tĩnh Gia (ở phía Đông Nam), phần lớn người dân có phân
biệt /ʈ/ /c/ Hiện tượng phân biệt /ʈ/ /c/ cũng diễn ra ở một số xã của huyện Nông
Trang 6âm /ʈ/ thành /t/ (trời trong trẻo thành tời tong tẻo) như các xã Nga Mỹ, Nga
Thủy thuộc huyện Nga Sơn, xã Phú Yên thuộc huyện Thọ Xuân
Một số thổ ngữ ở các huyện Thọ Xuân và Triệu Sơn (phía tây và tây nam đồng
bằng Thanh Hóa) thậm chí còn phát âm / c/ thành /ʈ/,/ z/ thành /ᶎ/ Ví dụ về một
đoạn đối thoại giữa các cụ già ở xã Hạnh Phúc, huyện Thọ Xuân:
• “ Ngoài đềnh họ đang riễn cấy tích tri rứa?”(Ngoài đình họ đang diễn cái tích
gì đấy?)
• “ Trả biết họ đang riễn cấy tích tri, chỉ thấy đang tốc râu đổ rượu”
( chả biết họ đang diễn cái tích chi, chỉ thấy đang tốc trâu đổ rượu”)
Một cuộc khảo sát đã cho thấy ở Thanh Hóa, vào đầu thế kỉ 21 một số thổ ngữ còn lưu giữ những biến thể phát âm phụ âm đầu không gặp ở các thổ ngữ hay phương ngữ nào khác ở Việt Nam, đó là các biến thế [ɟ], [k'], [p'], [ɾ] của các phụ âm /c/,/f/, /χ/, /ʐ/, /ʂ/
+ Vùng Nghệ Tĩnh và vùng Bình Trị Thiên: có thêm cấu âm quặt lưỡi, tức là lưỡi uốn cong và phía dưới của đầu lưỡi tiếp xúc hoặc là gần chạm mạc ( sau chỗ tiếp
giáp lợi và ngạc) /ş/, /z/, / /,giữ lại phụ âm bật hơi /f/ / χ/
Ví dụ: phá phách → phá phéch,
• Vùng Nghệ Tĩnh: phụ âm đầu những từ như da dẻ, gia đình đều phát âm là /z]/
và không có sự phân biệt nào hết / za1 zɛ4/ /za1 diɳ2/
• Vùng Bình Trị Thiên:- một số thổ ngữ vùng Bắc BTT: có hai phụ âm /Dj]/ trong từ da dẻ [Dja Djẻ] và [j] trong từ gia đình [ja đình] Khu vực này còn giữ lại một số phụ âm khá cổ: những phụ âm kép mà yếu tố thứ hai là âm đệm hay thuộc tính phụ âm đầu hiện nay chưa rõ: [Bj, Dj, chj, kj] Vd: vui vẻ → [Bjui Bjẻ], dẻo
Trang 7→ [Djẻo], con gián → [con chján] Thổ ngữ bắc BTT đang giữ lại những phụ âm [chj, kj] của thế kỷ 15 về trước và [Bj, Dj] của thế kỷ 17.
- Những thổ ngữ còn lại đều phát âm hai trường hợp là [j]: /ja1 jɛ4/ ,/ ja1 diɳ2/ và những từ trên không có yếu tố ngạc hóa
Ngoài ra âm [j] còn thay thế cho /ɲ/ Vd: cái nhà nho nhỏ→/kai5 ja2 jɔ1 jɔ4/
Không chỉ vậy, trong một số thổ ngữ ở Hà Tĩnh, Quảng Bình khi phát âm phụ âm đầu có sự khác biệt so với PNB, cụ thể có sự biến đổi:
/ʈ/ , /c/ : triều/ chiều, trậm/ chậm, tray/ chày, trọn/ chọn, trọi/ chọi,…
/z/,/d/ : cây da/ cây đa,…
/ b/ → / v/ Bui → vui, bo → vo, bưa→vừa,…
/ d/ → /z/, /ʑ/ Đa → da, đao → dao, rao, đơi → dơi, đưới →dưới,…
Trang 8/f/ → / v/ Phổ → vỗ, phở → vỡ, ăn phúng → ăn vụng,…
/x/ → /γ/ Khải → gãi, khỏ → gỏ, khở → gỡ, …
/t’/ → /z/ Dột → thốt, mưa giầm → mưa thâm,
/ c/ →/ z/ Chi → gì, chờng→giường, rau chêng→ rau giền,… / l/ →/ ȶ/, /ɲ/ Lôông→ trồng, lổ → trổ, lài → nhài, lằng → nhằng,… / z/ → / ɲ/ Dăn deo, dăn dó → nhăn nheo, nhăn nhó, duộm →
❖ / ǯɲ- ǯk/ (-anh-ach): eng (anh), béng (bánh), trời heng (trời hanh), keg (canh), lèng (lành), méc (mách), nói séc (nói thách)…
❖ /-oŋ-ok/ ( -ông-ôc): ôông (ông), bôồng bế (bồng bế), chợ đôông ( chợ đông), đôống ( đống), con ôốc (con ốc), bôốc (bốc)…
❖ /ɔŋ -ɔk/ (-ong –oc): ): con oong (con ong), đoong (đong), nác troong (nước trong), boóc vỏ (bóc vỏ), khoóc (khóc), moọc (mọc)…
Trang 9+ Trong hệ thống vần của phương ngữ Thanh Hóa có một số vần không có trong tiếng Việt phổ thông cũng như không thấy ở các phương ngữ khác như /âj/ [ệi], ví dụ: /câj6/ hay [chệi] tương ứng với chị trong tiếng phổ thông), /âƯ/ [ẫư] (ví dụ:
/cƯ4/ hay [chẫư], tương ứng với chữ), /âw/ [ôu] (ví dụ: /mâw6/ hay [mộu], tương
ứng với mụ
Những biến thể mới với nguyên âm ngắn, có sự khác nhau giữa các phương ngữ: + Nghệ Tĩnh: phụ âm cuối ngạc hóa như phương ngữ Bắc: /-iŋ –ik/, /-eŋ –ek/, /-ɛŋ- ɛk/
+ Bắc Bình Trị Thiên ( phía Bắc sông Bến Hải- Quảng Trị): /-iŋ –ik/, / -eŋ –ek/, /-ɛŋ–ɛk/
+ Nam Bình Trị Thiên ( Nam sông Bến Hải): /-n –t/, [-ân- ât], /-ăn –ăt/
Trang 10/ ɤ/ > / a/ Lửa > lả, nước > nác, mượn > mạn, … / uo/ > / ͻ/ Lúa > ló, luồn > lòn, muối > mói,
/ ɤ’ḭ/ > /i/ Chấy > chí, nầy > ni, mày/ mầy > mi,
vây cá > vi cá,…
/ ɤ’ṷ/ > / / Trâu > tru, nâu > nu, bâu > bu, cậu >
cụ, sâu > su, trấu > trú,…
/o/ > // Chổi > chủi, tối > túi, môi > mui, hôn >
hun, khôn > khun,…
/ / > /ɤ’/ Chưn > chân, nhứt > nhất, nhựt > nhật,
/- n, - t/ > /- in, - it/ bứt rứt > bít rít, nhất > nhứt, nứt > nít,
chưn > chin,…
/ - wn, - wt/ > / - win, - wit/ (cây) quất > (cây) quýt
+ Ở Huế: những vần kết hợp với âm cuối /-n, - t/> /-ŋ, -k/
Ví dụ: “ con ngan” > /kɔŋ1 ŋaŋ1/, “ ăn” >/ăŋ1/,…
➢ Bảng vần trong các phương ngữ Bắc Trung Bộ
Âm cuối
Nguyên âm
Trang 11i
ê
e
-i: m -ê: m -e: m
-i: n -ê: n -e: n
-inh/ -ing -ênh/ -ê:ng -enh/ e: ng
-i:ư -ê:w -e:w Giữa ươ
-ươn -ưn -ơn -ân -ân -ăn
ương -ưng
âng -ang -ăng
-uơw -ưw
-âw -aw -ăw
-ươj -ư:j -ơj -âj -aj -ăj
-uôn -u:n -ô:n -o: n
-uông -ung/- ung -ô: ng/ -ông -o:ng/-ong
-uôj -u:j -ô:j -o:j
+ Nhiều thổ ngữ của phương ngữ Thanh Hóa còn giữ lại hệ thống phụ âm cuối
với khá nhiều từ cặn có phụ âm cuối /–n/, trong khi các phương ngữ khác đã biến đổi thành /-j/
Trang 12• cái vắn/cái váy, ban/vai, con mõn/con muỗi, cấy chũn/cái chổi…
Đặc biệt, trong một số trường hợp các âm đầu lưỡi /n/, /t/ khi đi sau các âm chính
/i/ và // thì trở thành các âm mặt lưỡi, ví dụ xin thành xinh (nhưng tin được giữ nguyên mà không trở thànhtinh), nít thành ních, quỵt thành quỵch…
+ trong thổ ngữ Huế: /-t- thì bị đổi thành /-k/, ví dụ: nhất > nhấc, cất >cấc, ướt >
ước, mứt > mức, tuất > tuấc, chuột >chuộc,
Hệ thống phụ âm các vùng phương ngữ tiếng Việt
Vị trí Orthography Phương
ngữ Bắc
Phương ngữ Bắc Trung bộ
Phương ngữ Trung
Phương ngữ Nam
Trang 14sau i, ê
Đối lập đặc điểm phương ngữ BắcTrung Bộ với Bắc Bộ và Nam Bộ ta có bảng sau:
Bảng so sánh ngữ âm 3 phương ngữ tiếng Việt
Vùng Thanh điệu Phụ âm đầu Vần Phụ âm cuối
cả 3 hàng
Phương
ngữ Nam
5 thanh, không phân biệtthanh hỏi/thanh
phân biệt s/x, r/d/gi, tr/ch
mất nhiều vần
Trang 15ngã
3.2 Đặc điểm về từ vựng và ngữ nghĩa:
Một trong những biểu hiện dễ phân biệt phương ngữ giữa các vùng miền nhất, đó chính là bình diện từ vựng và ngữ nghĩa.Giữa các phương ngữ có sự khác nhau về
từ vựng Vì vậy, dựa trên bản thân sự phát triển lịch sử ngữ âm của tiếng việt, mọi
từ vựng thuộc danh từ, động từ, tính từ, hư từ,…trong mọi lĩnh vực đời sống và những nguồn gốc khác, để chúng ta nhận diện được một số đặc điểm sau:
Và dưới đây là bảng từ liệt kê một số từ khác nhau giữa ba miền:
- Danh từ:
Trang 1618 Thuyền Nôốc Ghe, đò
19 Quả dứa Dưa gai, thơm, dứa,
24 Bố, thầy cha,bọ, rường, cụ Ba, cậu
Trang 1748 Vô duyên Bờ hơ Vô duyên
51 Xấu hổ Ôông ngai, ốt nhột/ ôốc
56 Rườm rà Nhầm nhụa/ nhầm nhầy Rối ren
- Danh từ chỉ thời gian trong phương ngữ BTB:
+ Các buổi trong ngày: sớm, trưa, chiều/ triều, túi
+ Bựa ni ( hôm nay), bựa qua ( hôm qua), bựa sơ ( hôm kia), bựa tê/ riếp ( ngày trước hôm kia),
Bựa mai ( ngày mai), bựa mốt ( ngày kia), mốt tê ( sau ngày kia)
+ Chầu ( dịp, dạo), mọi chầu/ mọi bựa ( khoảng thời gian quá khứ), chầu ni (dịp này), chầu nớ/ chặp ấy ( dạo ấy), chặp nựa ( lát nữa), chặp ni ( dạo này), chặp nọ ( dạo nọ), …
+ Khi túi ( lúc tối), khi hồi ( lúc nãy),…
Qua khảo sát một số từ vựng, chúng-tôi nhận-thấy rằng trong phương ngữ BTT hiện nay còn tồn tại khá nhiều từ được xem là cổ, hoặc có yếu tố cổ
Vốn từ vựng của phương ngữ BTB không những thân thuộc trong sinh hoạt khẩu ngữ mà cũng đã đi vào nhiều ca dao, dân ca thấm đượm đặc trưng của con người
Trang 18- “Thò tay mà ngắt cọng ngò
Thương em đứt ruột giả đò ngó lơ”
- “Ai lên Tuyên Hóa quê miềng
Chè xeeng mật ngọt nặng nguyền nác non”
- “ Đèo Ngang hai mái chân vân
Người về Hà Tịnh dạ ái ân Quảng Bình”
- “ Đồn rằng kẻ Côộc lắm cau
Chợ Tréo lắm ló, Quán Hàu lắm vôi
- “ Khun ngoan qua cựaThanh Hà
Đố ai có kéng bay qua Lũy Thầy”
- Dạ ái hoài cho dù xa ngái
Em xin chàng chớ ngại chớ nghi
Để cho em lên Đại xuống Tuy
Đắt mần thuê, ế mần mạn đợ khi đói lòng”
3.3 Đặc điểm về ngữ pháp:
Bên cạnh những nét khác biệt có tính chất ngữ âm học, âm vị học và một số đặc điểm về từ vựng và ngữ nghĩa, phương ngữ BTB cũng có một số đặc điểm ngữ pháp thú vị như sau:
- Hệ thống đại từ chỉ định và nghi vấn:
Trang 19Này Ni/ nì Nầy
Sao, thế nào Răng, răng rồi Sao
- Hệ thống đại từ xưng hô:
Chúng tôi Bầy tui, bọn tui Tụi tui
Chúng tao Bầy choa, bọn tau Tụi tao
- Một số từ để nhấn mạnh ý phủ định trong PNBTB như: nỏ ( không), nỏ thè ( chẳng thà/ chẳng nhẽ), nỏ có ( không có)
- Có một số phó từ và trạng từ để tăng cường cho tính từ và động từ như:
+ “ hôm ni nhoọc đọa/ nhoọc lử tử” ( có nghĩa là rất mệt, mệt đến chết mất)
Cũng gần giống với phương ngữ Nam Bộ, có một số từ dùng riêng cho từng tính
Trang 20Ví dụ: mềm: mềm xìu
Xanh: xanh lè, xanh lét
Chua: chua lòm, chua le chua léc
Bên cạnh đó, ngữ từ khí phụ họa với ngữ điệu tạo ra sắc thái địa phương rõ nét của vùng BTB so với BB và NB:
không biết sao?
Rứa anh tưởng tôi không biết à?
Bộ, anh tưởng tôi không biết sao?
Chuyện gì đấy nào? Chuyện chi rứa? Chuyện gì vầy nè?
Những ngữ khí từ :hè, nghe, rứa, chơ rựa/ chi rị/ chơ răng, chi rứa,…mang đến
âm hưởng nặng hơn so với 2 vùng còn lại trong giao tiếp
4 Kết luận
Phương ngữ Bắc Trung Bộ là phương ngữ còn bảo lưu nhiều yếu tố cổ của tiếng Việt Bên cạnh những điểm chung, nó còn mang những đặc điểm rất riêng biệt, độc đáo về ngữ âm, ngữ pháp cũng như từ vựng so với phương ngữ Bắc và phương ngữ Nam
Ngay trong nội bộ phương ngữ Trung còn có những sự khác biệt đáng kể về ngôn ngữ giữa các vùng Chính sự khác biệt đó tạo ra những vấn đề đó thu hút chúng ta đi tìm lời giải cho những thắc mắc:
- Tại sao trong phương ngữ Bắc Trung Bộ, cùng một vùng (một tỉnh), nhưng ta lại có thể bắt gặp nhiều thổ ngữ khác nhau? Hay những vùng cách xa nhau
Trang 21nhưng lại nói những ngôn ngữ giống nhau Ví dụ: Thổ ngữ ở Cảnh Dương phía bắc Quảng Bình lại giống với thổ ngữ ở Thanh Hóa và Bắc Nghệ An
Nghiên cứu về phương ngữ Trung, đi sâu tìm hiểu về thổ ngữ giúp ta nhận ra và
lý giải được điều này Cụ thể, hiện tượng này được gọi là hiện tượng trôi dạt của thổ ngữ Có vùng nhiều thổ ngữ, nhưng cũng có những vùng lại không có Nghệ Tĩnh là một trong những vùng có thổ ngữ đậm đặc và giữ nhiều nét cổ nhất, điều này ảnh hưởng bởi lịch sử:
1069, biên giới nước ta vượt qua Đèo Ngang, mở ra Bắc Trung Bộ
1471, dưới triều Lê Thánh Tông, biên giới phía Nam mở rộng ra nam Đèo Hải Vân Đây là nguồn gốc dân cư đến những vùng đất mới
Một trong những nguyên nhân tạo nên hiện tượng trôi dạt thổ ngữ như ở vùng Quảng Bình là do sự di dân nhưng mang tính chất lẻ tẻ Do tính chất lịch sử, nguồn gốc dân cư đến những vùng đất mới
Bên cạnh hiện tượng trôi dạt thổ ngữ, ta còn bắt gặp hiện tượng ở cùng một vùng nhưng có nhiều thổ ngữ khác nhau Ví dụ: ở huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị có
17 xã: Vĩnh Thái, Vĩnh Tú, Vĩnh Chấp, Vĩnh Nam, Vĩnh Trung, Vĩnh Kim, Vĩnh Thành, Vĩnh Tân, Vĩnh Hiền, Vĩnh Hòa, Vĩnh Quang, Vĩnh Thạnh, Vĩnh Giang, Vĩnh Sơn, Vinh Lâm, Vĩnh Lang, Vĩnh Thủy Phía tây đường Quốc lộ ngôn ngữ không có những nét đặc biệt vì mới khai phá Phía Đông Nam cho đến Cửa Tùng đất đai phì nhiêu, dân cư đông đúc, nhà cửa san sát, thổ ngữ phức tạp Làng mới nói ngôn ngữ mới Làng cũ nói ngôn ngữ cổ
- Tại sao Huế cũng là phương ngữ Bắc trung bộ nhưng lại có hệ thống vần và
âm cuối giống với phương ngữ Nam?
Trong thời phong kiến nhà Nguyễn, các bà vợ của vua Từ Minh Mạng trở về sau phần lớn là con gái của các quan đại thần quên Nam bộ Vì vậy cung phi, thị nữ phải học nói tiếng miền Nam Từ đó phương ngữ Nam trở thành phương ngữ