Đến thế kỷ XIX, qua thực tiễn xét xử của tòa án các quốc gia, khái niệm quyền miễn trừ quốc gia cũng như quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia đã được hình thành Khoảng thế kỷ thứ XIII, h
Trang 1QUYỀN MIỄN TRỪ
TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ
Trang 2NGUỒN GỐC
VÀ SỰ PHÁT TRIỂN
02.
VỤ VIỆC BÀ TRẦN TỐ NGA KIỆN 14 CÔNG TY HÓA CHẤT MỸ
Trang 3KHÁI QUÁT CHUNG
1 Khái niệm quyền miễn trừ quốc gia trong Tư pháp quốc tế
2 Phân loại quyền miễn trừ quốc gia
-/ 1
Trang 4\-Quyền miễn trừ quốc gia là QUYỀN ĐẶC BIỆT của một quốc gia – chủ thể đặc biệt khi tham gia vào quan hệ Tư pháp quốc tế, nhằm đảm bảo cho quốc gia không bị xét
xử bởi bất kỳ cơ quan tài phán nào , dù là quốc tế hay quốc gia khác, nếu không có sự đồng ý của quốc gia đó.
“
Trang 5GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ SONG TRÙNG QUYỀN TÀI PHÁN
HÀNG RÀO BẢO VỆ CHO QUỐC GIA TẠI CQTP CỦA QUỐC GIA KHÁC
Trang 6QUYỀN MIỄN TRỪ TƯ PHÁP
QUYỀN MIỄN TRỪ ĐỐI
VỚI TÀI SẢN
Tài sản của quốc gia do quốc gia tự định đoạt, không một chủ thể nào khác được chiếm đoạt hoặc xâm phạm tài sản của quốc gia
Trang 7NGUỒN GỐC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CÁC HỌC THUYẾT VỀ QUYỀN MIỄN TRỪ QUỐC GIA
-/ 2
Trang 8\-Được thừa nhận rộng rãi trong
pháp luật quốc tế và pháp luật của
hầu hết các quốc gia trên thế giới
như một tập quán quốc tế lâu đời.
Chế định pháp lý quan trọng trong tư pháp quốc tế, có lịch sử phát triển lâu đời tại nhiều nước trên thế giới.
VỊ TRÍ, VAI TRÒ
Trang 9Đến thế kỷ XIX, qua thực tiễn xét
xử của tòa án các quốc gia, khái niệm quyền miễn trừ quốc gia cũng như quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia đã được hình thành
Khoảng thế kỷ thứ XIII, học thuyết trên đã được thể hiện một cách rõ ràng tại Anh và được gọi là học thuyết “Đức vua không thể làm sai”
Sự ra đời và phát triển của hai học thuyết – quan điểm: học thuyết miễn trừ tuyệt đối và học thuyết miễn trừ tương đối
Thời kì phong kiến, gắn
liền với học thuyết rex
gratia dei (Hoàng đế được
bảo vệ bởi chúa trời)
Trang 10HỌC THUYẾT MIỄN TRỪ TUYỆT ĐỐI
Án lệ đầu tiên từ vụ kiện The
Schooner Exchange vs McFaddon
Chủ quyền quốc gia là tuyệt đối và bất khả xâm phạm, bất kỳ chủ thể nào cũng không
có quyền vượt lên trên chủ quyền quốc gia
Trang 11HỌC THUYẾT MIỄN TRỪ TUYỆT ĐỐI
Nhà nước cùng các thực thể của nhà nước được viện dẫn quyền miễn trừ một cách hoàn toàn, tuyệt đối, không có điều kiện, không
có ngoại lệ đối với thẩm quyền tài phán của quốc gia khác Quốc gia phải được hưởng quyền này trong tất cả các lĩnh vực quan hệ dân sự mà quốc gia tham gia và trong bất kỳ trường hợp nào.
Trang 12HỌC THUYẾT MIỄN TRỪ TƯƠNG ĐỐI
Xuất hiện đầu tiên tại các nước châu
Âu vào những năm đầu thế kỷ XX
Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga và Chiến tranh thế giới thứ II, với sự ra đời của hàng loạt các nước xã hội chủ nghĩa, học thuyết về “quyền miễn trừ tương đối” xuất hiện và ngày càng phát triển
Trang 13HỌC THUYẾT MIỄN TRỪ TƯƠNG ĐỐI
Thuyết quyền miễn trừ tương đối chấp nhận cho quốc gia được hưởng quyền miễn trừ trong tất cả các lĩnh vực quan hệ dân sự mà quốc gia tham gia nhưng lại hạn chế những trường hợp mà trong các trường hợp đó quốc gia sẽ không được hưởng quyền miễn trừ.
Thuyết quyền miễn trừ tương đối cũng đã được chấp nhận trong pháp luật quốc gia của nhiều nước: Hoa Kỳ, Anh Quan điểm này còn được ghi nhận trong thực tiễn xét xử ở tòa án Áo, Pháp, Thụy
Điển, Ý, Hy Lạp, Bỉ.
Trang 14Quan điểm của một số
quốc gia về quyền miễn trừ trong tư pháp quốc tế
-/ 3
Trang 15\-Cố vấn pháp lý của Hoa Kỳ đã đưa
ra quan điểm: “Nghiên cứu về pháp luật miễn trừ quốc gia cho thấy sự tồn tại của hai quan điểm trái ngược nhau về quyền miễn trừ của quốc gia đã được thừa nhận rộng rãi Theo học thuyết tuyệt đối về quyền miễn trừ quốc gia, một quốc gia sẽ không thể bị kiện, nếu không
có sự đồng ý của quốc gia đó, tại Tòa án của một quốc gia khác.”
Trang 16“Theo học thuyết mới hay học thuyết về quyền miễn trừ tương đối, quyền miễn trừ của quốc gia sẽ được thừa nhận đối với các hành vi thực hiện chủ quyền quốc gia của một quốc gia, và không được thừa nhận đối với các hành vi mang tính chất tư Kể từ nay chính sách của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ sẽ tuân theo quan điểm miễn trừ tương đối ”
(Bức thư vào ngày 19 tháng 5 năm 1952 của Jack B Tate - cố vấn pháp lý của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ - gửi tới Quyền Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoa Kỳ Philip B Perlman)
Trang 17Năm 1976Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua Đạo luật về quyền miễn trừ của quốc gia nước ngoài, được sửa đổi, bổ sung vào năm 1988 và 1997 Tòa
án của Hoa Kỳ đã giải quyết rất nhiều vụ tranh chấp có liên quan đến quyền miễn trừ trong lĩnh vực tư pháp của quốc gia trong đó học thuyết quyền miễn trừ tương đối đã được áp dụng rất rộng rãi
Trang 18Năm 1979 , Anh chính thức trở thành thành viên của Công ước của Hội đồng châu Âu về quyền miễn trừ quốc gia.
Sau án lệ vào năm 1977 , trong vụ kiện Philippin Admiral, Hội đồng cơ mật hoàng gia đã không tuân theo các án lệ về quyền miễn trừ trong lĩnh vực tư pháp của quốc gia trước
đó mà cho rằng trong vụ việc này tàu buôn thuộc sở hữu của quốc gia Philippine đã tham gia vào một giao dịch thương mại là đối tượng của vụ tranh chấp.
Thừa nhận học thuyết quyền miễn trừ tuyệt đối là án lệ "Parlement beige“ (1880)
Trang 19Pháp là quốc gia đến thời điểm hiện tại vẫn chưa ban hành Luật
về quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia.
Cho đến trước thế kỷ 19 , học thuyết quyền miễn trừ tuyệt đối được áp dụng rộng rãi tại Pháp.
Có những án lệ thể hiện quan điểm về thuyết miễn trừ quốc gia.
1969, Tòa phá án mới lần đầu tiên đưa ra nguyên tắc chung về quyền miễn trừ tương đối trong
vụ kiện chống lại Iranian Railways Administration.
Trang 20Tòa án Pháp đã từ chối trao quyền miễn trừ xét xử cho Tây Ban Nha trong vụ tranh chấp về thuê trụ sở cho Văn phòng du lịch của Tây Ban Nha với lập luận rằng: “Với việc ký kết hợp đồng thuê mướn tại Pháp là đối tượng điều chỉnh của các quy định pháp luật có thể được áp dụng cho bất
kỳ chủ thể tư nào khi tham gia vào hoạt động thương mại, Tây Ban Nha không thể khẳng định rằng mình đang tiến hành hoạt động với tư cách chủ thể công nhằm thực hiện chủ quyền quốc gia”
Trang 21VỤ VIỆC BÀ TRẦN TỐ NGA KIỆN
14 CÔNG TY HÓA CHẤT MỸ
-/ 4
Trang 23Nơi khởi kiện: Tòa án Pháp - Tòa đại hình Evry
Nội dung khởi kiện:
Năm 1965, bà Nga làm Thông tấn xã Giải phóng ở mặt trận Tây Ninh, Bình Dương, Sài Gòn Bà bị nhiễm chất độc màu da cam.
Nay, Bà Nga khởi kiện 14 công ty hóa chất Mỹ đã cung cấp loại chất độc này cho quân đội Mỹ để
sử dụng tại Việt Nam.
Trang 24LẬP LUẬN CỦA TÒA ÁN
Ngày 10/5/21 , Tòa Đại hình của
cung cấp chất độc hóa học cho
quân đội Mỹ trong chiến tranh ở
Việt Nam, gây ra hậu quả
nghiêm trọng về sức khỏe cho
bà và các con bà.
- Tòa Evry cho biết họ không có thẩm quyền xét xử một vụ án liên quan đến các hành động trong thời chiến của Chính phủ Mỹ.
- 14 công ty hóa chất (bên bị đơn)
đã thực hiện “theo lệnh và vì lợi ích” của Chính phủ Mỹ trong việc thực hiện chủ quyền quốc gia.
Trang 25Luật sư bên nguyên đơn yêu cầu kháng cáo phúc thẩm
với quyết định của Toà sơ thẩm
- Bản án của Tòa đại hình Evry tuyên bố đã áp dụng một định nghĩa quá lỗi thời về nguyên tắc miễn trừ xét xử.
- Thực tế 14 công ty hóa chất Mỹ đã tham gia đấu thầu, một hành vi mà
họ được tự do thực hiện hoặc không thực hiện
- Phía bên chính quyền Mỹ không buộc các công ty sản xuất ra các sản phẩm có tỷ lệ dioxin cao như chất Da cam ⇒ việc sản xuất ra chất da
cam hoàn toàn xuất phát từ ý chí và quyền tự quyết của bên bị đơn.
- Tòa đã không tính đến các yếu tố khẳng định khả năng tự do hành động của bên bị đơn.
- Cần phải xem xét để biết được toàn bộ trao đổi giữa chính quyền Mỹ
và bên bị đơn
Trang 26Năm 1969, lần đầu tiên đưa ra nguyên tắc chung về quyền miễn trừ tương đối trong
vụ kiện chống lại Iranian Railways Administration.
Tòa án đã đưa ra lập luận như sau: “Quốc gia nước ngoài và các thực thể khác thực hiện hoạt động với tư cách như một quốc gia nước ngoài được hưởng quyền xét xử chỉ trong trường hợp hành vi phát sinh tranh chấp là hành vi thực hiện chủ quyền quốc gia hoặc được thực hiện nhằm lợi ích công cộng” và “Quyền miễn trừ này được dựa trên cơ sở bản chất của hành vi và không dựa trên tư cách của chủ thể thực hiện hành vi.”
Xu hướng hiện giờ của luật quốc tế cho thấy sự ủng hộ đối với quyền miễn trừ tương đối Quyền miễn trừ chỉ áp dụng đối với các hành vi chính phủ, và không áp dụng với các hành vi thương mại.
Nhưng lập luận của Tòa sơ thẩm trong vụ việc này lại không thấy được quan điểm này Tòa án Evry đã đưa một quyết định không dựa trên các nguyên tắc của tư pháp quốc tế hiện hành, án lệ và không có sự xem xét đầy đủ các yếu tố liên quan trong
vụ việc Cơ sở lập luận của các luật sư phía bà Trần Tố Nga là có cơ sở.
Trang 27THANKS FOR