1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quyền tác giả và quyền liên quan trong Tư pháp quốc tế

20 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 34,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quyền tác giả là một trong các loại thuộc quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm các quyền nhân thân và quyền tài sản đối với các tác phẩm văn học, khoa học, công nghệ, được nhà nước bảo hộ trong

Trang 1

Mục lục:

A PHẦN MỞ ĐẦU 4

B PHẦN NỘI DUNG 4

I Khái niệm quyền tác giả, quyền liên quan 4

1.1 Khái niệm quyền tác giả 4

1.2 Khái niệm quyền liên quan 7

1.3 Quyền tác giả, quyền liên quan có yếu tố nước ngoài 9

1.3.1 Khái quát chung về quyền tác giả, quyền liên quan có yếu tố nước 9 1.3.2 Đặc điểm của quyền tác giả, quyền liên quan có yếu tố nước ngoài 10 II Đặc điểm điều chỉnh pháp lí quyền tác giả, quyền liên quan có yếu tố nước ngoài 11

2.1 Vai trò của việc điều chỉnh pháp lí quyền tác giả, quyền liên quan. 11 2.2 Nội dung của việc điều chỉnh pháp lí quyền tác giả và quyền liên quan có yếu tố nước ngoài 12

2.3 Xu hướng điều chỉnh pháp lý quyền tác giả, quyền liên quan có yếu tố nước ngoài 17

C PHẦN KÊT LUẬN 17

D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 18

Trang 2

A PHẦN MỞ ĐẦU.

Quyền tác giả, quyền liên quan thuộc nhóm các loại tài sản trí tuệ (tài sản vô hình), bởi vậy các quyền này cũng chịu sự chi phối và điều chỉnh của Luật sở hữu trí tuệ Có thể nói quyền tác giả, quyền liên quan đang ngày càng khẳng định vị trí và vai trò của mình trong các hoạt động kinh tế, thương mại, dân sự, máy móc khoa học- công nghệ khi mà cả thế giới đang trong xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập với thế giới Bởi vậy các văn bản quy phạm pháp luật quốc gia cũng như là về nội dung của các điều ước quốc tế song phương cũng như là đa phương đang dành cho vấn đề này một dung lượng không nhỏ các quy phạm pháp luật Việc này có giá trị vô cùng đặc biệt góp phần vào quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam cũng như là các nước khác trên thế giới

B PHẦN NỘI DUNG

I Khái niệm quyền tác giả, quyền liên quan.

I.1 Khái niệm quyền tác giả.

Về mặt lý luận cũng như trong thực tiễn áp dụng pháp luật trên thế giới, quyền tác giả là quyền của các tổ chức, cá nhân đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học do mình sáng tạo ra hoặc mình có quyền sở hữu Quyền tác giả là một trong các loại thuộc quyền

sở hữu trí tuệ, bao gồm các quyền nhân thân và quyền tài sản đối với các tác phẩm văn học, khoa học, công nghệ, được nhà nước bảo hộ trong một thời gian nhất định Khái niệm quyền tác giả cũng được pháp luật Việt Nam quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 , nhìn chung, khái niệm về quyền tác giả nước ta cũng tương tự như quan điểm về quyền tác giả của các nước khác trên thế giới, “Quyền tác giả

là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.” (Khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 ) Theo nguyên tắc chung được thừa nhận trên thế giới, các tổ chức, cá nhân được quyền được công nhận là có quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học, khoa học, nghệ thuật ngay từ khi nó được tạo ra và tồn tại với

Trang 3

một dạng vật chất xác định, không phụ thuộc vào chất lượng, nội dung, hình thức, ngôn ngữ, cách thức biểu hiện, không xét đến yếu tố đã đăng ký hay chưa đăng ký, công bố hay chưa công bố Tại Điều 14 Luật

Sở hữu trí tuệ 2005 có liệt kê tất cả các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả, cụ thể là:

“1 Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ bao gồm: a) Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác;

b) Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác;

c) Tác phẩm báo chí;

d) Tác phẩm âm nhạc;

đ) Tác phẩm sân khấu;

e) Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự (sau đây gọi chung là tác phẩm điện ảnh);

g) Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng;h) Tác phẩm nhiếp ảnh;

i) Tác phẩm kiến trúc;

k) Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, công trình khoa học;

l) Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian;

m) Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu.

2 Tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ theo quy định tại khoản 1 Điều này nếu không

gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh.

3 Tác phẩm được bảo hộ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này phải do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác.

4 Chính phủ hướng dẫn cụ thể về các loại hình tác phẩm quy định tại khoản 1 Điều này.”

Tác phẩm phái sinh như là tác phẩm dịch, phim chuyển thể, chỉ được bảo hộ nếu như nó không gây phương hại đến quyền tác giả

Trang 4

đối với các tác phẩm được dùng để làm các tác phẩm phái sinh “Tác phẩm phái sinh là tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn.”(khoản 8 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005) Điều kiện bảo hộ đối với các tác phẩm phái sinh này đó là các tác phẩm này phải do trực tiếp tác giả sáng tạo ra bằng hoạt động lao động trí óc của mình mà không phải là sao chép từ các tác phẩm của chủ thể khác, tác phẩm dịch muốn được bảo hộ thì phải do chính người đó qua quá trình nghiên cứu, làm việc trí óc tạo ra chứ không phải là lấy của người khác rồi in thành sách của mình Ngoài ra, luật cũng quy định về các đối tượng không thuộc phạm vi bảo hộ của quyền tài sản bởi lẽ các trường hợp

đó đều không phải là các sáng chế, phát minh của một người hay một

tổ chức nào cả Cụ thể, tại Điều 15 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định:

“Điều 15 Các đối tượng không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả

1 Tin tức thời sự thuần tuý đưa tin.

2 Văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực tư pháp và bản dịch chính thức của văn bản đó.

3 Quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, khái niệm, nguyên lý,

số liệu.”

Như vậy, ta có thể nhận thấy chủ thể của quyền tác giả ở đây là các cá nhân, tổ chức là người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học hoặc là chủ sở hữu của các tác phẩm đó thì được bảo hộ quyền tác giả Còn những tác phẩm kể trên được thể hiện dưới các dạng như chữ viết, kí tự, các công trình kiến trúc, xây dựng, âm nhạc, mĩ thuật, là khách thể của quyền tác giả hay đây chính là các đối tượng cần được bảo hộ trong quyền tác giả Về mặt nội dung, như

đã đề cập ở trên, quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản, tức là nếu quyền tác giả của một chủ thể được bảo hộ thì chủ thể

đó có thể có cả quyền nhân thân và quyền tài sản Tuy nhiên, trong một số trường hợp, chủ thể đó chỉ có quyền nhân thân mà không có quyền tài sản, cụ thể trong hoàn cảnh phát minh, sáng chế của cá nhân đó tạo ra nhưng quá trình tạo ra sản phẩm đó lại sử dụng nguồn vốn, nguồn tài trợ của một tổ chức nào đó Như vậy, trong trường hợp này, tổ chức đó là chủ sở hữu của phát minh sáng chế của sản phẩm

Trang 5

và được hưởng quyền tài sản đối với sản phẩm đó như quyền làm ra các tác phẩm phái sinh để nhằm mục đích lợi nhuận, kinh tế; còn cá nhân tạo ra sản phẩm với tư cách là người sáng tạo trực tiếp ra phát minh sẽ được hưởng quyền nhân thân đối với phát minh đó như là được nêu tên khi công bố sáng chế, được phép đặt tên cho sản phẩm, Điều

19, Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 có quy định về quyền nhân thân, quyền tài sản như sau:

“Điều 19 Quyền nhân thân

Quyền nhân thân bao gồm các quyền sau đây:

1 Đặt tên cho tác phẩm;2 Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng;

3 Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm;

4 Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

Điều 20 Quyền tài sản

1 Quyền tài sản bao gồm các quyền sau đây:

a) Làm tác phẩm phái sinh;

b) Biểu diễn tác phẩm trước công chúng;

c) Sao chép tác phẩm;

d) Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;

đ) Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến,

vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác;

e) Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính.

2 Các quyền quy định tại khoản 1 Điều này do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện theo quy định của Luật này.

3 Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền quy định tại khoản 1 Điều này và khoản 3 Điều 19 của Luật

Trang 6

này phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả.”

Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn

bộ các quyền tài sản, công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu của quyền tác giả

I.2 Khái niệm quyền liên quan.

Quyền liên quan hay còn được gọi là quyền kề cận là quyền của

tổ chức, cá nhân đối với các cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã

hóa, “Quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi là quyền liên

quan) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi

âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa.” (khoản 3 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ 2005 ) Đây là

một loại quyền gắn liền với quyền tác giả, được hình thành, phát sinh

kể từ thời điểm buổi biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình được phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa được định hình và thực hiện mà không gây phương hại đến quyền tác giả, chỉ có như vậy quyền liên quan mới được bảo hộ

Tương tự như quyền tác giả, quyền liên quan cũng bao gồm có quyền nhân thân và quyền tác giả Những người nghệ sĩ trình bày các tác phẩm thông qua các cuộc biểu diễn, buổi ghi âm, ghi hình thì được hưởng quyền nhân thân như việc được nêu tên thật hoặc nghệ danh khi công bố các buổi biểu diễn, ghi âm, ghi hình đó, còn chủ đầu tư của các buổi này chính là chủ sở hữu của các buổi biểu diễn, cuộc ghi âm, ghi hình và có quyền tài sản đối với chúng Trong trường hợp, người biểu diễn đồng thời là chủ đầu tư thì có cả quyền nhân thân lẫn quyền tài sản đối với các buổi biểu diễn này Nguyên tắc này đã được khẳng

định trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 tại Khoản 1 Điều 29: “Người

biểu diễn đồng thời là chủ đầu tư thì có các quyền nhân thân và các quyền tài sản đối với cuộc biểu diễn; trong trường hợp người biểu diễn không đồng thời là chủ đầu tư thì người biểu diễn có các quyền nhân thân và chủ đầu tư có các quyền tài sản đối với cuộc biểu diễn.”

Trang 7

Ngoài ra, trong Luật sở hữu trí tuệ hiện hành cũng đã ghi nhận

cụ thể về các quyền nhân thân và quyền tài sản đối với các chủ thể được hưởng quyền tại Khoản 2, Khoản 3, Khoản 4 Điều 29, cụ thể:

“2 Quyền nhân thân bao gồm các quyền sau đây:

a) Được giới thiệu tên khi biểu diễn, khi phát hành bản ghi âm, ghi hình, phát sóng cuộc biểu diễn;

b) Bảo vệ sự toàn vẹn hình tượng biểu diễn, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của người biểu diễn.

3 Quyền tài sản bao gồm độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các quyền sau đây:

a) Định hình cuộc biểu diễn trực tiếp của mình trên bản ghi âm, ghi hình;

b) Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp cuộc biểu diễn của mình đã được định hình trên bản ghi âm, ghi hình;

c) Phát sóng hoặc truyền theo cách khác đến công chúng cuộc biểu diễn của mình chưa được định hình mà công chúng có thể tiếp cận được, trừ trường hợp cuộc biểu diễn đó nhằm mục đích phát sóng;

d) Phân phối đến công chúng bản gốc và bản sao cuộc biểu diễn của mình thông qua hình thức bán, cho thuê hoặc phân phối bằng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được.

4 Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng các quyền quy định tại khoản 3 Điều này phải trả tiền thù lao cho người biểu diễn theo quy định của pháp luật hoặc theo thoả thuận trong trường hợp pháp luật không quy định.”

Ngoài ra, Luật sở hữu trí tuệ hiện hành cũng quy định về quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình và quyền của tổ chức phát sóng tại Điều 30, Điều 31 như sau:

“Điều 30 Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình

1 Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình có độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các quyền sau đây:

a) Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình của mình;

Trang 8

b) Phân phối đến công chúng bản gốc và bản sao bản ghi âm, ghi hình của mình thông qua hình thức bán, cho thuê hoặc phân phối bằng bất

kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được.

2 Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình được hưởng quyền lợi vật chất khi bản ghi âm, ghi hình của mình được phân phối đến công chúng.

Điều 31 Quyền của tổ chức phát sóng

1 Tổ chức phát sóng có độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các quyền sau đây:

a) Phát sóng, tái phát sóng chương trình phát sóng của mình;

b) Phân phối đến công chúng chương trình phát sóng của mình;

c) Định hình chương trình phát sóng của mình;

d) Sao chép bản định hình chương trình phát sóng của mình.

2 Tổ chức phát sóng được hưởng quyền lợi vật chất khi chương trình phát sóng của mình được ghi âm, ghi hình, phân phối đến công chúng.”

Tóm lại, quyền tác giả và quyền liên quan là các nhóm quyền rất quan trọng thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Sở hữu trí tuệ Cho đến hiện nay, có thể nói quyền tác giả, quyền liên quan đã được tất cả nước nước trên thế giới công nhận và quy định trong pháp luật quốc gia Quyền tác giả, quyền liên quan được bảo hộ trên lãnh thổ quốc gia nào thì chỉ có hiệu lực trên phạm vi lãnh thổ của nước đó, trừ trường hợp quốc gia tham một điều ước quốc tế mà điều ước quốc tế đó có quy định khác Trong trường hợp quyền tác giả, quyền liên quan có yếu

tố nước ngoài thì sẽ thuộc phạm vi điều chỉnh của Tư pháp quốc tế

I.3 Quyền tác giả, quyền liên quan có yếu tố nước ngoài I.3.1 Khái quát chung về quyền tác giả, quyền liên quan có

yếu tố nước

Trước hết, chúng ta cần khẳng định, quyền tác giả và quyền liên quan có yếu tố nước ngoài sẽ do Tư pháp quốc tế điều chỉnh Yếu tố nước ngoài được hiểu ở đây tức là quan hệ về quyền tác giả, quyền liên quan rơi vào ba trường hợp sau đây:

a Có ít nhất một bên tham gia quan hệ về quyền tác giả, quyền liên quan có yếu tố nước ngoài, như cá nhân mang quốc tịch hoặc có

Trang 9

nơi cư trú ở nước ngoài, pháp nhân có quốc tịch hoặc trụ sở chính

ở nước ngoài.

Trong thực tiễn xã hội ta có thể nhận thấy nhiều trường hợp trong mối quan hệ về quyền tác giả, nhiều khi chủ thể là các cá nhân,

tổ chức mang quốc tịch của các nước khác hoặc nơi cư trú, đặt trụ sở ở các quốc gia khác nhau Cá nhân này có thể là người trực tiếp sáng tạo

ra tác phẩm hoặc cũng có thể là chủ sở hữu của quyền tác giả hoặc là người khai thác một, một phần hoặc toàn bộ các quyền của tác giả, của chủ sở hữu quyền tác giả, tương tự, pháp nhân ở đây cũng có thể

là chủ sở hữu quyền tác giả hoặc là chủ thể khai thác một, một số hoặc toàn bộ các quyền của tác giả, của chủ sở hữu quyền tác giả

Đối với quyền liên quan cũng vậy, chủ thể có thể là cá nhân, pháp nhân mang quốc tịch của quốc gia khác, hoặc có nơi cư trú, đặt trụ sở ở quốc gia khác Chủ thể của quyền liên quan bao gồm những người như người biểu diễn; tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng các quyền của người biểu diễn; nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình;

b Đối tượng của quyền ở đây là các tác phẩm văn học, khoa học, công nghệ, các buổi biểu diễn, ghi âm, ghi hình được sáng tạo, thực hiện ở nước ngoài.

Cụ thể, trong trường hợp tuy chủ thể không là các cá nhân, pháp nhân mang quốc tịch của nước khác hoặc nơi cư trú của cá nhân và nơi đặt trụ sở của pháp nhân không ở các nước khác nhau nhưng đối tượng được bảo hộ của quyền tác giả, quyền liên quan là các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được sáng tạo và được thể hiện lần đầu tiên trên lãnh thổ của một quốc gia khác dưới dạng hình thức vật chất xác định, không phụ thuộc vào nội dung, hình thức thể hiện, chất lượng tác phẩm, không xét đến việc đã công bố hay chưa công bố, đăng kí hay chưa đăng kí; các bản ghi, ghi hình, cuộc biểu diễn, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa, được định hình hoặc thực hiện trên lãnh thổ quốc gia khác và không gây phương hại đến quyền tác giả

c Quan hệ về quyền tác giả, quyền liên quan được phát sinh, thay đổi, chấm dứt trên cơ sở sự kiện pháp lí xảy ra ở nước ngoài.

Chẳng hạn, trong trường hợp chủ thể của quyền tác giả, quyền liên quan không là cá nhân, tổ chức mang quốc tịch nước khác, hoặc

Trang 10

nơi cư trú của cá nhân và đặt trụ sở của pháp nhân không ở các quốc gia khác nhau, đối tượng được bảo hộ của quyền tác giả, quyền liên quan cũng không được định hình hay tổ chức thực hiện tại quốc gia khác, tuy nhiên lại xảy ra sự kiện pháp lý nào đó làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ về quyền tác giả, quyền liên quan xảy ra trong phạm vi lãnh thổ của một nước khác Ví dụ: các loại hợp đồng, các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến quan hệ về quyền tác giả, quyền liên quan của quốc gia này nhưng lại được thực hiện hoặc xảy ra tại lãnh thổ quốc gia khác

I.3.2 Đặc điểm của quyền tác giả, quyền liên quan có yếu

tố nước ngoài.

Thứ nhất, quyền tác giả và quyền liên quan có đặc điểm ở chỗ đều là tài sản vô hình, mang tính phi vật thể do vậy rất dễ để khai thác, phổ biến rộng rãi do vậy nó dễ bị xâm phạm, sự xâm phạm này

có thể xảy ra trong phạm vi nhiều quốc gia Đây có thể coi là đặc điểm nổi bật và hết sức đặc trưng của các loại tài sản trí tuệ nói chung và của các tài sản là đối tượng được bảo hộ của quyền tác giả, quyền liên quan nói riêng

Đặc điểm thứ hai, quyền tài sản và quyền liên quan mang tính lãnh thổ, tức là các quyền này chỉ có hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ của các quốc gia mà quyền tài sản, quyền liên quan phát sinh theo pháp luật ở nước đó, trừ khi quốc gia đó có ký kết điều ước quốc tế về vấn đề này Chính đặc điểm này đã gây ra sự không đảm bảo về quyền

và lợi ích của các chủ thể của quyền tài sản và quyền liên quan Bởi lẽ, trong trường hợp một tác phẩm được sao in, dịch, ở nước ngoài và không có sự đồng ý của tác giả đây rõ ràng là một hành vi gây ảnh hưởng đến lợi ích cũng như tên tuổi của tác giả đáng bị lên án, tuy nhiên, trong thực tiễn khi xét về góc độ pháp lý thì tác giả cũng không thể có quyền yêu cầu bảo hộ quyền lợi chính đáng của bản thân mình, bởi lẽ quyền tác giả và quyền liên quan không phát huy hiệu lực ở ngoài lãnh thổ quốc gia mà nó được bảo hộ- mang bản chất lãnh thổ một cách rõ ràng và tuyệt đối, trừ khi có điều ước quốc tế điều chỉnh

mà cả hai nước này là thành viên hoặc cùng ký kết thực hiện Đây là một điểm bất hợp lý cần được nghiên cứu để giải quyết, bởi nó không chỉ tác động xấu đến quyền lợi của chính tác giả mà nó còn gây ảnh

Ngày đăng: 22/07/2021, 16:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w